1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối quan hệ giữa miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt

117 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 187,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

pháp lý cụ thể của việc miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, và trongthực tiễn hiện nay đang tồn tại nhiều trường hợp có thể được áp dụng việcmiễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Mạnh Hùng

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại

Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Mạnh Hùng

Phản biện 1:

………

………

………

……….

Phản biện 2: ………

………

………

………

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sỹ họp tại Khoa luật – Đại học

Quốc gia Hà Nội

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Cáckết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nàokhác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toáncác nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thểbảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trần Thị Hồng Trinh

Trang 4

MỤC LỤC

TrangDanh mục các bảng. 1Danh mục các biểu đồ 2

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của miễn trách nhiệm hình sự và

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của miễn hình phạt và phân biệt

1.2 Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về mối quan

1.2.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật

Trang 5

nhiệm hình sự và miễn hình phạt………

1.3.1 Pháp luật hình sự Nhật Bản……… 33

1.3.2 Pháp luật hình sự Liên Bang Nga……… 34

1.3.3 Pháp luật hình sự Thụy Điển……… 38

Chương 2 Mối quan hệ giữa miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt theo Bộ luật hình sự năm 1999 và thực trạng giải quyết mối quan hệ này ở nước ta trong những năm gần đây……… 41

2.1 Mối quan hệ giữa miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt theo Bộ luật hình sự năm 1999………

41 2.2 Các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt 53 2.2.1 Các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999……… 53

2.2.2 Các trường hợp miễn hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999……… 65

2.3 Thực trạng giải quyết mối quan hệ giữa miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010……… 68

2.3.1 Tình hình áp dụng miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt……… 68

2.3.2 Những tồn tại của việc giải quyết mối quan hệ giữa miễn

76 trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt trong thực tiễn áp dụng

Trang 6

pháp luật của nước ta……….

2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại trong việc giải quyết mối

quan hệ giữa miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt trong

Chương 3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả

áp dụng miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt trong

3.2 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp

luật nói chung, pháp luật hình sự về miễn trách nhiệm hình sự và

3.3 Đẩy mạnh việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, bản

lĩnh nghề nghiệp và ý thức trách nhiệm của cán bộ các cơ quan

3.4 Tăng cường sự hợp tác giữa các cơ quan tiến hành tố tụng

trong việc giải quyết miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình

3.5 Tiếp tục hoàn thiện cơ chế giám sát của các cơ quan dân cử

và phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với cơ quan tư

Trang 7

KẾT LUẬN………. 100

Trang 8

Bảng 5 Tổng số bị can được miễn trách nhiệm hình sự trong giai đoạn truy tố từ năm 2005 đến năm 2010

Bảng 6 Tổng số bị cáo được miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt trong giai đoạn xét xử sơ thẩm từ năm 2005 đến năm 2010

Trang 10

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Trong bất kỳ một nhà nước pháp quyền đích thực nào, các quy định củapháp luật thuộc lĩnh vực tư pháp hình sự nói chung và các quy định của phápluật hình sự nói riêng bên cạnh việc nhằm mục đích đấu tranh phòng và chốngtội phạm còn phải thực hiện tốt nguyên tắc nhân đạo Là những chế định quantrọng của luật hình sự Việt Nam, miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạtkhông chỉ thể hiện chính sách phân hóa trách nhiệm hình sự mà còn phản ánh

rõ nét nhất nguyên tắc nhân đạo của Nhà nước ta đối với người phạm tội –động viên, khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khảnăng giáo dục, cải tạo, nhanh chóng hòa nhập cộng đồng để trở thành người

có ích cho xã hội

Cho đến nay đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu, các bài viết vềchế định miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt; tuy nhiên, trong khoahọc luật hình sự khi đề cập đến hai chế định này vẫn tồn tại nhiều quan điểmkhác nhau cũng như còn nhiều vấn đề chưa được làm sáng tỏ Đặc biệt cáccông trình này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu từng chế định riêng lẻ màviệc khái quát mối quan hệ giữa chúng chưa được quan tâm nghiên cứu mộtcách sâu sắc, đầy đủ, có hệ thống và toàn diện Vì vậy, giải quyết tốt mối quan

hệ này là tạo điều kiện để áp dụng đúng đắn và chính xác các quy định của haichế định này; đồng thời tạo ra những cơ sở pháp lý thuận lợi cho các cơ quanbảo vệ pháp luật trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệlợi ích của Nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Mặt khác, thực tiễn áp dụng hai chế định này cũng đặt ra nhiều vướngmắc đòi hỏi khoa học luật hình sự cần tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ như:khái niệm pháp lý của “miễn trách nhiệm hình sự”, “miễn hình phạt”, hậu quả

Trang 11

pháp lý cụ thể của việc miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, và trongthực tiễn hiện nay đang tồn tại nhiều trường hợp có thể được áp dụng việcmiễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt đối với những người đã thựchiện hành vi tương ứng nhưng chưa được nhà làm luật quy định trong phápluật hiện hành.

Như vậy, việc tiếp tục nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện, có hệthống mối quan hệ giữa miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt; đồngthời đánh giá việc áp dụng hai chế định này trong thực tiễn để đưa ra nhữngkiến giải lập pháp nhằm hoàn thiện chúng trong giai đoạn xây dựng Nhà nướcpháp quyền và công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay không chỉ có

Đó là lý do mà tôi chọn đề tài: “Mối quan hệ giữa miễn trách nhiệm hình sự và

miễn hình phạt” để làm luận văn thạc sỹ của mình.

2 Tình hình nghiên cứu.

Miễn trách nhiệm hình sự cũng như miễn hình phạt đều là những vấn

đề cơ bản, phong phú và phức tạp của luật hình sự nên từ trước đến nay luônđược các nhà luật hình sự trên thế giới và trong nước quan tâm

dung liên quan đến hai chế định trên, đặc biệt là chế định miễn trách nhiệm hình

sự Trong đó đáng chú ý là những công trình sau:

- Bản chất pháp lý của các khái niệm: miễn trách nhiệm hình sự, truy cứu trách nhiệm hình sự, không phải chịu trách nhiệm hình sự và loại trừ trách nhiệm hình sự (Tạp chí kiểm sát, số 01/2002); Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong Luật hình sự Việt Nam trước thềm thế kỷ XXI (NXB

Công an nhân dân, Hà Nội, 2002, tr221-239); Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự - Sách chuyên khảo sau đại học (NXB Đại học Quốc

Trang 12

gia Hà Nội, 2005); Phân biệt miễn trách nhiệm hình và miễn hình phạt (Tạp

chí khoa học pháp lý, số 02/2004) của GS.TSKH Lê Cảm

- Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 1999

(Tạp chí khoa học, số 4/1997) của TS Nguyễn Ngọc Chí

- Về chế định miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm

1999 (Tạp chí Tòa án nhân dân, số 4/2001) của GS TS Phạm Hồng Hải.

- Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự (Tạp chí Luật học,

số 5/1997)(Tạp chí Luật học, số 4/2002) của TS Lê Thị Sơn

- Hoàn thiện các quy định về miễn trách nhiệm hình sự (Tạp chí kiểm sát số 5/2004); Một số vấn đề về những trường hợp miễn trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 25 Bộ luật hình sự năm 1999 (Tạp chí Kiểm sát, số 8/2004); Về chế định miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 1999 (Tạp chí Khoa học, số 1/2004); Những vấn đề lý luận và thực tiễn về miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam (Luận án tiến sỹ luật học, khoa Luật ĐH Quốc gia năm 2008); Về trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội đưa hối lộ (Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1/2008) của TS Trịnh

- Miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt của TS Trương Quang Vinh (trong sách Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội,

Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2000)

Trang 13

- Miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt (trong sách Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà

Nội, 2003) do GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ Biên

- Miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt (trong sách Giáo trình luật hình sự Việt Nam Phần chung, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại

học Quốc gia Hà Nội, 2001) của GS.TS Trần Văn Độ

- Các chế định trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự, hình phạt và miễn hình phạt trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền (Đề tài

nghiên cứu đặc biệt cấp Đại học Quốc gia, 2008)…

- Trần Thị Quỳnh Chế định miễn hình phạt trong luật hình sự Việt

Nam Luận văn thạc sĩ Luật học, H 2007

Các công trình nghiên cứu khoa học trên đã giải quyết nhiều vấn đềbức xúc mà lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đặt ra Tuy nhiên,đây vẫn là là những chế định mà nhiều nội dung vẫn chưa đạt đến sự đồngthuận và gây tranh luận sôi nổi trong giới khoa học luật hình sự từ trước đếnnay

3.Mục đích, đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của luận văn 3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về miễntrách nhiệm hình sự, miễn hình phạt; thực trạng giải quyết mối quan hệ miễntrách nhiệm hình sự và miễn hình phạt trong những năm gần đây (từ năm

2005 đến năm 2009) để từ đó có thể đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệuquả áp dụng pháp luật đối với hai chế định quan trọng này trong thực tiễn giảiquyết các vụ án hình sự đảm bảo xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

Trang 14

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mối quan hệ giữa miễn tráchnhiệm hình sự và miễn hình phạt mà cụ thể là một số vấn đề chung về miễntrách nhiệm hình sự và miễn hình phạt; mối quan hệ giữa miễn trách nhiệmhình sự và miễn hình phạt theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam cũngnhư một số nước trên thế giới; thực trạng giải quyết mối quan hệ giữa miễntrách nhiệm hình sự và miễn hình phạt trong những năm gần đây (từ năm

2005 đến năm 2009); một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng miễntrách nhiệm áp dụng miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt

Bên cạnh đó, để giải quyết một cách có hệ thống mối quan hệ giữa haichế định này thì cần phải đề cập đến một loạt các vấn đề khác của luật hình sự

và luật tố tụng hình sự như trách nhiệm hình sự, hình phạt, các biện pháp ngănchặn và các biện pháp cưỡng chế về hình sự khác…

3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn tập trung vào giải quyếtnhững vấn đề sau:

Về mặt lý luận: trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề về chế định miễntrách nhiệm hình sự, miễn hình phạt; luận văn tập trung nghiên cứu mối quan

hệ giữa miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt theo quy định của phápluật hiện hành

Về thực tiễn: nghiên cứu và đánh giá tình hình áp dụng chế định miễntrách nhiệm hình sự, miễn hình phạt; những kết quả cũng như các tồn tại trongviệc giải quyết mối quan hệ miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt trongthực tiễn áp dụng pháp luật nước ta; nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế.Qua đó có thể nhận thức một cách sâu sắc, toàn diện về mối quan hệ giữamiễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt, cũng như nâng cao hiệu quả củahoạt động vận dụng lý luận vào thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự

Trang 15

3.5 Phạm vi nghiên cứu:

trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt dưới góc độ của luật hình sự Đồng thời,cũng đề cập đến một số quy phạm của luật tố tụng hình sự nhằm giải quyết nhiệm

vụ và đối tượng nghiên cứu

mối quan hệ giữa miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt trong giai đoạn từnăm 2005 đến năm 2010

4 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn đặc biệt chú trọng các phương phápnghiên cứu như phương pháp hệ thống, lịch sử, lôgíc, phân tích, so sánh, tổnghợp để chọn lọc kinh nghiệm thực tiễn, tri thức khoa học trong và ngoài nước

5 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn và điểm mới về khoa học của luận văn

Về mặt lý luận: đây là công trình nghiên cứu chuyên khảo, đồng bộ đầutiên đề cập một cách sâu sắc về mối quan hệ giữa miễn trách nhiệm hình sự vàmiễn hình phạt ở cấp độ luận văn thạc sỹ luật học

Về mặt thực tiễn: luận văn góp phần vào việc giải quyết đúng đắn mốiquan hệ của hai chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam: miễn tráchnhiệm hình sự - miễn hình phạt; từ đó đưa ra những kiến giải nhằm hoàn thiệnhai chế định này ở khía cạnh lập pháp cũng như áp dụng pháp luật trong thựctiễn Luận văn cũng là nguồn tài liệu tham khảo cho cán bộ nghiên cứu khoahọc, học viên cao học, nghiên cứu sinh

Điểm mới khoa học của luận văn: trong một chừng mực nhất định cóthể khẳng định đây là công trình nghiên cứu chuyên khảo, đồng bộ đầu tiên ởcấp độ luận văn thạc sỹ đề cập tới mối quan hệ giữa miễn trách nhiệm hình sự

Trang 16

và miễn hình phạt Bên cạnh đó, tác giả luận văn còn chỉ ra những vướngmắc, tồn tại trong về mặt kỹ thuật lập pháp cũng như thực tiễn áp dụng để từ

đó có thể đưa ra những kiến giải nhằm hoàn thiện những thiếu sót

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

bố cục gồm ba chương

Trang 17

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ MIỄN HÌNH PHẠT

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ MIỄN HÌNH PHẠT

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của miễn trách nhiệm hình sự và phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với một số khái niệm khác

Là một trong những chế định quan trọng của pháp luật hình sự ViệtNam, miễn trách nhiệm hình sự đã được ghi ngay trong lần pháp điển hóa đầutiên bằng việc thông qua Bộ luật hình sự năm 1985; cho đến Bộ luật hình sựnăm 1999, các quy định về miễn trách nhiệm hình sự ngày càng được bổ sung

và hoàn thiện cho phù hợp hơn với thực tiễn áp dụng pháp luật của nước ta.Tuy nhiên, xét trên phương diện lập pháp cho thấy chế định này vẫn chưađược quan tâm nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện, điều này được thểhiện trước hết ở chỗ mặc dù đã trải qua hai lần pháp điển hóa pháp luật hình

sự nhưng khái niệm pháp lý của miễn trách nhiệm hình sự chưa bao giờ đượcghi nhận trong pháp luật thực định Trong khoa học luật hình sự Việt Namxung quanh vấn đề khái niệm của miễn trách nhiệm hình sự còn tồn tại nhiềuquan điểm khác nhau:

đối với người có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình

sự cấm: “Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc tội một người chịu trách nhiệmhình sự về tội mà họ đã thực hiện” [25, tr.321]; hoặc “miễn trách nhiệm hình sự làmiễn kết tội cũng như áp dụng hình phạt đối với người thực hiện tội phạm và dovậy họ không bị coi là có tội”[11, tr.14]

Trang 18

Nếu theo lôgic pháp lý thì việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự phảixuất phát từ việc áp dụng trách nhiệm hình sự, hay nói cách khác không thể

áp dụng miễn trách nhiệm hình sự khi chưa đủ căn cứ để khẳng định mộtngười phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đã phạm hoặc đối với người khôngphải chịu trách nhiệm hình sự (các trường hợp loại trừ tính chất tội phạm củahành vi) Trách nhiệm hình sự chỉ chính thức được thực hiện khi bản án kếttội của Tòa án có hiệu lực pháp luật nên miễn trách nhiệm hình sự cũng phải

do Tòa án quyết định: khi nhận thấy có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sựcho một người thì trước hết Tòa án phải tuyên người đó phạm tội cụ thể sau

đó mới xét đến việc áp dụng miễn trách nhiệm hình sự cho người đó Tuynhiên, pháp luật tố tụng hình sự hiện hành quy định không chỉ Tòa án mà cả

Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cũng có quyền áp dụng chế định miễn tráchnhiệm hình sự; đây cũng là vấn đề mà các nhà lập pháp cần xem xét thêmtrong quá trình hoàn thiện pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trongthời gian tới đây

cứu trách nhiệm hình sự hoặc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự: “miễn tráchnhiệm hình sự là không truy cứu trách nhiệm hình sự một người về việc đã thựchiện tội phạm được quy định trong Luật hình sự, thể hiện trong một văn bản của cơquan Nhà nước có thẩm quyền” [20, tr.238], [16, tr.53.]; “miễn trách nhiệm hình

sự là miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và đương nhiên kéo theo cả miễn phảichịu hậu quả tiếp theo do việc thực hiện trách nhiệm hình sự từ phía Nhà nướcđem lại như: miễn bị kết tội, miễn phải chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệmhình sự và miễn bị mang án tích Trên thực tế có thể có trường hợp người phạm tộiđược Tòa án miễn trách nhiệm trong giai đoạn xét xử Trong trường hợp này, miễntrách nhiệm hình sự chỉ bao gồm

Trang 19

miễn chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự và miễn mang ántích”[19, tr.19].

Truy cứu trách nhiệm hình sự là tổng thể hoạt động của Cơ quan điềutra, Viện kiểm sát và Tòa án nhằm xác định trách nhiệm hình sự đối với ngườiphạm tội Đây là một quá trình với nhiều giai đoạn kế tiếp nhau và được bắtđầu từ khi có quyết định khởi tố bị can Ở giai đoạn điều tra hoặc truy tố nếu

có căn cứ để miễn trách nhiệm cho bị can thì cơ quan có thẩm quyền sẽ raquyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án Trong trường hợp này, mặc

dù hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ không tiếp tục được thực hiệnnhưng người phạm tội thực tế đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự; do đókhông thể đồng nhất giữa miễn trách nhiệm hình sự với miễn truy cứu tráchnhiệm hình sự

(miễn) hậu quả pháp lý của tội phạm: “Miễn trách nhiệm hình sự là một chế địnhnhân đạo của Luật hình sự Việt Nam và được thể hiện bằng việc xóa bỏ hậu quảpháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị Luật hình sự cấm đốivới người bị coi là lỗi trong việc thực hiện hành vi đó” [8, tr.753];

“miễn trách nhiệm hình sự là miễn hậu quả pháp lý đối với một tội phạm dopháp luật quy định” [28, tr.269]; “miễn trách nhiệm hình sự là không buộcmột người gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do việc người đó đã thực hiệnhành vi phạm tội, mà vẫn đảm bảo yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và chống tộiphạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội” [35, tr.71]

Hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm là người thực hiện hành viphải chịu trách nhiệm hình sự - dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất sovới bất kỳ dạng trách nhiệm pháp lý nào khác Theo quy định của Bộ luậthình sự năm 1999 thì hệ thống các dạng trách nhiệm hình sự bao gồm: cácbiện pháp cưỡng chế về hình sự nghiêm khắc nhất (các hình phạt chính và

Trang 20

hình phạt bổ sung và nếu chủ thể bị kết án và phải chịu hình phạt thì người đócòn bị coi là có án tích); các biện pháp cưỡng chế về hình sự khác – các biệnpháp cưỡng chế về hình sự ít nghiêm khắc hơn hình phạt (các biện pháp tưpháp chung và các biện pháp tư pháp có tính chất giáo dục đối với người chưa

người được miễn trách nhiệm hình sự thì họ sẽ được loại trừ toàn bộ các hậuquả pháp lý nêu trên, đồng thời họ không có án tích Cần lưu ý rằng miễn

trách nhiệm hình sự là miễn hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm chứ

không phải là hậu quả của tội phạm - “sự gây thiệt hại cụ thể nhất định đáng

kể do hành vi phạm tội gây ra cho các lợi ích (khách thể) được bảo vệ bằngpháp luật hình sự” [8, tr 367]

Dưới góc độ nghiên cứu khoa học, chúng tôi đưa ra khái niệm về miễntrách nhiệm hình sự như sau: “miễn trách nhiệm hình sự là một chế định nhânđạo của Luật hình sự do cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền tùy thuộc vàogiai đoạn tố tụng hình sự tương ứng áp dụng và nhằm hủy bỏ hậu quả pháp lýhình sự của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho bị Luật hình sự cấm đối vớingười bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó”

Xuất phát từ khái niệm đã nêu, đồng thời trên cơ sở phân tích các quyphạm pháp luật hình sự hiện hành có liên quan đến việc giải quyết vấn đềmiễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 1999 cho phép chỉ ranăm đặc điểm cơ bản như sau:

- Đặc điểm thứ nhất, miễn trách nhiệm hình sự là chế định phản ánh rõ

nét nhất nguyên tắc nhân đạo của chính sách hình sự nói chung và của pháp luậthình sự nói riêng; cùng với các chế định khác như các trường hợp loại trừ tráchnhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, thờihiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hìnhphạt, đại xá, đặc xá… thể hiện nguyên tắc “nghiêm trị kết hợp

Trang 21

với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục thuyết phục” xuyên suốt trongchính sách pháp luật hình sự của Nhà nước ta Miễn trách nhiệm hình sự là sựkhoan hồng của Nhà nước ta đối với người phạm tội cũng như hành vi phạmtội của họ.

