1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lịch sử pháp luật về giáo dục ở việt nam từ 1945 đến nay

133 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 144,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước đến trước thời kỳđổi mới 1975 – 1986 các cơ quan quản lý giáo dục đã ban hành những vănbản nhằm thống nhất quản lý mạng lưới các cơ sở gi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN HUY HỒNG LAM

LỊCH SỬ PHÁP LUẬT VỀ GIÁO DỤC

Ở VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN NAY

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số: 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS Chu Hồng Thanh

Trang 2

MỤC LỤC

Trang bìa phụ

Lời cam đoan

Mục lục

PHẦN MỞ ĐẦU 1

I CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1

II TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ Ý NGHĨA LÝ LUẬN 4

III NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI 6

IV DỰ KIẾN KẾ HOẠCH THỰC HIỆN 7

Chương 1: KHÁI LUẬN VỀ GIÁO DỤC VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIÁO DỤC9 1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển giáo dục và hoàn thiện pháp luật về giáo dục 9 1.2 Khái niệm pháp luật về giáo dục 18

1.3 Sự pháp điển pháp luật về giáo dục ở nước ta 19

Kết luận chương 1 22

Chương 2: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN PHÁP LUẬT VỀ GIÁO DỤC 24

2.1 Pháp luật về giáo dục từ ngày thành lập nước đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) 24

2.1.1 Pháp luật về giáo dục trong năm đầu của nền cộng hòa 24

2.1.2 Pháp luật về giáo dục trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (12.1946 – 10.1954) 29

2.2 Pháp luật về giáo dục thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975) 31

2.3 Pháp luật về giáo dục từ khi đất nước thống nhất đến trước thời kỳ đổi mới (1975 - 1986) 35

2.4 Pháp luật về giáo dục từ khi đổi mới đến nay (1986 đến nay) 37

Trang 3

2.4.1 Pháp luật về giáo dục từ 1986 đến 1998 372.4.2 Luật giáo dục năm 1998 và hệ thống văn bản quy định chi tiết,

hướng dẫn thi hành 392.4.3 Luật giáo dục năm 2005 việc xây dựng hệ thống văn bản quy

phạm pháp luật về giáo dục 432.4.4 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục năm 2009 712.4.5 Luật giáo dục đại học 73Kết luận chương 2 82

Chương 3 : PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP XÂY DỰNG PHÁP

LUẬT VỀ GIAO DỤC TỪ NAY ĐẾN NĂM 2020 84 3.1

Thực tiễn giáo dục và Chiến lược phát triển giáo dục đến

năm 2020 843.1.1 Thực tiễn giáo dục hiện nay 843.1.2 Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2020 90

Phương hướng, giải pháp xây dựng pháp luật từ nay đến năm

2020 và một số giải pháp xây dựng pháp luật về giáo dục từ

nay đến năm 2020 1143.4.1 Phương hướng xây dựng pháp luật về giáo dục từ nay đến năm 2020

114

3.4.2 Giải pháp xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về giáo

dục từ nay đến 2020 116

KẾT LUẬN 124 TÀI LIỆU THAM KHẢO 126

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

I CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Ngày 08/09/1945, chỉ sáu ngày sau ngày thành lập nước, Chính phủlâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ban hành bốn Sắc lệnh về giáo dục:Sắc lệnh số 16 về việc đặt ra ngạch thanh tra học vụ, Sắc lệnh số 17 về việcđặt ra bình dân học vụ, Sắc lệnh số 19 về việc lập cho công nhân và thợthuyền những lớp học buổi tối, Sắc lệnh số 20 về việc định rằng học chữ quốcngữ từ nay bắt buộc và không mất tiền tạo nên một phong trào xoá nạn mùchữ, nâng cao dân trí (đọc được sách báo, mở mang kiến thức về thường thứckhoa học, chính trị, văn hoá,…) trong toàn dân chỉ sau một năm đã có 74.975lớp với 95.650 giáo viên, riêng ở Bắc Bộ và Trung Bộ đã có 2,5 triệu ngườibiết đọc, biết viết

Chỉ trong vòng một năm sau ngày thành lập nước, Chính phủ Việt NamDân chủ Cộng hoà đã ban hành Sắc lệnh số 146 ngày 10/08/1946 về việc đặtnhững nguyên tắc căn bản của nền giáo dục mới, Sắc lệnh số 147 ngày10/08/1946 về tổ chức bậc học cơ bản Các sắc lệnh này đã đặt ra nhữngnguyên tắc cơ bản của giáo dục Việt Nam và xây dựng những nền móng đầutiên, vững chắc của hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam

Các nguyên tắc cơ bản này đã được ghi nhận tại Điều 15 Hiến pháp 1946 Trong giai đoạn hai cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) và

chống Mỹ (1954 - 1975) nhiều văn bản pháp luật về giáo dục đã được banhành, dần hình thành hệ thống pháp luật về giáo dục điều chỉnh những quyđịnh về hệ thống giáo dục quốc dân, chương trình giáo dục, các loại hình nhàtrường, quy chế thi các cấp, chế độ đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáodục, các biện pháp bảo đảm quyền học tập của công Điều 15 Hiến pháp năm

1959 đã khẳng định quyền học tập của công dân và các biện pháp bảo đảmquyền học tập của công dân

Trang 5

Từ ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước đến trước thời kỳđổi mới (1975 – 1986) các cơ quan quản lý giáo dục đã ban hành những vănbản nhằm thống nhất quản lý mạng lưới các cơ sở giáo dục trên phạm vi cảnước, từng bước áp dụng thống nhất hệ thống văn bản quy phạm phạm phápluật về giáo dục đối với các loại trường, các ngành học, cấp học, xác định hệthống giáo dục phổ thông 12 năm, … những nguyên lý của giáo dục thời kỳnày đã được ghi nhận tại Điều 40, Điều 41 Hiến pháp năm 1959 như học điđôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với

xã hội, hệ thống giáo dục được Hiến pháp quy định bao gồm: giáo dục mầmnon, giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục đại học

Từ giai đoạn đoạn đổi mới đất nước từ 1987 đến nay, pháp luật về giáodục đã từng bước được hình thành và phát triển tạo điều kiện để mở rộng quy

mô, đa dạng hoá các hình thức giáo dục và nâng cấp cơ sở vật chất cho nhàtrường Năm 1991, Quốc hội đã thông qua Luật phổ cập giáo dục tiểu học làLuật chuyên ngành đầu tiên về giáo dục mặc dù phạm vi điều chỉnh của Luậtmới chỉ giới hạn đối với việc phổ cập một bậc học nhưng đã có tác dụng quantrọng trong sự nghiệp nâng cao dân trí, góp phần thực hiện việc “Nhà nước…phổ cập giáo dục tiểu học”, “bậc tiểu học là bắt bộc, không phải trả học phí”

mà Hiến pháp 1992 đã quy định

Điều 35 Hiến pháp 1992, được sửa đổi bổ sung một số điều theo Nghịquyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 đã khẳng định vai trò, mục tiêu củagiáo dục “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Nhà nước và xã hội pháttriển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Mụctiêu của giáo dục là hình thành và và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và nănglực của công dân; đào tạo những người lao động có nghề, năng động và sáng tạo,

có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dângiàu nước mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”

Trang 6

Năm 1998, Luật giáo dục đã được quốc hội thông qua, là lần pháp điểnhoá đầu tiên pháp luật về giáo dục đã thống nhất quy định về mục tiêu giáodục; tính chất nguyên lý, giáo dục; yêu cầu về nội dung, phương pháp giáodục; hệ thống giáo dục quốc dân; nhà trường và cơ sở giáo dục khác; nhàgiáo; người học; quan hệ nhà trường, gia đình và xã hội; quản lý nhà nước vềgiáo dục; văn bằng, chứng chỉ; xã hội hoá sự nghiệp giáo dục.

Năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật giáo dục thay thế Luật giáo dụcnăm 1998, Luật giáo dục 2005 được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triểnnhững quy định của Luật giáo dục năm 1998 đã phát huy tác dụng tích cực,tạo hành lang pháp lý trong tổ chức và hoạt động giáo dục Luật giáo dục

2005 đã kế thừa và phát triển nhiều nội dung của Luật giáo dục năm 1998.Những nội dung mới được bổ sung bao gồm các quy định nhằm tập trung giảiquyết năm nhóm vấn đề: thứ nhất, hoàn thiện một bước về hệ thống giáo dụcquốc dân, khẳng định vị trí của giáo dục thường xuyên, phát triển giáo dụcnghề nghiệp theo ba cấp đào tạo, tăng khả năng liên thông, phân luồng giữacác bộ phận của hệ thống; thứ hai, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục,xác định rõ yêu cầu về chương trình giáo dục, về điều kiện thành lập nhàtrường, xác định rõ tiêu chí cơ bản để một cơ sở giáo dục đại học được phépđào tạo tiến sĩ, định hướng về công tác kiểm định chất lượng giáo dục, tạođiều kiện chuyển đổi từ đào tạo theo năm học sang đào tạo theo tín chỉ, tăngtính cạnh tranh giữa các cơ sở giáo dục; thứ ba, nâng cao tính công bằng tronggiáo dục và tăng thêm cơ hội học tập của con em đồng bào dân tộc thiểu số,các đối tượng được hưởng chính sách xã hội, con em gia đình nghèo; thứ tư,tăng cường quản lý nhà nước về giáo dục đồng thời nâng cao tính tự chủ, tựchịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục, đặc biệt là cơ sở giáo dục đại học, cơ sởgiáo dục nghề nghiệp; thứ năm, khuyến khích đầu tư mở trường dân lập, tưthục đồng thời tạo cơ sở pháp lý để nâng cao chất lượng hoạt động của cáctrường dân lập, tư thục

