1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khuôn khổ pháp lý của quá trình hội nhập nội khối của các nước asean

152 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 175,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích và nhiệm vụ của đề tài: Mục đích của đề tài: Nghiên cứu khái quát một cách có hệ thống toàn bộ các văn kiện chủ yếu của ASEAN về vấn đề hội nhập kinh tế nội khối, giúp chongười

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

MỤC LỤC

Lời cam đoan………

Mục lục………

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt………

Danh mục các bảng………

Mở đầu………

Chương 1: Tổng quan về sự hình thành, phát triển và yêu cầu đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế nội khối ASEAN………

1.1.Tổng quan về sự hình thành và phát triển của ASEAN…………

1.1.1.Quá trình hình thành và phát triển………

1.1.2.Mục đích và nguyên tắc

1.1.3.Cơ chức………

1.1.4.Thành viên………

1.1.5.Lĩnh vực hợp tác………

1.2.Khái quát quá trình hợp tác kinh tế nội khối và yêu cầu đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế nội khối của ASEAN………

1.2.1 Khỏi quỏt quỏ ASEAN………

Trang 3

Chương 2: Khuôn khổ pháp lý và thực tiễn hội nhập kinh tế nội

2

Trang 4

khối ASEAN………

2.1.Khái quát khuôn khổ pháp lý của quá trình hội nhập kinh tế nội khối ASEAN………

2.1.1 Cỏc Hội nghị thượng đỉnh (cấp cao) ASEAN………

2.1.2 Cơ sở pháp lý cho hợp tác kinh tế nội khối ASEAN qua các lĩnh vực cụ thể………

2.1.3 Cỏc văn kiện phỏp lý khỏc………

2.2.Thực tiễn hội nhập kinh tế nội khối của ASEAN………

2.2.1 Sự hội nhập kinh tế nội khối của ASEAN………

2.2.2 Sự hội nhập kinh tế nội khối của một số nước ASEAN…………

2.2.3 Sự hội nhập kinh tế nội khối của Việt Nam………

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của quá trình hội nhập kinh tế nội khối ASEAN…………

3.1 Nhận xột chung về quỏ trỡnh hợp tỏc kinh tế của ASEAN………

3.2 Một số kiến nghị………

3.2.1 Phương hướng chung………

3.2.2 Cỏc giải phỏp cụ thể………

Trang 5

3

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT

78

9

10

11

Trang 7

1314

15

1617

Trang 8

2526

27

282930

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Toàn cầu hoá - khu vực hoá là một xu hướng tất yếu mà không một quốcgia nào dù lớn hay nhỏ, dù giàu hay nghèo, với bất kì thể chế chính trị - xã hộinào lại có thể đứng ngoài quá trình đó Sự hình thành và phát triển của ASEANvới mục đích bảo đảm về an ninh, ổn định về các mặt đối nội và đối ngoại chocác nước thành viên với tiền đề là phát triển kinh tế, là thực tiễn sinh động chứngminh cho tính tất yếu khách quan của xu hướng trên Sau hơn 4 thập kỷ tồn tại vàphát triển, ASEAN đã lớn mạnh trở thành một thực thể chính trị - kinh tế gắn kết,

có vai trò quan trọng đóng góp cho hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực, làđối tác không thể thiếu của các nước và các tổ chức lớn trên thế giới Trên cơ sở

đó, ASEAN đã nhất trí đẩy mạnh hợp tác và tăng cường liên kết nhằm hướng tớixây dựng một Cộng đồng ASEAN vững mạnh dựa trên ba trụ cột là Chính trị

- An ninh, Kinh tế và Văn hóa - Xã hội vào năm 2015

Nằm trong bối cảnh chung ấy, việc hội nhập vào khu vực và quốc tế củaViệt Nam là một điều đã được khẳng định Cách đây hơn 15 năm, Việt Namchính thức trở thành thành viên của Hiệp hội các nước Đông Nam Á ASEAN(28/7/1995) Sự kiện này đã chấm dứt tình trạng chia rẽ, đối đầu trong khu vực,các nước còn lại như Lào, Mi-an-ma, Cam-pu-chia lần lượt gia nhập Hiệp hội.ASEAN từ đây thực sự là một tổ chức của cả khu vực Đông Nam Á Gia nhậpASEAN cũng đáp ứng được lợi ích của cả Việt Nam và ASEAN là cần có môitrường hoà bình, ổn định và đẩy mạnh hợp tác vì lợi ích phát triển, trùng với ý

Trang 12

nguyện của nhân dân châu Á - Thái Bình Dương muốn thấy một Đông Nam Á

ổn định, mở rộng thị trường và đối tác về kinh tế, khoa học, văn hoá - xã hội

Nền tảng của sự hội nhập kinh tế nội khối chính là khuôn khổ pháp lý đãhình thành và ngày càng hoàn thiện của ASEAN Vấn đề đặt ra là việc hiện thựchóa những quy định của ASEAN để tăng cường tính pháp lý và hiệu quả hộinhập kinh tế nội khối ASEAN Cùng với các thành viên khác, Việt Nam khôngngừng hợp tác kinh tế cũng như các lĩnh vực khác với các đối tác, trên cơ sở hệthống pháp luật ASEAN và đóng góp ý kiến để hoàn thiện những quy định này.Năm 2010 với vai trò là chủ tịch ASEAN, Việt Nam đã chủ động, thiện chí, cótrách nhiệm và tích cực đề xuất nhiều sáng kiến để thực hiện thành công vai tròcủa mình, được bạn bè quốc tế đánh giá cao, khẳng định vị thế và uy tín củamình đối với sự phát triển của Hiệp hội Tuy ASEAN có nhiều cơ hội để pháttriển, nhưng cũng nhiều thách thức đòi hỏi Việt Nam và các thành viên khác phảihợp tác, liên kết chặt chẽ hơn nữa, cùng nhau đưa ra những ý tưởng mới và biệnpháp thực hiện các ý tưởng đó để biến “Tầm nhìn 2020” thành hiện thực, xâydựng thành công Cộng đồng ASEAN và trở thành nhân tố chủ đạo của Cộngđồng Đông Á

Nghiên cứu sự hội nhập nội khối của các nước ASEAN nói chung và sựhội nhập của Việt Nam nói riêng là một vấn đề không mới, song nó luôn mangtính thời đại, đặc biệt là trong tình hình hiện nay khi mà chặng đường hội nhậpcủa Việt Nam đang còn dài, thuận lợi và khó khăn cùng đan xen chờ đợi Vì vậytác giả chọn đề tài “Khuôn khổ pháp lý của quá trình hội nhập nội khối của cácnước ASEAN” để viết Luận văn nhằm tìm hiểu sâu hơn và mạnh dạn phân tích,đưa ra những ý kiến chủ quan, thể hiện sự quan tâm của bản thân cũng như tínhbức thiết của đề tài Có thể nói, mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công

Trang 13

bằng, dân chủ và văn minh” luôn là điều thôi thúc các thế hệ nối tiếp của ViệtNam trong hành trình hội nhập này.

2 Tình hình nghiên cứu:

ASEAN nói chung và khuôn khổ pháp lý của quá trình hội nhập kinh tếnội khối ASEAN nói riêng đã được nghiên cứu và giảng đạy trong bộ môn Côngpháp quốc tế, ngành Luật quốc tế, khoa Luật cũng như các khoa nghiên cứu vềquốc tế của các trường Đại học Trong cuốn sách “Liên kết kinh tế ASEAN, vấn

đề và triển vọng” của tác giả Trần Đình Thiên, Nhà xuất bản Thế giới năm 2005,tác giả đã lấy mốc là cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính năm 1997 để phân tíchcác giai đoạn phát triển kinh tế ASEAN trước và sau 1997 để trả lời cho câu hỏi:

“Trong tương lai, ASEAN phải hành động như thế nào để tồn tại như một khốiliên kết khu vực”

Bài viết “Triển vọng hình thành Cộng đồng ASEAN và vai trò của ViệtNam” của Phạm Thị Thanh Bình (Viện kinh tế và Chính trị thế giới) khẳng định:Cộng đồng ASEAN quyết tâm “Chuyển sự đa dạng về văn hoá và sự khác biệtcủa ASEAN thành thịnh vượng và các cơ hội phát triển công bằng trong một môitrường đoàn kết, tự cường và hoà hợp khu vực” Mục tiêu mà ASEAN đanghướng tới là một gia đình các dân tộc Đông Nam Á đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhaucùng phát triển Để Cộng đồng ASEAN trở thành hiện thực, ASEAN cần sự đồngthuận và nỗ lực của tất cả các nước thành viên, từng bước đưa Tầm nhìn vàoChương trình hành động cụ thể Việt Nam không chỉ đảm nhận tốt vai trò Chủtịch ASEAN trên các diễn đàn đối thoại toàn cầu mà còn đóng góp rất nhiềuthành công trong việc tổ chức các Hội nghị cấp cao của ASEAN, các Hội nghịchuyên ngành và nhiều hoạt động cộng đồng có ý nghĩa góp phần nâng cao tầm

Trang 14

ảnh hưởng và uy tín của Việt Nam nói riêng và các nước ASEAN nói chung trêntoàn thế giới.

Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng cũng đã có bài viết “Cộngđồng kinh tế ASEAN - Ưu tiên hội nhập kinh tế ASEAN” với nội dung: ASEANđang hướng đến khát vọng xây dựng một Cộng đồng chung đoàn kết, năng động

và thịnh vượng vào năm 2015 Cộng đồng kinh tế ASEAN, cùng với Cộng đồng

An ninh - Chính trị ASEAN và Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN sẽ là bacấu phần chính của Cộng đồng ASEAN này

Thực tế đã có rất nhiều Luận văn viết về đề tài ASEAN như các đề tài:

“Hội nhập kinh tế khu vực ASEAN với phát triển kinh tế nước ta”, “Đầu tư trựctiếp của các nước ASEAN vào Việt Nam - thực trạng và triển vọng”, “Vấn đềđầu tư trực tiếp của các nước khi tham gia hội nhập AFTA” Bên cạnh đó cáctạp chí chuyên ngành cũng cho đăng tải nhiều bài viết về vấn đề hội nhập kinh tếquốc tế, đáng chú ý là Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, Tạp chíNhà nước và Pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp Như vậy hầu như các tácphẩm này chỉ nhìn nhận dưới góc độ kinh tế - chính trị học chứ không phải làluật học, do đó chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện các văn kiệnpháp lý của ASEAN, trong giới chuyên ngành cũng có rất nhiều tác phẩm để lạidấu ấn nhưng cũng chưa đi sâu vào khuôn khổ pháp lý của ASEAN hoặc mới chỉtrong quá trình nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:

Mục đích của đề tài: Nghiên cứu khái quát một cách có hệ thống toàn bộ

các văn kiện chủ yếu của ASEAN về vấn đề hội nhập kinh tế nội khối, giúp chongười đọc hình dung được tổng thể các lĩnh vực và hoạt động hợp tác củaASEAN từ khi thành lập đến hiện nay, góp phần cung cấp thông tin về tầm quan

Trang 15

trọng của ASEAN đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia cũngnhư lợi ích của từng người dân trong khu vực.

Nhiệm vụ của đề tài:

Luận văn phân tích yêu cầu đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế nội khốiASEAN, từ việc khái quát quá trình hình thành và phát triển của ASEAN, luậnvăn đặt ra yêu cầu cần phải đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế nội khối trước

xu hướng toàn cầu hóa - khu vực hóa đang diễn ra sôi động như hiện nay

Trên cơ sở tổng hợp khuôn khổ pháp lý, luận văn nghiên cứu các ứngdụng thực tiễn của quá trình hội nhập kinh tế nội khối ASEAN từ các nước thànhviên trong đó có Việt Nam, từ đó thấy rõ những tác động của quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế trong nội bộ khối ASEAN

Luận văn chỉ ra quan điểm chủ quan của tác giả đối với phương hướng vàgiải pháp để hoàn thiện quá trình hội nhập kinh tế nội khối ASEAN đã được cácnước thành viên thông qua tại các Hội nghị thượng đỉnh gần đây

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu khuôn khổ pháp lý của quá trình

hội nhập kinh tế quốc tế trong nội bộ khối ASEAN

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài này có nội hàm rất rộng, được nghiên cứu

dưới nhiều góc độ, nhưng trong Luận văn này tác giả chủ yếu đề cập đến sự hộinhập kinh tế nội bộ trong khuôn khổ pháp lý ASEAN Trên cơ sở khái quát cácvăn kiện của ASEAN, thực tiễn hội nhập của một số nước ASEAN tiêu biểu, từ

đó rút ra bài học cho việc hội nhập của Việt Nam Đồng thời tác giả mạnh dạnđưa ra ý kiến về các kế hoạch chiến lược của ASEAN trong thời gian tới

5 Phương pháp nghiên cứu:

Trang 16

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩaMác - Lê Nin, kết hợp hiệu quả với các phương pháp khoa học truyền thống khácnhư phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, logic, lịch sử

6 Những đóng góp mới của luận văn:

Luận văn tổng hợp, phân tích một cách có hệ thống những vấn đề lý luận

cơ bản trong khuôn khổ pháp lý của ASEAN, khái quát một cách toàn diện vấn

đề hội nhập kinh tế nội khối ASEAN, từ thực tiến hội nhập để khẳng địnhphương hướng hội nhập đúng đắn nhất đã hình thành và đang từng bước đượcthực hiện - đây là vấn đề quan trọng hàng đầu của ASEAN hiện nay

7 Bố cục của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn đượckết cấu làm 03 chương: Chương I: Tổng quan về sự hình thành, phát triển và yêucầu đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế nội khối ASEAN, Chương II: Khuônkhổ pháp lý và thực tiễn hội nhập kinh tế nội khối ASEAN, Chương III: Phươnghướng và giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của quá trình hội nhập kinh tếnội khối ASEAN

Trang 17

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ YÊU CẦU ĐẨY NHANH QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ NỘI KHỐI ASEAN

1.1 Tổng quan về sự hình thành và phát triển của ASEAN:

1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển:

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of southeast asiannations - ASEAN) được thành lập ngày 8/8/1967 tại Thái Lan là một mốc quantrọng trong tiến trình phát triển của khu vực Từ 5 nước thành viên ban đầu đếnnăm 2009 ASEAN đã có 10 thành viên, 1 ứng cử viên (Đông Timor) và 1 quansát viên (Papua New Guinea), hoàn thành ý tưởng về một ASEAN bao gồm tất

cả các quốc gia Đông Nam Á - một ASEAN của Đông Nam Á và vì Đông NamÁ

Tuy ở trong cùng một khu vực địa lý nhưng các nước thành viên lại giànhđộc lập vào các thời điểm khác nhau sau chiến tranh thế giới thứ hai, có nhữngchủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo và văn hóa khác nhau, tạo thành một sự đa dạngcho Hiệp hội ASEAN có diện tích hơn 4,4 triệu km2 và dân số khoảng 583 triệungười năm (2008), GDP danh nghĩa đạt hơn 1,5 tỉ USD (2008) và tổng kimnghạch xuất khẩu là 802,7 tỉ USD (2009) Đây là khu vực có tốc độ tăng trưởngkinh tế cao so với các khu vực khác trên thế giới, với nhịp độ trung bình hàngnăm từ 5 - 10%, cho đến trước cuộc khủng hoảng vừa qua thì luôn được coi là tổchức khu vực thành công nhất của các nước đang phát triển Nhưng mức pháttriển kinh tế giữa các nước là không đồng đều, In-đô-nê-xi-a là nước đứng đầu

Trang 18

về diện tích và dân số nhưng thu nhập quốc dân tính theo đầu người chỉ trên3.700 USD, trong khi đó Xinh-ga-po và Bru-nây là hai quốc gia nhỏ nhất về diệntích và dân số nhưng có thu nhập đầu người từ 24.000 đến 28.000USD/người/năm Hiện nay ASEAN đang có sự chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽtheo hướng công nghiệp hóa, nền ngoại thương tăng gấp đôi trong vòng 10 nămqua - đạt trên 160 tỉ USD vào đầu những năm 1990 và đầu những năm 2000 là

339 tỉ USD, nâng tỉ trọng trong ngoại thương thế giới từ 3,6% lên 4,7% ASEANcũng là đối tượng thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài, nếu đầu những năm 80bình quân là 4,6 tỉ USD/nước/năm, thì đến cuối những năm 80 là 13,5 tỉUSD/nước/năm [29, tr 1]