- Đặc điểm thứ hai, miễn trách nhiệm hình sự chỉ có thể được đặt ra đối

với người mà hành vi của họ thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụthể được quy định trong phần tội phạm Bộ luật hình sự, đồng thời họ lại có nhữngcăn cứ và những điều kiện do luật định để không phải gánh chịu hậu quả pháp lýcủa việc thực hiện tội phạm đó

- Đặc điểm thứ ba, người được miễn trách nhiệm hình sự mặc dù không

phải gánh chịu các hậu quả pháp lý hình sự của hành vi phạm tội mà mình đã thựchiện như không phải chịu hình phạt – biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất củaNhà nước hay các biện pháp tư pháp, đồng thời cũng không bị coi là có án tíchnhưng họ vẫn có thể phải chịu một hoặc nhiều biện pháp tác động khác về mặtpháp lý thuộc các ngành luật tương ứng khác vào thời điểm trước hoặc sau khimiễn trách nhiệm hình sự

- Đặc điểm thứ tư, đối tượng được áp dụng chế định miễn trách nhiệm

hình sự theo quy định pháp luật hình sự chỉ có thể là cá nhân người phạm tội thỏamãn điều kiện luật định: là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịutrách nhiệm hình sự và có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm bị luật hình

sự cấm; mặt khác, họ lại đáp ứng được những điều kiện cụ thể được quy định tạiphần chung cũng như phần tội phạm của Bộ luật hình sự

- Đặc điểm thứ năm, miễn trách nhiệm hình sự chỉ do một cơ quan tư

pháp có thẩm quyền nhất định (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án) ápdụng phụ thuộc vào từng giai đoạn tố tụng tương ứng cụ thể khi có đầy đủ

Trang 22

các căn cứ có tính chất bắt buộc (hoặc tùy nghi) do pháp luật hình sự quy định.

* Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với loại trừ trách nhiệm hình sự (không phải chịu trách nhiệm hình sự):

Trong Bộ luật hình sự năm 1999, bên cạnh thuật ngữ “miễn tráchnhiệm hình sự” thì các nhà lập pháp còn sử dụng thuật ngữ “không phải chịutrách nhiệm hình sự” (Điều 11; khoản 1 Điều 13) và “loại trừ trách nhiệmhình sự” (đoạn 2 Điều 53) Do đó, việc phân biệt hai chế định này dựa trêncác tiêu chí dưới đây có ý nghĩa quan trọng trong nhận thức cũng như áp dụngchúng trong thực tiễn:

trong việc thực hiện hành viđó

Trang 23

314) – Bộ luật hình sự năm1999

Bảng 1 Sự khác nhau giữa miễn trách nhiệm hình sự và loại trừ trách nhiệm hình sự (không phải chịu trách nhiệm hình sự).

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của miễn hình phạt và phân biệt miễn hình phạt với một số khái niệm khác.

Cùng với miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cũng là một trongnhững chế định nhân đạo của chính sách hình sự nói chung và của pháp luậthình sự Việt Nam nói riêng Ngay trong lần pháp điển hóa luật hình sự đầutiên, miễn hình phạt đã được ghi nhận về mặt pháp lý song cho đến nay chếđịnh này còn chưa đáp ứng được yêu cầu cả về mặt lập pháp cũng như thựctiễn áp dụng bởi đến lần pháp điển hóa pháp luật hình sự lần thứ hai các nhàlàm luật vẫn chưa đưa ra được một khái niệm pháp lý chính thống về miễnhình phạt

Trang 24

Trong khoa học luật hình sự Việt Nam hiện nay còn tồn tại nhiều ýkiến khác nhau về khái niệm miễn hình phạt, khái quát lại có thể chia thànhhai nhóm như sau:

đề cập tới thẩm quyền áp dụng): “Miễn hình phạt là không buộc người phạm tộiphải biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt về tội màngười đó đã thực hiện” [26, tr.425] hoặc “Miễn hình phạt là không buộc một ngườiphải chịu hình phạt về tội mà người đó đã thực hiện”.[ 25, tr.323]

lý cũng như thẩm quyền áp dụng và giai đoạn áp dụng): “Miễn hình phạt là hủy bỏbiện pháp cưỡng chế về hình sự nghiêm khắc nhất cho người bị kết án mà lẽ ra Tòa

án phải tuyên trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với người này” [8,tr.779], hoặc “Miễn hình phạt được áp dụng trong trường hợp Tòa án kết tội nhưngkhông áp dụng hình phạt đối với người phạm tội do có những điều kiện mà Bộ luậthình sự năm 1999 quy định”[12, tr.196]

Nhìn chung, các quan điểm trên về khái niệm miễn hình phạt đều khẳngđịnh rõ nội dung pháp lý cũng như hậu quả pháp lý, song có thể thấy rằngchưa có một quan điểm nào phản ánh được bản chất pháp lý của chế định này– miễn hình phạt là một chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam – đặcđiểm này có ý nghĩa rất quan trọng thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước

ta đối với người phạm tội

Dưới góc độ nghiên cứu khoa học chúng tôi có thể đưa ra khái niệm vềmiễn hình phạt như sau: “Miễn hình phạt là một chế định nhân đạo của Luậthình sự Việt Nam do Tòa án áp dụng được thể hiện bằng việc miễn áp dụngbiện pháp cưỡng chế về hình sự nghiêm khắc nhất là hình phạt cho người bịkết án đối với tội phạm mà họ đã thực hiện”

Trang 25

Từ khái niệm trên cho phép chỉ ra năm đặc điểm cơ bản như sau:

- Đặc điểm thứ nhất: miễn hình phạt là một trong những chế định nhân

đạo của pháp luật hình sự Việt Nam bởi người kết án khi được miễn hình phạt sẽkhông phải chấp hành các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước làhình phạt Tính nghiêm khắc của hình phạt được thể hiện ở chỗ người bị kết án bịhạn chế hoặc tước bỏ quyền tự do hay thậm chí bị tước bỏ cả tính mạng (trongtrường hợp bị áp dụng hình phạt tử hình)

- Đặc điểm thứ hai, miễn hình phạt chỉ đặt ra đối với người bị kết án

nào mà nếu không đáp ứng đủ những căn cứ và điều kiện nhất định do luật định đểđược miễn hình phạt thì người đó phải bị Tòa án áp dụng một hình phạt nào đótrên thực tế theo quy định của pháp luật hình sự

- Đặc điểm thứ ba, mặc dù người được miễn hình phạt được miễn áp

dụng biện pháp cưỡng chế về hình sự nghiêm khắc nhất là hình phạt đối với hành

vi phạm tội đã thực hiện và người đó đương nhiên được xóa án tích nhưng thựctiễn xét xử cho thấy tùy các tình tiết cụ thể của vụ án người được miễn hình phạtvẫn có thể bị (hoặc không bị) Tòa án áp dụng một hoặc nhiều biện pháp tư pháp dopháp luật hình sự quy định

- Đặc điểm thứ tư: đối tượng được áp dụng chế định miễn hình phạt

theo quy định pháp luật hình sự chỉ là cá nhân người phạm tội nào đó khi có đủcăn cứ và điều kiện luật định mà không áp dụng đối với pháp nhân

- Đặc điểm thứ năm: miễn hình phạt chỉ do Tòa án áp dụng ở giai đoạn

xét xử khi người bị kết án có đầy đủ căn cứ và điều kiện do pháp luật hình sự quyđịnh

* So sánh miễn hình phạt và miễn chấp hành hình phạt

Mặc dù, đây đều là những chế định phản ánh chính sách nhân đạo củaluật hình sự Việt Nam do Tòa án áp dụng đối với người bị kết án khi đáp ứngđầy đủ những căn cứ và điều kiện luật định song hai chế định này không thể

Trang 26

đồng nhất với nhau, có thể phân biệt miễn hình phạt và miễn chấp hành hình phạt trên các tiêu chí sau:

pháp lý

- Tòa án nhưng phải có sự đề

có thẩm

(Khoản 5 Điều 57)

nhiên được xóa án tích

Bảng 2 Sự khác nhau giữa miễn hình phạt và miễn chấp hành hình phạt.

