Thực tếtrong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, sự khácbiệt về các nhân tố tự nhiên và kinh tế xã hội tác động không nhỏ tới quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kin
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN VIẾT THANH
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG
NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HOÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN VIẾT THANH
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG
NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HOÁ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luâṇ văn này là công trình khoa hoc ̣ nghiên cứuđôc ̣ lâp ̣ của riêng tôi Các sốliêu,̣ kết quả nêu trong luận văn là trung thực vàchƣa đƣợc công bố trong bất cứ công trình khoa học nào Các số liệu, tàiliệu tham khảo đƣợc trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Viết Thanh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tôi xin chân thànhgửi lời cảm ơn tới lãnh đạo trường Đại học Kinh Tế - Đại học Quốc gia HàNội, lãnh đạo và các thầy cô giáo trong khoa, các thầy cô giáo đã trực tiếpgiảng dạy, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôitrong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Mạnh Tuân, người
đã nhiệt tình hướng dẫn, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu trong nghiêncứu khoa học và dành những tình cảm tốt đẹp cho tôi trong thời gian qua
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng chắc chắn luận văn không thể tránhkhỏi những sai sót, kính mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của quý thầy côvà bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn nữa
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Viết Thanh
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC BIỂU iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.2 Khái niệm, đặc trưng, tiêu chí và phân loại chuyển dịch cơ cấu kinh tế 11 1.2.1 Một số khái niệm 11
1.2.2 Những đặc trưng cơ bản 23
1.2.3 Tiêu chí đánh giá 24
1.2.4 Phân loại cơ cấu kinh tế 29
1.3 Nội dung cơ bản chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa 31
1.3.1 Chuyển dịch cơ cấu theo ngành kinh tế 31
1.3.2 Chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế 33
1.3.3 Chuyển dịch cơ cấu theo vùng kinh tế 34
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH ở địa bàn cấp huyện 35
1.4.1 Các nhân tố đầu vào của sản xuất 35
1.4.2 Các nhân tố đầu ra của sản xuất 38
1.4.3 Các nhân tố về cơ chế chính sách 39
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.1 Phương pháp luận 41
2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 41
Trang 62.2.1 Phương pháp phân tích 41
2.2.2 Phương pháp tổng hợp 42
2.2.3 Phương pháp so sánh 43
2.2.4 Phương pháp thống kê mô tả và nghiên cứu tài liệu 44
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ - HIỆN ĐẠI HOÁ Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI 45
3.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của huyện Hoài Đức 45
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 45
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 49
3.2 Phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội từ năm 2010 đến năm 2014 54
3.2.1 Chuyển dịch cơ cấu theo ngành 54
3.3.2 Chuyển dịch cơ cấu theo thành phần 64
3.2.3 Chuyển dịch cơ cấu theo vùng 65
3.3 Đánh giá chung về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội từ năm 2010 đến 2014 69
3.3.1 Những thành tựu 69
3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 72
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC TRONG QUÁ TRÌNH CNH - HĐH GIAI ĐOẠN 2015-2020 76
4.1 Phương hướng, mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình CNH-HĐH 76
4.1.1 Phương hướng 76
4.1.2 Mục tiêu 78
Trang 74.2 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở huyện Hoài Đức, thành
phố Hà Nội giai đoạn 2015-2020 80
4.2.1 Hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch và cơ chế chính sách 80
4.2.2 Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng 81
4.2.3 Tập trung phát triển những ngành nghề có nhiều lợi thế 83
4.2.4 Tăng cường huy động vốn 83
4.2.5 Đẩy mạnh phát triển Khoa học - Công nghệ 85
4.2.6 Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế 87
4.2.7.Giải pháp đầu tư phát triển thương mại dịch vụ gắn với bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, thân thiện với môi trường KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Ký hiệu Nguyên nghĩa
4 CNH - HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
2 Bảng 3.2 Tổng giá trị sản xuất một số ngành chủ yếu từ năm 65
2010-2014
3 Bảng 3.3 Cơ cấu ngành kinh tế huyện Hoài Đức từ năm 2010 66
- 2014
4 Bảng 3.4 Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn 2010-2014 67
6 Bảng 3.6 Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất (GO) 68
7 Bảng 3.7 Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp 72
8 Bảng 3.8 Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp xây dựng 73
9 Bảng 3.9 Cơ cấu tỷ trọng sản xuất công nghiệp xây dựng trên 73
địa bàn
10 Bảng 3.10 So sánh các chỉ tiêu ngành Thương mại Dịch vụ 75
Trang 10ii
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU
3 Biểu 3.2 Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất (GO) các ngành 69
kinh tế
5 Biểu 3.3 Giá trị sản phẩm tăng thêm ngành dịch vụ 75
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong những năm qua, kinh tế Việt Nam có nhiều đổi mới Chuyểndịch cơ cấu kinh tế trong quá trình trong quá trình CNH-HĐH là con đường
đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là hướng đi tất yếu để phát triển kinh
tế, đưa nước ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển trở thành mộtquốc gia văn minh, hiện đại Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực,
bộ phận kinh tế với vị trí, tỷ trọng tương ứng của chúng và mối quan hệ hữu
cơ tương đối ổn định hợp thành Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi tỷ
lệ thành phần trong cơ cấu kinh tế sự thay đổi cả về mặt số lượng và chấtlượng trong nội bộ cơ cấu nhằm có được sự phát triển tốt hơn, toàn diện hơn
Ngày nay khi quá trình CNH-HĐH và xu hướng quốc tế hoá toàn cầuvà toàn cầu hoá khu vực đang diễn ra hầu hết ở các quốc gia Đứng trướcthực trạng như vậy Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn những thách thứccũng như những cơ hội cho sự tăng trưởng kinh tế của mình Việt Nam cũnggiống như các nước phát triển muộn, CNH mới ở chặng đầu, nền kinh tế vẫnchuyển dịch theo hướng nông nghiệp Để phấn đấu nước ta cơ bản trở thànhnước Công nghiệp vào năm 2020 vấn đề được đặt ra là chúng ta cần phảinghiên cứu một cánh toàn diện những tác động xu thế mới để đưa ra nhữngquyết định về lựa chọn các bước đi thích hợp, phù hợp với yêu cầu phát triểnkinh tế xã hội trong thời kỳ mới là vấn đề lớn cấp bách cả ở lý luận và thựctiễn ở phạm vi quốc gia, từng ngành và ở từng địa phương
Cơ cấu kinh tế hợp lý là đảm bảo cho sự phát triển, tăng trưởng đồng
bộ và cân đối, tạo điều kiện thúc đẩy những ngành trọng điểm mũi nhọn nhằmtạo ra tích lũy từ nội bộ nền kinh tế Ngoài ra, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tếcòn dẫn tới giải phóng sức sản xuất xã hội, khai thác có hiệu quả những tiềm
Trang 13năng của đất nước, thu hút được nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài để tạo ranhững công ăn việc làm cho người lao động.
Đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏiViệt Nam phải có những bước đi mang tính đột phá để tận dụng những cơhội, vượt qua những thách thức khi đã vào sân chơi lớn WTO, nhiệm vụCông nghiệp hoá - Hiện đại hoá nền kinh tế Quốc dân được đặt lên hơn baogiờ hết, trong đó nhiệm vụ trọng tâm là chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Hoài Đức là huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội, là cửa ngõ củaThủ đô, trong những năm qua thực hiện đường lối phát triển chung của cảnước, nền kinh tế của huyện có nhiều biến đổi Đây là huyện có tốc độ đô thịhóa khá nhanh và cũng có nhiều làng nghề truyền thống Song song với việcphát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện còn bộc lộ một sốtồn tại như: môi trường, trật tự xã hội, tỷ lệ chênh lệch về giàu nghèo…
Do đó, muốn phát triển kinh tế đòi hỏi phải xác định bước đi, chínhsách đúng đắn Trong giai đoạn hiện nay, thực hiện nhất quán đường lối pháttriển chung của cả thành phố nói riêng và cả nước nói chung, nền kinh tế củahuyện Hoài Đức có sự chuyển dịch trong quá trình tích cực góp phần thúc đẩyquá trình CNH - HĐH đất nước
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một đề tài khá quen thuộc Đã có rấtnhiều người, nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này nhưngtrong tiến trình CNH - HĐH cơ cấu kinh tế có nhiều sự thay đổi Do đó, việcnghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đếnchuyển dịch cơ cấu kinh tế trên quan điểm phát triển bền vững có ý nghĩa hết
sức quan trọng Đó cũng là lý do tác giả lựa chọn đề tài “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội trong quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá” làm luận văn tốt nghiệp.
Câu hỏi nghiên cứu:
Trang 14Các giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2015-2020 ?
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
2.1 Mục đích:
Trên cơ sở phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quátrình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đề xuất những định hướng và giải phápnhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình côngnghiệp hóa - hiện đại hóa ở huyện Hoài Đức giai đoạn 2015- 2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa trên địa bàn huyện Hoài Đức
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Từ năm 2010 đến 2014
- Không gian: Nghiên cứu chủ yếu tại huyện Hoài Đức, TP Hà Nội
4 Đóng góp mới của đề tài
- Góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận chuyển dịch cơ cấu kinh
tế trong quá trình công nghiệp - hóa hiện đại hóa
Trang 15- Góp phần phân tích và đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tếtrong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa trên địa bàn huyện Hoài Đức.
- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển dịch
cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở huyện Hoài Đứctrong giai đoạn 2015-2020
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận đề tài được kết cấu làm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về chuyển
dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa trên địa bàncấp huyện
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công
nghiệp hóa - hiện đại hóa ở huyện Hoài Đức trong giai đoạn 2010-2014
Chương 4: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở huyện Hoài Đức trong giai
đoạn 2015-2020
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế được nhiều học giảtrong nước quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay Việt Namđang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Do có sự phát triển nhanh của KH-
CN và sự cạnh tranh ngày càng mạnh khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu có tácđộng lớn đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vì vậy đã có rất nhiều học giảquan tâm nghiên cứu về vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vấn đề chuyển dịch cơcấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế được đề cập trong các giáo trình của trường Đạihọc Kinh tế Quốc dân Hà Nội, trường Đại học Kinh tế Hồ Chí Minh Giáo trình
“Lịch sử các học thuyết kinh tế” do tác giả Trần Đức Hiếu và Ngô Đức Hồng biênsoạn năm 2006 cũng bàn đến vấn đề cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế Nhìnchung các giáo trình của các trường đại học ở Việt Nam đã làm sáng tỏ những vấn
đề lý thuyết cơ bản về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Đi sâu vào nghiên cứu ứng dụng trên thực tế, học giả Ngô Doãn Vịnhvà đồng nghiệp đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề cơ sở lý luận vàthực tiễn liên quan đến cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong bốicảng thực tế ở nước ta Những tác phẩm tiêu biểu như ” Những vấn đề chủyếu về kinh tế phát triển“ xuất bản năm 2006; “ Bàn về cải tiến cơ cấu nềnkinh tế Việt Nam” xuất bản năm 2010 Qua những tác phẩm này từ kinhnghiệm thực tiễn nghiên cứu chiến lược, quy hoạch và tổng kết thực tiễn quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta, tác giả đã đưa ra những quanđiểm, đặc điểm, tính chất và những yếu tố tác động đến cơ cấu kinh tế,
Trang 17chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong bối cảnh thực tiễn tại Việt Nam để làm nềntảng cho những đề xuất chuyển dịch cơ cấu kinh tế hiệu quả.