Trang 7

Nội dung chủ yếu của pháp luật về giáo dục trong thời kỳ từ khi bắt đầuđổi mới cho đến nay là những quy định nhằm chuyển đổi hệ thống giáo dụcquốc dân từ mục tiêu phục vụ nền kinh tế kế hoạch hoá sang đáp ứng yêu cầucủa nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Pháp luật về giáo dục đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao dântrí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài phục vụ hai cuộc kháng chiến chốngPháp và chống Mỹ của dân tộc cũng như sự thành công của công cuộc đổimới đất nước Nhưng trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thươngmại thế giới và hội nhập sâu rộng với thế giới đòi hỏi cần phải đổi mới mạnh

mẽ hơn nữa pháp luật về giáo dục nhằm tạo ra nguồn nhân lực chất lượng caophục vụ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang phát triểnvới tốc độ cao của đất nước trong bối cảnh quá trình toàn cầu hoá đang tácđộng đến mọi lĩnh vực của đời sống đất nước Vì vậy, cần thiết phải nghiêncứu quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về giáo dục Việt Nam từnăm 1945 đến nay để đánh giá vai trò tích cực và hạn chế của pháp luật vềgiáo dục trong từng thời kỳ đối với sự phát triển của giáo dục và xã hội, trên

cơ sở đó nghiên cứu phương hướng xây dựng pháp luật về giáo dục tronggiai đoạn hiện nay nhằm thúc đẩy sự phát triển các quan hệ xã hội trong lĩnhvực giáo dục phục vụ cho việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu pháttriển kinh tế xã hội của đất nước nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành mộtnước công nghiệp vào năm 2020

AI. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ Ý NGHĨA LÝ LUẬN

Giáo dục là vấn đề được rất nhiều người quan tâm, nghiên cứu Chođến nay đã có rất nhiều công trình và bài viết quan tâm đến vấn đề giáo dục.Phần lớn các công trình nghiên cứu đều tập trung vào các nội dung chuyênmôn giáo dục bao gồm việc nghiên cứu về các bậc học cụ thể trong hệ thốnggiáo dục quốc dân qua đó góp phần đổi mới hệ thống giáo dục quốc dân, đáp

Trang 8

ứng ngày càng tốt hơn mục tiêu phát triển quốc gia về giáo dục hoặc quan tâmđến vấn đề quan điểm phát triển giáo dục, chiến lược giáo dục, chính sáchnâng cao chất lượng và hiệu quả, các chính sách về đào tạo giáo viên, xâydựng cơ sở vật chất, trường học như cuốn “Giáo dục Việt Nam đổi mới vàphát triển, hiện đại hóa‟ của nhóm tác giả GS.TSKH Vũ Ngọc Hải, PGS.TSĐặng Bá Lãm, PGS.TS Trần Khánh Đức năm 2007, bài viết “Ngành giáo dụcđào tạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và triển khai Nghịquyết đại hội IX (Nguyễn Minh Hiển, Tạp chí Cộng sản số 22 tháng 8/2002);

“Phát triển con người bền vững là trọng điểm của phát triển giáo dục”, “Đổimới mạnh mẽ giáo dục nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực” và “Tiếptục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện” (Giáo sư Viện sĩ Phạm MinhHạc, tạp chí Khoa giáo số 1 tháng 1/2004 và Tạp chí Cộng sản số 25 tháng9/2002); “nhận thức và quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục”(PGS.TS Nghiêm Đình Vì, tạp chí Khoa giáo số 1/2004), “Đổi mới giáo dụcđại học Việt Nam” (GS.TS Bành Tiến Long, 2005), “Đổi mới giáo dục đại học

và hội nhập quốc tế” (Nhà xuất bản giáo dục, 2005) hoặc nghiên cứu cơ sở lýluận và thực tiễn trong việc xây dựng những luật chuyên ngành trong lĩnh vựcgiáo dục, nghiên cứu lý luận về việc hoàn thiện pháp luật về giáo dục hoặcnghiên cứu về lịch sử phát triển giáo dục nói chung như “Hệ thống giáo dục

và Luật giáo dục một số nước trên thế giới”, “Tìm hiểu Luật giáo dục 2005”,

“Giới thiệu Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục 2005” (VụPháp chế, Bộ Giáo dục và Đào tạo), “Hoàn thiện các bảo đảm pháp luật vềquyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trường đại học, cao đẳng củaViệt Nam trong giai đoạn hiện nay” (Nguyễn Đức Cường – Luận văn thạc sĩLuật học, 2006), “Hoàn thiện pháp luật về giáo dục ở Việt Nam hiện nay”, (LêThị Kim Dung – Luận văn Thạc sĩ Luật học, 2004) Chưa có một công trìnhnào nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử phát triển của pháp luật về giáo

Trang 9

dục từ năm 1945 đến nay, trên cơ sở phân tích, đánh giá lịch sử phát triển củapháp luật về giáo dục từ 1945 đến nay, tình hình phát triển kinh tế - xã hội,thực tiễn giáo dục hiện nay và thực tiễn thi hành pháp luật về giáo dục trongthời gian qua xác định phương hướng xây dựng pháp luật từ nay đến năm

2020 nhằm thúc đẩy sự phát triển các quan hệ xã hội trong lĩnh vực giáo dụcphục vụ cho việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế

xã hội của đất nước nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành một nước côngnghiệp vào năm 2020

BI. NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI

1 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp luận

- Chủ nghĩa duy vật lịch sử

- Chủ nghĩa duy vật biện chứng

- Phép biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

b Phương pháp nghiên cứu cụ thể

- Phân tích quy định của pháp luật

- Phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, khảo sát thực tế

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

a Mục đích nghiên cứu của luận văn

Luận văn nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật vềgiáo dục Việt Nam từ năm 1945 đến nay; tình hình phát triển kinh tế - xã hội,thực tiễn giáo dục hiện nay và thực tiễn thi hành pháp luật về giáo dục trongthời gian qua nhằm xác định phương hướng, giải pháp xây dựng pháp luật từnay đến năm 2020 nhằm thúc đẩy sự phát triển các quan hệ xã hội trong lĩnhvực giáo dục phục vụ cho việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu pháttriển kinh tế xã hội của đất nước nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành mộtnước công nghiệp

Trang 10

b Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và nhận thức về pháp luật về giáo dục

- Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về giáo dục Việt Nam từ năm 1945 đến nay

- Phân tích, đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội, thực tiễn giáodục hiện nay, các quy định pháp luật về giáo dục và thực tiễn thi hành phápluật về giáo dục, xác định phương hướng, đề xuất nội dung cụ thể xây dựngpháp luật từ nay đến năm 2020 nhằm thúc đẩy sự phát triển các quan hệ xã hộitrong lĩnh vực giáo dục phục vụ cho việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêucầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước nhằm đưa nước ta cơ bản trở thànhmột nước công nghiệp

- Phân tích quy định pháp luật về giáo dục của một số quốc gia ở các trình độ phát triển khác nhau trên thế giới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu

Các quy định của pháp luật về giáo dục từ năm 1945 đến nay; tình hìnhphát triển kinh tế - xã hội, thực tiễn giáo dục hiện nay và thực tiễn thi hànhpháp luật về giáo dục

IV DỰ KIẾN KẾ HOẠCH THỰC HIỆN

Đề tài sẽ được thực hiện theo các bước cụ thể như sau:

Trang 11

- Bước 1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc hình thành và phát triểncủa pháp triển của pháp luật về giáo dục từ 1945 đến nay và của việc xâydựng pháp luật về giáo dục từ nay đến năm 2020.

- Bước 2 Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về giáo dục từ 1945 đến nay

- Bước 3 Phân tích, đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội, thựctiễn giáo dục hiện nay, các quy định pháp luật về giáo dục và thực tiễn thihành pháp luật về giáo dục

- Bước 4 Nhận định phương hướng xây dựng pháp luật về giáo dục từnay đến năm 2020 trên cơ sở phân tích lịch sử hình thành và phát triển củapháp luật về giáo dục từ 1945 đến nay; Phân tích, đánh giá tình hình phát triểnkinh tế - xã hội, thực tiễn giáo dục hiện nay, các quy định pháp luật về giáodục và thực tiễn thi hành pháp luật về giáo dục có đối chiếu quy định phápluật về giáo dục của một số quốc gia ở các trình độ phát triển khác nhau trênthế giới

Bước 5 Đề xuất một số kiến nghị và giải pháp xây dựng pháp luật vềgiáo dục từ nay đến năm 2020 nhằm thúc đẩy sự phát triển các quan hệ xã hộitrong lĩnh vực giáo dục phục vụ cho việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêucầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước nhằm đưa nước ta cơ bản trở thànhmột nước công nghiệp

Trang 12

Chương 1

KHÁI LUẬN VỀ GIÁO DỤC VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIÁO DỤC

1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển giáo dục và hoàn thiện pháp luật về giáo dục

Quan điểm về phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước ta đã đượckhẳng định tại Sắc lệnh số 146/SL ngày 10/8/1946, đó là “Nền giáo dục nướcViệt Nam dân chủ cộng hoà là một nền giáo dục duy nhất, đặt trên ba nguyêntắc căn bản: đại chúng hoá, dân tộc hoá, khoa học hoá, và theo tôn chỉ phụng

sự lý tưởng Quốc gia và dân chủ” Từ sau khi cách mạng tháng 8 thành côngđến nay, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách và biệnpháp phát triển giáo dục Hệ thống mạng lưới nhà trường đã phủ khắp toànquốc đến tận từng thôn bản xa xôi, để thực hiện mục tiêu xóa mù chữ, phổ cấpgiáo dục tiểu học, rồi phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, tiến tới phổ cậpgiáo dục trung học Hiện nay, cả nước vẫn đang tích cực xây dựng xã hội họctập, thực hiện “giáo dục cho mọi người”, ai cũng được học hành

Vấn đề phát triển giáo dục đang được toàn xã hội quan tâm Đảng vàNhà nước đang tập trung hơn, ưu tiên hơn đối với các vùng khó khăn, nhưvùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số,vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng Tây Nguyên và đã thu được một số kếtquả, thể hiện tính ưu việt của chế độ trong giáo dục Về nội dung giáo dục,không những coi trọng giáo dục kiến thức, mà còn chú ý nhiều vấn đề giáodục nhân cách cho học sinh, sinh viên, nhất là giáo dục về đạo đức cáchmạng, về truyền thống dân tộc, về những nét đẹp văn hóa, ý thức quý trọngngười lao động, gắn bó với nhân dân, ý thức phục vụ nhân dân, coi đó là lýtưởng của cuộc đời, ý nghĩa của cuộc sống Thực hiện đẩy mạnh chủ trương

xã hội hóa giáo dục: sự nghiệp phát triển giáo dục không

Trang 13

phải là công việc riêng của Đảng và Nhà nước mà các đoàn thể xã hội và nhân dân phải cùng chăm lo.

