Thực tế công táckiểm tra, xử lý văn bản QPPL trong thời gian qua cho thấy, mặc dù đã pháthiện khá nhiều văn bản QPPL do chính quyền địa phương ban hành trái luật,gây hậu quả nghiêm trọng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRƯƠNG THỊ PHƯƠNG LAN
KIỂM TRA VÀ XỬ LÝ VĂN BẢN QUY PHẠM
PHÁP LUẬT
DO CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG BAN HÀNH
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc
Hµ néi - 2007
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRƯƠNG THỊ PHƯƠNG LAN
KIỂM TRA VÀ XỬ LÝ VĂN BẢN QUY PHẠM
PHÁP LUẬT
DO CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG BAN HÀNH
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Minh Hương
Hµ néi - 2007
Trang 3Chương 1: Những vấn đề cơ bản về kiểm tra, xử lý văn bản quy 7
phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành
1.1 Khái quát về văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền 7
địa phương ban hành
1.1.1 Khái niệm, vai trò, ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật 71.1.2 Thẩm quyền ban hành, hình thức và nội dung của văn bản 11
quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành
1.2 Hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật do 14
chính quyền địa phương ban hành
1.2.1 Hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật 141.2.1.1 Khái niệm và vai trò của kiểm tra văn bản quy phạm pháp 14
pháp luật
Trang 41.2.2.2 Các nguyên tắc xử lý văn bản trái pháp luật 281.2.2.3 Thẩm quyền xử lý văn bản quy phạm pháp luật do chính 29
quyền địa phương ban hành
1.2.3 Thủ tục kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật 34
Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm 39
pháp luật do chính quyền địa phương ban hành
2.1 Thực tiễn soạn thảo, ban hành và quản lý văn bản quy 39
phạm pháp luật của chính quyền địa phương
2.2 Quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động kiểm tra và 44
xử lý văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa
phương ban hành
2.2.1 Quy định pháp luật về tổ chức bộ máy của các cơ quan 48
kiểm tra văn bản
2.2.2 Quy định pháp luật về nghiệp vụ kiểm tra và xử lý văn bản 502.2.3 Quy định của pháp luật về các điều kiện bảo đảm cho hoạt 51
động kiểm tra
2.3 Thực trạng hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm 51
pháp luật do chính quyền địa phương ban hành
2.3.3 Về đội ngũ cán bộ công chức làm công tác kiểm tra, xử lý 56
văn bản quy phạm pháp luật
Trang 5động kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành
3.1 Phương hướng và quan điểm nâng cao chất lượng hoạt 74
động kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật do chính
quyền địa phương ban hành
3.2 Các giải pháp hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động 77
kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền
địa phương ban hành
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6CÁC VĂN BẢN, NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG
1 Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội.
2 Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3 Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC
4 Bộ Nội vụ - Văn phòng Chính phủ (2005), Thông tư liên tịch số 55/2005/ TTLT-BNV-VPCP ngày 06/5 hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản, Hà
Nội
5 Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp (2004), Thông tư liên tịch số
109/2004/TTLT-BTC-BTP ngày 17/11 hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.
6 Bộ Tư pháp (2004), Thông tư số 01/2004/TT-BTP ngày 16/6 về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 135/2003/NĐ-CP về kiểm tra và xử
lý văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.
7 Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ (2005), Thông tư liên tịch số BTP-BNV ngày 24/01 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 122/2004/ NĐ-CP ngày 18/5/2004 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức pháp chế các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
01/2005/TTLT-và doanh nghiệp nhà nước, Hà Nội.
8 Chính phủ (1997), Nghị định số 94/CP ngày 06/9 về tổ chức pháp chế ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hà Nội.
Trang 79 Chính phủ (1997), Nghị định số 101/NĐ-CP ngày 23/9 quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.
10 Chính phủ (2003), Quyết định số 909/2003/QĐ-TTg ngày 14/8 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình đổi mới công tác xây dựng, ban hành và nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.
11 Chính phủ (2003), Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11 về kiểm tra
và xử lý văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.
12 Chính phủ (2004), Nghị định số 104/2004/NĐ-CP ngày 23/3 về Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội.
13 Chính phủ (2004), Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4 về công tác văn thư, Hà Nội.
14 Chính phủ (2004), Nghị định số 122/2004/NĐ-CP ngày 18/5 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức pháp chế các Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và doanh nghiệp nhà nước, Hà Nội.
15 Chính phủ (2005), Chỉ thị số 32/2005/CT-TTg ngày 10/10 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.
16 Chính phủ (2005), Nghị định số 161/2005/NĐ-CP ngày 27/12 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.
17 Chính phủ (2006), Nghị định số 91/2006/NĐ-CP ngày 06/9 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Hà Nội.
18 Quốc hội (1980), Hiến pháp, Hà Nội.
Trang 819 Quốc hội (1992), Hiến pháp, Hà Nội.
20 Quốc hội (1996), Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.
21 Quốc hội (2001), Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Hà Nội.
22 Quốc hội (2001), Luật Tổ chức Quốc hội, Hà Nội.
23 Quốc hội (2002), Luật số 02/2002/QH11 ngày 16/12 về sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.
24 Quốc hội (2003), Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Hà
27. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2005), Nghị quyết số 753/2005/NQ- UBTVQH11
ngày 02/4 ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân, Hà Nội.
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC
28 Bộ Tư pháp (2006), Báo cáo số 372/BC-BTP ngày 20/02 về tình hình soạn
thảo, ban hành và kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.
29 Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật - Bộ Tư pháp (2005), Báo cáo
số 152/BC-KTrVB ngày 30/11 về kết quả công tác năm 2005 và phương hướng nhiệm vụ năm 2006 của Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội.
30 Bùi Thị Đào (2002), "Giám sát, kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp
luật", Nghiên cứu lập pháp, (9), tr 47-51.
Trang 931 Trương Thị Hồng Hà (2005), "Nâng cao chất lượng ban hành văn bản quy
phạm pháp luật của chính quyền địa phương", Nhà nước và pháp luật, (1), tr
10-15
32 Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (1993), Nxb Thuận Hóa, Huế.
33 Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật (2001), Nxb Đại học quốc gia
Hà Nội
34 Hoàng Thị Ngân (2003), "Nội dung giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm
pháp luật", Nghiên cứu lập pháp, (9), tr 55-58.
35 Quốc triều hình luật (1991), Nxb Pháp lý, Hà Nội.
36 Sở Tư pháp - Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng (2006), Báo cáo số 145/BC-STP ngày 29/12 về tình hình soạn thảo, ban hành và kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật năm 2006 của Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Đà Nẵng.
37 Sở Tư pháp - Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2006), Báo cáo số
481/BC-STP ngày 20/12 về tình hình soạn thảo, ban hành và kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật 10 tháng đầu năm 2006, Thanh Hóa.
38 Nguyễn Kim Thảm, Hồ Hải Thụy, Nguyễn Đức Dương (2005), Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh.
39 Nguyễn Văn Thâm (2001), Soạn thảo và xử lý văn bản quản lý nhà nước,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
40. Lưu Kiếm Thanh (2002), Kỹ thuật soạn thảo văn bản, Nxb Thống kê, Hà Nội.
41 Lê Minh Thông, Nguyễn Như Phát (2002), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về Chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội
42 Vũ Thư (2003), "Tính hợp pháp và hợp lý của văn bản pháp luật và các
biện pháp xử lý các khiếm khuyết của nó", Nhà nước và pháp luật,
(1), tr 8-15
Trang 1043 Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002), Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội.
44 Đào Trí Úc (1997) Nhà nước và pháp luật của chúng ta trong thời đại mới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
45 Đào Trí Úc (Chủ biên) (2003), Hương ước trong quá trình thực hiện dân chủ ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
46 Đào Trí Úc - Võ Khánh Vinh (Đồng chủ biên) (2003), Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội
47 Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang (2006), Báo cáo số 78/BC-UBND ngày 29/12 về tình hình soạn thảo, ban hành và kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật năm 2006, Bắc Giang.