Một loạt các bài viết của các học giả về vấn đề cơ cấu kinh tế vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế đang là định hướng, bước đi đúng đắn của nềnkinh tế Việt Nam trong quá trình CNH - HĐH, điển hình như bài viết của họcgiả Võ Duy Khương đã có bài viết” Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơcấu kinh tế thành phố Đà nẵng đến năm 2020” trên tạp chí Phát triển kinh tế
xã hội Đà Nẵng cho rằng “ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế luôn gắn liền với sựthay đổi mang tính dài hạn về mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành nềnkinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế liên quan đến sự suy giảm hay gia tăngcủa mỗi bộ phận trong nền kinh tế do sự thay đổi của các yếu tố cơ bản củasản xuất bao gồm: công nghệ, nhân lực, sự xuất hiện của các nghề mới, sự suygiảm hay biến mất của các nghề cũ và dẫn đến sự phân bố lại các yếu tố đầuvào trong dài hạn Chuyển dịch cơ cấu kinh tế không quan tâm đến nhữngthay đổi mang tính ngắn hạn như nền kinh tế phản ứng tức thời với các thayđổi trong chính sách tài chính tiền tệ hay sự tác động ngẫu nhiên ngắn hạn củathiên tai…’
TS Trần Anh Phương có bài viết về” Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực trạng và những vấn đề đặt ra“ đăng trên tạp chí Cộng sản số 1 (169) năm
2009 cho rằng “ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là con đường tất yếu đểViệt Nam nhanh thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển trở thành mộtquốc gia văn minh hiện đại”
-Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết, các luận văn,luận án,… của các học giả nghiên cứu về Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo mộtsố địa phương trong nước Hầu hết các công trình nghiên cứu đều cho rằng:Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là yêu cầu tất yếu của quá trình phát triểm kinh tế
Trang 18xã hội của mỗi quốc gia Để có một cơ cấu kinh tế hợp lý, mỗi vùng, mỗiquốc gia cần phải xuất phát từ những điều kiện lịch sử của mình Thực tếtrong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, sự khácbiệt về các nhân tố tự nhiên và kinh tế xã hội tác động không nhỏ tới quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình phát triển bền vững, việc nghiêncứu cơ sở lý luận và khái quát kinh nghiệm thực tiễn là hết sức cần thiết, từ đórút ra bài học kinh nghiệm đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế củamỗi vùng, địa phương trong quá trình phát triển bền vững
* Một số công trình nghiên cứu về định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo CNH - HĐH
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và vấn đề CNH - HĐH là những vấn đềđược nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Trong lịch sử,Mark K (1909) [122] là một trong những học giả sớm bàn về vấn đề địnhhướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua phân tích, bàn luận trong họcthuyết về phân công lao động xã hội và học thuyết về tái sản xuất xã hội Quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tếcũng được đề cập trong một số ấn phẩm của các học giả tiêu biểu như Clark
C (1964), Fisher I Allen G.B (1935); Perloff H.S (1960); Borts H.G và SteinJ.C(1964) Những quan điểm của các nhà kinh tế đó đã tạo ra nền tảng chonghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các định hướng về chuyển dịch cơcấu kinh tế phù hợp với quá trình hiện đại hóa của nền sản xuất, phù hợp với
sự phát triển của khoa học - công nghệ và quá trình CNH diễn ra trong thế kỷ
20 Nhìn chung, các học giả tiêu biểu trên đưa ra các quan điểm định hướng,quá trình vận hành của nền kinh tế và các yếu tố tác động đến quá trình chuyểndịch cơ cấu kinh tế Tuy nhiên các học giả chưa bàn sâu đến quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế trong bối cảnh kinh tế giữa các quốc gia ngày càng được mở rộng,các yếu tố tác động mang tính chất toàn cầu chi phối quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế tại mỗi quốc gia
Trang 19Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình CNH - HĐH hiệu quả cầnphải đạt được mục tiêu nâng cao mức tăng trưởng trong điều kiện sử dụnghiệu quả các nguồn lực đầu vào Trong lịch sử các nhà kinh tế đã cố gắngnghiên cứu những yếu tố nằm sau quá trình tăng trưởng và chuyển dịch cơcấu kinh tế để đưa ra những quan điểm định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh
tế một cách hiệu quả Trong các tác phẩm như Smith A.D (1976), Marshall A(1890) và Keynes J.M (1936) các học giả đều tập trung vào thảo luận, phântích vai trò, tầm quan trọng của các yếu tố tác động đến tăng trưởng vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế như: vai trò của vốn, lao động, tài nguyên thiênnhiên, khoa học - công nghệ Đây là những quan điểm có giá trị nền tảng đẻcác nhà nghiên cứu đi sau tiếp tục kế thừa và tiếp tục lý thuyết về tăng trưởngvà chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong lịch sử đã xuất hiện trường phái “cơ cấu luận”, những học giảtiêu biểu có thể kể đến Chenery R.S và Syrquin M (1986) đã đi sâu nghiêncứu về sự phát triển kinh tế, các định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trongbối cảnh các quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế đang phát triển Để phát triểnkinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế các nước cần phải tìm chomình cách chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách hiệu quả trên cơ sở phát huydược các yếu tố nội lực, lợi thế so sánh và tận dụng được những lợi thế từbên ngoài Đối với các nước đang phát triển, vấn đề quan trọng là phảichuyển dịch cơ cấu kinh tế như thế nào để chuyển từ xã hội nông nghiệptruyền thống sang xã hội CNH - HĐH với ngành công nghiệp và ngành dịch
vụ hiện đại làm nòng cốt Đây là những quan điểm có giá trị thực tế để cácnhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và quản lý kinh tế tham khảo
để đề xuất điều chỉnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc giaphù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng
Trang 20Nhà kinh tế Porter M (1990) đã phân tích quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế và các định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với xu thế pháttriển kinh tế hiện đại, hội nhập kinh tế quốc tế và tăng cường năng lực cạnhtranh” Những yếu tố đầu vào của sản xuất như đất đai, lao động, vốn, tàinguyên và sự can thiệp của chính phủ thông qua trợ cấp, tỷ lệ lãi suất, rào cảnthương mại lẫn nhau sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc xác định lợi thế sosánh của một quốc gia đối với phát triển kinh tế trong đó bao gồm quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế“ Những quan điểm về lợi thế cạnh tranh của nhàkinh tế Porter M rất có giá trị đối với việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất của mỗiquốc gia để đảm bảo lợi thế cạnh tranh hay nói cách khác là tác động lớn đếnđịnh hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại mỗi quốc gia trong bối cảnh hộinhập kinh tế quốc tế ngày càng phát triển.