Quan điểm về tính dân tộc của nền giáo dục đã được thể hiện sâu sắctrong các văn bản quan trọng của Đảng và Nhà nước về giáo dục Tính dân tộccủa nền giáo dục nước nhà thể hiện ở nội dung giáo dục, hết sức coi trọng truyềnthống giáo dục dân tộc, coi đây là một nội dung xuyên suốt tất cả các môn học.Trong các môn học đã chú ý hơn đến việc giảng dạy và học tập ngôn ngữ, lịch

sử, văn học và địa lý nước nhà Kể từ ngày thành lập nước Việt Nam dân chủcộng hòa, tiếng Việt được khẳng định là ngôn ngữ chính thức dạy trong nhàtrường Ngay từ các lớp tiểu học, cần quan tâm thích đáng đến tính địa phươngtrong chương trình và kế hoạch dạy học, giáo dục cả trên lớp lẫn ngoài giờ lênlớp, sau nâng dần lên học lịch sử của dân tộc, giáo dục tinh thần dân tộc và lòngyêu nước, gắn liền với giáo dục "ý thức công dân" Giáo dục tinh thần bình đẳnggiữa các dân tộc cùng sống trên đất nước Việt Nam, tương trợ lẫn nhau, thựchiện đại đoàn kết dân tộc cùng nhau bảo vệ và xây dựng đất nước Văn hóa cácdân tộc đều có bước phát triển mới hơn hẳn thời kỳ trước cách mạng Đảng vàNhà nước ta đã khẳng định, văn hóa các dân tộc cần được phát huy và pháttriển, tiếng nói và chữ viết riêng của các dân tộc cần được giữ gìn Điều 5 LuậtGiáo dục quy định: "Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được họctiếng nói, chữ viết của dân tộc mình"

Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 xác định mục tiêu tổng quát

là tạo bước thay đổi căn bản về chất lượng giáo dục; phát triển nhanh nguồnnhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mớicăn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân theo hướng chuẩn hoá, hiện đạihoá, xã hội hoá và hội nhập quốc tế; đổi mới chương trình, nội dung, phươngpháp dạy và học; đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáoviên và cán bộ quản lý giáo dục; tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, coi

Trang 14

trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành; đẩymạnh đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước; xây dựngmôi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với giađình và xã hội; xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi côngdân được học tập suốt đời; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực vớiphát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ.

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, sự phát triển năngđộng của các nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hóa đang làm việc rútngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nước trở nên hiện thực hơn

và nhanh hơn Khoa học - công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự pháttriển kinh tế - xã hội Giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa học - côngnghệ, đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần tráchnhiệm và năng lực của các thế hệ mai sau

Cải cách giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu Bối cảnh trên đãtạo ra những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lượng giáodục, xây dựng nhân cách người học đến cách tổ chức quá trình và hệ thốnggiáo dục Nhà trường từ chỗ khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoạivới xã hội và gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học - công nghệ và ứngdụng, nhà giáo thay vì chỉ truyền đạt tri thức, chuyển sang cung cấp chongười học phương pháp thu nhận thông tin một cách hệ thống, có tư duy,phân tích và tổng hợp Vì vậy, các quốc gia từ những nước đang phát triểnđến những nước phát triển đều nhận thức được vai trò và vị trí hàng đầu củagiáo dục, đều phải đổi mới giáo dục để có thể đáp ứng một cách năng độnghơn, hiệu quả hơn, trực tiếp hơn những nhu cầu của sự phát triển đất nước

Giáo dục ngày nay phải tạo được động lực thúc đẩy học tập suốt đời,góp phần loại bỏ khả năng không được học do thiếu cơ hội và điều kiện giáodục, hướng tới xây dựng một xã hội học tập Nó cho phép từng cá nhân phát

Trang 15

triển khả năng sáng tạo, tinh thần chủ động và khả năng thích nghi từ đó làmtăng khả năng tự chủ trong đời sống và công việc Giáo dục ban đầu tạo cơ sởvững chắc để mọi người có thể học tập suốt đời Với cách nhìn đó, giáo dục là

cả một quá trình lâu dài Giáo dục, học tập suốt đời không hạn chế về việcgiáo dục ban đầu, mà chính là phát triển giáo dục thường xuyên, phát triểnmột xã hội học tập Nâng cao tri thức phải được coi là mục tiêu đầu tiên củanhiệm vụ giáo dục Việc đa dạng hóa các loại hình giáo dục cũng là một yếu

tố khuyến khích việc làm giàu tri thức và tạo điều kiện xây dựng một xã hộihọc tập Nước ta đang tiến hành thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa - hiệnđại hóa đồng thời lại phải đối mặt với ảnh hưởng của giai đoạn thông tin hóa

và giáo dục dịch vụ Là hình thức mới tất nhiên sẽ có những vấn đề mới cầnnghiên cứu và thực hiện sao cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xãhội Chính trong tình hình như vậy cần đổi mới công tác quản lý nhà nước vềgiáo dục Trước hết, phải xác định: giáo dục phục vụ công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội, xây dựng chủ nghĩa xã hội phải dựa vào giáo dục

Do vậy phải có những chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức vai trò và vị trícủa giáo dục trong tiến trình phát triển quốc gia Trong những năm cuối thập kỷ

80 của thế kỷ trước mặc dù giáo dục là một lĩnh vực luôn luôn được coi trọng,song giáo dục nước ta mới chỉ được xem là "một bộ phận quan trọng của cáchmạng văn hóa tư tưởng, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, vănhóa tư tưởng, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển văn hóa kỹ thuật"(Nghị quyết số 14 của Bộ Chính trị năm 1979) Với ý nghĩa đó giáo dục nằmtrong thượng tầng kiến trúc có tác động và vai trò chủ yếu trong lĩnh vực dân trí,thay đổi nhận thức ý thức xã hội Quan niệm trên đã đặt cơ sở cho bước pháttriển mới, căn bản khi giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu, đầu tư chogiáo dục là đầu tư phát triển được khẳng định trong các văn kiện Đại hội VII(1991), VIII (1996) và Đại hội IX của Đảng Cộng sản

Trang 16

Việt Nam (2001), Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) vànhiều văn kiện khác của Đảng và Chính phủ Giáo dục và Đào tạo góp phầnxây dựng cơ sở hạ tầng xã hội, tạo nguồn lực quan trọng cho công cuộc pháttriển quốc gia.

Quan điểm "phát triển giáo dục là quốc sách đầu" của Đảng và Nhànước ta đối với giáo dục được thể hiện nhất quán trong các chủ trương, chínhsách Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạonhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ yêu cầu về quyền được học tập củanhân dân Phát triển giáo dục bao gồm cả hai mặt: phát triển về số lượng vàphát triển về chất lượng Trong mỗi mặt đó, sự phát triển thể hiện về số lượng

và phát triển về chất lượng Trong mỗi mặt đó, sự phát triển thể hiện ở độingũ người học, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, mạng lướitrường lớp và cơ sở vật chất, chương trình và nội dung giáo dục, các điềukiện tài chính, cơ chế chính sách và gắn với hiệu quả giáo dục Phát triển về

số lượng là quan trọng, còn phát triển về chất lượng là quyết định vì chínhchất lượng sẽ xác định hiệu quả của phát triển giáo dục Phát triển giáo dụcphải gắn với nhu cầu và phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộkhoa học công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh của đất nước, bảo đảm sựhợp lý về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền, mở rộng quy

mô trên cơ sở bảo đảm chất lượng và hiệu quả Phát triển giáo dục là một quátrình, kế thừa các thành tựu, kết quả của các giai đoạn trước và là một quátrình biến đổi dần đi tới mục tiêu

Khi nói "phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu" là muốn nói đến mộtchính sách có liên quan đến tất cả mọi người, mọi vùng miền của đất nước, vàphải đi trước một bước so với các chính sách khác Như vậy, khi nói "phát triểngiáo dục là quốc sách hàng đầu" có nghĩa là chính sách giáo dục của Đảng vàNhà nước có tầm quan trọng vào hàng thứ nhất trong tất cả các

Trang 17

chính sách khác Ngày nay, chính sách giáo dục có vai trò quyết định trong việcđưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành một nước "dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" vào những thập kỷ đầu củathế kỷ XXI Kinh nghiệm từ việc thực hiện đường lối này những năm vừa quacho thấy, muốn cho giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu thì phải đầu tư mạnh

mẽ cả trên bốn mặt: đầu tư tài chính, đầu tư cán bộ, chính sách ưu tiên và tổchức quản lý Sự phát triển kinh tế thị trường đa thành phần ở nước ta, một mặttạo ra những nguồn lực mới cho sự nghiệp phát triển kinh tế, mặt khác cũng đặt

ra nhu cầu mới về đa dạng hóa giáo dục - đào tạo của các tầng lớp dân cư, cácthành phần kinh tế trong xã hội Do vậy, chủ trương của Đảng và Nhà nước là

đa dạng hóa các loại hình đào tạo đáp ứng không chỉ cho nhu cầu Nhà nước, màcho toàn xã hội; người đi học phải đóng học phí, bãi bỏ chế độ phân phối họcsinh tốt nghiệp đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp dạy nghề; chophép và mở rộng từng bước các trường dân lập, tư thục các trường liên doanhvới các tổ chức quốc tế và các trường 100% đầu tư vốn từ nước ngoài Đâyđược coi là một bước chuyển quan trọng của quản lý phát triển giáo dục - đàotạo ở Việt Nam Sự ra đời và phát triển nhanh chóng của các loại hình trường, cơ

sở giáo dục - đào tạo dân lập, tư thục từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học