48 Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định (2006), Báo cáo số 78/BC-UBND ngày 23/12 về tình hình soạn thảo, ban hành và kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, Bình Định.
49 Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2007), Báo cáo về tình hình soạn thảo, ban hành và kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật của thành phố Hà Nội năm 2005, năm 2006 và 6 tháng đầu năm 2007, Hà Nội.
50 Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng (2007), Báo cáo số 02/BC-UB ngày 06/01 về công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật năm 2006 tại thành phố Hải Phòng, Hải Phòng.
51 Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa (2007), Báo cáo số 08/UBND ngày 13/01 về tình hình ban hành và kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật năm
2006, Khánh Hòa.
52 Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La (2006), Báo cáo số 171/BC-UBND ngày 29/12 về công tác ban hành, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật năm 2006, Sơn
La
Trang 1153 Viện kiểm sát nhân dân tối cao (1999), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát năm 1999, Hà Nội.
54 Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2000), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát năm 2000, Hà Nội.
55 Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2001), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát năm 2001, Hà Nội.
56 Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2002), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát năm 2002, Hà Nội.
57 Võ Khánh Vinh (2004), Giáo trình Xây dựng pháp luật, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội
Trang 12danh môc tõ viÕt t¾t
ñy ban nh©n d©n
ñy ban Th-êng vô Quèc héi
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là chủ trương lớncủa Đảng và Nhà nước ta, điều đó đã được thể chế tại Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001): "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân" (Điều 2) Một trong
những tiêu chí rất quan trọng của nhà nước pháp quyền là phải có một hệthống pháp luật hoàn thiện để quản lý thống nhất nhà nước và xã hội, đặc biệttrong điều kiện hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tếquốc tế, xây dựng nền kinh tế thị trường và phát huy dân chủ thì vấn đề xâydựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật càng trở nên cần thiết Những năm trở lạiđây, công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) cónhững chuyển biến tích cực, chất lượng văn bản QPPL ngày càng được nângcao Tuy vậy, trong thực tế, vẫn tồn tại tình trạng văn bản mâu thuẫn, chồngchéo, không phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, không phù hợp với cácquy định của văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn
Luật ban hành văn bản QPPL năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002),Luật Ban hành văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy bannhân dân (UBND) năm 2004 là những cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạtđộng soạn thảo, ban hành văn bản QPPL của các cơ quan nhà nước và chínhquyền địa phương nhằm bảo đảm trật tự, kỷ cương trong công tác xây dựngvăn bản QPPL nói chung và công tác kiểm tra nói riêng Thực tế công táckiểm tra, xử lý văn bản QPPL trong thời gian qua cho thấy, mặc dù đã pháthiện khá nhiều văn bản QPPL do chính quyền địa phương ban hành trái luật,gây hậu quả nghiêm trọng về vật chất, vi phạm các quyền và lợi ích hợp phápcủa công dân… Tuy nhiên, công tác giám sát, kiểm tra văn bản QPPL và xử
lý văn bản trái pháp luật vẫn chưa thực sự được chú trọng một cách đúng
Trang 14mức, công tác kiểm tra văn bản chưa được tiến hành thường xuyên, thiếu quyđịnh trong việc thực hiện, triển khai công việc; việc bố trí đội ngũ cán bộ, côngchức và tổ chức bộ máy phục vụ cho kiểm tra văn bản chưa đáp ứng được yêucầu, nhiệm vụ đặt ra, dẫn đến tình trạng "thả lỏng" việc kiểm tra văn bản trongmột thời gian dài, khi Viện Kiểm sát còn thực hiện chức năng kiểm sát chung.Ngày 25/12/2001, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số51/2001/QH10, theo đó, Viện kiểm sát không còn thực hiện chức năng kiểm sátviệc tuân theo pháp luật đối với văn bản QPPL của cấp Bộ và chính quyền địaphương ban hành Nhiệm vụ này đã được chuyển giao hoàn toàn cho các cơquan hành chính nhà nước Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 về kiểm tra và xử lý văn bản QPPL Đến nay, Nghịđịnh này là căn cứ pháp lý chủ yếu để kiểm tra và xử lý văn bản QPPL do bộ,ngành và địa phương ban hành Đây là một bước chuyển trong công tác kiểm travăn bản bởi nếu không kịp thời đưa ra các quy định để nâng cao chất lượng hoạtđộng kiểm tra, xử lý văn bản QPPL do chính quyền địa phương ban hành sẽ khó
có thể hạn chế những khiếm khuyết, thiệt hại do văn bản trái luật gây ra và mụcđích đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản QPPL, gópphần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam cũng sẽ khó thực hiện hơn Thực tếcho thấy, hệ thống văn bản pháp luật của chúng ta chưa thực sự hoàn chỉnh, cònchồng chéo, mâu thuẫn Công tác lập quy nhằm cụ thể hóa và triển khai thựchiện luật chưa nhanh chóng, hiệu quả Nghị định của Chính phủ chưa cụ thể đểchấp hành, vẫn tồn tại hiện tượng chờ văn bản hướng dẫn Trước nhu cầu quản
lý, số lượng văn bản QPPL của chính quyền địa phương, nhất là cấp tỉnh banhành ngày càng nhiều, do đó khả năng tồn tại mâu thuẫn, chồng chéo, không phùhợp với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, thậm chí vi phạm pháp luật làkhó tránh khỏi
Từ những điểm đã phân tích trên đây, tác giả cho rằng việc nghiên cứu
đề tài: "Kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành ở nước ta hiện nay" trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận và
thực tiễn nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản QPPL
Trang 15là hoàn toàn cần thiết, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn quản lý nhà nướchiện nay.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, nghiên cứu về công tác văn bản nói chung thì
có rất nhiều đề tài nghiên cứu cấp bộ, cấp sở, các cuộc hội thảo khoa học và
nhiều bài viết trên các báo, tạp chí như: Đề tài "Đổi mới và nâng cao công tác văn bản ở Hà Nội" - Đề tài nghiên cứu khoa học của Sở Tư pháp Hà Nội; bài
của Thạc sĩ Trương Thị Hồng Hà - Khoa Nhà nước - pháp luật, Học Viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: "Nâng cao chất lượng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của vhính quyền địa phương" đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1/2005; bài viết của PGS.TS Vũ Thư: "Tính hợp pháp
và hợp lý của văn bản pháp luật và các biện pháp xử lý các khiếm khuyết của nó"; hay như bài của ThS Bùi Thị Đào: "Giám sát, kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 9, tháng 9/2002; Bài "Văn bản quy phạm pháp luật: Hiểu như thế nào cho đúng" của
TS Nguyễn Anh Sơn - Phó Vụ trưởng Vụ pháp chế Bộ Công nghiệp và TS
Lê Thị Thu Thủy - Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội đăng trên tạp chíNghiên cứu lập pháp, số 5 (75), tháng 5/2006,… Tuy nhiên, việc nghiên cứuchuyên sâu về kiểm tra, xử lý văn bản QPPL trong thực tiễn hiện nay theo cácquy định hiện hành thì chưa có một công trình nghiên cứu nào mang tính hệ
thống, toàn diện về vấn đề này Vì vậy, tác giả xin chọn đề tài "Kiểm tra, xử
lý văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành ở nước ta hiện nay" làm đề tài Luận văn cao học.