ASEAN ra đời trong bối cảnh nội bộ từng nước trong khu vực và trên thếgiới có nhiều biến động ở Đông Nam Á, cuộc đấu tranh chống Mỹ của nhân dânViệt Nam phát triển, đẩy Mỹ vào thế thất bại nặng nề Các nước Đông Nam Áđứng trước nhiều thách thức về chính trị, kinh tế trong nội bộ, đồng thời phải giảiquyết những khó khăn, xung đột trong quan hệ giữa họ với nhau và sức ép từ bênngoài

Để đối phó với thách thức này, xu hướng co cụm lại trong một tổ chức khuvực để tăng cường sức mạnh bản thân đã trở nên cấp bách trong các nước thànhviên tương lai của ASEAN Trước ASEAN, ở Đông Nam Á đã có một vài tổchức khu vực ra đời và tồn tại trong thời gian ngắn hoặc đã manh nha hình thành,

đó là hiệp hội Đông Nam Á (the associasion of southeast asia - ASA) được thànhlập ngày 31/1/1961 gồm Thái Lan, Phi-líp-pin và Ma-lai-xi-a, tổ chứcMAPHILINDO ra đời tháng 8/1963 gồm Ma-lai-xi-a và In-đô-nê-xi-a [14, tr 17].Mặc dù vậy, những nỗ lực theo hướng trên đây vẫn được xúc tiến và ngày8/8/1967, Bộ trưởng Ngoại giao các nước In-đô-nê-xi-a, Thái Lan, Phi-líp-pin,

Trang 19

Xinh-ga-po và phó Thủ tướng Ma-lai-xi-a kí tại Băng-cốc bản Tuyên bố thànhlập Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) Cả năm nước thành viên đềunhận thấy sự cần thiết phải dựa vào sức mình là chính, thúc đẩy sự liên minhgiữa các nước có chế độ chính trị - xã hội giống nhau, có lợi ích lâu dài và cơbản trùng hợp nhau; để đối phó với các phong trào chống đối trong nước vànhững tác động tiêu cực từ bên ngoài nhằm duy trì sự ổn định chính trị - an ninh,làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội Đây là viên gạch đầu tiên cho việchình thành một tổ chức hợp tác, thống nhất của khu vực vào những năm 90 củathế kỉ XX, đúng như trong Tuyên bố Băng-cốc: “Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa trong khu vực trông qua các nỗ lực chungnhằm tăng cường nền tảng cho một cộng đồng hòa bình và thịnh vượng của cácQuốc gia Đông Nam Á” [5, tr 189].

Trong hơn 40 năm qua, ASEAN đã có sự hợp tác trên nhiều lĩnh vực khácnhau, có thể chia tiến trình phát triển hợp tác của Hiệp hội thành 3 giai đoạn vớinhững đặc trưng khác nhau:

- Giai đoạn 1967 - 1976 (Từ khi thành lập đến Hội nghị thượng đỉnh lầnthứ nhất ở Ba-li, In-đô-nê-xi-a): Sau tuyên bố Băng-cốc năm 1967, ASEAN đã ratuyên bố Cua-la-lăm-pơ về Khu vực hoà bình, tự do và trung lập năm 1971

(ZOPFAN), các thành viên cũng phối hợp chính sách với nhau trên một số lĩnhvực như ngoại giao hoặc kinh tế Nhưng nói chung ASEAN trong giai đoạn nàyvẫn chưa đạt được bước hợp tác nào đáng kể vì sau 9 năm hoạt động, ASEANmới chỉ quyết định thành lập Ban thư kí ASEAN do một Tổng thư kí đứng đầu.Tình hình chung ở giai đoạn này là ASEAN bị chi phối quá nhiều bởi những diễnbiến chính trị phức tạp, các bước phối hợp chung thường nhằm mục đích bảođảm sự cân bằng hiện diện giữa các siêu cường có dính líu lợi ích trong khu

Trang 20

vực, và đối phó với những hoạt động nổi dậy của các lực lượng chống chính phủ trong nước.

- Giai đoạn 1976 - 1991 (Từ Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ nhất ở Ba-liđến Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 4 ở Xinh-ga-po): Tháng 2/1976, các nhà lãnhđạo Chính phủ 5 nước đã họp lần đầu tiên tại Ba-li và đã thông qua 2 văn kiện làHiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á và Tuyên bố về sự hoà hợpASEAN ASEAN không chỉ hợp tác về an ninh mà được mở rộng ra các vấn đềkinh tế và văn hoá, một số nước đã phối hợp hành động trên lĩnh vực quân sự vìmục đích hoà bình và trung lập, ASEAN cũng liên tục thiết lập và đối thoại đầy

đủ với Mỹ, Nhật, Canada, Niu Di-lân, EEC và các tổ chức của Liên hợp quốc.Ngoài ra về cơ cấu tổ chức của ASEAN giai đoạn này cũng được cải tổ theohướng chặt chẽ hơn và hiệu quả hơn Giai đoạn 1976 - 1992, xu hướng hợp táctoàn diện trong khu vực đã bắt đầu khởi động, nhất là việc kí kết thoả thuậnthương mại ưu đãi PTA cho toàn khối Đến tháng 10/1990, vấn đề thiết lập khuvực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) đã được thảo luận tại Hội nghị Bộ trưởngKinh tế ASEAN (Ba-li) và được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 4(12/1992) AFTA ra đời đánh dấu mốc chuyển sang giai đoạn hợp tác mới đầy ýnghĩa của Hiệp hội Trước đó ASEAN cũng tổ chức được Hội nghị Cấp cao lầnthứ 2 tại Cua-la-lăm-pơ (1977) và lần thứ 3 tại Phi-líp-pin (1987), kết nạp Bru-nây làm thành viên thứ 6 (1984), tạo tiền đề nhất thể hoá Đông Nam Á trongtương lai không xa

- Giai đoạn 1992 đến nay (Từ Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 4 đến nay):Hoạt động hợp tác của ASEAN đã chuyển biến về chất, tháng 7/1992, Việt Nam

và Lào chính thức tham gia Hiệp ước Ba-li và trở thành quan sát viên ở ASEAN.Năm 1995, Việt Nam được chấp nhận là thành viên thứ 7, Lào, My-an-ma và

Trang 21

Cam-pu-chia cũng được kết nạp sau đó, tạo ra ASEAN - 10 với số dân trên 500triệu người và hứa hẹn một triển vọng phát triển tiềm tàng Bên cạnh đó, tháng7/1993, ASEAN quyết định thành lập Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) gồm 18nước trong và ngoài Hiệp hội để trao đổi về các vấn đề chính trị - an ninh khuvực châu Á - Thái Bình Dương Về kinh tế, Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 5(1995) đã quyết định rút ngắn thời gian thực hiện AFTA từ 15 năm xuống còn 10năm, Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 6 (1998) cũng đưa ra Tuyên bố về cácbiện pháp mạnh mẽ để cải thiện môi trường đầu tư ASEAN Tại Hội nghị Cấpcao lần thứ 6 và 7, các nước ASEAN đã thông qua và quyết tâm thực hiện Tuyên

bố Hà Nội và Chương trình hành động Hà Nội để đẩy mạnh liên kết ASEAN.Đến Hội nghị Cấp cao lần thứ 8 (2002) và lần thứ 9 (2003), ASEAN đã thảo luận

và thông qua mục tiêu thành lập một Cộng đồng ASEAN liên kết mạnh, tự cườngvào năm 2020 Nhằm triển khai Tuyên bố Bali II kí kết tại Hội nghị Cấp cao lầnthứ 9, Hội nghị Cấp cao Lần thứ 10 (2004) đã xây dựng Chương trình hành độngViên-chăn, trong đó có hợp phần về AIA nhằm thu hẹp khoảng cách phát triểngiữa các nước thành viên ASEAN Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 11, cácnhà lãnh đạo ASEAN đã ra Tuyên bố về xây dựng Hiến chương ASEAN và ngày15/12/2008, Hiến chương ASEAN đã chính thức có hiệu lực Gần đây Hội nghịCấp cao lần thứ 16 khai mạc tháng 04/2010 tại Hà Nội cũng rất thành công vớiviệc thông qua 3 tuyên bố chung quan trọng gồm: “Tuyên bố ASEAN về phụchồi và phát triển bền vững”, “Tuyên bố ASEAN về ứng phó với biến đổi khíhậu” và Tuyên bố của Chủ tịch Hội nghị cấp cao ASEAN 16 “Hướng tới côngđồng ASEAN: Từ tầm nhìn tới hành động” Trên cương vị Chủ tịch ASEAN,Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ, tích cực cùng các nước thành viên ASEAN trongviệc đề xuất các sáng kiến nhằm thúc đẩy hợp tác ASEAN Sáu