đã mang một diện mạo mới cho sự phát triển của giáo dục Việt Nam không chỉ ởkhía cạnh đa dạng loại hình, huy động thêm nguồn lực xã hội cho sự phát triểngiáo dục, mà còn tạo tiền đề thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh cho giáo dục,từng bước hình thành thị trường giáo dục - đào tạo có định hướng trong pháttriển nguồn nhân lực

Giáo dục là nhu cầu, quyền lợi cơ bản của mọi thành viên trong xã hội,

do đó chính sách quản lý phải đảm bảo sự công bằng và tạo cơ hội bình đẳngcho mọi người trong giáo dục Chính sách quản lý này phải nhất quán, đặcbiệt nền kinh tế thị trường nhiều thành phần đang hàng ngày tạo ra khoảng

Trang 18

cách thu nhập ở các tầng lớp dân cư và nảy sinh những tiêu cực trong xã hội(khoảng cách giàu nghèo đã tăng lên khoảng 10 lần) Cùng với chủ trươngmiễn học phí ở bậc tiểu học, Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương chínhsách về miễn giảm học phí cho các đối tượng chính sách; lập quỹ cho vay đốivới học sinh nghèo; tăng đầu tư cho giáo dục miền núi các vùng sâu, vùng xa,vùng khó khăn, cho các dân tộc ít người… Việc chuyển từ chính sách bìnhquân, cào bằng sang chủ trương công bằng và bình đẳng trong giáo dục - đàotạo đã và đang tạo ra những điều kiện mới, động lực mới cho công cuộc pháttriển giáo dục ở Việt Nam.

Đặc điểm lớn nhất của thời kỳ đổi mới đất nước ta chuyển từ nền kinh

tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theođịnh hướng XHCN Về mặt đối ngoại thực hiện chính sách mở cửa, hợp tácvới các nước trên các mặt kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục… Nhờ chủtrương đúng đắn đó, đất nước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế -

xã hội trong những năm 80 và tạo được tiền đề cần thiết cho phép chuyểnsang thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước

Thành công của giáo dục và sự phát triển nguồn nhân lực Việt Nam phụthuộc rất nhiều vào sức mạnh nền móng mà nó được xây dựng Các quy địnhpháp luật, cấu trúc tổ chức, hệ thống quản lý và lập kế hoạch, năng lực của độingũ cán bộ đó là những phần quan trọng của nền móng trên Không có cácquy định pháp luật tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động giáo dục, không

có một hệ thống quản lý và kế hoạch mềm dẻo thích hợp, không có đủ cán bộquản lý được đào tạo và cấu trúc tổ chức để tiến hành các đổi mới và pháttriển thì giáo dục và nguồn nhân lực không thể phát hiện được Bộ Giáo dục

và Đào tạo là cơ quan của Chính phủ chịu trách nhiệm quản lý Nhà nướctrong lĩnh vực giáo dục đào tạo, bao gồm hoạch định chính sách, xây dựng

Trang 19

mục tiêu, nội dung, chương trình… ở cấp độ quốc gia chiến lược và cácchính sách giáo dục, các chương trình hành động được phối hợp giữa BộGiáo dục và Đào tạo với các cơ quan khác của Chính phủ Các tỉnh cụ thể hóacác mục tiêu và phương thức đạt được các mục tiêu của giáo dục phù hợp vớitừng địa phương Việc thực hiện chúng phải nhằm hoàn thành các mục tiêuquốc gia cũng như mục tiêu của từng địa phương Điều này đến nay vẫn đangtrong quá trình phân cấp theo ngành dọc và phân cấp theo chiều ngang nhằmtiến tới một sự phân định ranh giới rõ ràng về quyền hạn và trách nhiệm, ýthức chung về thực hiện tốt các mục tiêu quốc gia Để có thể thực hiện thànhcông các chương trình giáo dục và đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo có trongtay những bộ phận cấu thành liên kết chặt chẽ: xây dựng chương trình học,đào tạo giáo viên, quy chế thi tuyển, mạng lưới thông tin theo ngành dọc, kếhoạch hóa và tiếp nhận các thông tin phản hồi.

Cùng với việc xây dựng nhà nước pháp quyền, tổ chức và quản lý mọihoạt động xã hội bằng hệ thống pháp luật có tính khách quan, công bằng vìlợi ích của nhân dân; các chính sách phát triển giáo dục ở Việt Nam thời gianqua đã được thể chế từng bước bằng hệ thống văn bản pháp luật về giáo dục

Ngay sau khi thành lập nước, Chính phủ đã ra một loạt sắc lệnh là cơ

sở cho việc tổ chức và hoạt động của hệ thống giáo dục quốc dân như: Sắclệnh số 17/SL, Sắc lệnh số 19/SL về bình dân học vụ, Sắc lệnh số 20/SL vềgiáo dục giáo dục tiểu học bắt buộc và không mất tiền, Sắc lệnh số 16/SL vềthành lập Thanh tra học vụ, Sắc lệnh số 18/SL về sử dụng học quan thời Phápthuộc đều được ban hành ngày 08/09/1945, Sắc lệnh 44/SL ngày 10/10/1945

về thành lập Hội đồng cố vấn học chính,

Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 đều

có chế định về giáo dục là cơ sở hiến định để hoàn thiện hệ thống pháp luật vềgiáo dục

Trang 20

Luật giáo dục và một trong những luật được Đảng quan tâm, chỉ đạoviệc xây dựng và ban hành sớm nhất Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VI củaĐảng năm 1986, Đại hội của đổi mới đã khẳng định: “Chuẩn bị ban hành Luậtgiáo dục”.

Từ năm 1986 đến nay, việc không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật

là mối quan tâm lớn, thường xuyên và là một trong những chủ trương quantrọng của Đảng và Nhà nước, được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng,đặc biệt là Nghị quyết trung ương 8 (khóa 7), Nghị quyết Đại hội Đảng toànquốc lần thứ VIII, Nghị quyết trung ương 3 (khóa 8), Nghị quyết Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ IX và Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị ngày02/01/2002 Trải qua 25 năm đổi mới, Việt Nam từng bước hoàn thiện hệthống pháp luật, góp phần quan trọng vào việc thực hiện các chủ trương,chính sách của Đảng về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa và nhà nước pháp quyền Việt Nam

Bước chuyển biến cơ bản nhất, rõ nét nhất của hệ thống pháp luật thểhiện ở việc trước đây Nhà nước quản lý kinh tế, xã hội chủ yếu bằng nghịquyết và mệnh lệnh hành chính, sau 25 năm đổi mới, pháp luật đã trở thànhcông cụ quản lý chủ yếu của Nhà nước Nguyên tắc pháp quyền ngày càngđược khẳng định và phát huy hiệu quả trên thực tế Hoạt động của cơ quannhà nước ngày càng trở nên công khai hơn, dân chủ ngày càng được mởrộng Nhân dân tham gia và thực hiện quyền giám sát hoạt động của các cơquan nhà nước, các hoạt động giáo dục

Việc xây dựng pháp luật không còn mang nặng tính chủ quan duy ý chí

mà đã dựa trên những cơ sở khoa học và nguyên tắc của nhà nước phápquyền Kế hoạch xây dựng pháp luật dần trở thành một bộ phận hữu cơ của kếhoạch phải triển kinh tế - xã hội và được xây dựng phù hợp nguyên tắc kháchquan, nguyên tắc khoa học và nguyên tắc dân chủ

Trang 21

Điều này cho phép phản ánh khách quan và kịp thời nhu cầu xã hội vàopháp luật; tạo một sự bảo đảm điều chỉnh pháp luật có hệ thống, đồng bộ, chophép khắc phục tính tản mạn, xung đột pháp luật, sự trùng lặp, chồng chéotrong hệ thống pháp luật.

Từ khi ban hành Luật giáo dục năm 1998, Luật giáo dục cũng đã đượcthay thế, sửa đổi, bổ sung kịp thời để phù hợp với thực tiễn vào năm 2005,

2009 và các Luật chuyên ngành về giáo dục cũng được khẩn trương xâydựng như Luật giáo dục đại học, Luật về nhà giáo Hệ thống pháp luật vềgiáo dục cũng được từng bước hoàn thiện đáp ứng yêu cầu điều chỉnh cácquan hệ xã hội trong lĩnh vực giáo dục bằng pháp luật

Thực hiện chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền, hệ thống phápluật đang ngày càng hoàn thiện, phạm vi điều chỉnh của pháp luật ngày càngđược mở rộng, nhiều lĩnh vực điều chỉnh mới của pháp luật xuất hiện nhưbảo vệ môi trường, an sinh xã hội, … trong thời kỳ đổi mới, nhà nước ta đãxây dựng được một khung pháp lý mới trong mọi lĩnh vực quan hệ xã hội.Nguyên tắc quản lý xã hội bằng pháp luật và tăng cường pháp chế đã đượcthể hiện và thực hiện

Cùng với những biến chuyển của đời sống kinh tế - xã hội và và hệthống pháp luật đồng thời cũng diễn ra những chuyển biến sâu sắc trong lĩnhvực giáo dục và pháp luật về giáo dục Pháp luật về giáo dục đã có những tácđộng tốt, tích cực đến quá trình phát triển kinh tế xã hội và trực tiếp trong lĩnhvực giáo dục

1.2 Khái niệm pháp luật về giáo dục

Pháp luật là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ rất xa xưa, gắnliền với sự tiến hóa của xã hội loài người, sự ra đời và phát triển của Nhànước Pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, định hướng cho các quan hệ

xã hội phát triển theo những mục đích, đường lối phát triển phù hợp với ý chí

Trang 22

của giai cấp thống trị hay nói cách khác pháp luật mang tính giai cấp Tuynhiên bên cạnh tính giai cấp, pháp luật còn mang tính xã hội Pháp luật vừa là

sự thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích giai cấp thống trị xã hội, vừa là công cụ đểgiải quyết các vấn đề chung, công việc chung, những chức năng xã hội, xuấtphát từ bản chất của xã hội