* Một số công trình nghiên cứu về yếu tố tác động đến chuyển dịch
cơ cấu kinh tế trong quá trình CNH - HĐH
Nghiên cứu về tác động của KH-CN đối với Chuyển dịch cơ cấu kinhtế; Các học giả Roy J.R (1993) [135], Maddison A (1991) [119] đã tổng kết từnhững năm 1700, những quốc gia có nền công nghệ hàng đầu với NSLĐ ngàymột tăng lên đều đạt được sự tăng trưởng kinh tế nhanh Các học giả JaffeA.M (1993) [109] và Lucar R (1988) [117] có chung quan điểm “Sự lan tỏatri thức giữa các quốc gia phát triển giúp cho họ có lợi thế đầu vào đó lànguồn nhân lực trình độ cao, lợi thế này đóng góp vào việc nâng cao NSLĐvà nâng cao các yếu tố năng suất tổng hợp từ đó đóng góp vào tăng trưởngcủa nền kinh tế” Đây là quan điểm có giá trị thực tiễn, điều này được khẳngđịnh rõ trong bối cảnh ngày nay khu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng pháttriển Vai trò của tri thức, KH-CN trong phát triển kinh tế và quá trình thayđổi cơ cấu sản xuất của một nền kinh tế ngày càng quan trọng Nhà kinh tếhọc Ricardo D và Harwell R.M (1971) [133] đã khẳng định” Một quốc gia sẽ
Trang 21thu được lợi nhuận ở mức cao nhát khi quốc gia đó tận dụng được lợi thế vềcông nghệ để sản xuất các loại hàng hóa, dịch vụ với giá cả thất nhất và nhậpkhẩu những loại hàng hóa dịch vụ phải sẽ phải sản xuất với giá cao nhất tạiquốc gia đó” Các học giả Locke J.M (1996) [116]; Streeck W (1988) [142]đều nhận định những năm 1980 và 1990 là quá trình chuyển giao công nghệdiễn ra trên quy mô toàn thế giới và sự ảnh hưởng của quá trình chuyển giaocông nghệ có tác động lớn đến cơ cấu sản xuất của nhiều nền kinh tế.
Nhìn chung, khoa học - công nghệ có tác động lớn đến quá trình tăngtrưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế vì vậy đã có nhiều học giả quan tânnghiên cứu mối quan hệ này và họ phân tích về vai trò cũng như ảnh hưởngcủa khoa học - công nghệ đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các khía cạnhkhác nhau Các học giả đã đưa ra những kết luận nghiên cứu có giá trị tổngkết thực tiễn và phân tích một cách sâu sắc, khoa học về vai trò của khoa học -công nghệ đối với quá trình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cácquan điểm nêu trên chỉ là một số quan điểm tiêu biểu
Nghiên cứu vai trò của doanh nhân đối với quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế trong quá trình hiện đại và tăng trưởng kinh tế; Học giả Marcus D(2000) [123] đã đưa ra nhận xét” Sự tăng lên của các số lượng các nhàthương gia thường sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” Đây là quan điểm có giátrị khoa học được đúc rút nghiên cứu thực tiễn phát triển kinh tế của các nướcvà các ảnh hưởng lớn đến việc định hướng xây dựng đội ngũ doanh nghiệp ởmỗi quốc gia Quá trình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại mỗiquốc gia có liên quan với sự phát triển của các doanh nghiệp và đội ngũ cácnhà thương gia Họ chính là những chủ thể đóng góp vào quá trình địnhhướng, đầu tư, quản lý và tố chức sản xuất ra các sản phẩm của một nền kinh
tế Vì thế số lượng và chất lượng doanh nghiệp là một trong những yếu tốquan trọng tác động đến quá trình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tếtại mỗi quốc gia
Trang 22Nghiên cứu ảnh hưởng của công nghệ thông tin đến chuyển dịch cơcấu kinh tế: Trong bối cảnh khoa học - công nghệ phát triển mạnh và hội nhậpkinh tế quốc tế, vai trò của công nghệ thông tin ngày càng trở lên quan trọngđối với quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia.Các học giả Spreng D (1993) [140]và Stern D.I (1994) [141] đã có cùng quanđiểm có ý nghĩa thực tiễn khi khẳng định thông tin là một trong những nhân tố
cơ bản phục vụ cho quá trình sản xuất, thông tin đóng vai trò định hướng choquá trình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của từng quốc gia
1.2 Khái niệm, đặc trưng, tiêu chí và phân loại chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.2.1 Một số khái niệm
*Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu (hay kết cấu): Là một khái niệm mà triết học duy vật biệnchứng dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong hay một hệ thống, biểu hiện sựthống nhất các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó Trongkhi chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa bộ phận và toàn thể, nó biểu hiện ranhư là một thuộc tính của sự vật, hiện tượng và biến đổi cùng với sư biến đổicủa sự vật hiện tượng Như vậy, có thể thấy có rất nhiều trình độ, nhiều kiểu
tổ chức cơ cấu của các khách thể và các hệ thống
Cũng như vậy đối với nền kinh tế quốc dân, khi xem nó là một hệthống phức tạp thì có thể thấy rất nhiều các bộ phận và các kiểu cơ cấu hợpthành chúng, tuỳ theo cách mà chung ta tiếp cận khi nghiên cứu hệ thống ấy.Đặc biệt sự vận động và phát triển của nền kinh tế theo thời gian và bao hàmtrong đó sự thay đổi bản thân các bộ phận cũng như sự thay đổi cơ cấu Vìvậy có thể thấy rằng, cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phậnkinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành
Trang 23Cơ cấu kinh tế là tổng thể bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽvới nhau tác động lẫn nhau trong một khoảng không gian và thời gian nhấtđịnh là những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Nó thể hiện đầy đủ cả haimặt định tính và định lượng, cả hai mặt chất lượng và số lượng, phù hợp vớimục tiêu xây dựng của nền kinh tế Như vậy, mục tiêu kinh tế - xã hội của đấtnước trong từng thời kỳ quyết định việc hình thành các yếu tố, các bộ phậncấu thành về cả hai mặt số lượng và chất lượng, trong đó mặt chất lượngquyết định vai trò, vị trí của các yếu tố, các bộ phận, còn mặt số lượng thểhiện quan hệ tỷ lệ của các bộ phận phù hợp với mặt chất lượng đã được xácđịnh Nhưng khi số lượng (quan hệ tỷ lệ, tốc độ…) thay đổi sẽ tạo khả năngthay đổi về chất, lúc đó sẽ dẫn đến sự thay đổi về cơ cấu kinh tế Do vậy, khinói đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế là nói đến sự chuyển dịch cả về mặt chấtlượng và số lượng tương ứng với chất lượng đó Như vậy, trong cơ cấu kinh