Trang 22

tháng sau, ngày 28/10/2010, Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 17 cũng đượcdiễn ra tại Hà Nội Những nội dung chính được bàn thảo tại Hội nghị gồm: Xâydựng Cộng đồng ASEAN và triển khai Hiến chương ASEAN; Quan hệ đối ngoại

và vai trò trung tâm của ASEAN trong các tiến trình hợp tác khu vực cũng nhưtrong nỗ lực xây dựng cấu trúc khu vực mới; phát triển bền vững và ứng phó vớinhững thách thức toàn cầu Ngoài ra, các nhà lãnh đạo cũng trao đổi về các vấn

đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm Hội nghị lần này tập trung đánh giá lạinhững kết quả hợp tác ASEAN đã đạt được trên những mặt chính trong năm qua,trên cơ sở đó đề ra định hướng cho năm tiếp theo

Như vậy qua không ít thăng trầm, ASEAN đang đi dần tới đích cuối cùng

là hợp tác toàn diện vì sự thịnh vượng của các thành viên trong khối Nền tảngquan hệ giữa các thành viên dựa trên nguyên tắc cơ bản của quan hệ quốc tế đãlàm cho đoàn kết trong Hiệp hội ngày càng vững chắc

1.1.2 Mục đích và nguyên tắc:

Tuyên bố Băng-cốc nêu 7 mục tiêu của ASEAN là [16, tr 21]:

- Thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóatrong khu vực thông qua các nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng và hợp tác,nhằm tăng cường cơ sở cho một cộng đồng các nước Đông Nam Á hòa bình vàthịnh vượng

- Thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực bằng việc tôn trọng công lý vànguyên tắc luật pháp trong quan hệ giữa các nước trong vùng và tuân thủ cácnguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc

- Thúc đẩy sự cộng tác tích cực và giúp đỡ lẫn nhau trong các vấn đề cần quan tâm trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học kĩ thuật và hành chính

Trang 23

- Giúp đỡ lẫn nhau dưới các hình thức đào tạo và cung cấp các phươngtiện nghiên cứu trong các lĩnh vực giáo dục, chuyên môn, kĩ thuật và hành chính.

- Cộng tác có hiệu quả hơn để sử dụng tốt hơn nền nông nghiệp và cácngành công nghiệp của nhau, mở rộng mậu dịch kể cả việc nghiên cứu các vấn

đề về buôn bán hàng hóa giữa các nước, cải thiện các phương tiện giao thôngliên lạc và nâng cao mức sống của nhân dân

- Thúc đẩy việc nghiên cứu về Đông Nam Á

- Duy trì sự hợp tác chặt chẽ cùng có lợi với các tổ chức quốc tế và khuvực có tôn chỉ và mục đích tương tự, tìm kiếm các cách thức nhằm đạt được một

sự hợp tác chặt chẽ hơn nữa giữa các tổ chức này

1) Các nguyên tắc làm nền tảng cho quan hệ giữa các Quốc gia thành viên và với bên ngoài:

a) Cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc của tất cả các dân tộc;

b) Quyền của mọi quốc gia được lãnh đạo hoạt động của dân tộc mình, không có sự can thiệp, lật đổ hoặc cưỡng ép của bên ngoài;

c) Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;

d) Giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp bằng biện pháp hoà bình, thânthiện;

e) Không đe doạ hoặc sử dụng vũ lực;

f) Hợp tác với nhau một cách có hiệu quả;

2) Các nguyên tắc điều phối hoạt động của Hiệp hội:

a) Việc quyết định các chính sách hợp tác quan trọng cũng như trong cáclĩnh vực quan trọng của ASEAN dựa trên nguyên tắc nhất trí (consensus), tức là

Trang 24

một quyết định chỉ được coi là của ASEAN khi được tất cả các nước thành viên nhất trí thông qua.

b) Một nguyên tắc quan trọng khác chi phối hoạt động của ASEAN lànguyên tắc bình đẳng Nguyên tắc này thể hiện trên 2 mặt: Thứ nhất, các nướcASEAN, không kể lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo đều bình đẳng với nhau trongnghĩa vụ đóng góp cũng như chia sẻ quyền lợi Thứ hai, hoạt động của tổ chứcASEAN được duy trì trên cơ sở luân phiên

c) Để tạo thuận lợi và đẩy nhanh các chương trình hợp tác kinh tếASEAN, trong Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ký tại Hội nghịCấp cao ASEAN lần thứ 4 ở Xinh-ga-po tháng 2/1992, các nước ASEAN đã thoảthuận nguyên tắc 6 - X, theo đó hai hay một số nước thành viên ASEAN có thểxúc tiến thực hiện trước các dự án ASEAN nếu các nước còn lại chưa sẵn

sàng tham gia, không cần phải đợi tất cả mới cùng thực hiện

3) Các nguyên tắc khác:

Trong quan hệ giữa các nước ASEAN đang dần dần hình thành một số cácnguyên tắc, tuy không thành văn, không chính thức song mọi người đều hiểu vàtôn trọng áp dụng như: Nguyên tắc có đi có lại, không đối đầu, thân thiện, khôngtuyên truyền tố cáo nhau qua báo chí, giữ gìn đoàn kết ASEAN và giữ bản sắcchung của Hiệp hội

1.1.3 Cơ cấu tổ chức:

Đối với mọi tổ chức thì việc có một bộ máy hợp lí là đặc biệt quan trọng

Nó góp phần chủ yếu cho sự thành công, thúc đẩy hợp tác giữa các thành viêntiến tới đạt được các mục tiêu đề ra ASEAN là một tổ chức hợp tác liên chínhphủ ở cấp độ khu vực, có cơ cấu tổ chức thường xuyên được cải tổ để thích hợp

Trang 25

với tình hình thực tế Từ khi ra đời đến nay, cơ cấu tổ chức ASEAN đã được cải

tổ qua 3 thời kì:

Thời kì từ ngày thành lập đến Hội nghị Thượng đỉnh Ba-li năm 1976: Cơcấu tổ chức ban đầu của ASEAN được nêu trong Tuyên bố ASEAN năm 1967gồm 4 thành phần: Hội nghị Bộ trưởng (AMM) là cơ quan hoạch định chính sáchcao nhất, gồm Bộ trưởng Ngoại giao của 5 nước thành viên, mỗi năm họp mộtlần và luân phiên giữa các nước; ủy ban thường trực theo dõi việc thực hiện cácquyết định chính của AMM và chịu trách nhiệm điều hành hoạt động củaASEAN giữa các Hội nghị AMM; Ban thư kí ASEAN quốc gia được thành lập ởmỗi nước thành viên, chịu trách nhiệm phối hợp các vấn đề ASEAN trong nội bộquốc gia và đảm bảo việc thực hiện các quyết định của AMM; Các ủy banthường trực và ủy ban đặc biệt về các lĩnh vực hoặc các vấn đề hợp tác cụ thể,đầu năm 1976 có 11 ủy ban thường trực và 9 ủy ban đặc biệt được thành lập

Thời kì từ sau Hội nghị Thượng đỉnh Ba-li năm 1976 đến Hội nghịThượng đỉnh năm 1992: Sau Hội nghị Thượng đỉnh Ba-li, bộ máy tổ chức củaASEAN đã có những thay đổi lớn thể hiện sự trưởng thành của Hiệp hội cũngnhư tầm quan trọng của hợp tác kinh tế Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao vẫn đượccoi là cơ quan hoạch định chính sách cao nhất của ASEAN, nhưng 5 Hội nghị Bộtrưởng khác cũng được thiết lập để thảo luận và thông qua các chương trình hợptác của ASEAN trên các lĩnh vực tương ứng Đó là các Hội nghị về các lĩnh vực:Kinh tế (AEM), Lao động (ALM), Phúc lợi xã hội (ASWM), Giáo dục (AEM)

và Thông tin (AIM) Tất cả các ủy ban trước đây cũng được cơ cấu lại thành 9 ủyban về: Công nghiệp, Khoáng sản và Năng lượng; Thương mại và Dịch vụ;Lương thực, Nông nghiệp và Lâm nghiệp; Tài chính và Ngân hàng; Vận tải vàLiên lạc; Ngân sách; Phát triển xã hội; Văn hóa và Thông tin; Khoa