Trang 27

* So sánh miễn hình phạt với hình phạt cảnh cáo:

Theo Điều 29 Bộ luật hình sự năm 1999: “Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ , nhưng chưa tới mức được miễn hình phạt” Với việc quy định như trên thì trong thực tế rất khó xác định

trường hợp nào người kết án được miễn hình phạt và trường hợp nào ngườikết án bị áp dụng hình phạt cảnh cáo, vì vậy việc so sánh miễn hình phạt vớihình phạt cảnh cáo có ý nghĩa quan trọng trong nhận thức cũng như thực tiễn

Có thể thấy, miễn hình phạt và hình phạt cảnh cáo đều phản ánh nguyên tắcnhân đạo của luật hình sự Việt Nam do Tòa án áp dụng đối với người bị kết

án khi đáp ứng đầy đủ những căn cứ và điều kiện luật định Tuy nhiên, giữachúng có nhiều điểm khác nhau:

pháp lý

được áp

dụng

Trang 28

pháp lý dụng hình phạt nào và không bị phạt và vẫn có án tích.

coi là có án tích

Bảng 3 Sự khác nhau giữa miễn hình phạt và hình phạt cảnh cáo.

1.2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ MIỄN HÌNH PHẠT

1.2.1 Giai đoạn trước năm 1945

Ngay từ ngày đầu thành lập nước cho đến nay, các quy phạm pháp luậthình sự qua các thời kỳ lịch sử luôn thể hiện sự kế thừa và phát triển khôngngừng Nhìn chung, chúng đều phản ánh được các truyền thống tốt đẹp cũngnhư những giá trị nhân văn cao cả của dân tộc Điều này giải thích tại sao haichế định miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt đã được ghi nhận từ rấtsớm trong các bộ luật cổ của nước ta

Nhà Lý (1010 – 1225) tạo dựng một sự đối lập trong mới trong quanđiểm về pháp luật hình sự: chính sách khoan dung Phật giáo, giảm nhẹ hìnhphạt, xá tội cho các tội nhân Nhân quyền đã phần nào được thể hiện trongchính sách thân dân và khoan giảm hình phạt của các vị vua triều Lý Theo sử

ký toàn thư, năm 1009 “Công Uẩn lên chính điện, lập làm Thiên tử, lên ngôi Hoàng đế Đại xá thiên hạ… bãi ngục tụng, xuống chiếu từ nay ai có việc gì tranh kiện, cho đến triều tâu bày, vua than xét quyết” Sự ra đời của bộ luật

thành văn đầu tiên của nước ta năm 1042 – Bộ Hình thư - đánh dấu một bướcngoặt trong hoạt động lập pháp của dân tộc, mở đầu quá trình pháp điển hóapháp luật hình sự một cách quy mô Năm 1129, vua Lý Thần Tông ban Chiếu

có quy định về biện pháp “tha miễn hình phạt cho người phạm tội trong nước”, trong đó có ghi nhận các biện pháp tương tự như những điều kiện xử

Trang 29

nhẹ, giảm nhẹ, hoặc miễn hình phạt đối với người phạm tội trong luật hình sựViệt Nam sau này.

Tiếp nối nhà Lý, hoạt động lập pháp dưới thời nhà Trần (1225 – 1400)phát triển khá mạnh mẽ: năm 1230, vua Trần Thái Tông ban hành bộ Quốctriều hình luật; đến năm 1341, vua Trần Dụ Tông ban hành Bộ Hình thư củatriều Trần nhưng hai bộ luật này đều đã bị thất lạc Năm 1843, vua Lê ThánhTông ban hành Bộ Quốc triều Hình luật (Luật hình triều Lê, hay còn được gọi

là Bộ Luật Hồng Đức), đã đánh dấu sự phát triển rực rỡ trong hoạt động lậppháp của Việt Nam thời kỳ phong kiến Bộ luật này chứa đựng những nhân tốtiến bộ trong phương diện quan điểm nhân trị, thể hiện chính sách phân hóatội phạm và người phạm tội ghi nhận những những nguyên tắc cơ bản nhất

của pháp luật hình sự hiện đại: nguyên tắc pháp chế – nguyên tắc “vô luật bất thành hình” (Điều 642, 683, 685, 708, 722) – trong đó quy định chỉ khép tội

khi trong bộ luật có quy định, không thêm bớt tội danh, áp dụng đúng hình

phạt đã quy định; nguyên tắc nhân đạo: “chiếu cố” (Điều 1, 3-5, 8,10, 16, 17,

người già cả), tàn tật, phụ nữ; miễn, giảm trách nhiệm hình sự (Điều 18, 19,

450, 499, 553) - trong đó quy định về miễn, giảm trách nhiệm hình sự trongcác trường hợp như tự vệ chính đáng, tình trạng khẩn cấp, tình trạng bất khảkháng, thi hành mệnh lệnh, tự thú (trừ thập ác, giết người) Tuy đều mang bảnchất là các trường hợp miễn, giảm trách nhiệm hình sự hoặc tha miễn hìnhphạt nhưng hai chế định miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt trong bộluật này được ghi nhận dưới nhiều thuật ngữ khác nhau, đồng thời không có

sự khác biệt giữa hai chế định này:

Điều 6 Chương Danh lệ (miễn tội cho người nghị thân): “Những ngườithuộc về nghị thân mà phạm tội thì họ tôn thất, họ hoàng thái hậu đều được

Trang 30

miễn những tội đánh roi, đánh trượng, thích mặt; họ hoàng thái hậu thì được

chuộc bằng tiền”;

Điều 18 Chương Danh lệ (tự thú được giảm tội): “Phàm phạm tội chưa

bị phát giác mà tự thú trước thì được tha tội… Phạm tội cùng đi trốn, mà biết bắt nhau nộp quan thì cũng được tha tội”;

Ngoài ra, tại nhiều điều luật nằm tại các chương khác nhau quy định về

“miễn tội” hay “được miễn tội” cho người phạm tội như: Điều 20 Chương

Danh lệ về miễn tội cho kẻ tự biết lỗi lầm mà tự thú, Điều 54 Chương Vệ cấm

về ngủ đêm tại cung điện không đúng phận sự… Bên cạnh đó, Bộ luật còn ghi

nhận về các trường hợp “giảm tội” (Điều 3, 20, 31 Chương Danh lệ; Điều

103, 123 Chương Vi chế; Điều 263 Chương Quân chính; Điều 427, 429Chương Đạo tặc; Điều 506 Chương Đấu tụng, Điều 532, 533 Chương trángụy; Điều 566, 594, 639 Chương tạp luật; Điều 645 Chương Bộ vong; Điều