Như vậy, Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộcchung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước của giaicấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, đượcđảm bảo thực hiện bằng nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằmmục đích trật tự và ổn định vì sự phát triển bền vững của xã hội

Thể hiện bản chất của pháp luật, pháp luật về giáo dục ở Việt Nam vừa

mang tính giai cấp vừa thể hiện tính xã hội rộng rãi và Pháp luật về giáo dục

là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội về giáo dục, điều chỉnh tổ chức và hoạt động giáo dục, xây dựng và phát triển hệ thống giáo dục quốc dân, điều chỉnh quan hệ quản lý nhà nước về giáo dục nhằm phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

1.3 Sự pháp điển pháp luật về giáo dục ở nước ta

Pháp điển là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong đókhông những tập hợp các văn bản đã có theo một trình tự nhất định, loại bỏnhững quy phạm lỗi thời, mâu thuẫn mà còn chế định thêm những quy phạmmới để thay thế cho các quy phạm đã bị loại bỏ và khắc phục những chỗ trốngđược phát hiện trong quá trình tập hợp văn bản, sửa đổi các quy phạm hiệnhành, nâng cao hiệu lực pháp lý của chúng,… Kết quả của hoạt động phápđiển là một văn bản pháp luật mới ra đời, hoặc có hiệu lực pháp lý cao hơn,hoặc rộng hơn, tổng quát hơn về phạm vi điều chỉnh, hoàn chỉnh hơn về kỹ

Trang 23

thuật luật pháp, hoặc đồng thời đạt được tất cả các yêu cầu đó Đó là một bộluật tương ứng với một ngành luật nhất định, trong đó các quy phạm phápluật được sắp xếp logic, chặt chẽ và nhất quán.

Để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực giáo dục từ năm 1945đến năm 1998, Nhà nước đã ban hành gần 800 văn bản quy phạm pháp luật

về giáo dục dưới dạng các Sắc lệnh của Chủ tịch Nước; Nghị định, Nghịquyết của Chính phủ; Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chinh phủ; Quyếtđịnh, Chỉ thị, Thông tư của Bộ trưởng Tuy nhiên, các văn bản quy pháp luậtđược quy định phân tán, hiệu lực pháp lý không cao, cần được pháp điển hóathành một bộ Luật về giáo dục

Luật giáo dục được Quốc hội khóa X thông qua tháng 12 năm 1998 lànền tảng pháp lý của sự phát triển giáo dục Đây là bộ luật chuyên ngành vềgiáo dục đầu tiên của nước ta điều chỉnh các hoạt động giáo dục của hệ thốnggiáo dục quốc dân Việc ban hành Luật giáo dục năm 1998 là một bước ngoặtlớn trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam thời kỳ đổi mới.Luật giáo dục năm 1998 đã tạo được một hành lang pháp lý cho các hoạtđộng giáo dục phát triển Các quy định của Luật giáo dục năm 1998 tạo điềukiện để ngành giáo dục mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng, tăng cườnghiệu quả, thực hiện công bằng xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của nhândân và phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Với sự ra đời củaLuật giáo dục năm 1998, về cơ bản khung pháp lý các hoạt động giáo dục đãđược định hình và ngày càng được củng cố

Sau 7 năm thực hiện Luật giáo dục năm 1998, trước sự phát triển mạnh

mẽ của hoạt động giáo dục và nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân đãxuất hiện một số bức xúc do thực tiễn đặt ra, đòi hỏi cần quy định cụ thể hơnmột số nội dung của luật giáo dục năm 1998 hoặc sửa đổi một cách cơ bản,tạo cơ sở pháp lý để phát triển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục, đáp ứng ngày

Trang 24

càng cao sự nghiệp đổi mới đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa Luật giáodục năm 2005 đã được ban hành thay thế Luật giáo dục 1998 để đáp ứng yêucầu phát triển giáo dục.

Qua 3 năm thực hiện, Luật giáo dục năm 2005 đã góp phần phát triển

sự nghiệp giáo dục, nâng cao trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực,góp phần đào tạo nhân tài cho đất nước Tuy nhiên, trong quá trình triển khaithực hiện Luật đã nảy sinh một số điểm hạn chế, bất cập, một số quy định củaLuật chưa đi vào cuộc sống, một số điểm chưa phù hợp tình hình thực tiễn vàyêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước vềgiáo dục, chưa phát huy được hiệu quả của việc hợp tác quốc tế về giáo dụccần được sửa đổi, bổ sung Những sửa đổi, bổ sung Luật giáo dục năm 2005tạo cơ sở cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lýgiáo dục, thực hiện chế độ chính sách đối với người học, tạo điều kiện cho sựnghiệp giáo dục phát triển mạnh mẽ hơn Luật sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Luật giáo dục đã được ban hành năm 2009 để đáp ứng các nhu cầu trên

Cùng với việc ban hành và hoàn thiện Luật giáo dục, thực tiễn pháttriển giáo dục cũng đòi hỏi phải xây dựng những Luật chuyên ngành nhưLuật giáo dục đại học, Luật về nhà giáo, Luật giáo dục phổ thông, Luật giáodục mầm non, Luật giáo dục nghề nghiệp nhằm nâng cao hiệu lực pháp lý,xây dựng hệ thống các quy phạm thống nhất, đồng bộ, phù hợp thực tiễn đốivới những quan hệ xã hội quan trọng trong giáo dục, hình thành một hệ thốngpháp luật về giáo dục

Trang 25

Kết luận chương 1

Phát triển giáo dục được xác định là quốc sách hàng đầu, là một độnglực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, làđiều kiện cơ bản để phát huy nguồn lực con người Hiến pháp Nước Cộnghoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) năm 1992 (được sửa đổi bổ

sung năm 2001) xác định rõ: “Nhà nước và xã hội phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân; đào tạo những người lao động có nghề, năng động và sáng tạo, có niềm

tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.

Việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về giáo dục nhằm tạo hành langpháp lý thực hiện mục tiêu giáo dục

Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, giáo dục ViệtNam đã có những bước tiến đáng khích lệ, góp phần tích cực có tính chất quyếtđịnh vào sự phát triển kinh tế xã hội và thành công của sự nghiệp đổi mới Tuynhiên, trước những yêu cầu đổi mới của phát triển giáo dục, bên cạnh những ưuđiểm và thành tựu phát triển đã đạt được, giáo dục ở nước ta đang thể hiệnnhững hạn chế, yếu kém và bất cập nhất định cả về tính hệ thống và số lượng,chất lượng, cả về trình độ và phương pháp, cả về độ ổn định và tính kỷ cương

Từ thực tiễn khoa học và pháp lý cũng như khoa học về quản lý giáo dục có thểkhái quát: pháp luật về giáo dục là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnhcác quan hệ xã hội về giáo dục, điều chỉnh tổ chức và hoạt động giáo dục, xâydựng và phát triển hệ thống giáo dục quốc dân, điều chỉnh quan hệ quản lý nhànước về giáo dục nhằm phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,bồi dưỡng nhân tài, góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Trang 26

tổ quốc Làm rõ các vấn đề lý luận là nhiệm vụ của chương 1, đây chính là cơ

sở để hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học

Việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn để tiến tới xây dựng một hệ thốngpháp luật hoàn chỉnh, đầy đủ, cụ thể, phù hợp điều chỉnh các hoạt động giáodục trong tình hình hiện nay là một việc làm cần thiết Quá trình xây dựng hệthống pháp luật có tham khảo kinh nghiệm của nước ngoài đặc biệt là cácnước trong khu vực, góp phần hội nhập với các nước trong khu vực và trênthế giới Các hoạt động giáo dục hiện nay chủ yếu được điều chỉnh bằng cácvăn bản dưới luật, việc luật hoá các quy định này thành một hệ thống phápluật có hiệu lực pháp lý đủ mạnh điều chỉnh hoạt động giáo dục đại học là phùhợp với thực tiễn hoạt động giáo dục trong nước và kinh nghiệm xây dựngpháp luật giáo dục và pháp luật giáo dục đại học ở nước ngoài Tiến tới trongthời gian tới hệ thống pháp luật giáo dục Việt Nam sẽ được xây dựng đồng

bộ, thống nhất, phù hợp điều chỉnh tất cả hoạt động giáo dục, tránh việc banhành quá nhiều văn bản dưới luật như hiện nay

Những cơ sở lý luận trên là cơ sở cho phép nghiên cứu quá trình hìnhthành và phát triển của các quy định của pháp luật về giáo dục, phân tích thựctrạng cũng như đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học

ở các chương sau

Trang 27

Chương 2

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN PHÁP LUẬT VỀ GIÁO DỤC

2.1 Pháp luật về giáo dục từ ngày thành lập nước đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)

2.1.1 Pháp luật về giáo dục trong năm đầu của nền cộng hòa

Cách mạng tháng 8 thành công, Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rađời, chấm dứt ách thống trị của thực dân, phong kiến Trong giai đoạn này,dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dânViệt Nam đoàn kết một lòng ra sức diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm

- Ngày 28/8/1945 Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủCộng hòa công bố thành lập Trong đó Bộ quốc gia giáo dục là một trongnhững Bộ đầu tiên được thành lập của Chính phủ lâm thời

- Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3/9/1945, chỉmột ngày sau ngày tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra đềnghị “mở chiến dịch chống nạn mù chữ” và đã được Hội đồng Chính phủthông qua Trên cơ sở đó, ngày 8/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký 3 sắclệnh về Bình dân học vụ: Sắc lệnh số 17/SL quy định việc “Đặt ra một bìnhdân học vụ trong toàn cõi Việt Nam”; Sắc lệnh số 19/SL quy định “Trong toàncõi nước Việt Nam, sẽ thiết lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp họcbình dân buổi tối”, “Trong hạn sáu tháng, làng nào và đô thị nào cũng đã phải

là một lớp học dạy được ít nhất là ba mươi người”; Sắc lệnh số 20/SL quyđịnh: “Trong khi đợi lập được nên Tiểu học cưỡng bách, việc học chữ Quốcngữ từ năm nay bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người” và “Hạntrong một năm, toàn thể dân chúng Việt Nam trên tám tuổi phải biết đọc vàbiết viết chữ quốc ngữ”