Trang 26

học và Kĩ thuật Ngoài ra ASEAN cũng quyết định thành lập Ban thư kí ASEAN

do một Tổng thư kí đứng đầu có trụ sở tại Gia-các-ta (In-đô-nê-xi-a), Tổng thư kí

do các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN bổ nhiệm mỗi kì 2 năm trên cơ sở luânphiên

Thời kì từ sau Hội nghị Thượng đỉnh Xinh-ga-po năm 1992 đến nay: Hộinghị lần này đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình cải cách tổ chức bộmáy của ASEAN, hiện nay cơ cấu tổ chức của ASEAN được chia theo chức năng

cụ thể như sau:

- Các cơ quan hoạch định chính sách gồm:

+ Hội nghị Cấp cao là Diễn đàn của những người đứng đầu Chính phủ cácnước ASEAN, ban đầu Hội nghị cấp cao chỉ triệu tập khi cần thiết, nhưng từ năm

1992 là 3 năm một lần họp chính thức và hàng năm có một cuộc họp khôngchính thức

+ Hội nghị ngoại trưởng ASEAN có trách nhiệm đề ra và quyết định chínhsách cụ thể của ASEAN trên cơ sở các phương hướng và chính sách chung củaHội nghị Thượng đỉnh ASEAN, trước đây Hội nghị Cấp cao có trách nhiệm điềuphối tất cả các lĩnh vực hợp tác của ASEAN, những từ khi thể chế hóa Hội nghị

Bộ trưởng kinh tế ASEAN năm 1976, Hội nghị Ngoại trưởng tập trung vào hợptác trên các lĩnh vực chính trị - an ninh, ngoại giao, văn hóa - xã hội

+ Hội nghị Bộ trưởng kinh tế là cơ quan hoạch định chính sách cao nhất

về kinh tế, bao gồm Bộ trưởng kinh tế của các nước thành viên họp chính thứcmỗi năm một lần và có thể họp không chính thức AEM có Hội đồng AFTA đượcthành lập từ năm 1992 để đảm bảo việc thực hiện Chương trình ưu đãi thuế quan

có hiệu lực chung (CEPT), Hội đồng AFTA họp mỗi năm một lần ngay trước Hộinghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN

Trang 27

+ Hội nghị Bộ trưởng các ngành: Hội nghị Bộ trưởng của một ngành tronghợp tác kinh tế ASEAN sẽ được tổ chức khi cần thiết để thảo luận sự hợp táctrong ngành cụ thể đó Hiện có Hội nghị Bộ trưởng Năng lượng, Hội nghị Bộtrưởng Nông nghiệp, Lâm nghiệp Các Hội nghị Bộ trưởng ngành có trách nhiệmbáo cáo lên AEM.

+ Hội nghị bộ trưởng liên ngành (JMM) được tổ chức khi cần thiết để thúcđẩy sự hợp tác giữa các ngành và trao đổi ý kiến về hoạt động của ASEAN, được

tổ chức trước Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN, JMM bao gồm các Bộ trưởngNgoại giao và Bộ trưởng Kinh tế ASEAN

- Các cơ quan chấp hành:

+ Tổng thư kí ASEAN: Được những người đứng đầu Chính phủ ASEAN

bổ nhiệm theo khuyến nghị của Hội nghị AMM với nhiệm kỳ là 3 năm và có thểgia hạn thêm, nhưng không quá một nhiệm kỳ nữa; có hàm Bộ trưởng với quyềnhạn khởi xướng, khuyến nghị và phối hợp các hoạt động của ASEAN, nhằm giúpnâng cao hiệu quả các hoạt động và hợp tác của ASEAN Tổng thư ký ASEANđược tham dự các cuộc họp các cấp của ASEAN, chủ toạ các cuộc họp của ASCthay cho Chủ tịch ASC trừ phiên họp đầu tiên và cuối cùng

+ Cuộc họp các quan chức kinh tế cao cấp (SOM) cũng đã được thể chếhoá chính thức thành một bộ phận của cơ cấu ASEAN tại Hội nghị Cấp cao Ma-ni-la 1987 Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN 4 năm 1992, 5 uỷ ban kinh tế ASEAN

đã bị giải tán và SEOM được giao nhiệm vụ theo dõi tất cả các hoạt động tronghợp tác kinh tế ASEAN SEOM họp thường kỳ và báo cáo trực tiếp cho AEM

+ Cuộc họp các quan chức cao cấp khác: Là các cuộc họp các quan chứccao cấp về môi trường, ma tuý cũng như của các uỷ ban chuyên ngành ASEANnhư phát triển xã hội, khoa học và công nghệ, các vấn đề công chức, văn hoá và

Trang 28

thông tin Các cuộc họp này báo cáo cho ASC và Hội nghị các Bộ trưởng liên quan.

+ Cuộc họp tư vấn chung (JCM): Cơ chế họp JCM bao gồm Tổng thư kýASEAN, SOM, SEOM, các Tổng giám đốc ASEAN JCM được triệu tập khi cầnthiết dưới sự chủ toạ của Tổng thư ký ASEAN để thúc đẩy sự phối hợp giữa cácquan chức liên ngành Tổng thư ký ASEAN sau đó thông báo kết quả trực tiếpcho AMM và AEM

+ Uỷ ban thường trực ASEAN (ASC) bao gồm chủ tịch là Bộ trưởngNgoại giao của nước đăng cai Hội nghị AMM sắp tới, Tổng thư ký ASEAN vàTổng Giám đốc của các Ban thư ký ASEAN quốc gia ASC thực hiện công việccủa AMM trong thời gian giữa 2 kỳ họp và báo cáo trực tiếp cho AMM

+ Các ủy ban hợp tác chuyên ngành: Hiện có 6 ủy ban hợp tác chuyênngành hay còn gọi là ủy ban phi kinh tế về các lĩnh vực khoa học và công nghệ,văn hóa và trông tin, môi trường, phát triển xã hội, kiểm soát ma túy và các vấn

đề về công chức Các ủy ban này xem xét và kiến nghị những vấn đề liên quanđến hợp tác của ASEAN về việc triển khai, chuyển giao công nghệ và nghiêncứu trên các lĩnh vực cụ thể mà ủy ban phụ trách Chủ tịch ủy ban được luânphiên giữa các nước thành viên Mỗi ủy ban đều lập ra các tiểu ban hoặc nhómlàm việc phụ trách các phần việc cụ thể

+ Các ban thư ký ASEAN:

Ban thư kí ASEAN (quốc tế): Ban thư ký ASEAN được thành lập theoHiệp định ký tại Hội nghị Cấp cao lần thứ hai Ba-li 1976 để tăng cường phối hợpthực hiện các chính sách, chương trình và các hoạt động giữa các bộ phận khácnhau trong ASEAN, phục vụ các hội nghị của ASEAN

Trang 29

Ban thư kí ASEAN quốc gia: Mỗi nước thành viên ASEAN đều có Banthư ký quốc gia đặt trong bộ máy của Bộ Ngoại giao để tổ chức, thực hiện vàtheo dõi các hoạt động liên quan đến ASEAN của nước mình Ban thư ký quốcgia do một Tổng Vụ trưởng phụ trách.

- Các cơ chế hợp tác với nước thứ ba:

+ Hội nghị sau Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN với thành phầntham dự gồm các Ngoại trưởng ASEAN và Ngoại trưởng của 7 nước đối thoạiASEAN (Mĩ, Nhật Bản, Canađa, Ốt-xtrây-li-a, Niu Di-lân, EU và Hàn Quốc)

+ Uỷ ban ASEAN ở các nước thứ ba: Nhằm mục đích tăng cường trao đổi

và thúc đẩy mối quan hệ giữa ASEAN với bên đối thoại và các tổ chức quốc tế,ASEAN thành lập các uỷ ban tại các nước đối thoại Uỷ ban này gồm nhữngngười đứng đầu các cơ quan ngoại giao của các nước ASEAN tại nước sở tại.Hiện có 11 Uỷ ban ASEAN tại: Bon (CHLB Đức), Bru-xen (Bỉ), Can-be-ra (Ốt-xtrây-li-a), Ge-ne-vơ (Thuỵ Sĩ), Luân-đôn (Anh), Ôt-ta-oa (Canada), Pa-ri

(Pháp), Xơ-un (Hàn quốc), Oa-sinh-tơn (Mỹ) và Oen-ling-tơn (Niu Di-lân) Chủtịch các uỷ ban này báo cáo cho ASC và nhận chỉ thị từ ASC

+ Các cuộc họp của ASEAN với các Bên đối thoại

ASEAN có 11 Bên đối thoại: Ốt-xtrây-li-a, Canađa, EU, Nhật Bản, HànQuốc, Niu Di-lân, Mỹ, UNDP, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ ASEAN cũng có quan

hệ đối thoại theo từng lĩnh vực với Pa-kix-tan Trước khi có cuộc họp với cácBên đối thoại, các nước ASEAN tổ chức cuộc họp trù bị để phối hợp có lậptrường chung Cuộc họp này do quan chức cao cấp của nước điều phối(Coordinating Country), chủ trì và báo cáo cho ASC

1.1.4 Thành viên: (Hiện nay ASEAN có 10 nước thành viên chính thức)

Trang 30

- 8/8/1967: ASEAN được thành lập bởi năm nước: In-đô-nê-xi-a, xi-a, Phi-líp-pin, Xinh-ga-po và Thái Lan.