661, 686 Chương Đoán ngục); “xử nhẹ hơn tội trước” (Điều 86 Chương Vệ

cấm; Điều 110 – 113, 137, 165 Chương Vi chế; Điều 335 Chương Hộ hôn,Điều 419, 448 Chương Đạo tặc; Điều 482, 501, 513 Chương Đấu tụng, Điều

526, 532, 536 Chương Trá ngụy; Điều 557, 597, 599, 629 Chương Tạp luật;

Điều 682 Chương Đoán ngục); “không bắt tội” (Điều 117 Chương Vi chế);

“không phải tội” (Điều 168, 208, 231, 233 Chương Vi chế; Điều 284, 320

Chương Hộ hôn; Điều 348 Chương Điền sản; Điều 402 Chương Thông gian;Điều 416, 431, 455, 464 Chương Đạo tặc; Điều 475, 482, 486, 500 Chương

Đấu tụng); “không bị xử tội” (Điều 181 Chương Vi chế; Điều 373 Chương Điền sản; Điều 646 Chương Bộ vong); “trừ tội” (Điều 648, 649 Chương Bộ vong); “không bị tội” (Đều 715 Chương Đoán ngục)…

Với những tư tưởng tiến bộ như đã trình bày ở trên có thể khẳng “Quốctriều hình luật là một thành tựu có giá trị đặc biệt trong lịch sử lập pháp ViệtNam Nó không chỉ là đỉnh cao so với những thành tựu pháp luật của các triều

Trang 31

đại trước đó, mà còn đối với cả bộ luật được biên soạn vào đầu thế kỷ XIX:Hoàng Việt luật lệ do Gia Long ban hành năm 1812…” [17, tr.17] Tương tựnhư pháp luật hình sự nhà Lê, Hoàng Việt luật lệ cũng có nhiều quy định đềcập đến hai chế định miễn hình phạt cũng như miễn trách nhiệm hình sự dưới

những thuật ngữ khác nhau: “miễn tội”, “miễn buộc tội”, “miễn đối với…”,

“ân khoan miễn tội phạm”, “ân xá”, “khoan miễn”, “miễn theo bình thường”, “xin miễn”, “xin cho miễn”, “miễn xâm chữ”, “giảm miễn”,

“chuẩn miễn”, “miễn xá” Điều kiện để được áp dụng các biện pháp tha miễn

thường là theo sự ân xá, ân huệ, gia ân của triều đình, vua hoặc sự xin miễn từphía người phạm tội hay do tự thú trước khi tội phạm chưa bị phát giác

Mặc dù Hoàng Việt luật lệ được xây dựng dựa trên sự mô phỏng theoluật nhà Thanh cũng như Quốc triều hình luật song nếu đánh giá một cách

công bằng thì “chúng ta mới thấy được phần đóng góp và sáng tạo của các tác giả bộ luật này, và cũng từ đó thấy được tinh thần nhân đạo của nó Tính nhân bản và thực chất của bộ luật đã được vận dụng vào công quyền Việt Nam khởi đi từ năm 1813 cho đến các năm gần đây (đúng là năm 1949) Điều

dễ thấy nhất các cực hình trong luật nhà Thanh như: yêm, tru di tam tộc, nhất

là hình phạt lăng trì cũng bị loại bỏ” [20a, tr.19] Đồng thời , so với Quốc

triều hình luật thì Hoàng Việt luật lệ đã có mặt tiến bộ hơn về mặt nhân đạo,

cụ thể là loại bỏ hình thức thích chữ vào mặt, vào cổ tội nhân và quan trọnghơn cả là loại bỏ hẳn tộ xử tử theo hình thức lăng trì Hơn thế nữa, điều khoảnmiễn tội tại Điều 24 Quyển 3 – Danh lệ phần Hạ không có sự phân biệt tôn ty,đẳng cấp (trừ vua) và các thành phần trong xã hội, phàm người phạm tội, tội

chưa bị phát giác mà biết tự thú thì miễn buộc tội Bộ luật còn quy định một

số trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hay loại trừ trách nhiệm hình sựnhư: “miễn phạt tội”, “giảm tội”, “khoan miễn” Điều 24 Quyển 3 – Danh lệ

Trang 32

phần Hạ); “không buộc bị tội”, “không tội” (Điều 2,3,6 Quyển 4 – Chức chế)

Năm 1858, thực dân Pháp tiến hành xâm lược và chia cắt đất nước tathành ba miền: Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ Tại mỗi miền chúng cho thihành bộ luật hình sự khác nhau, cụ thể là: ở Nam kỳ là Bộ luật Gia Long (theosắc luật ngày 25/7/1884), kế tiếp là Bộ luật hình sự Pháp (theo Sắc luật ngày16/3/1890) và cuối cùng là Hình luật Canh cải (theo Sắc luật ngày 31/12/1912của Toàn quyền Đông Dương); ở Bắc kỳ là Hình luật An Nam (theo Nghịđịnh ngày 2/12/1921 của Toàn quyền Đông Dương); ở Trung kỳ là HoàngViệt Hình luật (theo Dụ số 43 ngày 31/7/1933 của Bảo Đại) Nhìn chung, các

bộ luật hình sự thời kỳ này là công cụ hữu hiệu của thực dân Pháp duy trì sựxâm lược cũng như đàn áp các phong trào yêu nước của dân tộc ta Do đó, cácquy phạm pháp luật hình sự chỉ chú trọng quy định về các tội phạm và nhữnghình phạt hết sức nghiêm khắc nhằm trừng trị bất kỳ hành vi nào làm phươnghại đến sự cai trị của thực dân Pháp trên đất nước ta, các quy định mang tínhnhân đạo như miễn giảm trách nhiệm hình sự hay hình phạt vì vậy mà hết sức

mờ nhạt, chỉ được quy định tại một số điều nằm rải rác trong các chương vàhầu như không được áp dụng trong thực tiễn Trong Hình luật An Nam ghinhận hai chế định miễn trách nhiệm hình sự hay miễn hình phạt dưới các tên

gọi như: “khoan miễn”, “miễn nghị”, “án giảm” tại các Điều thứ 23, 52, 97,

222… Hoàng Việt Hình luật được đánh giá là tiến bộ hơn về mặt phân hóa tộiphạm và người phạm tội so với các bộ luật khác cùng trong thời kỳ Bởi bên

cạnh việc quy định một loạt các trường hợp được “miễn tội”, “miễn nghị”,

“miễn nghị”, “miễn cứu” tại nhiều điều luật khác nhau thì bộ luật còn có một

mục riêng (mục thứ VII) trong chương XXI (Chương các tội đại hình và tộitrừng trị xâm phạm đến thân phận cá nhân) ghi nhận trực tiếp “các trường hợpđược miễn tội” Bên cạnh đó, trong luật còn quy định việc “miễn giảm hình

Trang 33

phạt có hai dạng bắt buộc hoặc tùy nghi được áp dụng chỉ trong những trườnghợp luật định, khi có các căn cứ riêng được quy định trực tiếp trong các quyphạm tương ứng về trách nhiệm hình sự đối với một số trọng tội hoặc khinhtội cụ thể” [35, tr.24].