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
cơ bản và thực tiễn kiểm tra, xử lý văn bản QPPL do chính quyền địa phươngban hành; trên cơ sở đó đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chấtlượng của hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản QPPL do chính quyền địaphương ban hành
Trang 16Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên đây, luận văn có các nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về văn bản QPPL nói chung vàvăn bản QPPL do chính quyền địa phương ban hành nói riêng để làm cơ sở choviệc nghiên cứu đối tượng của hoạt động kiểm tra;
- Nghiên cứu cơ sở pháp lý và thực trạng hoạt động kiểm tra, xử lývăn bản thông qua phương thức tự kiểm tra văn bản do cơ quan mình ban hành vàkiểm tra văn bản QPPL của các cơ quan khác theo thẩm quyền để đưa ra đánh giánhững mặt đạt và chưa đạt trong công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL;
- Xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản QPPL trên cơ sở đềxuất những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểmtra, xử lý văn bản QPPL do chính quyền địa phương ban hành ở nước ta trong giaiđoạn hiện nay
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành trên tinh thần Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ về kiểm
tra và xử lý văn bản QPPL và Thông tư số 01/2004/TT-BTP ngày 16/6/2004của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý vănbản QPPL, nghĩa là đi sâu tìm hiểu nghiệp vụ của các cơ quan, cá nhân cóthẩm quyền trong hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản QPPL do chính quyền địaphương (gồm HĐND và UBND) ban hành
4 Nội dung nghiên cứu chính của luận văn
Trên cơ sở các nhiệm vụ đã đề ra, luận văn tập trung nghiên cứu một
số nội dung cơ bản sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về kiểm tra và cơ chế kiểm tra vănbản QPPL như: khái niệm kiểm tra văn bản QPPL, phân biệt kiểm tra và một
4
Trang 17số hoạt động tương tự, chủ thể và đối tượng của hoạt động kiểm tra, nội dungkiểm tra văn bản để tùy từng trường hợp sẽ đưa ra hướng xử lý văn bản chophù hợp;
- Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về kiểm tra
và xử lý văn bản để đề xuất hướng hoàn thiện các văn bản nhằm nâng cao hiệuquả của công tác này trong thực tiễn;
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động kiểm tra và xử lý văn bảnQPPL do chính quyền địa phương ban hành, cụ thể là đánh giá thực trạng công táckiểm tra văn bản QPPL của chính quyền địa phương; đồng thời xem xét về tổ chức
bộ máy, nhân sự hoạt động trong lĩnh vực kiểm tra văn bản Từ đó, đề ra một sốgiải pháp nhằm xây dựng bộ máy, củng cố đội ngũ làm công tác kiểm tra văn bản;
- Nghiên cứu phương thức, trình tự, thủ tục kiểm tra, các điều kiệnbảo đảm phục vụ cho hoạt động kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyềnkiểm tra văn bản QPPL
5 Cơ sở phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở sử dụng phương pháp luậnkhoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩaduy vật biện chứng), tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chủ trươngcủa Đảng Cộng sản Việt Nam về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhànước trong lĩnh vực ban hành, kiểm tra và xử lý văn bản QPPL Bên cạnh đó,nội dung của Luận văn được trình bày trên cơ sở tự nghiên cứu, kinh nghiệmthực tiễn của giáo viên hướng dẫn, các đồng nghiệp và của bản thân trong quátrình làm việc ở lĩnh vực quản lý nhà nước về công tác văn bản, với sự thamkhảo các văn bản pháp luật, tài liệu của một số tác giả trong và ngoài nước
6 Những đóng góp về khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn đề cập khá toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn củacông tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL trong bối cảnh Việt Nam đang từng
Trang 18bước nỗ lực xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiệnquản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế Với nhữngkết quả mà luận văn đạt được, tác giả hy vọng sẽ góp một phần nhỏ vào việcnâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản QPPL
do chính quyền địa phương ban hành ở nước ta trong giai đoạn hiện nay,cũng như góp phần làm phong phú lý luận về kiểm tra, xử lý văn bản QPPLnói chung, văn bản QPPL do chính quyền địa phương ban hành nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm
pháp luật do chính quyền địa phương ban hành
Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm
pháp luật do chính quyền địa phương ban hành
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa
phương ban hành
Trang 19Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN
VỀ KIỂM TRA, XỬ LÝ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT DO
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG BAN HÀNH
1.1 KHÁI QUÁT VỀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT DO CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG BAN HÀNH
1.1.1 Khái niệm, vai trò, ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật
Khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình, chínhquyền địa phương đã sử dụng pháp luật làm công cụ để quản lý, điều hànhmọi hoạt động của các cơ quan, tổ chức và công dân trong địa phương Trên
cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật, các văn bản dưới luật và văn bản của cấptrên, chính quyền địa phương trong phạm vi thẩm quyền của mình ban hànhcác văn bản QPPL để điều chỉnh các quan hệ xã hội ở địa phương theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa
Với tư cách là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, văn bản QPPLnói chung có vai trò đặc biệt quan trọng trong đảm bảo sự ổn định và pháttriển năng động của xã hội Điều đó được quy định tại Điều 12 Hiến pháp
1992 của nước ta: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừngtăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Mọi hành động xâm phạm lợi ích củaNhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lýtheo pháp luật"
Theo Luật ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND được Quốchội khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03/12/2004, có hiệu lực từ ngày01/4/2005, văn bản QPPL của HĐND, UBND (văn bản QPPL của chínhquyền địa phương), được hiểu như sau:
Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy
Trang 20ban nhân dân là văn bản do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Luật này quy định, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực trong phạm vi địa phương, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội ở địa phương theo định hướng xã hội chủ nghĩa [20,
Điều 1]
Quan niệm về văn bản QPPL của chính quyền địa phương như vậytương đồng trên những nét cơ bản với quy định về văn bản QPPL của các cơquan Trung ương được quy định trong Luật Ban hành văn bản QPPL năm
1996, được sửa đổi, bổ sung năm 2002: "Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa" [23, Điều 1].
Căn cứ vào tính chất pháp lý, văn bản quản lý nhà nước có thể đượcchia thành ba loại: Văn bản QPPL, văn bản cá biệt (hay còn gọi là văn bản ápdụng pháp luật) và văn bản hành chính thông thường
Ba loại văn bản trên có sự khác nhau cơ bản, đó là: Văn bản QPPL đề
ra các quy tắc xử sự chung, được áp dụng nhiều lần trong thực tiễn đời sống
và việc thực hiện văn bản đó không làm chấm dứt hiệu lực của nó; Văn bản cábiệt được ban hành dựa trên cơ sở văn bản QPPL, áp dụng văn bản QPPL đểgiải quyết những việc cụ thể, đối với đối tượng cụ thể, trong lĩnh vực cụ thể,như: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Quyết định khen thưởng, kỷluật, … Văn bản hành chính thông thường là những văn bản mang tính thôngtin, điều hành nhằm thực thi các văn bản QPPL hoặc dùng để giải quyết cáccông việc cụ thể, phản ánh tình hình, giao dịch, trao đổi, ghi chép công việctrong các cơ quan, tổ chức, như: các loại công văn, kế hoạch, báo cáo, Cácloại văn bản trên có mối quan hệ ràng buộc với nhau Trong đó văn bản QPPLđóng vai trò quan trọng, là cơ sở cho việc ban hành các văn bản cá biệt (áp
Trang 21dụng pháp luật) hoặc các loại văn bản, giấy tờ hành chính khác.
Việc phân biệt ba loại văn bản trên có ý nghĩa trong công tác ban hànhcũng như kiểm tra, xử lý văn bản Vì hiện nay, có một số cơ quan, đơn vị còn có
sự nhận thức chưa đúng và đầy đủ về văn bản QPPL, không phân biệt được vănbản QPPL với các loại văn bản khác, dẫn đến ban hành và quản lý văn bản sai
Tuy hiện nay khái niệm về văn bản QPPL chưa được quy định rõràng, còn trừu tượng, nhưng nhìn chung văn bản QPPL có những đặc trưng
Tuy nhiên, không phải tất cả văn bản do cơ quan nhà nước ban hànhđều là văn bản QPPL (ví dụ: Thông báo kết luận cuộc họp của UBND; Côngvăn; Kế hoạch,… chỉ là loại văn bản hành chính thông thường) và không phảibất kỳ cơ quan nhà nước nào cũng được ban hành văn bản QPPL mà chỉ các
cơ quan nhà nước được luật quy định mới có quyền ban hành văn bản QPPL
Theo Luật Ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND được Quốchội khóa XI kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03/12/2004 thì: văn bản QPPL củachính quyền địa phương phải là văn bản do HĐND ban hành theo hình thứcNghị quyết và UBND ban hành theo hình thức quyết định, chỉ thị
Thứ hai: Văn bản quy phạm pháp luật có chứa đựng các quy tắc xử
sự chung.