Ma-lai 1979: Chấp nhận Papua New Guinea làm quan sát viên

- Hợp tác về an ninh - chính trị: Mặc dù không được ghi nhận trong Tuyên

bố Băng-cốc nhưng những hoạt động đầu tiên của ASEAN lại được tập trung vàohợp tác chính trị Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ nhất họp tại Ba-li, In-đô-nê-xi-a vào ngày 23 và 24/2/1976 đã quyết định đưa ra những nguyên tắc làm

cơ sở pháp lý cho quan hệ hợp tác giữa các nước thành viên ở thời kì sau ViệtNam Cụ thể điều 13 của Hiệp ước Ba-li cam kết: “Trong trường hợp xảy ratranh chấp và nảy sinh các vấn đề tác động trực tiếp tới họ, các bên tham giaHiệp ước sẽ kiềm chế không đe dọa sử dụng vũ lực và sẽ luôn giải quyết cáctranh chấp như vậy với nhau thông qua thương lượng hữu nghị” [16, tr 70]

Một trong những đóng góp có ý nghĩa chính trong thời kì này là ASEAN

đã cùng với các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế tìm ra giải pháp chínhtrị toàn diện cho vấn đề Cam-pu-chia Về mặt an ninh, Hội nghị thượng đỉnhASEAN lần thứ 4 năm 1992 đã nhấn mạnh “ASEAN sẽ tìm cách để tất cả cácquốc gia thành viên tham gia vào các lĩnh vực hợp tác mới về vấn đề an ninh”[17, tr 11], vì vậy Diễn đàn khu vực ASEAN đã ra đời vào tháng 7/1993 Đây là

“Diễn đàn khu vực đang đạt được những tiến bộ chắc chắn như một khuôn khổ

Trang 31

an ninh đa phương đóng góp vào sự ổn định khu vực” [17, tr 12] Một đóng góp quan trọng nữa là ASEAN đã chủ động tạo lập được sự gắn kết giữa hai lục địa

Á - Âu (ASEM) được tổ chức tháng 3/1996 tại Băng-cốc, mạng lưới xuyên TháiBình Dương cũng được thể chế hóa bởi quá trình APEC nhưng thiếu sự liên kết

Á - Âu, ASEM đã làm cho tam giác quan hệ mang tính toàn cầu hoàn thiện hơn

và đủ “ba cạnh”

- Hợp tác về kinh tế: Tuyên bố thành lập ASEAN ngày 8/8/1967 đã đặtviệc “thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” là ưu tiên hàng đầu trong các mục tiêu củaHiệp hội nhằm đẩy mạnh hợp tác kinh tế trong khu vực Sự hợp tác kinh tế đượcthúc đẩy từ sau Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ nhất với một loạt ủy ban

và cơ chế hợp tác Trong quan hệ kinh tế đối ngoại ASEAN đã thiết lập mối quan

hệ kinh tế rộng rãi với các nước đối thoại như Mỹ, Nhật Bản, EU, với các nướcthứ 3 khác và tổ chức quốc tế

Thành tựu quan trọng trong lĩnh vực này là mức độ tăng trưởng cao đưaASEAN trở thành khu vực phát triển năng động, In-đô-nê-xi-a tăng từ 2,5% năm

1985 lên 7% năm 1990, Thái Lan là 3,5% và 10%, Xinh-ga-po là 1,6% và 8,3%[11, tr 13] Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ nhất đã thông qua 5 dự án côngnghiệp trong Kế hoạch các dự án công nghiệp ASEAN (AIP) nhưng tốc độ thựchiện còn chậm Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) bắt đầu thành lập từnăm 1993, thời hạn hoàn thành tùy từng nhóm nước, năm 2003 cho 6 nướcASEAN cũ, năm 2006 cho Việt Nam và có thể năm 2008 cho các nước còn lại.Một nội dung hợp tác kinh tế quan trọng là các nước đều quan tâm hình thànhcác tam giác tăng trưởng như: Nam ASEAN gồm In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a,Xinh-ga-po; Tây Bắc ASEAN gồm Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a, Thái Lan; Đông

Trang 32

ASEAN gồm Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin, In-đô-nê-xi-a; “Bán đảo vàng” gồm các nước Đông Dương, Thái Lan, My-an-ma.

- Hợp tác về văn hóa - xã hội và phát triển con người: Sự hợp tác này rấtphong phú, bao hàm cả sự phát triển văn hóa - xã hội, giáo dục, y tế, thể thao,khoa học - công nghệ, hợp tác để tăng cường an ninh xã hội và phát triển nguồnnhân lực

Tuyên bố Ma-ni-la tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 3 đã đưa rakhái niệm “Hợp tác chuyên ngành”, nêu rõ phải phát triển giáo dục, tăng cườnghiểu biết trong ASEAN, đẩy mạnh trao đổi thông tin, phát triển hợp tác y tế, laođộng, luật pháp, dân số, chăm sóc trẻ em, văn hóa xã hội, hợp tác trong đầu tưvào khoa học, công nghệ, đào tạo và chuyển giao công nghệ, nhiều nội dung hợptác phòng chống AIDS, ma túy, cướp biển…[17, tr 15-16] Một trong những lĩnhvực hợp tác có hiệu quả là về văn hóa thông tin, ủy ban văn hóa thông tinASEAN (ASEAN COCI) trong những năm qua đã thu được những thành quảđáng khích lệ, từ đó các nước trong khu vực đã hiểu biết nhau hơn

1.2 Khái quát quá trình hợp tác kinh tế nội khối và yêu cầu đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế nội khối của ASEAN:

Trong các lĩnh vực hợp tác chính của ASEAN, hợp tác về kinh tế là lĩnhvực hợp tác chủ chốt nhằm đẩy mạnh hợp tác khu vực và tăng cường nền tảngcủa một cộng đồng hoà bình, thịnh vượng ở Đông Nam Á Nhìn chung, mục tiêu

cơ bản của hợp tác kinh tế ASEAN là nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xoá bỏnghèo đói, bệnh tật, mù chữ và cải thiện đời sống của nhân dân, làm nền tảngxây dựng một khu vực hoà bình, thịnh vượng và công bằng xã hội

1.2.1 Khái quát quá trình hợp tác kinh tế nội khối của ASEAN:

1/ Các giai đoạn phát triển hợp tác kinh tế ASEAN:

Trang 33

Kể từ khi thành lập năm 1967 ASEAN đã đặt mục tiêu “thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế” là ưu tiên hợp tác Tuyên bố thành lập ASEAN (Tuyên bố Băng-cốc) ngày 08/8/1967 nêu mục đích các quốc gia thành viên “sẽ thông qua các nỗlực chung, tích cực hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau nhằm đạt được các mục tiêu thúcđẩy sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa…”.