Như vậy, tuy không trực tiếp được ghi nhận dưới tên gọi miễn tráchhình sự và miễn hình phạt như trong pháp luật hình sự hiện hành song nộidung và bản chất pháp lý của hai chế định này lại được ghi nhận ngay từ các

bộ luật đầu tiên của dân tộc ta thông qua nhiều thuật ngữ khác nhau Nhìnchung, các quy định pháp luật hình sự trong suốt thời kỳ này không có sựphân biệt rõ ràng giữa miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt và đềunhằm phản ánh truyền thống nhân ái, bao dung, độ lượng, vị tha của dân tộc.Mặc dù còn nhiều hạn chế cả về phạm vi, đối tượng áp dụng cũng như cácđảm bảo về mặt pháp lý để thi hành trên thực tế nhưng các quy định về miễntrách nhiệm hình sự và miễn hình phạt trong pháp luật hình sự giai đoạn trướcnăm 1945 vẫn chứa đựng những giá trị nhân văn, những kinh nghiệm quý giácho quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật hình sự sau này

1.2.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình

được xá tội” (Điều thứ 2); “Những khinh tội phạm trước ngày 19 tháng 8 năm

1945 mà Tòa án xử phạt tiền, hoặc tù án treo, hoặc cả hai thứ hình phạt đó,

đều được xá miễn” (Điều thứ 3) Có thể khẳng định thuật ngữ “xá miễn”, “xá

tội” được nhà làm luật sử dụng ở đây có cùng bản chất pháp lý với miễn tráchnhiệm hình sự trong pháp luật hình sự hiện hành, bởi theo Điều thứ 4:

Trang 34

“Những tội được xá miễn đều coi như không phạm bao giờ; quyền công tố sẽtiêu hủy, những chính hình và phụ hình mà Tòa án đã tuyên đều bỏ hết” Vớiquy định như trên xá miễn có thể được hiểu là sự hủy bỏ hậu quả pháp lý củaviệc thực hiện tội phạm người được xá miễn không có án tích; đồng thời việc

xá miễn được áp dụng không chỉ trong giai đoạn xét xử mà cả trong giai đoạntruy tố Như vậy, các nhà lập pháp trong giai đoạn này đã bắt đầu có sự phânbiệt giữa hai chế định miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt Đây làđiểm tiến bộ về mặt lập pháp, lý luận cũng như thực tiễn áp dụng, tạo tiền đềcho quá trình hoàn thiện pháp luật hình sự trong những giai đoạn tiếp theo

Tên gọi “miễn hình phạt” lần đầu tiên được đề cập tới trong “Bản tổngkết và hướng dẫn số 329 – HS2” ngày 11/5/1967 của Tòa án nhân dân tối cao

về đường lối xử lý tội hiếp dâm và các tội phạm về tình dục: “Khi tập trungnhiều tình tiết giảm nhẹ hoặc có những tình tiết giảm nhẹ đặc biệt có thể xửdưới mức tối thiểu trên đây, có thể cho hưởng án treo hoặc đặc biệt có thể tha

miễn hình phạt” Ngày 30/10/1967, Ủy ban Thường vụ Quốc hội của nước

Việt Nam dân chủ Cộng hòa ban hành Pháp lệnh trừng trị các tội phản cáchmạng, trong đó đã thể hiện rõ nguyên tắc phân hóa tội phạm cũng như nguyêntắc nghiêm trị kết hợp với khoan hồng của chính sách pháp luật hình sự: “Âmmưu phạm tội và hành động phạm tội đều bị trừng trị; Nguyên tắc trừng trịbọn phản cách mạng là: nghiêm trị bọn chủ mưu, bọn thủ ác, bọn ngoan cốchống lại cách mạng; khoan hồng đối với những kẻ bị ép buộc, bị lừa phỉnh,

lầm đường và những kẻ thật thà hối cải; giảm nhẹ hình phạt hoặc miễn hình phạt cho những kẻ lập công chuộc tội” Đồng thời, tại Điều 20 của Pháp lệnh

ghi nhận cụ thể những trường hợp được giảm nhẹ hình phạt hoặc được miễnhình phạt Chế định miễn hình phạt tiếp đó còn được quy định tại Pháp lệnhtrừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa ngày 21/10/1970; Pháplệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân ngày 21/10/1970;

Trang 35

Thông tư số 03 – BTP/TT tháng 4/1976 hướng dẫn thi hành Sắc luật quy định

về tội phạm và hình phạt Nhìn chung, trong giai đoạn này “miễn hình phạt”vẫn chưa được pháp luật ghi nhận như một chế định độc lập, chưa xác lậpnhững điều kiện cụ thể mà chỉ quy định áp dụng cho một số loại tội phạm cụthể trong một số trường hợp như người phạm tội có hành vi ngăn chặn hoặcgiảm bớt tác hại của tội phạm, thành thật hối cải, lập công chuộc tội…

Để góp phần bảo đảm chấp hành nghiêm chỉnh các chính sách và phápluật, tăng cường quản lý Nhà nước; khuyến khích cán bộ, nhân viên nêu caođạo đức tính liêm khiết; động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ tập thể,tích cực đấu tranh chống tệ hối lộ, ngày 20/5/1981, Ủy ban Thường vụ Quốchội đã ban hành Pháp lệnh về việc trừng trị tội hối lộ Điểm đáng chú ý trongPháp lệnh này là việc lần đầu tiên thuật ngữ “miễn trách nhiệm hình sự” được

sử dụng với tư cách là một trong các biện pháp tha miễn bên cạnh các trườnghợp được giảm nhẹ hình phạt hoặc miễn hình phạt Điều này có ý nghĩa vôcùng quan trọng thể hiện sự phân hóa rõ ràng trong đường lối xử lý hình sựcủa nước ta Điều 8 Pháp lệnh về việc trừng trị tội hối lộ quy định :

1 – Người phạm tội hối lộ, trước khi bị phát giác, chủ động khai rõ sựviệc, giao nộp đầy đủ của hối lộ, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự;nếu là phạm tội nghiêm trọng thì có thể được giảm nhẹ hình phạt

2 – Người phạm tội hối lộ, sau khi bị phát giác, tỏ ra thành thực hối cải,khai rõ sự việc, giao nộp đầy đủ của hối lộ, thì có thể được giảm nhẹ hìnhphạt

3 – Người phạm tội hối lộ lần đầu và không nghiêm trọng, sau khi bịphát giác, tỏ ra thành thực hối cải, khai rõ sự việc, giao nộp đầy đủ của hối lộ,thì có thể được miễn hình phạt

Sau ngày giải phóng miền Nam, đời sống kinh tế của nhân dân hết sứckhó khăn, thêm vào đó đất nước phải đối mặt với sự bao vây, cấm vận từ phía

Trang 36

các thế lực thù địch Tình hình đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả và kinh doanh trái phép diễn biến đa dạng và hết sức phức tạp Để ngăn chặn các hành động

vật giá và đảm bảo đời sống nhân dân, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnhtrừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép ngày 30/6/1982,trong đó một lần nữa nguyên tắc xử lý có sự kết hợp “nghiêm trị với khoan hồng”,