- Cũng trong thời gian này, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ

Trang 28

Cộng hòa cũng đã cũng ra một loạt sắc lệnh nhằm đặt nền móng cho tổ chức

và hoạt động của nền giáo dục mới:

Sắc lệnh số 13/SL ngày 08/09/1945 quy định: “Trường viễn đông Bác

cổ, các nhà bảo tàng, các Thư viện công (trừ những thư viện phụ thuộc củacác công sở), các Học viện (như Viện Hải học từ nay sẽ sáp nhập vào BộQuốc gia giáo giáo dục”

Sắc lệnh số 16/SL ngày 08/09/1945 quy định: “ Đặt ra trong toàn cõiViệt Nam ngạch Thanh tra học vụ để kiểm soát việc học theo đúng chươngtrình giáo dục của Chính phủ dân chủ cộng hòa”

Sắc lệnh số 18/SL ngày 08/09/1945 quy định: “Kể từ ngày sắc lệnh nàyban hành ngạch học quan do chính sách thực dân Pháp đặt ra sẽ bãi bỏ…Những viên Học quan nào đến tuổi về hưu thì được về hưu…Những viênnào xét ra bất lực hoặc hạnh kiểm xấu sẽ bị thải hồi…Những viên nào xét ra

có đủ năng lực và có hạnh kiểm tốt sẽ được bổ dụng tùy theo năng lực vàongạch khác”

Sắc lệnh số 44/SL ngày 10/10/1945 quy định đã quy định về việc thànhlập Hội đồng cố vấn học chính với nhiệm vụ: nghiên cứu chương trình cảicách giáo dục trình Chính phủ phê duyệt, theo dõi sự thực hiện chương trình

để kiến nghị sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn giáo dục, tình hìnhchính trị - kinh tế - xã hội; tư vấn đối với Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục vềcác vấn đề sư phạm; thành viên của Hội đồng cố vấn học chính gồm Bộtrưởng Bộ Quốc gia giáo dục, Đổng lý Văn phòng Bộ và khoản 30 thành viên

là nhà giáo, đại diện các đoàn thể chính trị, văn hóa, phụ huynh học sinh

Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời ngày 10/10/1945 cũng quyđịnh việc thành lập một Ban đại học văn khoa và thiết lập cho trường đại họcViệt Nam một quỹ tự trị bao gồm tiền do Chính phủ hay chính quyền địaphương cấp và những động sản hay bất động sản của tư nhân tặng cho

Trang 29

Sắc lệnh số 110/SL ngày 20/06/1946 quy định: “Nha Bình dân học vụTrung ương sẽ mở lớp huấn luyện cán bộ Bình dân học vụ các đại biểu dântộc thiểu số”.

Sắc lệnh số 132/SL ngày 23/7/1946 quy định về thành lập Hội đồngsách giáo khoa bao gồm: đại diện của Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục, đạidiện của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, đại diện giảng viên đại học, giáo viên trunghọc, giáo viên tiểu học, giáo viên các trường tư thục, đại diện những nhàchuyên môn như nghệ sĩ, kỹ sư, đại diện của Hội phụ huynh học sinh, mộtviên chức của Bộ Quốc gia giáo dục

- Đặc biệt, ngày 10/08/1946, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủCộng hòa đã ban hành sắc lệnh số 146/SL và Sắc lệnh số 147/SL đã quy địnhcác nguyên tắc cơ bản, cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân của nền giáo dụcViệt Nam

Sắc lệnh 146 quy định:

Nền giáo dục nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là một nền giáo dụcduy nhất, đặt trên ba nguyên tắc căn bản: đại chúng hoá, dân tộc hoá, khoahọc hoá, và theo tôn chỉ phụng sự lý tưởng Quốc gia và dân chủ

Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân gồm:

+ Bậc giáo dục ấu trĩ: nhận trẻ em dưới 7 tuổi và sẽ tổ chức tùy theo điều kiện do Bộ Quốc gia giáo dục quy định

+ Đệ nhất cấp: là bậc học cơ bản dạy những điều thường thức cần thiết

và luyện những tập quán tốt cho trẻ em từ 7 tuổi, đệ nhất cấp gồm 4 năm học,học sinh học hết đệ nhất cấp sẽ thi lấy bằng giáo dục cơ bản, đệ nhất cấp làbậc học cưỡng bách từ năm 1950

+ Lớp dự bị sau bậc học cơ bản: lớp dự bị sau bậc học cơ bản hạn họcmột năm, ngoài việc trang bị kiến thức phổ thông đại cương còn chú trọngđến khuynh hướng và khả năng của học sinh để chọn lọc đưa vào ngành học

Trang 30

tổng quát hay ngành học chuyên môn ở đệ nhị cấp Lớp dự bị tổ chức khi có điều kiện và theo quy định của Bộ trưởng Bộ quốc gia giáo dục.

+ Đệ nghị cấp: gồm ngành học tổng quát và ngành học chuyên môn Ngành học tổng quát gồm hai bậc: bậc học phổ thông gồm 4 năm họctrong đó có 2 năm học theo chương trình duy nhất hoàn toàn phổ thông, nămsau theo chương trình phân hóa ở những lớp dự bị chuyên nghiệp, dự bịchuyên khoa và được chia ra làm 4 ban: ban văn học, ban khoa học cho lớp

dự bị chuyên khoa, ban vạn vật và ban kỹ thuật cho lớp dự bị chuyên nghiệp

và Bậc chuyên khoa dành cho các học sinh đã học qua các lớp dự bị chochuyên khoa, thời gian là 3 năm

Ngành học chuyên môn trang bị kiến thức phổ thông và kiến thựcchuyên môn và thực hành gồm hai bậc: bậc thực nghiệm dành cho học sinhsau một năm học dự bị sau bậc học cơ bản có năng khiếu và khuynh hướng

về thực nghiệm, bậc chuyên nghiệp dành cho học sinh đã qua các lớp dự bịchuyên nghiệp và được chia ra nhiều ban đào tạo lý thuyết và thực hành cácngành kinh tế, kỹ thuật

+ Bậc đại học: gồm các ban Văn khoa, pháp lý theo từng ngành vànhững trường cao đẳng chuyên môn y học, dược học, mỹ thuật, thương mại,nông lam, kiến trúc, điện học, khoáng sản, thời gian học là 3 năm và khi tốtnghiệp có bằng Đại học sĩ hoặc Bác sĩ

Sắc lệnh 146 cũng quy định cụ thể về ngành học sư phạm, giáo viên chocác bậc học gồm sư phạm sơ cấp, sư phạm trung cấp và sư phạm cao cấp

Sắc lệnh 147 quy định: bậc học cơ bản không phải đóng học phí và từnăm 1950 sẽ là bậc học cưỡng bách, trường của tư nhân hay đoàn thể đượccông nhận, các môn học được dạy bằng tiếng Việt,

Theo đó các sắc lệnh đã quy định những nguyên tắc cơ bản của giáodục Việt Nam là: đại chúng hoá, dân tộc hoá, khoa học hoá, và theo tôn chỉ

Trang 31

phụng sự lý tưởng Quốc gia và dân chủ Hệ thống giáo dục quốc dân đượcthực hiện theo chương trình thống nhất, ngôn ngữ giảng dạy và học tập bằngtiếng Việt Hệ thống giáo dục quốc dân được chia thành các bậc học bao gồm:bậc học ấu trĩ giáo dục trẻ dưới 7 tuổi, bậc học cơ bản 4 năm cho trẻ trên 7tuổi, bậc học tổng quát hoặc chuyên nghiệp, bậc đại học Người học đượcmiễn học phí, trong đó bậc học cơ bản được miễn học phí và bắt buộc, họcsinh nghèo học giỏi được cấp học bổng Các Sắc lệnh này cũng thể hiện quanđiểm giáo dục không chỉ trang bị kiến thức mà còn rèn luyện nhân cách chongười học Ngành học sự phạm nhằm đào tạo giáo viên cho các bậc học đượcquan tâm đặc biệt, được quy định cụ thể, hệ thống các cơ quan quản ly giáodục cũng được quan tâm quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ.

Những nguyên tắc cơ bản của giáo dục Việt Nam cũng đã được thểhiện trong Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của nước ta;

đó phần lớn tập trung quy định về tổ chức bộ máy các cơ quan giáo dục, quyđịnh những nguyên tắc của nền giáo dục dân chủ, tạo cơ sở cho việc thành lập

hệ thống trường lớp từ giáo dục phổ thông đến đại học ở nước ta.*

Pháp luật về giáo dục thời kỳ đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân

và yêu cầu của sự phát triển của đất nước, đã có tác dụng đoàn kết, tập hợp đượcđông đảo trí thức, nhân sĩ, giáo chức yêu nước chung tay xây dựng một nền giáodục Việt Nam tiến bộ, mang tính đại chúng, dân tộc và khoa học

Trang 32

2.1.2 Pháp luật về giáo dục trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (12.1946 – 10.1954)

Ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ chí minh ra Lời kêu gọi toàn quốckháng chiến Ngày 22/12/1946, Trung ương Đảng ra Chỉ thị toàn dân khángchiến nêu rõ mục đích và khẳng định đường lối chung của cuộc kháng chiếnlà: động viên nhân lực, vật lực, tài lực, thực hiện toàn dân kháng chiến, toàndiện kháng chiến, trường kỳ kháng chiến Đó cũng chính là phương châm, lànhiệm vụ cơ bản của nhà nước và pháp luật Việt Nam thời kỳ này

Pháp luật thời kỳ này tập trung điều chỉnh một số vấn đề có ý nghĩa cấpthiết đối với công cuộc kháng chiến Đó là vấn đề xây dựng và củng cố bộmáy chính quyền, tổ chức quân đội, lực lượng dân quân tự vệ, vấn đề phâncấp chỉ đạo, phối hợp tác chiến

