1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Người không được quyền hưởng di sản theo quy định tại điều 643 của bộ luật dân sự năm 2005

83 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 87,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người thừa kế không được quyền hưởng di sảnquyền tự định đoạt của người lập di chúc Chương 2: NHỮNG TRƯỜNG HỢP NGƯỜI THỪA KẾ KHÔNG lại di sản người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ MINH CHÂU

NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG DI SẢN THEO QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 643 CỦA BỘ LUẬT DÂN

SỰ NĂM 2005

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ MINH CHÂU

NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG DI SẢN THEO QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 643 CỦA BỘ LUẬT DÂN

SỰ NĂM 2005

Chuyên ngành : Luật dân sự

Mã số

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phùng Trung Tập

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu,

ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo

độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Minh Châu

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục

MỞ ĐẦU

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NGƯỜI THỪA KẾ VÀ NGƯỜI

KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG DI SẢN

pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ

không được quyền hưởng di sản

Trang 5

1.2.2.2 Người thừa kế không được quyền hưởng di sản

quyền tự định đoạt của người lập di chúc

Chương 2: NHỮNG TRƯỜNG HỢP NGƯỜI THỪA KẾ KHÔNG

lại di sản

người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ disản của người thừa kế đó có quyền được hưởng

di sản trong việc lập di chúc, giả mạo di chúc, sửa chữa dichúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ disản trái với ý chí người để lại di sản

Điều 643 nhưng vẫn được hưởng di sản theo di chúc

được hưởng theo di chúc tại khoản 2 Điều 643

do chết trước hoặc chết cùng thời điểm và người bị truấtquyền thừa kế

Trang 6

Chương 3: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NGƯỜI KHÔNG

ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG DI SẢN VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

hưởng di sản

luật về người không được quyền hưởng di sản

xứng" mà pháp luật chưa điều chỉnh

không có quyền hưởng di sản

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

7375

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thừa kế và xác định người được quyền hưởng di sản là một việc cầnthiết trước khi phân chia di sản, phân chia hàng thừa kế của cá nhân qua đời

để lại Pháp luật đã xác định phạm vi những người thừa kế theo pháp luật theocác hàng thừa kế khác nhau và quyền hưởng di sản theo trình tự ưu tiên: hànggần loại trừ hàng xa, do vậy không phải toàn bộ những người có tên trong cáchàng thừa kế đều được hưởng di sản cùng một lúc vì Luật đã quy định thừa kếtheo pháp luật là việc phân chia di sản theo điều kiện và trình tự hàng thừa kế,

nhưng với đề tài "Người không được quyền hưởng di sản theo quy định tại Điều 643 của Bộ luật Dân sự năm 2005", học viên nghiên cứu ở một khía

cạnh rất đặc thù là người không được quyền hưởng di sản do có các hành viđược quy định tại Khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005 là nhữngngười theo quy định của pháp luật được hưởng di sản nhưng do hành vi tráipháp luật của người này đã làm triệt tiêu quyền do Luật quy định

Trong xã hội hiện đại đã có rất nhiều trường hợp người thừa kế có cáchành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự của người để lại di sản, hành

vi giết người thừa kế khác nhằm chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ di sản màngười thừa kế bị giết được hưởng hoặc vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôidưỡng hoặc vì lợi ích cá nhân muốn chiếm đoạt di sản riêng cho mình do vậy

đã có hành vi hủy di chúc, bịa di chúc

Những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thừa kế ngày một giatăng vì giá trị di sản có tính chất đặc biệt là bất động sản ngày một có giá trịquan trọng trong đời sống của mỗi cá nhân Do vậy, việc nghiên cứu đề tàinày mang tính cấp thiết đáp ứng nhu cầu của xã hội

Trang 8

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở Việt Nam hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu về khoa họcpháp lý nói chung và đặc biệt là nghiên cứu về các vấn đề trong lĩnh vực thừa

kế nói riêng Trong đó có những công trình nghiên cứu về lĩnh vực thừa kế cónội dung nghiên cứu về lĩnh vực thừa kế như: Luật sư Lê Kim Quế có cuốn

sách "Câu hỏi và giải đáp pháp luật về thừa kế"; Tiến sĩ Đinh Văn Thanh và Luật sư Trần Hữu Biền có cuốn sách "Hỏi đáp về pháp luật thừa kế"; Tiến sĩ Phùng Trung Tập có hai cuốn sách "Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 từ trước đến nay" và "Luật thừa kế Việt Nam"; Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện có cuốn sách "Bình luận khoa học về thừa kế trong Bộ luật Dân sự Việt Nam"; luận văn thạc sĩ của Nguyễn Hồng Bắc về "Vấn đề thừa kế theo pháp luật ở Việt Nam", luận văn thạc sĩ của Nguyễn Minh Tuấn

về "Những qui định chung về quyền thừa kế trong Bộ luật Dân sự Việt Nam", luận văn thạc sĩ của Đinh Thị Duy Thanh về "Chế định thừa kế trong Bộ luật Dân sự Việt Nam", luận văn thạc sĩ của Chế Mỹ Phương Đài về "Thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự Việt Nam"; Luận văn thạc sĩ của Lê Đức Bền

"Thừa kế theo pháp luật của cháu, chắt theo quy định của pháp luật Việt

Nam" Ngoài ra, còn có nhiều bài viết được đăng tải trên các báo, tạp chí chuyên ngành như: Tiến sỹ Phùng Trung Tập có bài " Về việc cháu, chắt nội, ngoại thừa kế thế vị và hưởng di sản thừa kế theo hàng của ông, bà nội ngoại, các cụ nội, ngoại"- Tạp chí Toà án số 24/2005; tác giả Thái Công Khanh có bài "Những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện điều 679 Bộ luật Dân

sự về quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế", Tạp chí Tòa án

nhân dân, số 16 năm 2006… Nhìn chung, những công trình nghiên cứu và cácbài viết của các tác giả nêu trên chủ yếu mới dừng lại ở phạm vi phân tích một

số quy định về thừa kế trong Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 hay trong Bộ luậtDân sự năm 2005 Tất cả các công trình nghiên cứu trên có phạm vi rộng,mang tính toàn diện, bao quát cả chế định pháp luật về thừa kế, và đưa ranhững kiến nghị để ngày càng hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về thừa kế

Trang 9

Về quy định của pháp luật liên quan đến người thừa kế không cóquyền hưởng di sản, trong một số đề tài nghiên cứu, bài viết có đề cập đến nộidung trên nhưng chủ yếu được nghiên cứu trên phạm vi rộng, chưa đi sâu

phân tích và làm rõ những nội dung quy định tại điều luật Với đề tài "Người không được quyền hưởng di sản theo quy định tại Điều 643 của Bộ luật Dân sự năm 2005", tác giả chỉ đi sâu phân tích, làm sáng tỏ bản chất và các

quy định của pháp luật về vấn đề trên với mục đích làm rõ và đưa ra hướnghoàn thiện quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005

3 Phạm vi đề tài

- Tập trung nghiên cứu một số vấn đề về người thừa kế và người không được quyền hưởng di sản

- Người không được quyền hưởng di sản theo quy định tại Điều 643

Bộ luật Dân sự năm 2005

- Thực trạng áp dụng pháp luật xác định người không được quyền hưởng di sản và hướng hoàn thiện pháp luật

4 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Luận văn tập trung nghiên cứu nội dung quy định pháp luật về ngườikhông được quyền hưởng di sản trong Bộ luật Dân sự năm 2005, có so sánh vớicác quy phạm pháp luật liên quan đến với đề này qua các giai đoạn lịch sử, đặcbiệt tập trung nghiên cứu các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Việc nghiên cứu luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước

Mác-về pháp luật Đặc biệt là các quan điểm của Đảng và Nhà nước Mác-về sở hữu tưnhân, về thừa kế trong thời kỳ đổi mới, mở cửa và hội nhập

Đề tài được hoàn thành dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin Ngoài ra, tác giả còn sử

Trang 10

dụng một số phương pháp khác như: phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp

6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn

Đề tài liên quan đến lĩnh vực thừa kế từ trước đến nay có rất nhiều các

công trình mang tính chất toàn diện Luận văn thạc sĩ Luật học "Người không được quyền hưởng di sản theo quy định tại Điều 643 của Bộ luật Dân sự năm 2005" của nghiên cứu vấn đề về thừa kế trong phạm vi hẹp sẽ có giá trị

trong việc nhìn nhận và đề xuất những vướng mắc mà pháp luật về thừa kếcòn bỏ ngỏ, hoặc đã có quy định nhưng không phù hợp với tình hình thực tế,với phạm vi một đề tài tốt nghiệp, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu sâu vàongười thừa kế không có quyền hưởng di sản, sự khác nhau giữa người đượchưởng và không có quyền hưởng di sản và phân biệt với các trường hợpkhông được hưởng di sản khác Từ việc phân tích điều luật trên và nêu lênnhững vướng mắc còn tồn tại trên thực tế và đưa ra một vài ý kiến đóng góphoàn thiện với quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của luật văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề về người thừa kế và người không được