tế có thể hiện:
- Tính khách quan của cơ cấu kinh tế
- Tính lịch sử cụ thể về thời gian, không gian, điều kiện kinh tế - xã hội
- Tính có mục tiêu trong từng giai đoạn phát triển nhất định
Dựa vào những đặc trưng của các bộ phận cấu thành hệ thống và cáchthức quan hệ giữa chúng với nhau trong quá trình phát triển, cơ cấu nền kinh
tế quốc dân bao gồm:
- Cơ cấu các thành phần kinh tế (quan hệ sản xuất trong nền kinh tế)
- Cơ cấu ngành kinh tế
Các loại cơ cấu nói trên có mối quan hệ gắn kết, tương tác với nhau
Thứ nhất: Cơ cấu thành phần kinh tế có cơ sở hình thành là chế độ sở
hữu, bởi vậy, sự hợp lý của nó phản ánh một hệ thống tổ chức kinh tế với chế
độ sở hữu có khả năng thúc đẩy lực lượng sản xuất và phân công lao động xã
Trang 24hội phát triển Với ý nghĩa đó, cơ cấu thành phần kinh tế tác động đến cơ cấungành kinh tế và cơ cấu vùng, đồng thời nó cũng chịu tác dụng ngược trở lạicủa hai loại cơ cấu này Ở nước ta hiện nay có năm thành phần kinh tế: Kinh
tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài
Thứ hai: Cơ cấu vùng: Là sự bố trí các ngành sản xuất và dịch vụ theo
không gian cụ thể nhằm khai thác mọi ưu thế, tiềm năng to lớn của các vùng
Từ đó hình thành nên tổng sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất nhằm phát huytới mức cao nhất sức mạnh kinh tế của từng vùng và toàn bộ nền kinh tế Ởđây, xu thế chuyển dịch cơ cấu vùng, là đi vào chuyên môn hoá và tập trunghoá sản xuất và dịch vụ, hình thành những vùng sản xuất hàng hoá lớn, tậptrung hiệu quả cao, mở rộng với quan hệ với các vùng chuyên môn khác, gắn
cơ cấu kinh tế của từng khu vực với cơ cấu kinh tế của cả nước
Thứ ba: Cơ cấu ngành kinh tế: Hình thành trên cơ sở phân chia lao
động xã hội (chung, đặc thù, cá biệt) và chuyên môn hoá sản xuất còn cơ cấuvùng được hình thành dựa trên phân bố lực lượng sản xuất ở tầm tổng thểnhằm phát huy cao nhất sức mạnh kinh tế của từng vùng cũng như sức mạnhcủa toàn bộ nền kinh tế
Sự phát triển nền sản xuất xã hội từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hànghoá cũng có nghĩa là xuất hiện những ngành sản xuất độc lập nhau, dựa trênnhững đối tượng sản xuất khác nhau Ở đây, cơ cấu ngành kinh tế biểu hiện radưới các hình thức ngành lớn (ngành cấp I); nông nghiệp, công nghiệp, dịch
vụ, các phân ngành (ngành cấp II); chăn nuôi, trồng trọt…Sự vận động củacác ngành kinh tế và mối quan hệ của nó vừa tuân theo những đặc điểm chungcủa sự phát triển sản xuất xã hội, lại vừa mang những nét đặc thù của mỗi giaiđoạn và mỗi quốc gia
Vì vậy, nghiên cứu loại cơ cấu này là nhằm tìm ra những cách thức duytrì tính tỷ lệ hợp lý của chúng ta và những lĩnh vực cần ưu tiên tập trung các
Trang 25nguồn lực có hạn của quốc gia trong mỗi thời kỳ thúc đẩy sự phát triển củatoàn bộ nền kinh tế quốc dân một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất.
Cơ cấu ngành và cơ cấu vùng có thể coi là hai mặt của một thể thốngnhất đều phản ánh phân công lao động xã hội, cơ cấu ngành thể hiện mình ởtrong không gian vùng cụ thể còn cơ cấu vùng hình thành gắn liền với cơ cấungành và thống nhất với cơ cấu ngành Vì vậy, nó thể hiện “cơ cấu ngành kinh
tế là tổ hợp các ngành hợp thành tương quan tỷ lệ biểu hiện mối quan hệ giữacác ngành đó trong nền kinh tế quốc dân” hoặc “cơ cấu ngành kinh tế là tổngthể hợp thành của nền kinh tế quốc dân trong mối quan hệ hữu cơ, tương táclẫn nhau cả về số lượng lẫn chất lượng trong không gian, thời gian và nhữngđiều kiện kinh tế - xã hội nhất định”
* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình biến đổi cơ cấu kinh tế từ dạngnày sang dạng khác phù hợp với sự phát triển của phân công lao động xã hội,
sự phát triển của lực lượng sản xuất và các nhu cầu phát triển khác của xã hội.Chuyển dịch cơ cấu kinh tế mang tính khách quan thông qua những nhận thứcchủ quan của con người Những tiêu chí cơ bản phản ánh sự chuyển dịch cơcấu kinh tế vĩ mô bao gồm: tỷ trọng của các phần tử cơ cấu của hệ thống (theoGDP, lao động) và các chỉ tiêu chất lượng (như năng suất lao động, tiêu haođiện năng trên một đồng GDP, tỷ lệ hộ đói nghèo, tỷ lệ người thất nghiệp…).Khi có sự tác động của con người, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu đã hìnhthành một số khái niệm:
Điều chỉnh cơ cấu là quá trình chuyển dịch cơ cấu trên cơ sở thay đổi
một số mặt một số yếu tố của cơ cấu, làm cho nó thích ứng với điều kiệnkhách quan từng thời kỳ, không tạo ra sự thay đổi đột biến, tức thời Theođịnh nghĩa này thì điều chỉnh cơ cấu chỉ diễn ra sau một khoảng thời gian nhấtđịnh vì nó là một quá trình và sự phát triển của các ngành phải dẫn đến sự
Trang 26thay đổi mối quan hệ tương đối ổn định vốn có của chúng (ở thời điểm trướcđó) Trên thực tế, sự thay đổi này là kết quả của quá trình: Xuất hiện thêmmột số ngành mới hay mất đi một số ngành đã có, tức là có sự thay đổi về sốlượng cũng như loại ngành trong nền kinh tế Hay là sự tăng trưởng về quy
mô với nhịp độ khác nhau của các ngành dẫn đến thay đổi cơ cấu
Cải tổ cơ cấu là quá trình chuyển dịch mang tính thay đổi về mặt bản
chất so với thực trạng cơ cấu ban đầu, nhanh chóng tạo ra sự đột biến
Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, các chiến lược cơ cấu vàviệc điều chỉnh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia không chỉthuần túy được nhìn nhận dưới góc độ chuyển dịch ngành kinh tế trong phạm
vi từng quốc gia mà còn phải tính tới sự hoạt động của mạng lưới sản xuất đaquốc gia Do đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một nước sẽ phụ thuộc nhiều vàokhả năng cạnh tranh để có được chỗ đứng vững chắc trên thị trường và sự linhhoạt để có thể ứng phó, thích nghi với những biến động trên thị trường thế giới
* Một số lý thuyết của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế:
+ Lý thuyết các giai đoạn phát triển kinh tế của Rostow
Rostow cho rằng quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đượcchia thành 5 giai đoạn và ứng với mỗi một giai đoạn là một dạng cơ cấungành kinh tế đặc trưng thể hiện bản chất phát triển của giai đoạn ấy Cụ thể:
Giai đoạn 1: Xã hội truyền thống Đặc trưng cơ bản của giai đoạn nàylà nền kinh tế thống trị bởi sản xuất nông nghiệp với năng suất lao động thấp
do sản xuất chủ yếu bằng công cụ thủ công, tích lũy gần như là con số 0 Cơcấu ngành kinh tế trong thời kỳ này là cơ cấu nông nghiệp thuần túy
Giai đoạn 2: Chuẩn bị cất cánh Đây được coi là thời kỳ quá độ giữa xãhội truyền thống và sự cất cánh với nội dung cơ bản là chuẩn bị những điềukiện tiên quyết để cất cánh: những hiểu biết khoa học - kỹ thuật đã bắt đầu
Trang 27được áp dụng vào sản xuất trong cả nông nghiệp và công nghiệp; Giáo dụcđược mở rộng và có những cải tiến phù hợp với những yêu cầu mới của sựphát triển; Nhu cầu đầu tư tăng lên đã thúc đẩy sự hoạt động của ngân hàngvà sự ra đời của các tổ chức huy động vốn Tuy vậy tất cả các hoạt động nàychưa vượt qua được phạm vi giới hạn của một nền kinh tế truyền thống, năngsuất thấp Cơ cấu ngành là cơ cấu nông - công nghiệp.
Giai đoạn 3: Cất cánh Là giai đoạn trung tâm trong sự phân tích cácgiai đoạn phát triển của Rostow, thể hiện một đất nước bước vào giai đoạnphát triển hiện đại và ổn định Những yếu tố cơ bản đảm bảo cho sự cất cánhlà huy động được nguồn vốn đầu tư cần thiết, tỷ lệ tiết kiệm tăng, khoa học -
kỹ thuật tác động mạnh vào nông nghiệp và công nghiệp Công nghiệp giữ vaitrò đầu tàu, có tốc độ tăng trưởng nhanh, đem lại lợi nhuận lớn Cơ cấu ngànhkinh tế đã là công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ
Giai đoạn 4: Trưởng thành Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này là tỷ lệđầu tư tăng liên tục, lên tới 20% thu nhập quốc dân thuần túy; khoa học - kỹthuật mới được áp dụng trên toàn bộ các mặt hoạt động kinh tế Nhiều ngànhcông nghiệp mới, hiện đại phát triển, nông nghiệp được cơ giới hóa, nhu cầuxuất nhập khẩu tăng mạnh, sự phát triển kinh tế trong nước hòa đồng vào thịtrường quốc tế Cơ cấu ngành kinh tế là công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp
Giai đoạn 5: Tiêu dùng cao Cơ cấu lao động đã thay đổi trong quátrình tăng tỷ lệ dân cư đô thị và lao động có tay nghề, có trình độ chuyên môncao Cơ cấu ngành có dạng dịch vụ - công nghiệp
Có thể nói đứng trên góc độ mối quan hệ giữa sự chuyển dịch cơ cấuvới quá trình phát triển thì Rostow đã chỉ ra một sự lựa chọn hợp lý về dạng
cơ cấu ngành tương ứng với mỗi giai đoạn phát triển nhất định của mỗi quốcgia Theo lý thuyết này hầu hết các nước đang phát triển và đang trong quátrình công nghiệp hóa nằm ở trong khoảng giai đoạn 2 và 3 Về mặt cơ cấu
Trang 28kinh tế, phải bắt đầu hình thành được những ngành công nghiệp chế biến cókhả năng thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế tăng trưởng Ngoài ra, sự chuyển tiếp
từ giai đoạn 2 sang giai đoạn 3 đi kèm với sự thay đổi của những ngành chủlực, đóng vai trò đầu tàu Do đó Rostow đã nhấn mạnh tới nhân tố mang tínhquyết định của sự cất cánh là kỹ thuật mới được áp dụng, mà kỹ thuật mới thìbao giờ cũng được áp dụng vào ngành công nghiệp cụ thể Ông đã gọi ngànhcông nghiệp cụ thể giữ vai trò đầu tàu này là ngành chủ đạo Có nghĩa là,trong chính sách cơ cấu, cần xét đến trật tự ưu tiên phát triển những ngành,lĩnh vực có khả năng đảm trách vai trò đầu tàu kinh tế trong mỗi giai đoạnphát triển khác nhau
+ Mô hình kinh tế nhị nguyên
Athur Lewis là người đầu tiên đưa ra mô hình này Ông đã đưa ra giảthuyết nền kinh tế song song tồn tại hai khu vực với hai nhóm ngành Khu vựckinh tế truyền thống, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, khu vực này có đặctrưng là rất trì trệ, năng suất lao động rất thấp và tình trạng dư thừa lao động
Do ruộng đất có hạn và trình độ lao động cũng như áp dụng tiến bộ khoa học
- công nghệ ngày một tăng, nên trong nông nghiệp số lượng lao động giảmnhưng vẫn tăng sản xuất Bộ phận lao động dư thừa này có nhu cầu việc làmrất lớn, sẵn sàng di chuyển đến khu vực khác có việc làm và thu nhập cao hơnhiện tại Khu vực thứ hai là khu vực công nghiệp hiện đại, khu vực này cónăng suất lao động cao, tích lũy lớn, tạo ra khả năng tự phát triển không phụthuộc vào trình độ chung của nền kinh tế hiện tại
Do lao động dư thừa nên việc chuyển một phần lao động thặng dư từkhu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp không gây ảnh hưởng gì đếnsản lượng nông nghiệp Bên cạnh đó, năng suất lao động cao và tiền công caohơn nên khu vực công nghiệp thu hút lao động dư thừa từ khu vực nôngnghiệp chuyển sang, và do lao động trong khu vực nông nghiệp quá dư thừa
Trang 29và tiền công thấp hơn nên các ông chủ công nghiệp có thể thuê mướn nhiềunhân công mà không phải tăng thêm tiền công, lợi nhuận của các ông chủngày càng tăng; giả định rằng toàn bộ lợi nhuận sẽ được đem tái đầu tư thìnguồn tích lũy để mở rộng sản xuất trong khu vực công nghiệp ngày càngtăng lên.