Văn bản QPPL phải là văn bản có chứa đựng các quy tắc xử sự chung.Nghĩa là những quy tắc không xác định cho các chủ thể cụ thể, mà xác địnhchung cho bất cứ ai ở vào hoàn cảnh quy định sẽ phải tuân theo Khác với cácquy tắc xử sự cá biệt trong các văn bản áp dụng pháp luật, chỉ khi có sự kiện
Trang 22pháp lý xảy ra mới xác định chủ thể.
Những văn bản tuy có tên gọi và do cơ quan nhà nước ban hànhnhưng không chứa đựng các QPPL, quy tắc xử sự chung thì không phải làvăn bản QPPL, như: Nghị quyết về miễn nhiệm, bãi nhiệm đại biểu HĐND
và các chức vụ khác; nghị quyết phê chuẩn kết quả bầu cử đại biểu HĐND;quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội của đơn vị hànhchính địa phương, quy hoạch ngành; quyết định xử lý vi phạm hành chính…
Thứ ba: Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần.
Nếu như một văn bản áp dụng pháp luật chỉ được áp dụng một lầntrên thực tế và sau khi áp dụng nó tự mất đi hiệu lực thì văn bản QPPL được
áp dụng nhiều lần, trong mọi trường hợp khi có sự kiện pháp lý xảy ra Saumỗi lần áp dụng văn bản QPPL không mất đi hiệu lực Nó chỉ bị mất hiệu lựckhi có văn bản QPPL mới thay thế, hủy bỏ, bãi bỏ
Thứ tư: Tên gọi, nội dung và trình tự ban hành văn bản quy phạm pháp luật được quy định cụ thể trong luật.
Trong các loại văn bản quản lý nhà nước hiện nay mới chỉ có văn bảnQPPL là được quy định rõ về hình thức (tên gọi) tương ứng với nội dung vănbản, cũng như trình tự, thủ tục soạn thảo, ban hành một cách cụ thể bằng mộtvăn bản luật, đó là Luật Ban hành văn bản QPPL năm 1996, đã được sửa đổi,
bổ sung năm 2002 (gọi tắt là luật của Trung ương) và Luật ban hành văn bảnQPPL của HĐND, UBND năm 2004 (gọi tắt là luật của chính quyền địaphương) Việc ban hành văn bản QPPL của chính quyền địa phương đượcquy định tương đối rõ ràng các bước ban hành, từ giai đoạn sáng kiến banhành, tổ chức soạn thảo dự thảo, lấy ý kiến đóng góp, ý kiến thẩm định đếnviệc thảo luận, biểu quyết thông qua văn bản
Thứ năm: Văn bản QPPL được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế.
Trang 23Đây là đặc trưng cơ bản để phân biệt văn bản QPPL với các văn bảnthông thường khác của các cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội không có thẩmquyền ban hành văn bản QPPL Văn bản QPPL được Nhà nước bảo đảm thihành bằng các biện pháp như: tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục và các biệnpháp khác về tổ chức, hành chính, kinh tế; trong trường hợp cần thiết thì Nhànước áp dụng các biện pháp cưỡng chế bắt buộc thi hành và quy định chế tài
áp dụng đối với người có hành vi vi phạm
Các văn bản QPPL do chính quyền địa phương ban hành cũng mangđầy đủ các yếu tố đặc trưng của một văn bản QPPL: chứa đựng các quy tắc
xử sự chung, được áp dụng nhiều lần và mang tính bắt buộc đối với nhóm đốitượng mà văn bản đó điều chỉnh Điểm khác với các văn bản QPPL của các
cơ quan trung ương đó là văn bản QPPL của chính quyền địa phương chỉ cóhiệu lực trong phạm vi địa phương đó
1.1.2 Thẩm quyền ban hành, hình thức và nội dung của văn bản QPPL do chính quyền địa phương ban hành
Ở nước ta, khái niệm "chính quyền địa phương" được dùng thôngdụng kể từ sau khi thành lập chính quyền nhân dân Khái niệm này chỉ hai loại cơquan: HĐND và UBND
Theo quy định của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 thìHĐND và UBND được tổ chức ở các đơn vị hành chính sau đây:
a) Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh);b) Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện);c) Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) [24, Điều 4]
Như vậy, HĐND và UBND được thành lập ở cả 3 cấp Để thực hiệnchức năng, nhiệm vụ của mình tại địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo,quản lý thống nhất trong bộ máy nhà nước từ Trung ương đến cơ sở, HĐND,UBND ở cả 3 cấp được Nhà nước trao cho thẩm quyền ban hành văn bản
Trang 24HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ýchí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phươngbầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấptrên [24, Điều 1] Quyền lực của HĐND được giới hạn trong phạm vi đơn vịhành chính - lãnh thổ Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, HĐNDban hành Nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiếnpháp và pháp luật ở địa phương
UBND với tư cách là cơ quan chấp hành và hành chính nhà nước tạiđịa phương UBND là cơ quan quản lý có thẩm quyền chung, thực hiện chứcnăng quản lý toàn diện theo lãnh thổ đối với mọi ngành, lĩnh vực thuộc địaphương, đảm bảo thi hành pháp luật, các quy định của cấp trên và HĐNDcùng cấp; giám sát thi hành pháp luật đối với các cơ quan đóng tại địa bàntrong phạm vi thẩm quyền về những vấn đề thuộc thẩm quyền quản lý theolãnh thổ UBND trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy địnhđược ban hành các quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những vănbản này
Cần phân biệt và hiểu rõ về thẩm quyền ban hành văn bản QPPL củaHĐND, UBND Trước đây, ở một số địa phương đã có tình trạng các cơquan chuyên môn thuộc UBND tự mình hoặc được UBND ủy quyền banhành văn bản QPPL Điều đó không đúng, vì theo quy định của pháp luật thì:
"Các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân chỉ là cơ quan tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của ủy ban nhân dân cùng cấp và theo quy định của pháp luật; …" [24, Điều 128] và Luật ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND năm 2004 không quy định
cho các cơ quan chuyên môn thuộc UBND được ban hành văn bản QPPL
Về hình thức văn bản QPPL
Trang 25Với tầm quan trọng của văn bản QPPL nên việc ban hành loại văn bảnnày phải tuân theo một quy trình hết sức chặt chẽ Mỗi cơ quan quản lý nhànước theo thẩm quyền luật định được ban hành một số hình thức văn bảnnhất định Các văn bản đó có tên gọi và được trình bày theo một cơ cấu dopháp luật quy định Theo quy định của pháp luật hiện hành thì HĐND đượcban hành văn bản QPPL dưới một hình thức duy nhất là: Nghị quyết; cònUBND được ban hành: Quyết định, Chỉ thị [25, Điều 1] Điều đó có nghĩa làngoài những hình thức nêu trên, HĐND, UBND không được ban hành vănbản có chứa đựng QPPL dưới bất kỳ một hình thức nào khác.