Trang 11

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NGƯỜI THỪA KẾ

VÀ NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG DI SẢN

1.1 KHÁI NIỆM VỀ THỪA KẾ VÀ QUYỀN THỪA KẾ

1.1.1 Khái niệm thừa kế

Thừa kế là một quan hệ xã hội, là việc chuyển dịch tài sản của người

đã chết cho người còn sống theo di chúc hoặc theo pháp luật Trong thời kỳđầu của chế độ cộng sản nguyên thủy những điều kiện về kinh tế, xã hội vàhôn nhân phụ thuộc vào địa vị chủ đạo của người phụ nữ trong thị tộc Chế độmẫu hệ với địa vị chủ đạo của người phụ nữ đã tạo ra tiền đề cho việc thừa kếtài sản của các con và những người thân thuộc của người mẹ

Tài sản của thị tộc do người mẹ quản lý, khi người mẹ chết đi thì disản được chuyển cho những người thân thích trong thị tộc và tài sản của thịtộc được lưu truyền từ đời này sang đời khác Đây chính là hình thức thừa kếđầu tiên của xã hội loài người về tư liệu sản xuất nhằm tiếp tục duy trì cuộcsống chung cho thị tộc

Sự phát triển của nền sản xuất xã hội đã làm thay đổi địa vị của ngườiphụ nữ Sự ra đời của nhiều ngành nghề mới như: nông nghiệp, chăn nuôi,trồng trọt đòi hỏi sức khỏe và trí tuệ của người đàn ông, sản phẩm lao động

mà người đàn ông làm ra không những đủ nuôi sống gia đình mà còn tạo racủa cải dư thừa Địa vị của người đàn ông trong gia đình và trong từng bộ lạcdần dần được thiết lập Đặc biệt khi nhà nước ra đời và quy định chế độ hônnhân một vợ một chồng đã làm cho con cái biết rõ cha, mẹ của mình Từ đótrong quan hệ gia đình đã xác lập huyết thống theo họ cha và chế độ gia đìnhphụ hệ thay thế cho chế độ mẫu hệ Các con trong gia đình có huyết thống vớingười cha sẽ mang họ cha và được thừa kế tài sản của cha

Trang 12

Qua mỗi một thời kỳ, qua mỗi một sự phát triển của xã hội loài ngườitương ứng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, của hình thức gia đình thìviệc điều chỉnh quan hệ sở hữu có thay đổi dẫn theo sự thay đổi của các quan

hệ thừa kế đó là do các nguyên nhân về kinh tế, quan hệ huyết thống, quan hệhôn nhân trong xã hội quyết định

Ở Việt Nam, việc thừa kế di sản đã hình thành theo tập quán của từngdân tộc, từng vùng miền, thậm chí việc chia di sản thừa kế còn theo truyềnthống của dòng tộc Con cháu trong gia đình được hưởng di sản từ ông bà, cha

mẹ và thực hiện nghĩa vụ thờ cúng tổ tiên, việc thờ cúng tổ tiên nhắc nhở concháu nhớ công ơn của người đã chết Đây là một trong những truyền thống tốtđẹp của người Việt Nam được lưu truyền từ đời này sang đời khác

Có thể nói, thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người đã chết chongười còn sống theo truyền thống, phong tục tập quán của từng dân tộc.Người được hưởng tài sản có nghĩa vụ duy trì, phát triển những giá trị vậtchất, tinh thần và những truyền thống, tập quán do thế hệ trước để lại

có quyền hưởng thừa kế theo hình thức nhất định do pháp luật quy định Căn

cứ vào các quy định pháp luật thừa kế, có thể hiểu quyền thừa kế theo hainghĩa sau đây:

Thứ nhất: theo quy định tại Điều 631 Bộ luật Dân sự năm 2005 "Cá

nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản củamình cho những người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặctheo pháp luật" [30] Như vậy, có thể khái quát quyền thừa kế là tổng hợp các

Trang 13

quy định của pháp luật, quy định những trình tự để lại di sản, nhận thừa kế vàquyền khởi kiện dân sự yêu cầu cơ quan nhà nước bảo vệ quyền lợi của người

để lại di sản và quyền của người người hưởng thừa kế di sản

Thứ hai: Quyền thừa kế được hiểu là quyền của mỗi cá nhân trong

việc để lại di sản của mình cho những người thừa kế, quyền trong việc nhận disản thừa kế do người khác để lại và quyền trong việc khởi kiện để yêu cầu bảo

vệ quyền thừa kế của mình trong thời hạn và thời hiệu khởi kiện phù hợp vớicác quy định của pháp luật

1.1.3 Khái niệm chung về người thừa kế

Người thừa kế là một khái niệm đã xuất hiện từ khi xuất hiện chế địnhpháp luật thừa kế, vì khi chế định này xuất hiện thì vần đề cần thiết đó là phải

có người thừa kế Vậy, khái niệm người thừa kế xuất hiện trong lịch sử loàingười từ khi có bộ luật đầu tiên, trong pháp luật Việt Nam nó cũng đã đượcxuất hiện trong Bộ luật cổ của nước ta

Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện nay, pháp luật thừa kế Việt Namchưa có quy định thế nào là người thừa kế Về người thừa kế, qua các chế độ

xã hội khác nhau nhưng cùng theo quan điểm chung là những người đó đượchưởng di sản do người chết để lại theo di chúc hoặc theo pháp luật

Trong đó, người thừa kế theo di chúc là người được hưởng di sản củangười chết để lại theo di chúc do người lập di chúc chỉ định, định đoạt trướckhi họ chết Người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân hoặc tổ chức tùytheo sự định đoạt của người để lại di chúc Người thừa kế có thể là người cómối quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng với người chết hoặckhông có các mối quan hệ này, không nhất thiết phải đáp ứng điều kiện vềquan hệ này

Mặt khác, phạm vi những người thừa kế theo pháp luật còn phụ thuộcvào quan điểm lập pháp của từng thời kỳ lịch sử của một quốc gia nhất định

Trang 14

Ở Việt Nam trước năm 1945, dưới chế độ thực dân phong kiến với ýthức hệ bảo vệ chế độ tư hữu tài sản nhằm duy trì sự bóc lột, giai cấp thống trịthường đề cao quyền sở hữu và xem nó là quyền thiêng liêng, luôn được quantâm nhằm duy trì gia đình nội tộc Do đó, quan hệ huyết thống luôn được đềcao và quan trọng nhất trong việc xác định những người có quyền thừa kế.

Dưới chế độ dân chủ, nhân dân ta kể từ năm 1945 đến nay, người thừa

kế theo pháp luật đã được mở rộng (nếu xét theo quan hệ huyết thống) Phápluật thừa kế nước ta, đã dần xóa bỏ những tàn tích của chế độ phong kiếntrong việc xác định người thừa kế Quan hệ bình đẳng giữa vợ chồng, giữa cáccon trong gia đình đã được pháp luật quy định, loại bỏ tư tưởng gia trưởng, tưtưởng trọng năm khinh nữ, bảo vệ quyền thừa kế của vợ góa và con gái đã kếthôn với người khác nhưng vẫn thuộc diện thừa kế của người chồng đã chết.Đây là một quy định có tính chất cách mạng, nó không những làm thay đổi

quan hệ trong xã hội mà còn thay đổi tận gốc tư tưởng "xuất giá tòng phu", đồng thời bảo vệ trực tiếp quyền thừa kế của người vợ góa, mà trước đó người

vợ góa đã kết hôn không thể có quyền này

Hiện nay, người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân và làngười thừa kế theo hàng thừa kế, khi đó trình tự thừa kế sẽ do pháp luật quyđịnh Người thừa kế theo pháp luật là người có mối quan hệ thân thích, gầngũi nhất với người để lại di sản Đó là những người có một trong ba mối quan

hệ hôn nhân hoặc huyết thống hoặc nuôi dưỡng với người để lại di sản

Theo Đại Từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý làm chủ biên, NxbVăn hóa thông tin, Hà Nội năm 1998 thì chỉ có chế định thừa kế là "đượchưởng tài sản của cải do người chết để lại cho" [45] và Từ điển tiếng Việt củaViện ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, 2003 quy định thừa kế là "hưởng củangười chết để lại cho" [42] chứ không có định nghĩa thế nào là người thừa kế.Khái niệm người thừa kế đã được giải thích trong Từ điển giải thích thuật ngữLuật học, Nxb Công an nhân dân, 1999 của Trường Đại học Luật Hà Nội có

Trang 15

giải thích về người thừa kế là "Người được hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật" [38].