“trừng trị với cải tạo, giáo dục” lại được ghi nhận và khẳng định tại Điều 10 Pháplệnh trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép quy định vềnhững trường hợp giảm nhẹ hoặc miễn hình phạt:

“1 – Tội phạm chưa bị phát giác mà người phạm tội thành thật thú tộivới cơ quan Nhà nước, khai rõ hành động của mình và đồng bọn thì có thểđược miễn hình phạt; nếu phạm tội nghiêm trọng thì được giảm nhẹ hìnhphạt

2 – Trước khi bị xét xử, người phạm tội tự nguyện giao nộp cho Nhànước đầy đủ hàng hóa, vật tư và phương tiện phạm pháp, thì được giảm nhẹhình phạt”

Nhìn chung, trong giai đoạn này, xét về mức độ nhân đạo thì “miễntrách nhiệm hình sự là biện pháp khoan hồng đặc biệt ở cấp độ thấp nhất cùngvới các biện pháp khoan hồng đặc biệt khác trong luật hình sự Việt Nam (nhưbiện pháp miễn hình phạt, giảm nhẹ hình phạt, tha miễn hình phạt…” [35,tr.32]

1.2.3 Giai đoạn từ năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình

sự năm 1999

Bộ luật hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namđược ban hành năm 1985 đã thể hiện một tinh thần chủ động phòng ngừa vàkiên quyết đấu tranh chống tội phạm, thông qua hình phạt răn đe, giáo dục,cảm hóa, cải tạo người phạm tội thành người lương thiện; khẳng định chính

Trang 37

sách khoan hồng rộng mở của Đảng và Nhà nước ta bằng việc ghi nhận mớimột số trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt tại cảphần chung và phần tội phạm của Bộ luật Theo đó, các trường hợp đượcmiễn trách nhiệm sự bao gồm:

chứng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuykhông có gì ngăn cản Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễntrách nhiệm hình sự về tội định phạm Nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu

tố của một tội khác thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này”;

tội (khoản 1 Điều 48): “Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếukhi tiến hành điều tra hoặc xét xử, do sự chuyển biến của tình hình mà hành viphạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”;

sát có thể quyết định miễn truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niênphạm tội nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tìnhtiết giảm nhẹ và nếu được gia đình và tổ chức xã hội nhận trách nhiệm giám sát,giáo dục”;

nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thànhthật khai báo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì được miễn trách nhiệm hìnhsự”;

lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì cóthể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đãdùng để đưa hối lộ”;

Trang 38

6 Cho người phạm tội không tố giác tội phạm (khoản 2 Điều 247):

“Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chếtác hại của tội phạm thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hìnhphạt”

Bên cạnh đó, Bộ luật cũng ghi nhận hai trường hợp được miễn hìnhphạt:

hưởng khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự(khoản 2 Điều 48);

“Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chếtác hại của tội phạm thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hìnhphạt”

Ngoài ra, Thông tư liên ngành số 05 – BNV – TANDTC – VKSNDTC

nhân đạo của người phạm tôi ra tự thú cũng đề cập tới việc áp dụng miễn hìnhphạt trong trường hợp: “Người phạm tội đã bị phát hiện mà bỏ trốn, đang bịtruy nã nhưng đã tự thú thì tùy theo mức độ phạm tội, thái độ khai báo… cũngđược hưởng chính sách khoan hồng, có thể được Tòa án miễn hình phạt…theo quy định tại khoản 2 Điều 48…”

Với những quy định như đã trình bày ở trên cho thấy miễn hình phạt làchế định nhân đạo thứ hai sau chế định miễn trách nhiệm sự xét theo thứ tự vềmức độ nhân đạo Mặc dù vậy, giữa hai chế định này luôn có mối quan hệ mậtthiết với nhau, điều này được thể hiện rõ nét trong việc các nhà làm luật ghi nhậnchế định miễn hình phạt trong cùng điều luật với chế định miễn trách

Trang 39

nhiệm hình sự Hơn nữa, theo khoản 2 Điều 247 Bộ luật hình sự năm 1985:

“Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạnchế tác hại của tội phạm thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễnhình phạt” thì hai chế định này được ghi nhận với tính chất tùy nghi, đòi hỏi

sự vận dụng linh hoạt trong thực tiễn áp dụng pháp luật

1.3 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC

VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ MIỄN HÌNH PHẠT

Với tính chất là các biện pháp tha miễn có tính chất nhân đạo đặc biệtnên đa số quốc gia trên thế giới đều ghi nhận trong pháp luật nước mình vềcác trường hợp miễn hình phạt và miễn trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, phápluật giữa các nước có nhiều điểm khác biệt khi quy định về mối quan hệ giữahai chế định này Qua nghiên cứu pháp luật hình sự của một số nước trên thếgiới có thể tạm chia thành ba nhóm như sau:

hình phạt hoặc miễn trừ hình phạt mà không có biện pháp miễn trách nhiệm hình

sự trong pháp luật hình sự, như: Cộng hòa Pháp, Cộng hòa liên bang Đức, NhậtBản, Trung Quốc

miễn hình phạt, miễn giảm hình phạt hoặc miễn trừ hình phạt cũng như các biệnpháp miễn trách nhiệm hình sự, như Liên bang Nga

phạt hoặc miễn trừ hình phạt cũng như các biện pháp miễn trách nhiệm hình sựnhưng bản chất pháp lý của biện pháp miễn trách nhiệm hình sự lại hoàn toàn kháctheo quy định của các nhà làm luật Việt Nam thể hiện trong pháp luật hình sự,như: Tây Ban Nha, Thụy Điển, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Trang 40

Để hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa miễn trách nhiệm hình sự và miễnhình phạt, chúng tôi xin phân tích những quy định pháp luật của một số nướcdưới đây:

1.3.1 Pháp luật hình sự Nhật Bản

Khác với pháp luật hình sự Việt Nam, pháp luật hình sự Nhật Bảnkhông trực tiếp ghi nhận vấn đề trách nhiệm hình sự Bộ luật hình sự NhậtBản chỉ quy định về những trường hợp được miễn hình phạt sau:

Chương VII – Những hành vi không cấu thành tội phạm và việc giảm hoặc miễnhình phạt);

Chương VIII – Phạm tội chưa đạt);

mưu tính kế nổi loạn và hành vi giúp sức cho việc nổi loạn (Điều 80 Chương II –Các tội phạm liên quan đến nổi loạn);

tính kế gây chiến tranh (Điều 93 Chương IV – Các tội liên quan đến quan hệ đốingoại);

phạm tội hoặc của người trốn khỏi nơi giam giữ (Điều 105 Chương VII – Các tộiche giấu tội phạm và che giấu chứng cứ);

hỏa hoạn đối với công trình xây dựng, phương tiện đang có người và gây hỏa hoạnđối với công trình xây dựng, phương tiện không có người (Điều 112 Chương IX –Các tội gây hỏa hoạn và vô ý gây cháy);

(Điều 173 Chương XXI – Các tội kết án sai sự thật);

Ngày đăng: 04/11/2020, 15:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w