Có thể nêu các giai đoạn phát triển hợp tác kinh tế ASEAN như sau:

a) Thời kỳ đầu: Đây là khoảng thời gian từ khi thành lập năm 1967, hợptác kinh tế ASEAN chưa được phát triển mạnh ASEAN chỉ tiến hành một sốhoạt động như lập Phòng Thương mại và Công nghiệp ASEAN (ASEAN CCI)năm 1972 nhằm tham khảo ý kiến khu vực tư nhân trong hợp tác kinh tếASEAN; lập ủy ban ASEAN tại Giơ-ne-vơ năm 1973 để phối hợp chính sáchchung của ASEAN, gồm các vấn đề kinh tế, tại các diễn đàn khu vực và quốc tế

b) Thời kỳ 1975 - 1992: Hợp tác kinh tế của Hiệp hội chỉ thực sự đượckhởi động từ khi ASEAN tổ chức Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứnhất (tháng 11/1975) chuẩn bị cho Hội nghị Cấp cao ASEAN đầu tiên tháng2/1976 Đây là quá trình ASEAN đặt nền móng cho sự hợp tác kinh tế, thông qua

kế hoạch cũng như thể chế tổ chức các nền kinh tế ASEAN từng bước đi vào hợptác Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ nhất (Ba-li, In-đô-nê-xi-a, ngày 23-24/2/1976), các Lãnh đạo ASEAN đã ký Tuyên bố Hòa hợp ASEAN I (còn gọi làTuyên bố Ba-li I) qua đó lần đầu tiên đề cập cụ thể đến các mục tiêu chung củahợp tác kinh tế ASEAN, nêu rằng sẽ “phối hợp một cách có hiệu quả hơn để tăngcường hợp tác trong nông nghiệp và công nghiệp; mở rộng thương mại, kể cả cácvấn đề về thương mại hàng hóa quốc tế; cải thiện giao thông vận tại và bưu điện

- viễn thông và nâng cao đời sống nhân dân” Sự hợp tác kinh tế ASEAN đượcđẩy mạnh từ sau Hội nghị Cấp cao này với việc: (i) Đề ra một số

Trang 34

chương trình hành động hợp tác kinh tế lớn của ASEAN lúc bấy giờ nhằm thúcđẩy thương mại nội bộ và hợp tác công nghiệp ASEAN: a) Đối với thương mạilà: Thỏa thuận ưu đãi thương mại ASEAN (PTA - được ký năm 1977); b) Đối vớicông nghiệp gồm: Thỏa thuận khung về các dự án công nghiệp ASEAN ký năm1980; Thỏa thuận khung về chương trình hỗ trợ công nghiệp ASEAN ký năm

1981, sau đó là kế hoạch hỗ trợ sản xuất công nghiệp cùng nhãn mác; và Thỏathuận khung về liên doanh công nghiệp ASEAN ký năm 1983; (ii) Lập 5 ủy bankinh tế làm bộ máy điều hành các hoạt động hợp tác là các Uỷ ban về hợp táclương thực, nông nghiệp và lâm nghiệp; tài chính và ngân hàng; công nghiệp,khoáng sản và năng lượng; vận tải và viễn thông; thương mại và du lịch

c) Thời kỳ 1992 - 2003: Các nền kinh tế ASEAN có sự phát triển nhanh vàluôn đạt mức tăng trưởng GDP cao (trên 7%/năm) vào những năm cuối thập kỷ

70 đến đầu thập kỷ 90 và nhờ đó ASEAN được coi là khu vực phát triển kinh tếnăng động Đây là giai đoạn hợp tác kinh tế ASEAN được mở rộng và phát triểntương đối toàn diện so với trước, là thời kỳ ASEAN quyết định tiến hành thựchiện Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) được coi như là bước tiến vềchất trong lịch sử hợp tác kinh tế ASEAN Đây là thời kỳ có những điều kiện vànhân tố thuận lợi thúc đẩy ASEAN đi đến hình thành khuôn khổ hợp tác trêntoàn khu vực Đông Nam Á, qua việc Việt Nam cũng như các nước Đông Nam Ákhác tham gia ASEAN hoàn tất ý tưởng về một ASEAN bao gồm cả 10 quốc giaĐông Nam Á, đưa đến những phát triển căn bản đối với hợp tác ASEAN (ViệtNam là thành viên đầy đủ của ASEAN ngày 28/7/1995, Lào và My-an-ma tháng7/1997, Cam-pu-chia 30/4/1999) Khi tham gia ASEAN, Việt Nam và các quốcgia CLM khẳng định sẽ tuân thủ các cam kết và điều khoản của các văn kiện vàthỏa thuận hợp tác ASEAN, bao gồm cả hợp tác kinh tế Đây cũng là giai đoạn

Trang 35

ASEAN tăng cường khởi xướng tạô dựng các mối liên kết với các đối tác kinh tếphát triển năng động khác trong và ngoài khu vực.

d) Thời kỳ 2003 - nay: Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 9 (Ba-li, đô-nê-xi-a, ngày 7-8/10/2003) các Lãnh đạo ASEAN đã ký Tuyên bố Hòa hợpASEAN II (Tuyên bố Ba-li II) nêu mục tiêu và những định hướng chiến lượchướng tới tạo lập Cộng đồng ASEAN dựa trên 3 Cộng đồng trụ cột về an ninh(ASC), kinh tế (AEC) và văn hóa - xã hội (ASCC) Để thực hiện mục tiêu đó,Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 10 (Viên-chăn, Lào, ngày 28-30/11/2004) đã

In-đề ra các Kế hoạch Hành động AEC, ASC, ASCC và Chương trình Hành độngViên-chăn (VAP) với những chương trình, biện pháp cụ thể hóa việc thực hiệnthời kỳ 2004 - 2010 nối tiếp Chương trình Hành động Hà Nội (HPA), gồm cóthực hiện Sáng kiến liên kết ASEAN (IAI) về thu hẹp khoảng cách phát triểntrong ASEAN Đồng thời, ký Hiệp định khung về 11 lĩnh vực ưu tiên hội nhậpcủa ASEAN và lập Lộ trình liên kết ASEAN (RIA) nêu các biện pháp và lịchtrình cụ thể cho hợp tác, liên kết ASEAN tại các lĩnh vực kinh tế hướng tới xâydựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) Hội nghị cũng thảo luận tình hình kinh

tế khu vực và quốc tế, tin tưởng các nền kinh tế khu vực đã phục hồi và có triểnvọng tăng trưởng tốt trong năm 2004 - 2005; bày tỏ quyết tâm cùng hợp tác giảmthiểu tác động tiêu cực đối với nền kinh tế do giá dầu tăng và dịch cúm gia cầm;ủng hộ sử dụng năng lượng thay thế (nhiên liệu sinh học, nguồn thuỷ điện) vàlập các Đội ứng phó dịch bệnh bùng phát; đề nghị thúc đẩy hợp tác các Tiểuvùng phát triển AMBDC, BIMP-EAGA, GMS, ACMECS; hợp tác với khu vựcdoanh nghiệp tư nhân hoạch định chính sách hợp tác kinh tế ASEAN qua cáckhuyến nghị của Hội đồng tư vấn kinh doanh ASEAN (ABAC) [29, tr 1]

2) Cơ cấu hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư:

Trang 36

Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN (AEM): Đây là cơ cấu điều hành

và hoạch định hợp tác cao nhất trên lĩnh vực kinh tế của ASEAN Hội nghị AEMhọp chính thức mỗi năm một lần Hội nghị gần đây nhất, AEM lần thứ 31, diễn

ra tại Xinh-ga-po vào tháng 9/1999 và Hội nghị kế tiếp sẽ tổ chức vào tháng10/2000 Được sự phân công của Chính phủ, Bộ Trưởng Thương mại nước tatham dự các AEM

Hội đồng AFTA: Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA) là một

mục tiêu lớn, trọng tâm hàng đầu trong hợp tác kinh tế ASEAN Hiệp định vềChương trình Thuế quan Ưu đãi Hiệu lực Chung (CEPT) để thực hiện Khu vựcThương mại Tự do ASEAN (AFTA) được ký kết ngày 28/1/1992 giữa các nướcASEAN Hội đồng AFTA được thành lập để trực tiếp giám sát, điều hành vàkiểm tra việc triển khai thực hiện CEPT Hội đồng AFTA là cơ quan cấp Bộtrưởng, gồm đại diện của các nước thành viên và Tổng Thư ký ASEAN Hộiđồng họp khi cần thiết, nhưng ít nhất mỗi năm một lần và báo cáo trực tiếp lênHội nghị AEM Việt Nam cử Bộ trưởng Tài chính tham gia Hội đồng AFTA

Hội nghị các quan chức kinh tế cấp cao (SEOM): là cơ quan cấp dưới

trực tiếp giúp việc cho AEM và Hội đồng AFTA, trực tiếp giải quyết mọi khíacạnh trong hợp tác kinh tế ASEAN SEOM họp 2 - 3 tháng một lần và có tráchnhiệm báo cáo lên AEM và Hội đồng AFTA Việt Nam cử Vụ trưởng Vụ Chínhsách Thương mại Đa biên, Bộ Thương mại làm trưởng đoàn tham gia SEOM

Hội đồng AIA và Uỷ Ban điều phối về Đầu tư (CCI): Để phối hợp,

giám sát và điều hành việc thực hiện Hiệp định khung về Khu vực Đầu tưASEAN (AIA) ký kết ngày 7/10/1998, Hội đồng AIA được thành lập với cơ chếhoạt động tương tự như Hội đồng AFTA Hội đồng AIA báo cáo trực tiếp lên

Trang 37

AEM Uỷ ban Điều phối về Đầu tư là cơ quan cấp Vụ giúp việc cho Hội đồngAIA Việt Nam cử Bộ Kế hoạch và Đầu tư tham gia Hội đồng AIA và CCI.