Hiện nay, trong Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 635 có quy định vềNgười thừa kế:

Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thờiđiểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kếnhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết Trong trườnghợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơquan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế [30]

Nhưng điều luật trên không phải là một khái niệm mà đó là quy định

về điều kiện của người thừa kế Để có thể được hưởng thừa kế thì nhữngngười thừa kế phải đáp ứng một số điều kiện theo quy định của pháp luật, cácđiều kiện đó có nội dung sau:

Điều kiện đặt ra đối với người thừa kế là cá nhân: Khi một người chết

đi thì có nghĩa là người đó không còn có năng lực chủ thể để tham gia vào cácquan hệ pháp luật của Việt Nam Các chủ thể luôn luôn phải đáp ứng điềukiện về năng lực chủ thể có nghĩa người đó phải còn sống vào thời điểm phátsinh quan hệ đó Trong quan hệ thừa kế cũng vậy, để được hưởng thừa thìngười đó phải có năng lực chủ thể tức người đó phải còn sống vào thời điểm

mở thừa kế Người còn sống tức người đó đã được sinh ra và chưa chết vàothời điểm mở thừa kế, theo Nghị định 158/2005 NĐ-CP của Chính phủ ngày27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch Điều 23 có quy định: "Trẻ em sinh

ra sống được từ 24 giờ trở lên rồi mới chết cũng phải đăng ký khai sinh vàđăng ký khai tử" [7] Như vậy, một đứa trẻ được xem như sinh và còn sống làsau 24 giờ Trong trường hợp một người sinh ra vào thời điểm mở thừa kế thìngười đó phải là người đã thành thai trước thời điểm mở thừa kế và phải sinh

ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế

Trang 16

Điều kiện đặt ra đối với người thừa kế là tổ chức: Để một cơ quan, tổchức được hưởng thừa kế theo di chúc thì cơ quan, tổ chức đó phải tồn tại vàothời điểm mở thừa kế Tức là với thời điểm người để lại di sản chết, cơ quan,

tổ chức đã được thành lập và chưa chấm dứt hoạt động

Từ những lý luận về người thừa kế như đã trình bày, theo quan điểm

tác giả, người thừa kế có thể được định nghĩa như sau: Người thừa kế là người được hưởng di sản do người chết để lại theo di chúc hoặc theo pháp luật.

1.1.3.1 Người thừa kế theo di chúc

Người thừa kế theo di chúc là người được xác định do ý chí của người

có di sản nên phạm vi những người được hưởng di sản theo di chúc rộng hơnrất nhiều so với người được hưởng di sản theo pháp luật Người thừa kế theo

di chúc có thể là cá nhân bất kỳ, nếu được chỉ định mà không cần xét đếnnhững quan hệ khác của họ đối với người để lại di sản Người thừa kế theo dichúc có thể là người thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người để lại di sảnhoặc không thuộc diện thừa kế theo luật của người để lại di sản, pháp luậtkhông quy định phạm vi những người được hưởng thừa kế theo di chúc màviệc được hưởng di sản của người chết theo di chúc hoàn toàn phụ thuộc vào

ý chí của người lập di chúc trong việc định đoạt tài sản của họ để lại cho những người thừa kế

1.1.3.2 Người thừa kế theo quy định của pháp luật

Nếu người thừa kế theo di chúc là cá nhân bất kỳ ai là người thuộc diệnhay không thuộc diện thừa kế theo luật của người để lại di sản kể cả cơ quan, tổchức được hưởng di sản do ý chí của người để di sản quyết định Thì người thừa

kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân và là người có quan hệ hôn nhân, huyếtthống và nuôi dưỡng với người để lại di sản Những người thuộc diện thừa kếtheo pháp luật được hưởng quyền hưởng di sản một cách bình đẳng, ngang nhaugiữa những người cùng hàng thừa kế Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005 quyđịnh người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau:

Trang 17

- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.

- Hàng thừa kế thứ hai gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anhruột, chị ruột, em ruột của người chết, cháu ruột của người chết mà người chết

là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại

- Hàng thừa kế thứ ba gồm: Cụ nội, cụ ngoại; bác ruột, chú ruột, cậuruột, cô ruột, di ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết

là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết màngười chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại

1.2 KHÁI NIỆM VỀ NGƯỜI THỪA KẾ KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG

DI SẢN

1.2.1 Người không được quyền hưởng di sản theo quy định của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ

Sự phát triển của pháp luật thừa kế ở Việt Nam nói chung và pháp luật

về người không được quyền hưởng di sản nói riêng gắn liền với lịch sử truyềnthống, với chiều dài phát triển kinh tế, văn hoá của dân tộc Việt sử Từ đó, cóthể chia làm các giai đoạn phát triển của các quy định pháp luật về ngườikhông được quyền hưởng di sản qua các thời kỳ sau đây

1.2.1.1 Thời kỳ phong kiến

Ở Việt Nam, thời kỳ phong kiến để điều chỉnh các vấn đề phát sinhtrong đời sống xã hội, Nhà nước đã sử dụng phương tiện hữu hiệu là phápluật Bởi pháp luật phụ thuộc một cách trực tiếp đến chế độ sở hữu, đến sựphát triển về kinh tế, văn hóa đến tư tưởng, tôn giáo đang thịnh hành ở thời kỳnày Những quy định pháp luật qua các thời kỳ luôn thể hiện một bản sắc dântộc, một tâm linh truyền thống đặc thù của con người Việt Nam

Thời kỳ phong kiến ở Việt Nam còn chịu nhiều tác động của những tư tưởng phong kiến lạc hậu nên pháp luật thời kỳ này còn mang đậm tính phong

Trang 18

kiến, trọng nam kinh nữ Những quy định của pháp luật về người không đượcquyền hưởng di sản cũng phải chịu những tác động nhất định Pháp luật vềngười không được quyền hưởng di sản được quy định trong các Bộ luật cổnhư Quốc triều Hình Luật, Hoàng Việt luật lệ… Những quy định thời này hầuhết do các con phạm tội bất hiếu (Đoạn 295 Quốc triều hình luật) hoặc khôngnghe lệnh của ông bà, cha mẹ thì sẽ bị tước quyền hưởng di sản thừa kế.

Theo Điều 506, Quốc triều Hình Luật như con cháu trái lời dạy bảo vàkhông phụng dưỡng bề trên, mà bị ông bà, cha mẹ trình lên quan thì xử tội đồlàm khao dinh; con nuôi, con kế tự mà thất hiếu với cha nuôi, cha kế thì xửgiảm tội trên một bậc; và mất những tài sản được chia Tại Đoạn 272, Quốctriều hình luật quy định:

Dân gian có đứa con bất hiếu, lúc cha mẹ còn sống làm rachúc thư chia toàn phần cho đứa con hiếu thảo, một nửa phần chocon nuôi, mà không cho đứa con bất hiếu kia Tờ di chúc tay viết ra,nhưng chưa chia hẳn, và lại nhờ chúc thư đó thể thức có chỗ thấtcách, đến lúc chết đi đứa con bất hiếu kia mới về chịu tang, cùng làsửa phần mộ và làm cỗ bàn tế lễ; thế rồi không theo lời di ngôn củacha mẹ mà ngầm bàn tính đi kiện để tranh giành gia tài, lấy cớ làmình là đứa con đã báo hiếu.Vậy là nha môn thụ lý việc này, khôngđược căn cứ vào việc hắn có đến dự tang tế mà phải phán cho hắntrái lệnh cha mẹ kiện gian trái phép; tòa cứ y di mệnh của cha mẹtrong chúc thư rồi giao cho họ hàng thân thích và hương trưởngchứng kiến tờ di chúc đó, chứ không y cứ vào sự làm sai thể thức(trong chúc thư) [44]

Như vậy, việc tước quyền hưởng di sản của thời kỳ này không nhữngmang tính pháp lý mà còn mang tính đạo đức, giáo dục con cháu phải biếtvâng lời bố mẹ, ông bà không được tranh giành của cải làm mất đoàn kết giađình, và phải có hiếu với ông bà, cha mẹ Những tư tưởng đạo đức thống trị

Trang 19

trong từng thời kỳ đã ảnh hưởng tới việc xác định những trường hợp không được quyền hưởng di sản thừa kế.

1.2.1.2 Thời kỳ Pháp thuộc

Ở Việt Nam, pháp luật của chế độ thực dân phong kiến cũng đã cónhững quy định về người thừa kế không được quyền hưởng di sản của ngườichết để lại (họ được gọi là những người thừa kế bất xứng) Và vấn đề này đãđược quy định trong Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931 và Bộ luật Dân sự Trung

Kỳ 1936 Đây là những bộ luật được ban hành trong thời ký mà nhà nướcphong kiến Việt Nam đang nằm dưới sự cai trị của thực dân Pháp (chế độ thựcdân nửa phong kiến) Vì vậy, trong quy định về thừa kế nói chung và quy định

về người không được quyền hưởng di sản nói riêng, các bộ luật này vừa mang

tư tưởng ý thức hệ phong kiến vừa du nhập tư tưởng của Bộ luật Dân sự Cộnghòa Pháp năm 1804 Ví dụ:

Người đã trưởng thành biết được hành vi cố ý giết người màkhông tố giác với tòa án nhưng nếu kẻ sát nhân là cha, mẹ, anh, em,

vợ, chồng hoặc thân thuộc gần gũi với người thừa kế thì không bịcoi là có lỗi vì không tố giác; Người có hành vi vu khống người đểlại di sản hoặc vu khống ông, bà, cha, mẹ của người đó và người bị

vu khống đã bị phạt về trọng tội hay thường tội [16]

Tuy nhiên, với tư cách là pháp luật của nước phong kiến nên mọi quyđịnh thừa kế nói chung và các quy định về người không được quyền hưởng disản nói riêng trong hai bộ luật đều chú trọng và duy trì, củng cố chế độ sở hữuphong kiến, bảo vệ quyền lợi của giai cấp bóc lột Cụ thể, tại Điều 313 Dânluật Bắc Kỳ và Điều 306 Dân luật Trung Kỳ đều dự liệu những trường hợpngười thừa kế không có quyền hưởng di sản:

Người đã bị người lập di chúc tuyên bố không xứng đángđược hưởng di sản của người lập di chúc; Người có hành vi xâmphạm đến tính mạng của người để lại di sản hoặc với danh nghĩa

Trang 20

chính phạm hoặc đồng phạm hoặc tòng phạm; Người đã trưởngthành biết được hành vi cố ý giết người mà không tố giác với tòa ánnhưng nếu kẻ sát nhân là cha, mẹ, anh, em, vợ, chồng hoặc thânthuộc gần với người thừa kế thì không bị coi là có lỗi vì không tốgiác; Người có hành vi vu khống người để lại di sản hoặc vu khốngông, bà, cha, mẹ của người đó và người bị vu khống đã bị phạt vềtrọng tội hay thường tội [1], [2].