Về nội dung của văn bản QPPL
Nội dung của văn bản QPPL do chính quyền địa phương ban hànhđược quy định cụ thể trong Điều 2 Luật ban hành văn bản QPPL của HĐND,UBND năm 2004 Có thể khái quát như sau:
Nghị quyết của HĐND được ban hành để quyết định những chủ
trương, chính sách, biện pháp trong các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằmbảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên;
Quyết định của UBND được ban hành để thực hiện chủ trương, chính sách, biện pháp trong các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm bảo đảm
thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên;
Chỉ thị của UBND được ban hành để quy định biện pháp chỉ đạo,
phối hợp hoạt động, đôn đốc và kiểm tra hoạt động của cơ quan, đơn vị trựcthuộc và của HĐND, UBND cấp dưới trong việc thực hiện văn bản của cơquan nhà nước cấp trên, của HĐND cùng cấp và quyết định của mình
Tuy nhiên, các quy định của pháp luật hiện hành vẫn chưa quy địnhmột cách cụ thể về thẩm quyền ban hành văn bản QPPL của chính quyền địaphương Sau những quy định mang tính chất chung của Hiến pháp, Luật tổchức HĐND, UBND; thì Luật ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBNDnăm 2004 đã nói rõ hơn về thẩm quyền ban hành Nghị quyết của HĐND và
Trang 26thẩm quyền ban hành Quyết định, Chỉ thị của UBND Song vẫn chưa cụ thể,trên thực tế khi thực hiện thẩm quyền ban hành văn bản QPPL, chính quyềnđịa phương rất khó khăn trong việc xác định khi nào, lĩnh vực nào thì banhành quyết định hoặc chỉ thị Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mìnhUBND chỉ dựa trên tính chất, đặc điểm của loại văn bản Quyết định, Chỉ thị
để ban hành văn bản QPPL cho phù hợp
1.2 HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, XỬ LÝ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT DO CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG BAN HÀNH
1.2.1 Hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
1.2.1.1 Khái niệm và vai trò của kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
Trong từng giai đoạn phát triển của đất nước, văn bản QPPL với vaitrò là một công cụ không thể thiếu đã có những đóng góp quan trọng để Nhànước thực hiện chức năng quản lý của mình Tuy nhiên, bên cạnh nhữngthành quả đã đạt được còn có những hạn chế trong việc ban hành, áp dụngvăn bản trong thực tế đời sống Một số bộ, ngành và địa phương đã ban hànhkhông ít các văn bản QPPL có nội dung sai trái, vi phạm pháp luật nghiêmtrọng, có những trường hợp gây hậu quả về mặt vật chất cho Nhà nước vànhân dân, làm giảm lòng tin của nhân dân vào chính quyền Do vậy, cần phải
có cơ chế về hoạt động kiểm tra văn bản QPPL nhằm phát hiện kịp thờinhững sai trái, vi phạm, từ đó có những biện pháp xử lý bảo đảm tính hợphiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật, từng bước lập lạitrật tự, kỷ cương, nâng cao chất lượng của công tác soạn thảo, ban hành vănbản QPPL của các bộ, ngành và địa phương Việc đảm bảo chất lượng vănbản cũng góp phần đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; đặc biệt làđối với hoạt động quản lý nhà nước của các cấp chính quyền địa phươngtrong giai đoạn đổi mới hiện nay
Như vậy, hoạt động kiểm tra văn bản QPPL có ý nghĩa phục vụ trực
Trang 27tiếp cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Bởi vì, kiểm tra vănbản QPPL có mục đích là phát hiện những khiếm khuyết của văn bản như:nội dung trái pháp luật, ban hành trái thẩm quyền, hình thức không đúng, nộidung không phù hợp với thực tế khách quan… Từ việc phát hiện nhữngkhiếm khuyết trên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ kịp thời đình chỉthi hành, hủy bỏ, bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung các văn bản khiếm khuyết nhằmđảm bảo tính hợp pháp, hợp lý và tính thống nhất của hệ thống văn bảnQPPL.
Đồng thời, kiểm tra văn bản QPPL là cơ chế hữu hiệu để tìm ranguyên nhân và điều kiện dẫn tới những khiếm khuyết của văn bản QPPL, từ
đó có giải pháp khắc phục phù hợp, kịp thời
Hoạt động kiểm tra văn bản QPPL còn là cơ chế đảm bảo dân chủ, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức - đối tượng chịu sự tácđộng của văn bản khiếm khuyết Mặt khác, hoạt động kiểm tra văn bản QPPLcòn góp phần tích cực, tạo tiền đề quan trọng cho công tác rà soát, tập hợphóa, hệ thống hóa và pháp điển hóa pháp luật
Ngoài ra, hoạt động kiểm tra văn bản QPPL còn bảo đảm tính kỷ luậttrong công tác xây dựng văn bản QPPL, đòi hỏi các chủ thể có thẩm quyền banhành văn bản QPPL có trách nhiệm hơn, nghiêm túc hơn trong hoạt động xâydựng văn bản QPPL, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực của văn bản đó
Với ý nghĩa và tầm quan trọng như vậy nên trước khi sửa đổi Hiếnpháp 1992; Luật sửa đổi, bổ sung Luật ban hành văn bản QPPL năm 2002 vàNghị định số 135/2003/NĐ-CP được ban hành thì hoạt động này đã được đặt
ra Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện nhiệm vụ "kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan khác thuộc
Chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã
hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất" [19, Điều
137];
Trang 28Luật Ban hành văn bản QPPL năm 1996 cũng đã quy định Viện kiểm sát nhândân đảm nhận nhiệm vụ kiểm sát văn bản QPPL của các Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ, HĐND, UBND nhằm đảm bảo các văn bản đó khôngtrái luật [20, Điều 85] Bên cạnh đó, Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quanngang Bộ; Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện kiểm tra văn bản tráipháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh [20, Điều 83, 84]
Đến năm 2001 bằng Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, trong đó
có sửa đổi, bổ sung Điều 137: bỏ chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luậtcủa Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân chỉ thực hiện chức năngthực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Theo đó, LuậtBan hành văn bản QPPL (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002) cũng đã bỏquy định (Điều 85) về thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân trong việckiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với văn bản QPPL
Như vậy, chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm sát việctuân theo pháp luật đối với văn bản QPPL (thường gọi tắt là chức năng "Kiểmsát chung") đã được bãi bỏ Vậy chức năng, thẩm quyền này được chuyểngiao cơ quan nào đảm nhận?
Kiểm tra hiểu theo nghĩa rộng bao gồm mọi hoạt động như: giám sát,kiểm tra, kiểm sát,… nhưng theo nghĩa hẹp thì thường được hiểu là sự kiểmtra của cơ quan nhà nước cấp trên đối với cấp dưới, mà chủ yếu là nói đếnkiểm tra trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước
Dựa trên các quy định của pháp luật hiện hành thì cần có sự phân biệt
rõ giữa thẩm quyền kiểm tra, thẩm quyền giám sát và thẩm quyền xử lý văn bản QPPL Khi nói chủ thể thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kiểm tra văn bản QPPL thì các chủ thể này bao gồm: Chính phủ, các Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện
(tức là chỉ các cơ quan trong hệ thống hành pháp) Nhưng khi nói đến chủ thể
Trang 29thực hiện hoạt động giám sát và xử lý văn bản QPPL nói chung sẽ bao gồm:
cơ quan lập pháp (Quốc hội), HĐND, thông qua hoạt động giám sát của mìnhxem xét, xử lý văn bản trái pháp luật, đồng thời giám sát các cơ quan hànhchính nói trên trong việc thực thi quyền kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật
Giám sát văn bản QPPL khác với kiểm tra văn bản QPPL Theo sự phân
biệt của pháp luật hiện hành thì giám sát văn bản thuộc thẩm quyền của các cơquan quyền lực nhà nước, còn kiểm tra văn bản QPPL thuộc thẩm quyền của các
cơ quan hành chính Mỗi cơ quan trong phạm vi quyền hạn của mình được xemxét, đánh giá một số văn bản nhất định Cụ thể như: Quốc hội thực hiện quyềngiám sát tối cao đối với tất cả văn bản pháp luật do mọi cơ quan nhà nước banhành [20, Điều 81]; Cơ quan quyền lực địa phương (HĐND) giám sát thông qua
hoạt động "xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp,
nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp" [24, Điều 58] và thực hiện
việc tự kiểm tra văn bản QPPL (Nghị quyết) do mình ban hành Còn cơ quan
hành chính như UBND thực hiện tự kiểm tra văn bản của mình và của cơ quanhành chính, HĐND cấp dưới Việc quy định nhiều cơ quan có quyền xem xét,đánh giá văn bản đan chéo nhau như vậy có mục đích làm cho việc xem xét,đánh giá văn bản khách quan, chính xác, kịp thời
Trong phạm vi đề tài, luận văn chỉ đi sâu vào hoạt động kiểm tra theonghĩa hẹp của các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra (Chính phủ, các Bộ vàchính quyền địa phương các cấp) đối với văn bản QPPL do chính quyền địaphương ban hành, không nghiên cứu sâu về hoạt động giám sát, xử lý văn bảncủa các cơ quan có thẩm quyền giám sát (như thẩm quyền giám sát của Quốchội, UBTVQH, HĐND)
Như vậy, khi Viện kiểm sát nhân dân không thực hiện chức năng kiểmsát chung nữa, thì trọng tâm việc xem xét, đánh giá văn bản QPPL rơi vào hệthống hành pháp Tuy hoạt động kiểm tra của các cơ quan hành chính đang đượcxây dựng một cách quy mô, bài bản hơn, nhưng cũng sẽ khó tránh khỏi
Trang 30nhược điểm đó là giảm tính khách quan trong việc kiểm tra, xử lý văn bảnQPPL do chính hệ thống của mình ban hành.