Uỷ ban Điều phối về Dịch vụ (CCS): Được thành lập để xây dựng các

phương án đàm phán, phối hợp, giám sát và điều hành việc thực hiện kết quảđàm phán về dịch vụ theo Hiệp định khung ASEAN về Dịch vụ (AFAS) ký kếtngày 15/12/ 1995 CCS là cơ quan cấp Vụ và báo cáo lên SEOM và AEM

1.2.2 Yêu cầu đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế nội khối của ASEAN:

Để tiếp tục duy trì tính năng động phát triển và nâng cao khả năng cạnhtranh của khu vực trước những thách thức mạnh mẽ từ những biến đổi to lớn củanền kinh tế toàn cầu khi trong thế kỷ 21, ASEAN đã và đang tiến hành xây dựngchương trình hội nhập kinh tế sâu sắc hơn nữa giữa các nước thành viên trongthế kỷ 21 nhằm phát triển ASEAN thành một khu vực ổn định, hoà bình, thịnhvượng và không có đói nghèo, một trung tâm kinh tế và chính trị phát triển củathế giới trong thế cân bằng với các trung tâm khác là Bắc Mỹ và Châu Âu

Vì vậy ngay tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN không chính thức lần thứ 2ngày 15/12/1997 một kế hoạch tổng quát cho hợp tác ASEAN đến năm 2020 đãđược đưa ra, kế hoạch đó được lấy tên là "Viễn cảnh ASEAN 2020 - Cộng tácchặt chẽ trong sự phát triển năng động" nhằm xác định mục tiêu, chiến lược vàchương trình hành động cho sự hợp tác kinh tế của các nước thành viên bước vàothế kỷ 21 Mục tiêu của Viễn cảnh ASEAN 2020 là tạo ra một Khu vực Kinh tếASEAN ổn định, thịnh vượng và có sức cạnh tranh cao, trong đó hàng hoá, dịch

vụ và đầu tư được lưu thông tự do, phát triển kinh tế đồng đều giữa các nước,giảm bớt đói nghèo và sự chênh lệch về kinh tế, xã hội, tăng cường ổn địnhchính trị, kinh tế và xã hội Để thực hiện mục tiêu đó, ASEAN sẽ thực hiện chiếnlược sau đây:

Trang 38

- Hoàn thành Khu vực Thương mại Tự do ASEAN và đẩy nhanh việc tự

do hóa thương mại dịch vụ;

- Hoàn thành Khu vực đầu tư ASEAN vào năm 2010 và thực hiện đầu tư

tự do vào năm 2020;

- Tăng cường và mở rộng hợp tác tiểu vùng ở các khu vực tăng trưởng tiểuvùng hiện có và thiết lập những khu vực tăng trưởng tiểu vùng mới;

- Tiếp tục củng cố và mở rộng thêm các mối liên kết kinh tế khu vực ngoài

- Hợp tác, tăng cường hệ thống thương mại đa phương;

- Tăng cường vai trò của giới doanh nghiệp, coi đó là động lực của pháttriển

Bước vào thế kỷ 21 đòi hỏi ASEAN không chỉ dừng lại ở mức độ hợp táccùng nhau thực hiện các chương trình hợp tác kinh tế như hiện tại mà sẽ tiến lênhội nhập kinh tế sâu sắc hơn, gắn bó chặt chẽ với nhau hơn để thực hiện một khuvực kinh tế ổn định, hoà bình và thịnh vượng Trước mắt các nước ASEAN sẽcùng nhau hợp tác đẩy nhanh hơn tốc độ thực hiện Khu vực Mậu dịch Tự doAFTA Đồng thời đẩy mạnh và hợp tác sâu sắc hơn trong các chương trình hợptác ở các lĩnh vực đầu tư, dịch vụ, tài chính, công nghiệp, trong đó đặc biệt quantâm là xây dựng Khu vực Đầu tư ASEAN có sức hấp dẫn cao để tiến tới thànhlập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào năm 2015

Mặc dù ý tưởng về AEC ra đời trên nền tảng hợp tác kinh tế khá vữngchắc đã có của ASEAN, song nếu để một cách tự nhiên thì phải mất rất lâu để sựhợp tác đó chuyển thành một Cộng đồng kinh tế ASEAN thật sự Kể từ khi Hiệpđịnh AFTA được ký cho đến năm 2003, ASEAN đã có rất nhiều các chương trìnhhợp tác kinh tế khu vực nhỏ lẻ Tuy nhiên những chương trình này đã tỏ ra

Trang 39

chưa đem lại kết quả nhanh, hội nhập kinh tế khu vực tổng thể vẫn chậm chạpbởi thiếu một cam kết toàn diện cuối cùng Các nhà lãnh đạo ASEAN khôngmuốn chỉ tiếp tục tạo ra những mảnh vụn mới trong hợp tác kinh tế khu vực đểrồi lại gặp nhiều khó khăn khi lắp ghép chúng lại với nhau Thay vì chỉ theo đuổimỗi hình thức hợp tác theo những cam kết manh mún, nhỏ lẻ, AEC là “giải pháp

cả gói” hay nói đúng hơn là “quyết tâm chính trị cả gói” cho hội nhập kinh tếASEAN Có thể điều kiện và thể chế hiện nay chưa đủ để ASEAN có một cộngđồng kinh tế thực sự song hợp tác kinh tế trong ASEAN cần phải được xem như

là một cộng đồng để tướng xứng với hai cộng đồng an ninh - chính trị và văn hoá

- xã hội cũng như việc hình thành Cộng đồng ASEAN Tuy nhiên nếu hợp táckinh tế trở thành cơ sở cho các hoạt động chính trị của ASEAN và ý nghĩa tồn tạicủa chính khối này kể từ đầu những năm 1990, thì AEC sẽ trở thành nền tảngduy trì sự tồn tại và phát triển của Cộng đồng ASEAN với tư cách là một tổ chứckhu vực, vì vậy đòi hỏi việc thành lập AEC phải là “một quyết tâm chính trị cảgói nhằm phát triển kinh tế” [22, tr 69]

Trang 40

Chương 2: KHUÔN KHỔ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIẾN HỘI NHẬP KINH

TẾ NỘI KHỐI ASEAN

Nền tảng của quá trình hội nhập kinh tế nội khối ASEAN chính là khuônkhổ pháp lý đã và đang hình thành, ngày càng hoàn thiện cũng như đang đượccác nước ASEAN hiện thực hóa bằng hành động Hệ thống pháp luật về hội nhậpkinh tế nội khối của ASEAN có thể hiểu là tất cả các văn bản hợp tác kinh tế đãđược các nước ASEAN ký kết, song ở phạm vi chương này chỉ là sự tổng hợpkhái quát và một số nét thực thi các văn bản đó

2.1 Khái quát khuôn khổ pháp lý của quá trình hội nhập kinh tế nội khối ASEAN:

2.1.1 Các Hội nghị thượng đỉnh (cấp cao) ASEAN:

Hội nghị cấp cao ASEAN là hội nghị giữa các nhà lãnh đạo của các quốcgia thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á nhằm thảo luận về các vấn đềhợp tác phát triển kinh tế, văn hóa và an ninh giữa các nước thành viên với nhaucũng như với các thành viên đối thoại của ASEAN Kể từ Hội nghị cấp caoASEAN lần thứ nhất được tổ chức vào năm 1976, đến nay đã diễn ra 17 kỳ Hộinghị [26, tr 1]

Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ nhất được họp tại Ba-li (In-đô-nê-xi-a)

từ ngày 23 đến ngày 24-2-1976 Hội nghị đã thông qua các văn kiện quan trọng:Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC), khẳng định 5 nguyên tắccùng tồn tại hòa bình; Tuyên bố về sự hòa hợp ASEAN, cam kết cùng phối hợp

để bảo đảm sự ổn định khu vực cũng như tăng cường sự hợp tác kinh tế, văn hóa,giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên của ASEAN; Hiệp định thành lập Ban Thư

Ngày đăng: 04/11/2020, 15:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w