Mặt khác, do ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, vấn đề trọng namkinh nữ như là một ý thức hệ bao trùm toàn xã hội và ảnh hưởng trực tiếp đến

tư tưởng lập pháp Pháp luật ở thời ký này thừa nhận chế độ gia đình phụquyền và công nhận cho người chồng (người cha) có tất cả các quyền lực cầnthiết để họ thực hiện chức năng chủ gia đình của mình Vì vậy, vấn đề ngườikhông được quyền hưởng di sản ở thời kỳ này thể hiện rõ nét sự bất bình đẳnggiữa vợ và chồng, giữa nam và nữ Ví dụ, cũng về vần đề nêu trên, theo án lệ

ở miền Nam nước ta năm 1945 thì căn cứ vào từng vụ việc cụ thể mà quyết định tước quyền thừa kế của vợ góa nếu:

Không để tang chồng; Sống thiếu đạo đức và đã công khaigây tai tiếng cho gia đình nhà chồng; Đã có tình nhân hoặc đã lạmdụng quyền hưởng di sản mà không có biên bản kê khai; Người vợgóa bị coi là bất xứng không có quyền thừa kế, phần di sản đó sẽ docon hoặc cháu của người đó hưởng [15]

Tuy nhiên, không có xảy ra những trường hợp ngược lại

Có thể nói, pháp luật trong thời kỳ này là phương tiện pháp lý để bảo

vệ quyền lợi cho giai cấp địa chủ, phong kiến là chủ yếu nhưng trong đó, chế

độ thừa kế nói chung và các quy định về người không được quyền hưởng disản nói riêng vẫn được xây dựng trên cơ sở tôn trọng và giữ gìn các truyềnthống của dân tộc Và vấn đề về người không có quyền hưởng di sản đã đượcđặt ra một cách phù hợp với chính sách thời kỳ đó

Trang 21

1.2.1.3 Thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1990

Thời gian đầu mới thành lập sau Cách mạng tháng Tám năm 1945,nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã gặp phải rất nhiều khó khăn về chính trị,văn hóa, kinh tế xã hội Việc ban hành những văn bản pháp luật để điều chỉnhcác quan hệ xã hội là hết sức cần thiết Tuy nhiên, trong một tình thế hết sứckhắc nghiệt với khoảng thời gian khá ngắn, Nhà nước đã không thể kịp thờiban hành các văn bản để điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội Vì vậy, theo Sắclệnh 90/SL ngày 10/10/1945 về tạm giữ các luật lệ ban hành ở Việt Nam đểthi hành cho đến khi ban hành những bộ luật của chế độ mới của toàn cõi ViệtNam, nếu nó không trái với nguyên tắc "độc lập của nước Việt Nam và chínhthể dân chủ cộng hòa"

Như vậy, khi giải quyết các tranh chấp về thừa kế trong thời kỳ này,chủ yếu vẫn áp dụng những quy định trong các Bộ luật Dân sự trong thời kỳthực dân nửa phong kiến trên Tuy nhiên, với thời gian và sự biết đổi nhanhchóng, sâu sắc của tình trạng xã hội Việt Nam nhiều điều khoản trong các bộdân luật ấy trở nên lạc hậu, trái với tinh thần và sự tiến bộ xã hội Do đó,những quy định cũ đó chỉ được áp dụng đến năm 1959 - là năm Tòa án nhândân tối cao ban hành chỉ thị số 772/CT/TANDTC về việc đình chỉ áp dụngluật lệ của chế độ cũ Từ khi có chỉ thị 772/CT/TANDTC đến năm 1981 đã cómột số thông tư của ngành Tòa án hướng dẫn giải quyết tranh chấp về thừa kế

ví dụ: Thông tư số 594… nhưng không có một nội dung nào về những ngườithừa kế không có quyền hưởng di sản

Thực trạng đó như một lỗ hổng của pháp luật thừa kế của nước ta CácTòa án đã không thể giải quyết thỏa đáng những tranh chấp về thừa kế liênquan đến thừa kế có hành vi trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, xâm phạm đếnngười để lại di sản hoặc người thừa kế khác Do còn thiếu những quy định củapháp luật điều chỉnh vấn đề này

Như vậy, có thể nhận định rằng pháp luật về thừa kế của Nhà nước tatrong giai đoạn này chưa được dự liệu được những tình huống phát sinh trong

Trang 22

đời sống xã hội; và trên thực tế hẳn vẫn còn tồn tại những hành vi trái phápluật, trái đạo đức xã hội là nguyên nhân dẫn đến người thừa kế có hành vi đó

có bị tước quyền hưởng di sản hay không? do chưa có quy phạm để áp dụngnhững chế tài tương ứng

Sau khi Hiến pháp năm 1980 ra đời thì quyền sở hữu của công dân đãđược xác định sở hữu những loại tài sản gì? Thời kỳ này đã có sự ghi nhậnquyền thừa kế tài sản của công dân Để có một đường lối thống nhất cho cáctòa án các cấp trong công tác xét xử giải quyết các tranh chấp về thừa kế,đồng thời bổ sung một số vấn đề cho phù hợp với quy định của hiến phápmới, qua tổng kết rút kinh nghiệm công tác xét xử, ngày 24/7/1981, Tòa ánnhân dân tối cao đã ban hành Thông tư số 81/TATC để hướng dẫn giải quyếtcác tranh chấp về thừa kế Thông tư số 81/TATC đã có những đóng góp nhấtđịnh trong việc hoàn thiện pháp luật về thừa kế Và khi đó, cơ sở pháp lý đểtước quyền thừa kế của một người đã được quy định tại Thông tư số81/TATC Theo Thông tư số 81/TATC thì một người bị tước quyền thừa kế do

bị kết án về một trong các hành vi sau đây: "Đã giết người để lại thừa kế hoặc

đã đối xử quá tàn tệ với người đó; Đã giết người thừa kế cùng hàng với mình

để chiếm đoạt toàn bộ di sản hoặc nhằm tăng kỷ phần cho bản thân mình thìkhông được thừa kế di sản của hai người đấy" [35]

1.2.1.4 Thời kỳ từ năm 1990 đến nay

Xã hội ngày càng phát triển, vấn đề thừa kế càng trở nên đa dạng,sống động và phức tạp nên Thông tư số 81/TATC hướng dẫn của Tòa án nhândân tối cao không còn đáp ứng được yêu cầu thực tế, mới chỉ dừng lại ở một

số hành vi cụ thể mà chưa được dự liệu hết được các trường hợp khác như:người thừa kế vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng, hành hạ, ngược đãi người để lại

di sản, hủy di chúc, bịa đặt di chúc…

Ngày 30/8/1990 Hội đồng Nhà nước của nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam đã thông qua Pháp lệnh Thừa kế Trong những năm đầu tiên

Trang 23

của thập nên 90, Pháp lệnh Thừa kế là văn bản pháp luật quy định đầy đủ có

hệ thống về lĩnh vực thừa kế nói chung và đã hoàn thiện những thiếu sót vềcác trường hợp không được quyền hưởng di sản Những quy định này đều dựatrên những nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng quyền tự do ý chí của người để lạithừa kế cũng như của người thừa kế trên cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của các chủ thể khác

Cụ thể, khi Pháp lệnh Thừa kế được ban hành (30/8/1990) thì vấn đềngười thừa kế không có quyền hưởng di sản được quy định tại Điều 7 Theo đó,người thừa kế không được hưởng di sản khi có một trong các hành vi sau đây:

Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sứckhỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại

di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đểlại di sản; Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người

để lại di sản; Người bị kết án về hành vi cố ý giết người thừa kếkhác nhằm mục đích chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ phần di sảncủa người thừa kế khác cơ quyền hưởng; Người có hành vi lừa dối,cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc,giả mạo, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặctoàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản [12]

Cùng với thời gian, các vấn đề trong lĩnh vực dân sự cũng sẽ sốngđộng, đa dạng và phức tạp hơn nhiều, các văn bản pháp luật với các nghị định,Pháp lệnh không đủ khả năng bao quát để điều chỉnh một cách rộng khắp cácquan hệ dân sự nói chung, quan hệ về thừa kế nói riêng Nhà nước đã kịp thờiban hành Bộ luật Dân sự (thông qua ngày 28/10/1995) Đến năm 2005, saumột thời gian áp dụng vào đời sống thực tiễn Bộ luật Dân sự năm 1995 đã bộc

lộ khá nhiều bất cập, hạn chế nên nhà nước đã tiến hành thực hiện việc sửađổi Bộ luật Dân sự được sửa đổi và được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua Tuy nhiên,

Trang 24

những vấn đề liên quan đến người không được quyền hưởng di sản quy địnhtại Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 khá hoàn thiện nên đã được giữ nguyên vàđược thể hiện tại Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005.