Hiện nay, hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản QPPL được quy địnhtrong một văn bản pháp lý cụ thể có tính chất chuyên sâu đó là Nghị định số135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý vănbản QPPL Nghị định đã quy định rõ về thẩm quyền cũng như trình tự, thủtục kiểm tra và xử lý đối với văn bản trái pháp luật Ở nước ta, Bộ Tư pháp là
cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác kiểm travăn bản QPPL
Kiểm tra văn bản QPPL là hoạt động hậu kiểm, tức là xem xét, đánhgiá văn bản sau khi đã được ban hành Có hai cách kiểm tra văn bản đó là:
kiểm tra trước (tiền kiểm) và kiểm tra sau (hậu kiểm) Kiểm tra trước hay
còn gọi là thẩm định văn bản đối với văn bản đang trong quá trình soạn thảo.Kiểm tra sau được thực hiện đối với văn bản đã được ban hành Việc kiểmtra trước và kiểm tra sau đều có mục đích, vai trò và ý nghĩa quan trọng, đó làhướng tới việc đảm bảo tính đúng đắn cũng như chất lượng văn bản QPPL.Tuy nhiên kiểm tra trước là hoạt động mang tính chất tham mưu, tư vấn,không là cơ sở để xác định trách nhiệm hay áp dụng chế tài đối với ngườisoạn thảo Trong khi đó, kết luận kiểm tra sau lại có ý nghĩa và giá trị pháp lý
rõ rệt Chính vì thế, việc tuyên bố một văn bản có dấu hiệu sai trái phải đượccăn cứ vào những tiêu chí rõ ràng, minh bạch và xác đáng để tránh sự tùy tiệnkhi xử lý văn bản Hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản mà luận văn này đề cập
là nội dung kiểm tra sau đối với văn bản QPPL
Dưới góc độ chuyên môn về công tác kiểm tra văn bản thì kiểm tra
văn bản QPPL có thể định nghĩa như sau: Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là việc xem xét, đối chiếu văn bản được kiểm tra với văn bản làm căn cứ pháp lý cho việc kiểm tra, đưa ra đánh giá và kết luận về tính hợp pháp của văn bản được kiểm tra nhằm phát hiện những nội dung trái pháp luật, kịp thời
Trang 31xử lý bằng các hình thức đình chỉ việc thi hành, sửa đổi, hủy bỏ hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật đó, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản trong hệ thống pháp luật.
Nghĩa là, khi thực hiện việc kiểm tra, người kiểm tra văn bản phải đốichiếu nội dung của văn bản được kiểm tra với các văn bản là cơ sở pháp lý đểxác định nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra Người kiểm traphải đánh giá toàn bộ nội dung và hình thức của văn bản được kiểm tra, cụthể như: về căn cứ pháp lý để ban hành văn bản; về thẩm quyền ban hành; vềthể thức và kỹ thuật trình bày văn bản và việc tuân thủ các thủ tục xây dựng,ban hành, công bố văn bản
Khi phát hiện nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra,người kiểm tra có quyền và trách nhiệm đề nghị cơ quan, người có thẩmquyền xử lý nội dung trái pháp luật đó theo quy định của pháp luật Bên cạnh
đó, người kiểm tra còn phải kiến nghị xem xét trách nhiệm của cơ quan,người đã ban hành văn bản, cũng như cơ quan, người đã tham mưu, trìnhvăn bản có nội dung trái pháp luật
Trong khoa học pháp lý, khi đánh giá về văn bản QPPL người ta sử dụnghai tiêu chí: tính hợp pháp và tính hợp lý của văn bản Đáng tiếc vấn đề nàychưa được quy định rõ trong các văn bản pháp luật hiện hành Nghiên cứu vấn
đề này sẽ có ý nghĩa trong việc xem xét, đánh giá văn bản QPPL Một văn bảnQPPL có tính hợp lý có nghĩa là văn bản đó được ban hành trong thời điểm tốtnhất về mặt thời gian cũng như phù hợp hoàn cảnh thực tiễn và đem lại hiệu quảtốt trong thực tế Còn văn bản QPPL hợp pháp có nghĩa là nội dung và hình thứccủa nó phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành (nhưng cũng có thể làkhông hoặc chưa phản ánh được hiệu quả trong thực tiễn mà nó điều chỉnh).Theo nguyên tắc pháp chế, tính hợp lý phải nằm trong tính hợp pháp, có nghĩa lànằm trong khuôn khổ pháp lý Thực trạng văn bản QPPL hiện nay, có văn bảnhợp pháp mà không hợp lý hoặc văn bản có tính
Trang 32hợp lý nhưng trái pháp luật Ví dụ: Trong thời gian vừa qua, nhiều địaphương trong cả nước ban hành văn bản về xử phạt vi phạm hành chính tronglĩnh vực an toàn giao thông đường bộ, đã quy định hành vi và hình thức xử lýnhư tạm giữ xe máy của người vi phạm Trên thực tế để tìm biện pháp làmgiảm tình trạng vi phạm luật giao thông, có tính răn đe người có hành vi viphạm, thì quy định trên có tính hợp lý, nhưng lại vi phạm Hiến pháp và cácvăn bản pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, và đây chính là đối tượng đểkiểm tra và xử lý Hay trong Quyết định số 210/2004/QĐ-UB ngày 30/8/2004của UBND Thành phố Hồ Chí Minh quy định thủ tục xử phạt vi phạm hànhchính thông qua hình ảnh Nếu xem xét dưới góc độ đây là biện pháp để thuthập chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm, thì biện pháp này có tính hợp lý
và đem lại hiệu quả, tuy nhiên biện pháp này lại chưa được quy định trongvăn bản pháp luật Vì vậy, chúng ta cần xem xét dưới góc độ tính hợp pháp,tính hợp lý và cả nguyên tắc áp dụng pháp luật (Công dân có thể làm những gìpháp luật không cấm, còn Nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật chophép) Theo đó, cần thiết phải nghiên cứu hiện tượng trên, bởi có thể trong đóchứa đựng cái hợp lý mà pháp luật chưa ghi nhận
Hiện nay, Nghị định số 135/2003/NĐ-CP về kiểm tra, xử lý văn bảnQPPL cũng mới chỉ nói về kiểm tra tính hợp pháp mà không đề cập đến kiểmtra tính hợp lý Một văn bản có chất lượng là phải vừa có tính hợp pháp vàhợp lý, đem lại hiệu quả cao nhất cho xã hội Đây là hai yếu tố cần thiết trongxây dựng văn bản QPPL của Nhà nước pháp quyền
1.2.1.2 Mục đích và nguyên tắc của kiểm tra văn bản QPPL
Mục đích cao nhất và cũng là nguyên tắc cơ bản của việc kiểm tra văn
bản QPPL là nhằm phát hiện những nội dung trái pháp luật của văn bản để kịpthời đình chỉ việc thi hành, sửa đổi, hủy bỏ hoặc bãi bỏ văn bản nhằm bảođảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đồngthời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xác định trách nhiệm của cơ quan, cá
Trang 33nhân có thẩm quyền đã ban hành văn bản trái pháp luật Thông qua hoạt độngnày, chúng ta không chỉ phát hiện và xử lý những nội dung sai trái của cácvăn bản QPPL đã được ban hành mà còn góp phần bảo đảm việc soạn thảo,ban hành văn bản có chất lượng cao hơn, nhằm xây dựng một hệ thống phápluật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tínhkhả thi, phục vụ trực tiếp yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, mở rộng quan hệ quốc tế.