Như vậy, có thể rút ra từ lý thuyết này một nhận định là để thúc đẩy sựphát triển, các quốc gia đang phát triển cần phải mở rộng khu vực côngnghiệp hiện đại bằng mọi giá mà không quan tâm đến khu vực truyền thống
Sự tăng trưởng của khu vực công nghiệp tự nó sẽ thu hút hút hết lượng laođộng dư thừa trong nông nghiệp chuyển sang và từ trạng thái nhị nguyên, nềnkinh tế sẽ chuyển sang một nền kinh tế công nghiệp phát triển
Lý thuyết nhị nguyên của Lewis tiếp tục được nhiều kinh tế gia nổi tiếng(như G Ranis, J Fei, Harris) khác tiếp tục nghiên cứu và phân tích Luận cứ của
họ xuất phát từ khả năng phát triển và tiếp nhận lao động của khu vực côngnghiệp hiện đại Khu vực này có nhiều khả năng lựa chọn công nghệ sản xuất,trong đó có công nghệ sử dụng nhiều lao động nên về nguyên tắc có thể thu húthết lượng lao động dư thừa của khu vực công nghiệp Nhưng việc di chuyển laođộng được giả định là do chênh lệch về thu nhập giữa lao động của hai khu vựckinh tế trên quyết định (các tác giả giả định rằng thu nhập của lao động côngnghiệp tối thiểu cao hơn 30% so với lao động trong khu vực nông nghiệp) Nhưvậy, khu vực công nghiệp chỉ có thể thu hút lao động nông nghiệp khi có sự dưthừa lao động nông nghiệp và chênh lệch tiền công giữa hai khu vực đủ lớn.Nhưng khi nguồn lao động nông nghiệp dư thừa ngày càng cạn dần thì khả năngduy trì sự chênh lệch về tiền lương này sẽ ngày một khó khăn Ðến khi đó, việctiếp tục di chuyển lao động nông nghiệp sang công nghiệp sẽ làm giảm sảnlượng nông nghiệp và làm cho giá cả nông sản tăng lên, và kéo theo đó là mứctăng tiền công tương ứng trong khu vực công
Trang 30nghiệp Sự tăng lương của khu vực công nghiệp này đặt ra giới hạn về mứccầu tăng thêm đối với lao động của khu vực này Như thế, về mặt kỹ thuật,mặc dù khu vực công nghiệp có thể thu hút không hạn chế lượng lao động dưthừa từ khu vực nông nghiệp chuyển sang thì về mặt thu nhập và độ co giãncung cầu thì khả năng tiếp nhận lao động từ khu vực nông nghiệp của khu vựccông nghiệp là có hạn.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế không phải đơn thuần là sự thay đổi vị trímà là quá trình tích lũy về lượng, dẫn đến sự biến đổi về chất của cơ cấu kinh
tế Quá trình này diễn ra trên 3 khía cạnh: theo ngành, theo vùng và theothành phần kinh tế Cơ cấu kinh tế chuyển dịch từ đơn giản đến phức tạp (tứclà số ngành, số sản phẩm ngày càng nhiều, phạm vi liên kết ngày càng rộng,
từ ít đến nhiều, từ trong nước ra ngoài nước), từ trạng thái có trình độ thấpsang trạng thái có trình độ cao nhằm đem lại lợi ích lớn hơn như mong muốncủa con người qua các thời kỳ phát triển
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành kinh tế phải căn cứ vào chứcnăng nhiệm vụ và vai trò của từng ngành, vào điều kiện thực tế, tăng tỷ trọngcủa khu vực phi nông nghiệp; tỷ trọng của các ngành có năng suất lao độngcao, chức đựng hàm lượng công nghệ cao và chất xám ngày càng lớn, tỷtrọng các ngành có năng suất lao động giảm đi trong toàn bộ bức tranh phâncông lao động xã hội Xu hướng này nếu diễn ra càng nhanh càng tốt
Chuyển dịch cơ cấu theo vùng, sẽ diễn biến trong quá trình các vùng,
có ý nghĩa động lực phát triển ngày càng lớn, lan tỏa mạnh mẽ và các vùngkém phát triển thì bị thu hẹp lại
Chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế sẽ diễn biến trong quá trình
tỷ trọng của bộ phận kinh tế tư nhân ngày càng tăng; tỷ trọng kinh tế nhànước có thể giảm xuống một cách tương đối, song vai trò then chốt và chủ
Trang 31đạo của nó trong nền kinh tế vẫn được đảm bảo Hình thức kinh tế hồn hợp mà tiêu biểu là kinh tế cổ phần sẽ trở lên thịnh hành.