1.2.2 Người thừa kế có quyền hưởng di sản và người thừa kế không được quyền hưởng di sản

1.2.2.1 Người thừa kế có quyền hưởng di sản

Những người có quyền hưởng di sản của nhau là những người có mốiliên hệ với nhau về việc hưởng di sản của nhau Vì thế, quyền hưởng di sảncủa những người này có thể xác định theo hai căn cứ sau:

+ Theo quy định của pháp luật: Những người có quyền hưởng di sảncủa nhau là những người mà giữa họ có mối liên hệ với nhau về một trong bamối quan hệ về hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng

+ Theo ý chí của các chủ thể: Là những người mà bằng ý chí của mình(thể hiện trong di chúc), để lại di sản cho nhau

Như vậy, quyền được quyền hưởng di sản của người đã chết để lạitrước hết thuộc về người thừa kế theo di chúc và người thừa kế thuộc diện vàhàng thừa kế theo luật sẽ được hưởng di sản Tuy nhiên, thừa kế theo luật vàthừa kế theo di chúc chỉ là một căn cứ, ngoài ra còn có những căn cứ khác đểmột cá nhân, tổ chức có thể được hưởng di sản thừa kế

Theo quy định tại Điều 669 Bộ luật Dân sự năm 2005:

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng 2/3suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chiatheo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúccho hưởng di sản hoặc cho hưởng di sản ít hơn 2/3 suất đó, trừ khi

họ là những người từ chối di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ

là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tạiKhoản 1 Điều 643 của bộ luật này:

Trang 25

- Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng.

- Con đã thành niên mà không có khả năng lao động [30].Như vậy, quyền hưởng di sản không phụ thuộc và nội dung của dichúc của những người thừa kế trong trường hợp trên là hoàn toàn phù hợp vớiphong tục tập quán cũng như phù hợp với các quy tắc đạo đức trong đời sốngcủa người Việt Nam

Theo quy định tại Điều 677 Bộ luật Dân sự:

Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trướchoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu đượchưởng phần di sản mà cha mẹ cháu được hưởng nếu còn sống, nếucháu cũng chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại disản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ chắt đượchưởng hưởng nếu còn sống [30]

Dựa trên quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2005, người được hưởng di sản là Nhà nước

Trong trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theopháp luật hoặc có nhưng người thừa kế đó không được quyềnhưởng di sản, hoặc từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đãthực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thìtài sản thuộc về Nhà nước [30]

Như vậy, người có quyền hưởng di sản là những người thừa kế theopháp luật, theo di chúc, người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của dichúc, người quản lý di sản, người được thừa kế thế vị và Nhà nước với tưcách là chủ thể đặc biệt trong quan hệ thừa kế

1.2.2.2 Người thừa kế không được quyền hưởng di sản

Trong các quan hệ tồn tại trong xã hội bao giờ cũng có sự mâu thuẫn,bất đồng, cái tôi của mỗi người rất cao Vì vậy, dễ dẫn đến tình trạng có

Trang 26

những người có hành vi không đúng theo luân thường đạo lý, gây ảnh hưởngtới những người xung quanh họ Trong các quan hệ trong gia đình nói chung

và quan hệ thừa kế nói riêng, điều đó khiến cho mỗi thành viên có những hành

vi "bất xứng" với những gì mà mình có thể được hưởng về sau Khi các chếđịnh về thừa kế xuất hiện thì những ai được hưởng thừa kế được xác định.Đồng thời những quy định đó cũng xác định những ai không được quyềnhưởng di sản thừa kế do có những hành vi "bất xứng" với việc được hưởngphần di sản đó

Thuật ngữ "người không được quyền hưởng di sản" còn xuất hiệnnhiều trong hệ thống pháp luật của các nước trên thế giới Tuy nhiên, chưa cópháp luật nước nào đưa ra quy định định nghĩa thế nào là "người không đượcquyền hưởng di sản"

Ở Việt Nam, vấn đề người không được quyền hưởng di sản đã đượcquan tâm từ rất sớm, ngay từ thời kỳ phong kiến đến thời kỳ Pháp thuộc đều

có những quy định về những người bất xứng thừa hưởng di sản Ví dụ như tạiĐiều 388 Quốc triều Hình luật; Điều 314 Dân luật Bắc Kỳ…

Tuy nhiên, chỉ khi đến Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 ra đời thì quy định

về người không được quyền hưởng di sản mới được đề cập một cách rõ ràng vàtương đối đầy đủ nhưng vẫn chưa có quy định nào định nghĩa thế nào là ngườikhông được quyền hưởng di sản Ngay cả trong Bộ luật Dân sự năm 2005 vẫngiữ nguyên những trường hợp quy định tại Điều 7 Pháp lệnh Thừa kế 1990.Nhưng qua những quy định về các trường hợp không được quyền hưởng di sản

đó thì người không có quyền hưởng di sản có một số đặc điểm như sau:

- Là người mà có những hành vi vi phạm nghĩa vụ nghiêm trọng vớingười để lại di sản hoặc có hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm đến quyềnlợi của người để lại di sản hoặc của người thừa kế khác

- Những hành vi bất xứng được pháp luật quy định trong văn bản phápluật dân sự Hiện nay, được quy định tại Khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự

Trang 27

- Là người nếu không bị pháp luật quy định trong diện không được hưởng di sản thì họ sẽ được hưởng theo di chúc hoặc theo diện và hàng thừa kế.

- Người thừa kế có những hành vi bất xứng mà pháp luật quy định cóthể bị mất quyền hưởng di sản nhưng lại được chính người để lại di sản thểhiện ý chí là vẫn cho hưởng khi biết những hành vi đó

Qua những phân tích ở trên, tác giả đưa ra định nghĩa về người không

được hưởng di sản như sau: Người không được hưởng di sản là người không được quyền hưởng di sản do người chết để lại mà lẽ ra thuộc về mình do có những hành vi bất xứng theo quy định của pháp luật.

1.2.3 Căn cứ xác định người thừa kế không được quyền hưởng di sản

Trải qua các thời kỳ khác nhau, pháp luật Việt Nam cũng có nhữngquy định để điều chỉnh vấn để về người không có quyền hưởng di sản Hiệnnay, để xác định người không có quyền hưởng di sản thì pháp luật Việt Nam

đã có những quy định để điều chỉnh vấn đề này Cụ thể được quy định trong

Bộ luật Dân sự 2005 tại Điều 643 là những quy định về những trường hợpkhông được quyền hưởng di sản

* Việc pháp luật quy định về vấn đề này là nhằm mục đích thực hiệnđúng nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Pháp luật luôn gắn liền với sự rađời của Nhà nước Bất cứ Nhà nước nào cũng vậy, phải ban hành pháp luật vàquản lý xã hội bằng pháp luật là chủ yếu Ở Việt Nam, lần đầu tiên nguyên tắcpháp chế xã hội chủ nghĩa được quy định tại Điều 12 Hiến pháp 1980 Hiệnnay nguyên tắc này cũng được quy định tại Điều 12 Hiến pháp 1992: "Nhànước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xáchội chủ nghĩa" [22] Trong quan hệ pháp luật thừa kế nói chung và quan hệpháp luật về người không được quyền hưởng di sản nói riêng ngày càng đadạng và phức tạp Để đảm bảo nguyên tắc xã hội chủ nghĩa, Nhà nước banhành quy định để điều chỉnh các quan hệ về người không được quyền hưởng

di sản

Trang 28

* Việc quy định đó còn dựa trên những quan niệm đạo đức của nước

ta Đạo đức là tổng thể các quan niệm, quan điểm của cộng đồng dân cư nhấtđịnh về chân, thiện, công bằng danh dự… trên cơ sở đó hình thành nên cácquy tắc xử sự, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, chúng được thực hiện bởilương tâm, tình cảm cá nhân và sức mạnh của dư luận xã hội

Thường những quan hệ về thừa kế là những quan hệ liên quan đến huyếtthống, hôn nhân, nuôi dưỡng (thừa kế theo luật), hoặc là những quan hệ khôngthuộc quan hệ trên nhưng được người để lại di chúc (thừa kế theo di chúc) chohưởng phần thừa kế theo di chúc Ví dụ với quan niệm "uống nước nhớ nguồn",