Nguyên tắc kiểm tra văn bản QPPL
Hoạt động kiểm tra văn bản QPPL là một trong những hoạt động quản
lý nhà nước; vì vậy, cần phải tuân theo những nguyên tắc nhất định, trong đónhững nguyên tắc cần lưu ý là:
1 Khi chính quyền địa phương ban hành các văn bản QPPL, các cán
bộ, công chức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tiến hành kiểm trathường xuyên, kịp thời, theo đúng trình tự của pháp luật và bảo đảm sự phối hợpchặt chẽ giữa các cơ quan trong việc kiểm tra
2 Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản phải tổ chức tự kiểm tra văn bản do mình ban hành trước khi cơ quan chức năng kiểm tra
3 Cơ quan, tổ chức và cá nhân khi phát hiện văn bản có dấu hiệu tráipháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo trong quá trình thực hiện, có quyền phản ánh vớicác cơ quan thông tin đại chúng và đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền kiểm travăn bản đó
4 Nghiêm cấm lợi dụng việc kiểm tra vì mục đích vụ lợi cá nhân, gâykhó khăn cho hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản cóvăn bản được kiểm tra
1.2.1.3 Phương thức kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
Song song với việc quán triệt và bảo đảm sự tuân thủ nghiêm chỉnh các nguyên tắc kiểm tra văn bản, việc đa dạng hóa và kết hợp linh hoạt các
Trang 34phương thức kiểm tra văn bản cũng là một yếu tố quan trọng quyết định đếnchất lượng và hiệu quả của công tác kiểm tra văn bản QPPL Theo quy địnhcủa pháp luật có 3 phương thức kiểm tra văn bản gồm:
* Phương thức tự kiểm tra văn bản:
Tự kiểm tra văn bản là hoạt động kiểm tra của cơ quan, người có thẩmquyền ban hành văn bản đối với chính văn bản do mình ban hành ra Đối vớivăn bản QPPL của chính quyền địa phương thì bản thân chính quyền địaphương phải tự kiểm tra văn bản do mình ban hành Theo quy định thìHĐND, UBND các cấp phải tự kiểm tra văn bản do mình ban hành Đầu mốigiúp HĐND, UBND các cấp thực hiện việc tự kiểm tra văn bản là: TrưởngBan pháp chế của HĐND, Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng phòng Tư pháp,Trưởng Ban Tư pháp cấp xã [11, Điều 10]
Mục đích của hoạt động tự kiểm tra văn bản QPPL là nhằm đề caotrách nhiệm của cơ quan ban hành văn bản, đồng thời tạo cơ hội để cơ quannày phát hiện, xử lý kịp thời trong trường hợp văn bản có dấu hiệu trái phápluật Tuy nhiên, mặt hạn chế của phương thức này là kiểm tra văn bản dochính cơ quan mình ban hành nên một số địa phương khi soạn thảo, ban hànhvăn bản còn có biểu hiện cục bộ, đưa ra những quy định tạo thuận lợi cho địaphương, ngành, lĩnh vực do mình quản lý gây hậu quả vi phạm đến tính thốngnhất và hiệu lực của văn bản
Tự kiểm tra văn bản còn đóng vai trò quan trọng đối với việc lập lại
kỷ cương trong công tác ban hành văn bản ở ngay trong cơ quan ban hànhvăn bản, góp phần nâng cao chất lượng xây dựng và ban hành văn bản củaHĐND và UBND các cấp, đóng vai trò quan trọng cho việc tạo lập một hệthống pháp luật đồng bộ, thống nhất, minh bạch và công khai làm cơ sở choviệc quản lý nhà nước bằng pháp luật và theo pháp luật
* Phương thức kiểm tra văn bản theo thẩm quyền:
Là việc kiểm tra của cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra theo
Trang 35nhiệm vụ được phân công Kiểm tra theo thẩm quyền bao gồm:
a Kiểm tra văn bản do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản gửi đến;
b Kiểm tra khi nhận được yêu cầu, kiến nghị đối với văn bản có chứaQPPL nhưng không được ban hành bằng hình thức văn bản QPPL và văn bản cóchứa QPPL nhưng do cơ quan nhà nước không có thẩm quyền ban hành
c Tổ chức đoàn kiểm tra theo chuyên đề, địa bàn hoặc theo ngành, lĩnhvực
Thông qua sự phân công rõ ràng nhiệm vụ kiểm tra theo từng lĩnh vựcchuyên môn, từng cấp đã xác định rõ trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn củatừng cơ quan trong công tác kiểm tra để tránh chồng chéo Ví dụ: Chủ tịchUBND cấp tỉnh kiểm tra văn bản do HĐND, UBND cấp huyện ban hành; Chủtịch UBND cấp huyện kiểm tra văn bản do HĐND, UBND cấp xã ban hành.Trên thực tế, việc tranh chấp thẩm quyền rất có thể xảy ra Nếu có tranh chấpthẩm quyền thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyếtđịnh đối với từng trường hợp cụ thể
* Phương thức kiểm tra khi nhận được yêu cầu (kiểm tra đột xuất):
Khi nhận được yêu cầu, kiến nghị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật thì cơ quan có thẩm quyền kiểm tra phảitiến hành hoạt động kiểm tra để kịp thời sửa đổi, thay thế hoặc hủy bỏ
1.2.1.4 Chủ thể và phạm vi đối tượng của kiểm tra
Chủ thể kiểm tra văn bản là các cơ quan, người có thẩm quyền kiểmtra văn bản Theo quy định của pháp luật hiện hành, thẩm quyền kiểm tra vănbản QPPL của chính quyền địa phương được trao cho 2 nhóm chủ thể sau:
Nhóm thứ nhất: Các cơ quan, người có thẩm quyền ở Trung ương
(nhóm kiểm tra theo thẩm quyền được phân công) Theo Điều 12 Nghị định số
135/2003/NĐ-CP nhóm này bao gồm những cơ quan, người có thẩm quyền
Trang 36Riêng đối với Bộ trưởng Bộ Tư pháp ngoài việc thực hiện thẩm
quyền kiểm tra theo quy định còn giúp Thủ tướng Chính phủ kiểm tra vănbản do HĐND, UBND cấp tỉnh ban hành liên quan đến nhiều ngành, nhiều
lĩnh vực quản lý nhà nước Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản giúp Bộ
trưởng Bộ Tư pháp kiểm tra các văn bản thuộc thẩm quyền kiểm tra của Bộtrưởng Bộ Tư pháp
Người đứng đầu tổ chức pháp chế Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng
cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện việc kiểm tra các văn bản thuộc thẩmquyền kiểm tra của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơquan thuộc Chính phủ
Nhóm thứ hai: Các cơ quan, người có thẩm quyền ở địa phương
(nhóm tự kiểm tra và kiểm tra theo thẩm quyền) bao gồm:
- Chủ tịch UBND cấp tỉnh tự kiểm tra văn bản do UBND cấp mình
ban hành và kiểm tra văn bản do HĐND, UBND cấp huyện ban hành
- Chủ tịch UBND cấp huyện tự kiểm tra văn bản do UBND cấp mình
ban hành và văn bản do HĐND, UBND cấp xã ban hành
Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng phòng Tư pháp giúp Chủ tịch UBND cùng cấp thực hiện việc kiểm tra văn bản thuộc thẩm quyền
Về phạm vi đối tượng kiểm tra đó là các văn bản QPPL do HĐND và
Trang 37UBND các cấp chính quyền địa phương ban hành.