Trong điều kiện kháng chiến, giáo dục tiếp tục được quan tâm Tronggiai đoạn này có 60 văn bản pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động giáodục Đặc biệt, giáo dục phổ thông và phong trào bổ túc văn hóa ở những vùng

tự do được đẩy mạnh

Trong đó, Tháng 7/1950, Đảng và Chính phủ đã thông qua Đề án cảicách giáo dục và thi hành hệ thống trường phổ thông 9 năm và chương trìnhgiảng dạy mới, để từng bước cải tiến về nội dung, phương pháp, cơ cấu, thểchế giáo dục Cuộc cải cách giáo dục lần này đã xác định rõ bản chất, mụcđích, nguyên tắc giáo dục và mục tiêu của trường phổ thông là giáo dục thế

hệ trẻ thành những người “công dân lao động tương lai” trung thành với chế

độ dân chủ nhân dân và có phẩm chất, năng lực phục vụ kháng chiến, phục vụnhân dân Song song với hệ thống trường phổ thông 9 năm, hệ thống giáo dụcbình dân (tức bổ túc văn hóa) và hệ thống giáo dục chuyên nghiệp cũng đượcquy định rõ các cấp học, thời gian học tương ứng, nhằm bảo đảm cho họcsinh dù học ở hệ thống giáo dục nào cũng đạt tới một trình độ học vấn tương

Trang 33

đương và để có thể tiếp tục học lên bậc học cao hơn Về tổ chức bộ máy nhàtrường quy định thời kỳ này nhấn mạnh nguyên tắc lãnh đạo tập thể và dânchủ tập trung Bên cạnh Hiệu trưởng còn có Hội đồng chuyên môn và tư vấn.

Sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II, tháng 7/1951, Bộ Giáo dục đã tổchức đại hội giáo dục để rút kinh nghiệm về thí điểm cải cách giáo dục vàtriển khai hệ thống giáo dục mới

Ngày 30/10/1951, Chính phủ đã ban hành Nghị định quy định Chươngtrình, kế hoạch giảng dạy giáo dục phổ thông mới

Năm 1952 Chính phủ đã ban hành Nghị định về đường lối, chính sáchgiáo dục chuyên nghiệp, làm cơ sở để điều chỉnh và phát triển các trườngchuyên nghiệp, nhất là các trường trung cấp

Từ năm 1953, Trung ương Đảng và Chính phủ đã thực hiện chính sáchtuyển lựa và bồi dưỡng học sinh để gửi đi học ở các nước xã hội chủ nghĩa

an hem, chuẩn bị lực lượng khoa học kỹ thuật cho việc xây dựng đất nướcsau khi kháng chiến thắng lợi

Trong chín năm kháng chiến chống Pháp, sự nghiệp giáo dục tiếp tụcđược phát triển và có sự biến đổi về chất Các trường từ phổ thông đến đạihọc đều giảng dạy bằng Tiếng Việt Cuộc cải cách giáo dục từ năm 1950 đếnnăm 1954 đã thay đổi cơ bản nền giáo dục thực dân cũ, xây dựng nền tảngcho một nền giáo dục mang tính dân tộc, đại chúng và khoa học của chế độdân chủ cộng hòa Công tác xóa nạn mù chữ ngay sau Cách mạng tháng Tám

và suốt trong những năm kháng chiến, liên tục phát triển và đạt được nhữngkết quả to lớn….Công tác bổ túc văn hóa kế tiếp và đi liền với xóa nạn mùchữ được kịp thời xây dựng và phát triển cùng với giáo dục phổ thông và giáodục chuyên nghiệp đã góp phần tích cực nâng cao dân trí, đào tạo và bồidưỡng cán bộ phục vụ công cuộc kháng chiến, kiến quốc

Trang 34

2.2 Pháp luật về giáo dục thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)

Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, việc đầu tiên của ngành giáodục là chuẩn bị tiếp quản các cơ quan giáo dục, trường học ở Thủ đô Hà Nội

và các vùng mới giải phóng, nhanh chóng khai giảng năm học mới Để côngtác giáo dục không bị gián đoạn, Bộ Giáo dục đã hướng dẫn các trường tạmthời dạy theo chương trình cũ nhưng bỏ những nội dung mang tính chất phảnđộng, tiến hành mở nhiều lớp sư phạm cấp tốc để cung cấp giáo viên cho cáctrường, khuyến khích các địa phương mở trường dân lập, vận động nhân dânxây dựng trường, ủng hộ bàn, ghế,… tiến hành cải tạo các trường tư thục đủđều kiện hoạt động giáo dục thành trường dân lập

Tháng 3/1956, Đại hội giáo dục phổ thông toàn quốc đã thông qua Đề

án của Bộ Giáo dục, sáp nhập hai hệ thống giáo dục phổ thông là hệ thốnggiáo dục phổ thông 12 năm ở những vùng Pháp chiếm đóng trước đây và Hệthống giáo dục phổ thông 9 năm xây dựng ở những vùng kháng chiến thành

hệ thống giáo dục 10 năm

Ngày 12/5/1956, Bộ Giáo dục đã ban hành Quy chế tổ chức quản lý lớp

vỡ lòng Do đất nước còn nghèo, các lớp mẫu giáo, vỡ lòng cần dựa vào sựđóng góp của nhân dân, các cơ quan chuyên môn và các trường phổ thông cónhiệm vụ giúp đỡ và hướng nghiệp cho lớp vỡ lòng Hội nghị phổ cập vỡlòng toàn miền Bắc ngày 28/10/1958 đã đề ra tiêu chuẩn cụ thể về phổ cập vỡlòng (90% số trẻ từ 6 – 11 tuổi đến lớp) và phương châm vận động phát triển

là “lớn trước, bé sau”, “số lượng đi đôi với chất lượng”

Để phát triển giáo dục, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số5377/CT-VG ngày 12/8/1957 để chỉ đạo các cấp, các ngành “tận lực phát triển”giáo dục phổ thông, phải “dựa vào nhân dân để xây dựng giáo dục phổ thông”.Việc thực hiện chủ trương này dẫn đến kết quả trong điều kiện kinh tế

Trang 35

còn nhiều khó khăn nhưng số trường, lớp, giáo viên và học sinh so với nămhọc đầu tiên sau giải phóng tăng gấp nhiều lần.

Để tiếp tục thanh toán nạn mù chữ, nâng cao trình độ dân trí, ngày27/3/1957, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 114/CT-TTg khẳng địnhcông tác bình dân học vụ là một bộ phận không thể thiếu của kế hoạch nhànước, yêu cầu các cấp chính quyền phải trực tiếp lãnh đạo và quy định một sốchính sách đối với cán bộ, giáo viên bình dân học vụ

Ngày 27/12/1957, Chính phủ quyết định thành lập Ban chỉ đạo thanhtoán nạn mù chữ và bổ túc văn hóa ở Trung ương và căn cứ quyết định này,các tỉnh cũng thành lập Ban chỉ đạo ở địa phương

Sau khi căn bản hoàn thành xóa nạn mù chữ, Chính phủ đã chủ trươngchuyển mạnh sang công tác bổ túc văn hóa Ngày 15/7/1961, Thủ tướngChính phủ đã có Thông tư số 195/TTg quy định “Thủ trưởng cơ quan phảichịu trách nhiệm về việc tổ chức học và nâng cao trình độ văn hóa cho cán bộ,nhân viên, công nhân của cơ quan, đơn vị mình” Trong những năm này, BộGiáo dục đưa ra phương châm “cần gì, học nấy”, “kết hợp học văn hóa vớihọc kỹ thuật” ngay từ cấp I

Việc thực hiện những chủ trương, quy định của các văn bản trên đãthúc đẩy phong trào Bổ túc văn hóa với số lượng hàng triệu người, cả cán bộ

và nhân dân được nâng cao trình độ học vấn, đào tạo, bồi dưỡng được nhiềucán bộ từ công nhân, nông dân

Ngày 7/4/1960, Ban bí thư trung ương Đảng ra Chỉ thị số 203/CT-TWyêu cầu “song song với những trường phổ thông, cần tích cực nghiên cứu mởnhững trường vừa học văn hóa phổ thông, vừa học kỹ thuật sản xuất, nhất là

kỹ thuật sản xuất nông nghiệp…”

Cũng trong thời kỳ này, để tạo điều kiện phát triển theo quy mô lớn,phải „dựa vào dân” Vì vậy, ngày 4/8/1964, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ

Trang 36

thị số 169/CT-TTg cho phép từ năm học 1960 - 1961 ngành giáo dục vậnđộng nhân dân đóng góp học phí từ cấp I đến cấp III và phát triển mạnhtrường dân lập ở địa phương.