"ăn quả nhớ kẻ trồng cây", ông cha ta đã dạy bảo những thế hệ đi sau phải biết

ơn những người cha ông của mình đi trước, những gì mà thế hệ sau phải làm làbiết ơn chứ không phải là có những hành vi bất xứng với những gì cha ông đã đểlại Vì vậy, khi xét về đạo những người được hưởng thừa kế đó có xứng đáng vớinhững gì mà người để lại di chúc để lại không? Quy định của pháp luật cũng mộtphần nhằm đảm bảo chính những giá trị đạo đức đó

* Việc pháp luật quy định về người không được quyền hưởng di sản còn dựa trên phong tục, tập quán

Phong tục, tập quán được hiểu là những thói quen trong suy nghĩ, ứng

xử của cộng đồng địa phương hoặc tộc người được xem là khuôn mẫu, quytắc chi phối hành vi của cộng đồng, hình thành và phát triển trong quá trìnhphát triển của xã hội Trong phong tục, tập quán có chứa đựng các quy phạm

xã hội dưới dạng quy ước, quy định điều chỉnh các quan hệ phát sinh trongcộng đồng tộc người hoặc địa phương Tính cưỡng chế xã hội của phong tụctập quán được thể hiện hoặc ở sự tác động về mặt dư luận, niềm tin, tínngưỡng của cộng đồng hoặc ở các hình phạt, các biện pháp xử lý do cộngđồng áp dụng đối với các hành vi vi phạm

Ở Việt Nam, xét về mặt truyền thống thì có những phong tục tập quántốt đẹp, đã được truyền từ đời này sang đời sau Đặc biệt về các quan hệ giữa

Trang 29

người với người có nhiều phong tục, tập quán tốt đẹp Như vậy, vai trò củapháp luật trong việc chi phối, tác động bởi các phong tục tập quán tích cực cótính bền vững để nó phát huy giá trị hay giá trị trong hệ thống Các điều luậtđược xây dựng dựa trên cơ sở những phong tục tập quán tốt đẹp Vì vậy, khinhững người lẽ ra sẽ được quyền hưởng thừa kế nhưng lại có những hành vibất xứng thì việc họ không được quyền hưởng là một việc phù hợp với phongtục, tập quán của chính chúng ta Ví dụ: Luật tục của người Ba Na ở TâyNguyên trong lĩnh vực thừa kế cũng đã có nội dung khuyến khích việc xác lậpquan hệ đoàn kết, gắn bó giữa các con cái, tạo sự hoàn thuận giữa các thànhviên trong gia đình, Luật tục Ba Na còn có nhiều sự tiến bộ trong việc đã chia

di sản của người chết cho mẹ, cho con trai cả, con gái, con nuôi, con đẻ Nộidung luật tục về thừa kế như sau: Anh bên phải, em bên trái cùng cha, cùng

mẹ, cùng một dòng họ, cùng một tổ tiên, có trai, có gái; Ruộng vườn ta làm,nhà cửa ta ở, trâu bò ta nuôi, lúa gạo ta ăn; Hễ ai đói rét, ta cùng giúp nhau;Nếu là con gái đã có chồng muốn xin ở riêng; Ta chia cho nó một ít, của nó nólấy: Nếu là con gái út, biết điều, biết lối, nghe lời dạy bảo, chăm sóc bố mẹ thìđược hưởng nhiều hơn; Nếu là còn trai ở bên nhà vợ, hoàn cảnh khó khăn tacũng chia cho; Sau này ăn nên, làm ra, biết điều, biết ơn cúng cho bố mẹ thìđược hưởng thừa kế

Vậy, pháp luật Việt Nam trên cơ sở những điểm tích cực của luật tục

đó và các luật tục khác ở các dân tộc cũng như các địa phương khác để xâydựng pháp luật một cách phù hợp và hiệu quả trong việc thực hiện

1.2.4 Người không có quyền hưởng di sản trong mối quan hệ với quyền tự định đoạt của người lập di chúc

Qua sự phân tích ở trên thì những trường hợp quy định người không

có quyền hưởng di sản là phù hợp với thực tiễn và có cơ sở nhất định Tuynhiên, dựa vào nội dung của nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt củangười lập di chúc thì những quy định trên của pháp luật có thể không phát

Trang 30

sinh hiệu lực trong một số trường hợp Tại Khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự cónêu ra cụ thể những hành vi nếu người thừa kế có những hành vi sau thì khôngđược quyền hưởng di sản: bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sứckhỏe, hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâmphạm nghiêm trọng, danh dự nhân phẩm của người để lại di sản, vi phạm nghiêmtrọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản hoặc bị kết án về một hành vi cố ýxâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộphần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng hoặc toàn bộ di sản trái với ýchí của người để lại di sản pháp luật đã quy định về người thuộc các trườnghợp trên không được quyền hưởng di sản nhưng nếu trong di chúc của người đểlại di sản vẫn cho họ hưởng mặc dù biết những hành vi của họ thì họ vẫn đượchưởng di sản theo di chúc Theo quy định trên, người để lại di sản lập di chúc saukhi biết được đã được biết các hành vi của người theo quy định tại Khoản 1 Điều

643 Bộ luật Dân sự nhưng vẫn thể hiện ý chí cho hưởng thì người này chỉ đượchưởng theo di chúc

Nếu người có tài sản không định đoạt cho người này được hưởng disản thì người này cũng không được quyền hưởng di sản thừa kế theo phápluật Như vậy, khi xác định suất thừa kế được phân chia theo pháp luật để tínhphần được hưởng của những người được thừa kế không phụ thuộc vào nộidung của di chúc theo quy định tại Điều 669 Bộ luật Dân sự thì họ không làtham số để xác định 2/3 của một suất thừa kế theo quy định của pháp luật, vì

họ không có quyền thừa kế theo pháp luật

Như vậy, pháp luật Việt Nam tôn trọng ý chí của những người lập dichúc Quyền tự do lập di chúc của cá nhân quy định tại Điều 631 Bộ luật Dân

sự năm 2005 như: "Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản củamình, để lại tài sản của mình cho những người thừa kế theo pháp luật" [30]

Có nghĩa là nếu người chết để lại di chúc (di chúc hợp pháp) thì thừa kế sẽtiến hành theo di chúc, theo sự định đoạt của người có tài sản trước lúc chết,người lập di chúc đã thể hiện ý chí của mình trong việc phân chia di sản thuộc

Trang 31

quyền sở hữu của mình Vậy trong di chúc đã định đoạt cho một người mộtphần di sản mặc dù người đó có những hành vi bất xứng nhưng vẫn nhậnđược khi người lập di chúc đó biết được các hành vi bất xứng Ở Việt Nam ta

từ trước đến này có những truyền thống tốt đẹp này: đánh kẻ chạy đi, không

ai đánh kẻ chạy lại Trong những trường hợp người có hành vi bất xứng đã

hối hận, đã có những biểu hiện khiến cho người để lại di chúc tha thứ và vẫncho hưởng di sản Hoặc do chính lòng thương, lòng nhân từ của những người

để lại di chúc đó đối với người đó Nên khi biết hành vi bất xứng nhưng vẫncho hưởng di sản thừa kế

Hiệu lực của những quy định người không được quyền hưởng di sản

bị hạn chế bởi chính ý chí của người để lại di chúc Sở dĩ như vậy, là do ngườilập di chúc là chủ sở hữu hợp pháp của những tài sản mà mình sẽ để lại thừa

kế, nên người lập di chúc có đủ các quyền năng của chủ thể đối với tài sản domình sở hữu, trong đó có quyền năng tự định đoạt tài sản của mình Mặt khác,trong quan hệ gia đình là quan hệ đặc biệt nên trong mối quan hệ gia đình thìnhững mâu thuẫn, bất đồng trong gia đình thường được chính những ngườitrong gia đình tự giải quyết mà không cần đến sự can thiệp của pháp luật đểtránh sự bất đồng, mâu thuẫn lớn đến việc không đạt được mục đích xây dựnggiao đình đúng nghĩa, các thành viên trong gia đình có cuộc sống chung, cócác mối quan hệ mật thiết về kinh tế cũng như tình cảm Vì vậy, ý chí của chủthể lập di chúc được tôn trọng trong việc định đoạt tài sản của mình có thuộc

về người có hành vi bất xứng hay không

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Pháp luật thừa kế không xuất hiện một cách ngẫu nhiên và cũng khôngphản ánh thụ động các quan hệ trong xã hội Những nguyên tắc, trình tự vàthủ tục chuyển dịch tài sản của người chết cho những người thừa kế đượcpháp luật điều chỉnh trên cơ sở các quan hệ tài sản qua mỗi thời kỳ phát triểncủa xã hội có giai cấp và mang bản chất giai cấp sâu sắc Nhằm giải quyết

Trang 32

triệt để những vấn đề đặt ra, trong chương này đã xây dựng và phân tích cáckhái niệm thừa kế, khái niệm quyền thừa kế, khái niệm người thừa kế, kháiniệm người thừa kế theo di chúc, khái niệm người thừa kế theo quy định củapháp luật, khái niệm về người thừa kế không được quyền hưởng di sản đượcquy định theo các thời kỳ, các giai đoạn khác nhau của pháp luật, phân biệt sựkhác nhau về người thừa kế được quyền hưởng di sản và người thừa kế khôngđược quyền hưởng di sản, những căn cứ xác định người thừa kế không đượcquyền hưởng di sản Những khái niệm mà xung quanh chúng còn tồn tại nhiều