Theo quy định tại Điều 1 và Điều 26 Nghị định số 135/2003/NĐ-CP
và hướng dẫn tại Mục I Thông tư số 01/2004/TT-BTP thì văn bản của chínhquyền địa phương thuộc đối tượng được kiểm tra bao gồm:
a) Văn bản QPPL: Nghị quyết của HĐND các cấp; Quyết định, Chỉ thịcủa UBND các cấp
b) Văn bản của HĐND, UBND có chứa QPPL nhưng không đượcban hành bằng hình thức văn bản QPPL và văn bản do cơ quan không có thẩmquyền ban hành văn bản QPPL ban hành
Cụ thể như những văn bản có chứa QPPL nhưng không được banhành bằng hình thức nghị quyết của HĐND hay quyết định, chỉ thị của UBNDhoặc có những văn bản có thể thức và nội dung như văn bản QPPL lại do Chủtịch UBND các cấp, thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấptỉnh, thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện ban hành
Hiện nay, trong các đối tượng kiểm tra trên thì đối tượng được kiểmtra chủ yếu là văn bản QPPL của HĐND, UBND ban hành, các cơ quankhông có thẩm quyền ban hành văn bản QPPL như các phòng, ban, ngành vàcác đoàn thể thuộc UBND thì hiếm khi gặp vi phạm dưới hình thức này
1.2.1.5 Nội dung kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
Nội dung kiểm tra văn bản QPPL là việc xem xét, đánh giá và kết luận
về tính hợp pháp của văn bản Một văn bản được coi là hợp pháp là văn bảnphải bảo đảm 5 điều kiện sau:
1- Văn bản được ban hành đúng căn cứ pháp lý
Văn bản được ban hành phải dựa trên các căn cứ pháp lý và căn cứpháp lý đó phải đang có hiệu lực pháp luật vào thời điểm ban hành; cơ quan,thủ trưởng đơn vị trình dự thảo văn bản phải có thẩm quyền trình theo quy
Trang 38định của pháp luật và những đề nghị ban hành văn bản là hợp pháp.
2- Văn bản được ban hành đúng thẩm quyền
Thẩm quyền ở đây gồm thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nộidung
- Thẩm quyền về hình thức là việc cơ quan, người có thẩm quyền chỉ
được ban hành văn bản QPPL theo đúng hình thức (tên gọi) đã được Luật banhành văn bản QPPL quy định cho cơ quan, người có thẩm quyền đó Theo Điều 19Luật ban hành văn bản QPPL, Điều 1 Luật ban hành văn bản QPPL của HĐND,UBND thì HĐND các cấp ban hành văn bản QPPL dưới hình thức Nghị quyết;UBND các cấp ban hành quyết định, chỉ thị
- Thẩm quyền về nội dung là việc cơ quan, người có thẩm quyền chỉ
được ban hành các văn bản có nội dung phù hợp với thẩm quyền của mình đượcpháp luật cho phép hoặc đã được phân công phân cấp Thẩm quyền này được xácđịnh trong các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền quy định vềchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước cụ thể của từng cơ quan, từngcấp, từng ngành đối với từng lĩnh vực
Phạm vi ban hành và nội dung văn bản QPPL của HĐND, UBND đãđược quy định cụ thể trong Luật ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBNDnăm 2004
3- Nội dung của văn bản phải phù hợp với quy định của pháp luật
Văn bản QPPL của HĐND, UBND phải phù hợp với Hiến pháp, luật
và văn bản QPPL của cơ quan nhà nước cấp trên, văn bản QPPL của UBNDcòn phải phù hợp với nghị quyết của HĐND cùng cấp Việc quy định như vậynhằm bảo đảm tính thống nhất, thứ bậc hiệu lực pháp lý của văn bản trong hệthống pháp luật
Ví dụ: Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh phải phù hợp với Hiến pháp,luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH, lệnh,
Trang 39quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyếtđịnh, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộtrưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ (gọi chung là văn bản của các cơ quannhà nước trung ương) Quyết định, chỉ thị của UBND cấp huyện phải phùhợp với văn bản của các cơ quan nhà nước trung ương, văn bản của HĐND,UBND tỉnh và nghị quyết của HĐND cùng cấp.
Khi đối chiếu, đánh giá tính phù hợp về nội dung văn bản được kiểmtra với các văn bản nói trên phải xem xét cụ thể như: sự phù hợp với nộidung, mục đích của pháp luật; sự phù hợp với những nguyên tắc cơ bản về tổchức và hoạt động của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vànhững nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam; sự phù hợp với các Điềuước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập
Cơ sở pháp lý để xác định nội dung trái pháp luật của văn bản đượckiểm tra là những văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn và đang có hiệu lực tạithời điểm kiểm tra Người kiểm tra văn bản không được đánh giá theo cảmtính chủ quan để xác định nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra
4- Văn bản được ban hành theo đúng thể thức và kỹ thuật trình bày
Theo các quy định của pháp luật hiện hành thì thể thức và kỹ thuậttrình bày văn bản QPPL thuộc phạm vi kiểm tra bao gồm các yếu tố như: tiêu
đề (tiêu ngữ, quốc hiệu); tên cơ quan, tổ chức ban hành; số và ký hiệu của vănbản (ghi năm ở giữa số và ký hiệu); địa danh, ngày, tháng, năm ban hành; tênloại văn bản và trích yếu nội dung của văn bản; nội dung văn bản; viết đúngchính tả, ngữ pháp tiếng việt và văn phong pháp luật; nơi nhận; chức vụ, họtên và chữ ký của người có thẩm quyền; đóng dấu của cơ quan, tổ chức Hiệnnay các yếu tố trên đã được quy định rất cụ thể tại Thông tư liên tịch số55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 06/5/2005 của Bộ Nội vụ, Văn phòngChính phủ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản
Trang 405- Văn bản phải tuân thủ đầy đủ các quy định về thủ tục xây dựng, ban hành và đăng công báo, đưa tin hoặc công bố văn bản
Tùy theo tính chất và phạm vi ban hành văn bản của mỗi cấp chínhquyền địa phương mà pháp luật có quy định cụ thể thủ tục ban hành, công bốvăn bản Theo quy định hiện hành, văn bản QPPL của HĐND, UBND cấptỉnh phải được đăng công báo cấp tỉnh; Văn bản QPPL của HĐND, UBNDcấp huyện, xã phải được đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng ởđịa phương [25, Điều 8]
1.2.2 Hoạt động xử lý văn bản quy phạm pháp luật
1.2.2.1 Khái niệm và vai trò của hoạt động xử lý văn bản quy phạm pháp luật
Xử lý văn bản QPPL là hoạt động của các cơ quan, người có thẩmquyền trong việc hủy bỏ, bãi bỏ hay sửa đổi các văn bản trái pháp luật nhằmbảo đảm pháp chế Xử lý văn bản thực chất là kết quả của hoạt động kiểm travăn bản Đối với văn bản QPPL qua kiểm tra đã hợp pháp thì không có giaiđoạn xử lý này
Nếu như qua hoạt động kiểm tra, các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền
đã xem xét, đánh giá và kết luận được về tính không hợp pháp của văn bản,nhưng chỉ dừng lại ở đó thì không đạt được mục đích của hoạt động này, màtrên cơ sở kết luận của kiểm tra văn bản, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xử
lý thi hành các biện pháp xử lý như: đình chỉ việc thi hành, sửa đổi, hủy bỏhoặc bãi bỏ văn bản, đồng thời kiến nghị về trách nhiệm của cơ quan, người
có thẩm quyền đã ban hành văn bản trái pháp luật
Như vậy "xử lý văn bản quy phạm pháp luật" là việc các cơ quan, cánhân có thẩm quyền xem xét, quyết định các hình thức xử lý đối với văn bảntrái pháp luật Pháp luật đã quy định rõ về thẩm quyền, các trình tự, thủ tục xử
lý văn bản Theo đó cơ quan có quyền kiểm tra văn bản sẽ có quyền xử lý văn