Để tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động “phổ cập vỡ lòng”, Ngày25/5/1961, Bộ Giáo dục đã ra Thông tư số 25/TT-MG ban hành Quy chế giáoviên vỡ lòng, đồng thời tăng cường huấn luyện, bồi dưỡng giáo viên, xâydựng cơ sở vật chất

Để chuẩn bị cho cuộc cải cách giáo dục lần thứ 3, Bộ Giáo dục đã raThông tư số 41/TT-ĐTBD ngày 14/8/1964 về cải cách cơ bản hệ thống cáctrường sư phạm và tích cực đẩy mạnh công tác bồi dưỡng Ngày 14/11/1964Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 206/CT-TTg về đào tạo, bồi dưỡnggiáo viên phổ thông Ngày 01/9/1964, Bộ Giáo dục ban hành Thông tư số46/TT-ĐTBD hướng dẫn thành lập trường bồi dưỡng cán bộ quản lý giáodục và giáo viên ở các tỉnh, thành phố

Ngày 20/11/1963, Chính phủ ban hành Nghị định số 171/CP xác địnhquy chế mở các trường lớp đại học và trung học chuyên nghiệp, đưa việc tổchức và hoạt động của các trường đi vào nề nếp

Để tăng cường chỉ đạo phát triển giáo dục miền núi và các vùng dântộc ít người, Bộ Giáo dục đã mở 2 Hội nghị về giáo dục dân tộc và miền núivào năm 1958 và năm 1964

Sau mười năm sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng và kết thúc kếhoạch năm năm lần thứ nhất (1960 – 1965) nước ta đã cải tạo căn bản hệthống giáo dục cũ, xây dựng và thống nhất hệ thống giáo dục mới mang tínhdân tộc, dân chủ Các ngành học đều được xây dựng và phát triển cả về sốlượng và chất lượng Tuy tốc độ phát triển và hoàn chỉnh giữa các bậc họccòn khác nhau nhưng lần đầu tiên đã có sự phát triển khá cân đối, đồng bộ vànhịp nhàng giữa các ngành, các cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân

Trang 37

Đến những năm 1965 – 1975 là những năm toàn dân chống mỹ cứunước, Giáo dục đã phát triển quy mô khá lớn Tháng 10/1965 Nhà nước đãquyết định tách bộ phận chỉ đạo ngành đại học và trung học chuyên nghiệp ở

Bộ Giáo dục để thành lập một Bộ riêng Hội đồng Chính phủ đã ban hành cácNghị định về tổ chức bộ máy cơ quan Bộ Giáo dục và Bộ Đại học và trunghọc chuyên nghiệp

Cả nước bước vào cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đếquốc Mỹ, phương hướng, nhiệm vụ giáo dục xuyên suốt thời kỳ này là côngtác giáo dục phù hợp với thời chiến; duy trì, phát triển sự nghiệp giáo dục,đào tạo cán bộ; giữ vững và nâng cao chất lượng giáo dục

Ngày 5/8/1965, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 88/TTg vềchuyển hướng cong tác giáo dục với nội dung cơ bản là phải chiến thắng đếquốc Mỹ trên mặt trận giáo dục, giáo dục phải đáp ứng yêu cầu trước mắt vàlâu dài của cách mạng Thực hiện chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáodục đã có chỉ đạo công tác phòng không, sơ tán các trường học, bảo đảm antoàn cho thầy và trò, chăm lo sức khỏe học sinh, sinh viên; đảm bảo chấtlượng giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác của nhà trường

Thực hiện Nghị quyết số 138/CP của Hội đồng Chính phủ, Bộ Đại học

và trung học chuyên nghiệp đã ban hành Quy chế mở trường và các quy chếchuyên môn, việc cải tiến chương trình, nội dung phương pháp giáo dục, đưacác trường đại học và trung học chuyên nghiệp đi vào ổn định

Ngày 24/02/1968, Hội đồng Chính phủ đã có Nghị quyết số 28/CP vềviệc tăng cường cơ sở vật chất cho các trường phổ thông, đại học và trunghọc chuyên nghiệp

Ngày 01/12/1970, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 257/TTg vềviệc tăng cường giáo dục quân sự và quốc phòng, gắn nhà trường với thực tế

xã hội, học tập với lao động, sản xuất

Trang 38

Ngày 05/09/1972, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số247/TTg về nhiệm vụ chi viện về mọi mặt: cán bộ, giáo viên, tài liệu giáokhoa, đồ dung dạy học và các biện pháp cụ thể để đảm bảo hiệu quả tốt nhấtcho sự chi viện sự nghiệp giáo dục của vùng giải phóng ở miền Nam.

Từ năm 1965 đến năm 1975 là thời kỳ chuyển hướng giáo dục phù hợpthời chiến trên quy mô rộng lớn Trong thời kỳ này, sự nghiệp giáo dục ởmiền Bắc không những được duy trì mà còn tiếp tục được phát triển mạnh ởtất cả các cấp học, các vùng khác nhau, kể cả vùng chiến sự ác liệt, miền núi

và dân tộc ít người; chất lượng giáo dục toàn diện được nâng cao, giáo dục

đã phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ chính trị chống Mỹ cứu nước đồng thờichuẩn bị tiềm lực đáng kể về dân trí, về lực lượng lao động và cán bộ chocông cuộc xây dựng đất nước

2.3 Pháp luật về giáo dục từ khi đất nước thống nhất đến trước thời kỳ đổi mới (1975 - 1986)

Thời kỳ này, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước ta bước vào giaiđoạn mới: củng cố nền độc lập vừa dành được và xây dựng CNXH trên phạm vi

cả nước Đây là thời kỳ đất nước ta còn phải chịu nhiều hậu quả nặng nề củachiến tranh và lại cùng một lúc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựngCNXH và bảo vệ tổ quốc Thời kỳ này phương hướng, nhiệm vụ chung củangành giáo dục là: Tiến hành việc tiếp quản, điều chỉnh sắp xếp, nhanh chóngđưa nhà trường và công tác giáo dục ở phía Nam đi vào hoạt động bình thường

và ổn định Thực hiện việc quản lý giáo dục thống nhất trên phạm vi cả nước;tích cực đưa sự nghiệp giáo dục đào tạo ở phía các tỉnh phía Nam hoà nhập theo

đà phát triển chung của cả nước Đồng thời củng cố và phát triển giáo dục ởmiền Bắc Tiến hành cải cách giáo dục, cải cách đại học và trung học chuyênnghiệp theo Nghị quyết 14 của Bộ chính trị Trung ương Đảng Phương thứcquản lý và chỉ đạo thời kỳ này được chú ý điều chỉnh phù

Trang 39

hợp với phía Nam trong từng giai đoạn, từng bước áp dụng thống nhất hệthống văn bản quy phạm pháp luật, hoàn thiện cơ chế quản lý, thực hiện cơchế làm việc dân chủ, tăng cường nghiên cứu khoa học: thực hiện rộng rãiphương châm; "Nhà nước và dân cùng làm", liên kết và phối hợp chặt chẽgiữa giáo dục đào tạo với các ngành kinh tế, khoa học - kỹ thuật và văn hóa -

xã hội với hoạt động của các đoàn thể nhân dân, thực hiện từng bước xã hộihóa giáo dục

Ngày 27/10/1976 thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số426/TTg về việc sắp xếp lại một số trường mới tiếp quản, thành lập một sốtrường mới, giải thể các trường đại học tư, xây dựng lại mạng lưới các trunghọc chuyên nghiệp phía nam cân đối với yêu cầu và thống nhất trong mạng lướichung của cả nước về trung học chuyên nghiệp Từng bước ban hành và áp dụngthống nhất các quy chế, văn bản pháp luật về giáo dục đối với các loại trường,các ngành học, cấp học Trong thời gian này, chính phủ đã ban hành một số chínhsách đối với giáo viên như Quyết định về ngày Nhà giáo Việt Nam, tôn vinhdanh hiệu Nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, bồi dưỡng, khen thưởng giáo viêngiỏi, quy định lương thâm niên cho giáo viên, quy định xét về công nhận họchàm, học vị của cán bộ giảng dạy… Chính phủ đã ban hành quyết định số224/TTg ngày 24/5/1976 về việc tổ chức, chỉ đạo việc triển khai đào tạo trên đạihọc ở trong nước Từ năm 1970 Bộ giáo dục và Bộ Đại học và trung học chuyênnghiệp đã tập trung lực lượng nghiên cứu về cải cách giáo dục Nghị quyết số14/NQ-TW ngày 11/1/1979 của Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng đãxác định những quan điểm cơ bản, có hệ thống và những chủ trương lớn về xâydựng một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa mang tính dân tộc và hiện đại Việt Nam.Đồng thời xác định hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm Trên cơ sở đó tiến hànhthống nhất hệ thống giáo dục phổ thông trên cả nước Nhìn chung trong thời kỳnày, bộ giáo dục và bộ đại học và trung học

Trang 40

chuyên nghiệp đã phối hợp với các cơ quan có liên quan vươn lên quản lýthống nhất sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở niềm Nam kịp đà tiến chung của

cả nước theo hướng giáo dục XHCN Qua thực tế, theo sự chỉ đạo của ĐảngChính phủ Bộ giáo dục đã thấy rõ được hướng đi và phát triển giáo dục theođường lối, quan điểm của Đảng đã được thể chế hoá thành một hệ thống vănbản quy phạm pháp luật kịp thời và phù hợp với điều kiện Việt Nam Tuynhiên, trong thời kỳ này chất lượng và hiệu quả giáo dục chưa cao, việcnghiên cứu và triển khai cải cách giáo dục còn nhiều khó khăn và hạn chế

2.4 Pháp luật về giáo dục từ khi đổi mới đến nay (1986 đến nay)

2.4.1 Pháp luật về giáo dục từ 1986 đến 1998

Đại hội lần thứ VI (tháng 12/1986) của Đảng cộng sản Việt Nam định

ra đường lối đổi mới toàn diện và sâu sắc toàn bộ các lĩnh vực kinh tế - xã hội

để đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng và tiếp tục đi lên xã hội CNXH.Tiếp đến Đại hội đảng lần thứ VII (tháng 6/1991) đã cụ thể hóa và hoàn chỉnhđường lối đổi mới, thông qua "cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội" và "chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xãhội đến năm 2000

Đối với sự nghiệp giáo dục, Quốc hội đã thông qua Luật phổ cập giáodục tiểu học (tháng 8/1991) đây là Luật chuyên ngành đầu tiên về giáo dụcmặc dù phạm vi điều chỉnh của luật mới chỉ giới hạn đối với việc phổ cập mộtbậc học đó là tiểu học Ban chấp hành Trung ương đảng đã ra Nghị quyết vềcông tác giáo dục và đào tạo tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ

IV (khóa VII tháng 11/1993) Đây là tiền đề và điều kiện để đổi mới sự nghiệpgiáo dục và đào tạo Thời kỳ này tổ chức bộ máy bộ giáo dục đã có nhữngthay đổi lớn Từ 4 cơ quan trực thuộc chính phủ chịu trách nhiệm quản lýngành về giáo dục đào tạo, năm 1987, nhập lại thành 2 Bộ đến năm 1990 tiếptục nhập thành một Bộ duy nhất quản lý nhà nước tất cả các cấp, bậc học

Ngày đăng: 04/11/2020, 15:31

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w