ý kiến, quan điểm trong việc nhận thức giữa các nhà nghiên cứu và nhữngngười áp dụng, tìm hiểu pháp luật người không được quyền hưởng di sản.Qua đó để có cơ sở hoàn thiện những qui định của pháp luật về quyền thừa kếnói chung và người không được quyền hưởng di sản nói riêng, đồng thờithông qua việc áp dụng và thi hành về người không được quyền hưởng di sản

để có những biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả điều chỉnhcủa chúng để đáp ứng kịp thời những nhu cầu thực tế của xã hội

Trang 33

Chương 2

NHỮNG TRƯỜNG HỢP NGƯỜI THỪA KẾ KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG DI SẢN

2.1 NHỮNG TRƯỜNG HỢP NGƯỜI THỪA KẾ KHÔNG ĐƯỢC

QUYỀN HƯỞNG DI SẢN

2.1.1 Người bị kết án có hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó

Hành vi cố ý giết người để lại di sản được hiểu là hành vi cố ý tước

đoạt tính mạng người để lại di sản một cách trái pháp luật Hành vi cố ý: được

hiểu là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình có tính chất nguy hiểmcho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hoặc có ý thức

để mặc cho hậu quả xảy ra Căn cứ vào mối tương quan của yếu tố lí trí và ýchí, cố ý phạm tội được phân thành hai loại: cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp

Cố ý trực tiếp là khi người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm

cho xã hội của hành vi do mình thực hiện, thấy trước tính tất yếu hoặc khả nănggây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra

Cố ý gián tiếp là khi người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm

cho xã hội của hành vi do mình thực hiện, thấy trước khả năng gây ra hậu quảnguy hiểm cho xã hội, tuy không mong muốn, nhưng có ý thức để mặc chohậu quả đó xảy ra Ở Việt Nam, cố ý phạm tội được quy định trong Điều 9 Bộluật Hình sự năm 2003

Người có hành vi cố ý giết người để lại di sản sẽ không được quyềnhưởng di sản Đây là một vấn đề liên quan đến quyền lợi của chính người thựchiện hành vi đó, nên khi xem xét một ai đó có được quyền hưởng di sản haykhông theo trường hợp trên thì vấn đề đầu tiên cần phải làm rõ vấn đề bản

Trang 34

án về những hành vi đó có hiệu lực hay chưa? Nếu bản án đó chưa có hiệu lựcthì có được phép áp dụng không? Điều này có thể lý giải như sau: Một bản án

có thể vẫn bị cấp xét xử khác sửa đổi hoặc bị hủy bỏ vì nó có thể có những saisót nên các bản án chỉ được thi hành khi nó đã có hiệu lực pháp luật Bản án

có hiệu lực pháp luật khi bản án của cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, khángnghị theo thủ tục phúc thẩm đã hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, hoặc làbản án của tòa án cấp phúc thẩm Mặt khác tại Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình

sự cũng quy định "Không ai có thể bị coi là có tội nếu chưa có bản án kết tội

đã có hiệu lực của Tòa án" [29] Vì vậy, những hành vi trên của người có têntrong di chúc dù đã bị kết án bằng một bản án thì vẫn chưa thể kết luận làngười đó phạm tội Bản án đó cũng chưa được coi là có căn cứ để tước quyềnhưởng di sản của người có tên trong di chúc Bản án áp dụng trong nhữngtrường hợp này là những bản án phải có hiệu lực pháp luật, nếu có tranh chấpxảy ra trong khi bản án chưa có hiệu hiệu pháp luật thì cần phải đợi đến khibản án đó có hiệu lực pháp luật mới được giải quyết Vậy, bản án có hiệu lựcpháp luật là căn cứ cần thiết để tước quyền hưởng di sản của một người Đồngthời, nếu chỉ có những hành vi trên mà chưa có bản án có hiệu lực của tòa ánthì cũng không thể tước quyền hưởng di sản của người có hành vi đó

Bên cạnh việc xác định bản án cần có hiệu lực hay chưa thì việc đi tìmhiểu rõ về các hành vi xâm phạm tính mạng, hành vi ngược đãi nghiêm trọng,hành hạ, xâm phạm nghiêm trọng đến người để lại di sản cũng là điều cần thiết

+ Về hành vi "cố ý xâm phạm tính mạng" của người để lại di sản: làhành vi nhằm tước đoạt đi tính mạng của người để lại di sản Hành vi đó làmcho người để lại di sản chết

Hành vi này sẽ được coi là hành vi khách quan của tội giết người trongluật hình sự khi nó là hành vi trái pháp luật (trừ hành vi phòng vệ chính đáng

và hành vi thi hành án tử hình) Bên cạnh đó, khi có hành vi xâm phạm tínhmạng và có bản án về hành vi đó của người có thể được nhận di sản, thì

Trang 35

không cần xem xét mục đích của việc xâm phạm đó có nhằm là hưởng di sảnhay không Tuy nhiên, việc người đó bị kết án về hành vi xâm phạm tínhmạng của một người không phải người để lại di sản thì không được tướcquyền hưởng di sản.

Việc xác định về mặt chủ quan của người thực hiện hành vi cũng có ýnghĩa quan trọng, khi hành vi xâm phạm đó thực hiện nhưng lại do lỗi vô ý thì

sẽ không bị tước quyền hưởng di sản mà việc tước quyền hưởng di sản chỉ cóthể xảy ra khi đó là lỗi cố ý Có nghĩa là, khi một người thực hiện hành vi đãnhận thức được hành vi của mình là hành vi nguy hiểm có thể gây hậu quảchết người nhưng tin rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra nhưng hậu quả đó vẫnxảy ra trên thực tế (vô ý quá tự tin) hoặc người đó không thấy trước hậu quả

có thể xảy ra - do cẩu thả, mặc dù phải thấy trước hoặc có đủ điều kiện đểthấy trước (vô ý do cẩu thả), thì sẽ không bị tước quyền hưởng di sản Còn khingười thực hiện hành vi đã nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm có thểgây hậu quả chết người, có mong muốn cho hậu quả chết người đó xảy ra (cố

ý trực tiếp) hoặc trong trường hợp, người thực hiện hành vi nhận thức rõ hành

vi của mình là nguy hiểm, có thể dây hậu quả chết người, tuy không mongmuốn nhưng vẫn để mặc cho hậu quả chết người đó xảy ra (có ý gián tiếp).Vậy trong cả hai trường hợp, cố ý gián tiếp hay trực tiếp, người thực hiệnhành vi đó đều có thể bị tước quyền hưởng di sản

Vậy chủ thể của tội giết người là ai? Chủ thể của tội giết người là bất

kỳ nhưng phải có đủ năng lực trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 13 Bộ luậtHình sự năm 1999 quy định:

1. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khimắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác làm mất khả năng nhậnthức hoặc điều khiển hành vi của mình thì không phải chịu tráchnhiệm hình sự, đối với người ngày phải áp dụng biện pháp bắt buộcchữa bệnh

Trang 36

2. Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình

sự, nhưng đã lâm vào tình trạng quy định tại Khoản 1 điều nàytrước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữabệnh Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệmhình sự [25]

Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự:

Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịutrách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý và phạmtội phạm đặc biệt nghiêm trọng", vậy trong trường hợp phạm tộidưới 14 tuổi hoặc từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi nhưng phạm tội ítnghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc từ tội phạm rất nghiêmtrọng với lỗi vô ý thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự [25]

Từ đó nhận thấy, cố ý giết người để lại di sản là hành vi nhằm tướcđoạt đi tính mạng của người để lại di sản Hành vi đó làm cho người để lại disản chết, thì đã bị tước quyền hưởng di sản Ngược lại nếu hành vi vô ý giết

để lại di sản dù để lại hậu quả là người để lại di sản chết thì người đó vẫnđược hưởng di sản do lỗi vô ý Độ tuổi bị tước quyền hưởng di sản căn cứtheo tội phạm nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng Nếu từ 14 tuổi trở lên đếndưới 18 tuổi mà phạm tội nghiêm trọng là giết người để lại di sản do lỗi cố ýthì cũng bị tước quyền hưởng di sản

+ Về hành vi "ngược đãi nghiêm trọng", "hành hạ" người để lại di sản,

"xâm phạm nghiêm trọng danh dự nhân phẩm" của người đó: Sự ngược đãi, hành

hạ, xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản là những hành

vi trái pháp luật, trái đạo đức xã hội Những hành vi này thường được thể hiệnthông qua các hành động như mắng, chửi, để cho ăn khi đói khi có thể cho ăn no,bắt ăn mặc rách khi có thể cho mặc lành… Hành vi này có tính chất tàn nhẫn, tồi

tệ quan hệ giữa người phạm tội này và người bị phạm tội thường là những người

có quan hệ phụ thuộc nhau, thường là những người có quan hệ gia đình,

Trang 37

họ hàng, hậu quả của việc đối xử tàn ác này là gây đau khổ về tinh thần hoặcđau đớn về mặc thể xác… Hậu quả của những hành vi này không cần gây hậuquả về mặt vật chất (thương tích, tổn hại sức khỏe…) mà chỉ cần gây hậu quả

về mặt tinh thần (đau khổ, cảm thấy buồn tủi, nhục nhã ) Về mặt chủ quan,những hành vi này phải là những hành vi cố ý, tức là những người phạm tộinày biết được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện

Việc xác định được những hành vi "ngược đãi", "hành hạ", "xâm phạmdanh dự, nhân phẩm" như thế nào thì bị coi là nghiêm trọng là một vấn đề cầnđược quan tâm Hiện nay chưa có văn bản nào quy định về ngược đãi nghiêmtrọng hoặc thế nào là xâm phạm nghiêm trọng danh dự nhân phẩm của người

để lại di sản Tuy nhiên, trong quy định của pháp luật thì người có hành vingược đãi, hành hạ, xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản bịtước quyền khi đã có bản án có hiệu lực pháp luật nên ta có thể hiểu rằng nónghiêm trọng khi nó đã đủ các dấu hiện để bị kết án và đã bị kết án Vì vậy,chúng ta không cần đi xác định tính nghiêm trọng nữa mà chỉ cần dựa vàochính việc đã có bản án kết án về hành vi đó

Sở dĩ có quy định trên chính là để đảm bảo việc thực hiện Hiến pháp

và pháp luật, và nó được quy định theo nguyên tắc:

Mọi công dân Việt Nam có quyền bất khả xâm phạm về thânthể; Công dân Việt Nam có quyền được pháp luật bảo vệ tính mạng,tài sản, danh dự và nhân phẩm; Công dân có quyền bất khả xâmphạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe,danh dự và nhân phẩm [22, Điều 71]

Bên cạnh đó, tại chương XII và Điều 151 Bộ luật Hình sự 1999 vàđược sửa đổi có quy định về người có hành vi cố ý giết người để lại di sản,hành hạ, ngược đãi người để lại di sản, xâm phạm danh dự, nhân phẩm củangười để lại di sản, các tội xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm,danh dự con người Vậy, những người thực hiện hành vi thuộc điểm này đã bị

Trang 38

kết án về tội giết người hoặc một trong những tội quy định tại Chương XII vàĐiều 151 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, Điểm a, Khoản 1, Điều 643 Bộ luật Dân sự có nội dung nhưsau: Người thừa kế có hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người

để lại di sản thì không được quyền hưởng di sản của người đó để lại Nếungười bị kết án do hành vi vô ý thì vẫn được phép nhận di sản của người đó

để lại Bởi, khi họ phạm lỗi với lỗi vô ý thì người thực hiện hành vi đó không

có mong muốn cho hậu quả xảy ra; Người thừa kế có hành vi cố ý xâm phạmđến danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản và đã bị kết án về một trongcác hành vi đó thì bị tước quyền thừa kế của người bị xâm phạm Đồng thời,nếu có hành vi mà không có bản án, tức không bị truy cứu trách nhiệm hình

sự hoặc không bị kết án (người thực hiện hành vi chưa đến tuổi chịu tráchnhiệm hình sự; người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyếtđịnh đình chỉ vụ án đã có hiệu lực; đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hìnhsự; tội phạm đã được đại xá) thì sẽ không bị tước quyền hưởng di sản; Nhữngbản án về những hành vi trên phải có hiệu lực pháp luật

2.1.2 Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người

để lại di sản

Nghĩa vụ nuôi dưỡng là một truyền thống đạo đức tốt đẹp của cácthành viên trong gia đình với nhau đã được pháp luật ghi nhận và bảo hộ

Phân tích điểm b, khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự đầu tiên cần làm

rõ là nghĩa vụ "nuôi dưỡng" có bao gồm cả những thuật ngữ "cấp dưỡng",

"phụng dưỡng" hay không chỉ đơn thuần là nuôi dưỡng giữa người này vớingười khác? Theo quan điểm của học viên thì thuật ngữ "nuôi dưỡng", "cấpdưỡng", "phụng dưỡng" là những từ có thể hiểu là "nuôi dưỡng" được quyđịnh tại điểm b, khoản 1, Điều 643 Bộ luật Dân sự Sở dĩ như vậy, vì những từnày được dùng để phù hợp với từng hoàn cảnh khác nhau, bản chất của nócùng nội dung là sự nuôi dưỡng (chăm lo về vật chất) của người này đối với

Trang 39

người khác Trong trường hợp hai người cùng sống chung với nhau thì gọi lànuôi dưỡng; nếu họ không sống chung với nhau gọi là cấp dưỡng; còn nói đếnphụng dưỡng thì chúng ta thấy đấy là ngôn ngữ thể hiện sự tôn trọng củangười chăm lo đối với người được chăm lo Vì vậy, khi nghiên cứu chúng takhông chỉ nghiên cứu nghĩa vụ nuôi dưỡng đơn thuần mà còn cần xem xétđến cả nghĩa vụ cấp dưỡng của những người có nghĩa vụ với nhau.

Những quan hệ nuôi dưỡng được ghi nhận trong Luật Hôn nhân và giađình năm 2000 tại những điều 34, 35, 36, 47, 48, 56, 57, 58 Nghĩa vụ nuôidưỡng chỉ trở thành căn cứ cho trường hợp này khi nó được pháp luật quyđịnh, mà không phải là những nghĩa vụ đạo đức thuần túy Cụ thể có nhữngtrường hợp sau:

Người có nghĩa vụ nuôi dưỡng và người để lại thừa kế có quan hệ con

và cha mẹ - người để lại thừa kế là cha mẹ của họ

Khoản 2 Điều 36 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định vềbổn phận của con là phải chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ trong mọi trường hợpbất luận tình trạng kinh tế, sức khỏe, cha mẹ thế nào Trên cơ sở nghĩa vụ nuôidưỡng của con đối với cha mẹ thì có nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha

mẹ, quy định tại Điều 57 Khi cha mẹ không có khả năng lao động do già yếu,

ốm đau, tàn tật , cha mẹ không có tài sản để tự nuôi mình mà con và cha mẹkhông cùng chung sống Con phải có khả năng về kinh tế đủ để bảo đảm cuộcsống của chính mình Do đó về nguyên tắc, nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹchỉ đặt ra đối với con đã thành niên Khi con vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡngcha mẹ tại Điều 26 và Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sẽ khôngđược quyền hưởng di sản cha mẹ để lại

Người có nghĩa vụ nuôi dưỡng và người để lại thừa kế có quan hệ cha

mẹ và con - người để lại thừa kế là con của họ

Cha mẹ chỉ có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái khi con chưathành niên hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự,

Trang 40

không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi sống mình Nếucha mẹ vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng trên của mình đối với con cái thì sẽkhông được hưởng di sản của con để lại Trong trường hợp, con đã thành niên,không tàn tật mà có di chúc thì cha mẹ luôn là người được hưởng di sản Chỉđặt ra vấn đề tước quyền hưởng di sản đối với trường hợp con đã đủ 15 tuổi

mà chưa đủ 18 tuổi hoặc con đã thành niên mà bị tàn tật Khi cha mẹ vì những

lý do nhất định mà không trực tiếp nuôi dưỡng con thì có nghĩa vụ cấp dưỡngcho con Nếu cha mẹ không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng con trong nhữngtrường hợp có nghĩa vụ nêu trên thì sẽ bị tước quyền hưởng di sản

Người có nghĩa vụ nuôi dưỡng và người để lại thừa kế có quan hệ anh, chị, em - người để lại thừa kế là anh chị em của họ

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 tại Điều 48

và 58 thì anh, chị, em có nghĩa vụ nuôi dưỡng và cấp dưỡng nhau trong một

số trường hợp như: không còn cha mẹ hoặc còn cha mẹ nhưng cha mẹ thực tếkhông có khả năng thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng giáo dục con cái trong một

số trường hợp như cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, bị tàn tật, đau yếu màhạn chế hay không còn khả năng lao động Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh chị

em với nhau phát sinh trong trường hợp không sống chung và không có cấpdưỡng từ phía bố mẹ và thuộc những trường hợp đặc biệt như: chưa thànhniên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi sống mình.Nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ thực hiện khi người cấp dưỡng là người đã thành niên

và có khả năng kinh tế Vậy khi anh, chị, em vi phạm nghĩa vụ này thì sẽkhông được hưởng phần di sản do người bị vi phạm nghĩa vụ để lại

Người có nghĩa vụ nuôi dưỡng và người để lại thừa kế có quan hệ ông

bà và cháu - người để lại thừa kế là ông, bà của họ hoặc là cháu của họ

Theo pháp luật quy định thì cháu có nghĩa vụ phụng dưỡng ông bà.Ông bà có nghĩa vụ nuôi dưỡng chăm sóc cháu theo khi cháu chưa thành niênhoặc đã thành niên nhưng tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả

Ngày đăng: 04/11/2020, 15:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w