Công nghiệp hoá được định nghĩa và có nhiều quan niệm khác nhausong nó thường được hiểu là một quá trình gắn liền với việc xác định một cơcấu kinh tế hợp lý, trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại cho các ngành kinh tếnhằm thủ tiêu tình trạng lạc hậu về kinh tế xã hội, khai thác tối ưu các nguồnlực và lợi thế, đảm bảo nhịp độ tăng trưởng nhanh và ổn định
Tổ chức phát triển nông nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) đã đưa rađịnh nghĩa: Công nghiệp hoá là một quá trình phát triển kinh tế trong các quátrình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của quốc dân được động viên
để phát triển cơ cấu kinh tế, nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại Đặcđiểm của cơ cấu kinh tế này là một bộ phận chế biến luôn thay đổi để sản xuất ranhững tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng có khả năng đảm bảo cho nền kinh tếphát triển với nhịp độ cao, bảo đảm mức tiến bộ về kinh tế xã hội
Song dù muốn hay không công nghiệp hoá trước mắt nhằm xây dựng
cơ sở vật chất kỹ thuật bảo đảm tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Song
có lẽ sẽ là thiếu sót nếu chúng ta không quan tâm giải quyết tốt những vấn đề
xã hội Thực tiễn nước ta và kinh nghiệm của một số nước đang phát triểncho thấy ngay từ bước đầu tiên của việc hoạch định chiến lược và chươngtrình phát triển nhất thiết phải đảm bảo tính đồng bộ giữa kinh tế xã hội, cùngvới sự phát triển kinh tế phải xây dựng những mặt thuộc hạ tầng của đời sống
xã hội, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, pháttriển văn hoá nâng cao đời sống nhân dân
Qua những vấn đề phân tích trên ta có thể định nghĩa:
Công nghiệp hóa là một quá trình lịch sử tất yếu nhằm tạo nên nhữngchuyển biến căn bản về kinh tế xã hội của một đất nước, trên cơ sở khai thác
Trang 32có hiệu quả mọi nguồn lực và lợi thế trong nước, mở rộng quan hệ hợp táckinh tế quốc tế Cũng có thể nói một cách đơn giản thì công nghiệp hóa là quátrình chuyển từ lao động thủ công sang lao động sử dụng máy móc.
Hiện đại hóa là quá trình thay đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sảnxuất kinh doanh, dịch vụ và quản lí kinh tế xã hội chỗ theo những quy trìnhcông nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự pháttriển của tiến bộ khoa học kĩ thuật tạo ra năng suất lao động hiệu quả và trình
độ văn minh kinh tế xã hội cao
Hiện đại hóa là một nội dung lớn và phong phú mà các nước đang pháttriển tiến tới giống như các nước phát triển cả về hệ thống kinh tế xã hội vàchính trị, nhưng không thể máy móc dập khuôn vì nó đối nghịch với bản sắcdân tộc, thù địch với dân chủ
* Công nghiệp hóa và hiện đại hóa
Công nghiệp hoá là quá trình trang bị công nghệ và thiết bị cơ khí hoá chotất cả các ngành kinh tế quốc dân, trước hết là các ngành chiếm vị trí quan trọng.Công nghiệp hoá đã làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất với kỹ thuật,công nghệ và tổ chức sản xuất truyền thống Hiện đại hoá là quá trình thườngxuyên cập nhật và nâng cấp những công nghệ hiện đại nhất, mới nhất trong quátrình công nghiệp hoá Đa số các ý kiến của các nhà nghiên cứu cho rằng hiệnđại hoá là quá trình liên tục hiện đại nền kinh tế, thay đổi công nghệ cũ bằngcông nghệ mới tiên tiến hơn Thực chất, hiện đại hoá là cái đích cần vươn tớitrong quá trình công nghiệp hoá Cái đích này không cố định hay duy nhất đốivới một quốc gia hay một ngành nghề mà nó luôn thay đổi theo sự phát triển củakhoa học kỹ thuật và trình độ văn minh chung của nhân loại Nó còn phụ thuộccả và loại ngành nghề, từng khu vực khác nhau ngay trong một nước Xu thếchung của thế giới ngày nay là thực hiện đổi mới công nghệ
Trang 33nhanh chóng, rút ngắn chu kỳ sống của mỗi loại công nghệ Điều cần phấnđấu là đưa trình độ khoa học - công nghệ của đất nước theo kịp với trình độhiện đại chung của thế giới Tuỳ điều kiện cụ thể của mỗi ngành, mỗi lĩnh vựchoạt động mà xác định trình độ công nghệ thích ứng Quan niệm một cáchgiản đơn về công nghiệp hoá - hiện đại hoá dẫn tới việc tiếp thu công nghệkhông chọn lọc Do sự thiếu hiểu biết và thiếu thông tin đã dẫn nhiều nướcđang phát triển phải trả giá quá lớn và tốc độ hiện đại hoá không được thúcđẩy.
Vào cuối thế kỷ 20, với những thay đổi nhanh chóng của cách mạngkhoa học kỹ thuật và công nghệ thì việc hiện đại hoá đối với các nước rất khóđạt được Ngay cả những nước phát triển cũng dễ dàng bị tụt hậu Vì vậy, cácnước đi sau trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá buộc phải chia quátrình này thành nhiều giai đoạn với mục tiêu của giai đoạn sau là hiện đại hoánhững gì mà giai đoạn trước đã đạt được Đối với mỗi giai đoạn phát triển,người ta thường dùng một số chỉ tiêu nhằm đánh giá kết quả công nghiệp hoá
- hiện đại hoá, ví dụ như mức đóng góp của công nghiệp trong GDP, tỷ trọng lao động trong công nghiệp trong tổng lao động xã hội…
Thực hiện công nghiệp hoá trong điều kiện cách mạng khoa học kỹthuật ngày nay, quá trình trang bị công nghệ cho các ngành phải gắn liền vớiquá trình hiện đại hoá ở cả phần cứng và phần mềm của công nghệ Quá trìnhnày cũng đồng thời là quá trình xây dựng xã hội văn minh công nghiệp và cảibiến các ngành kinh tế, các hoạt động theo phong cách của nền công nghiệplớn hiện đại Quá trình ấy phải tác động làm cho nhịp độ tăng trưởng kinh tế -
xã hội nhanh và ổn định, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của các tầnglớp dân cư, thu hẹp dần chênh lệch trình độ kinh tế - xã hội của đất nước vớicác nước phát triển Trong đó những nước đi sau đã có một số ít
Trang 34nước (trong đó có Hàn Quốc) thực hiện được hiện đại hoá tương đối caotrong thời gian ngắn.
1.2.2 Những đặc trưng cơ bản
Đặc trưng cơ bản của cơ cấu kinh tế là luôn luôn vận động và biến đổi
Sự biến đổi ấy rất đa dạng giữa các nước, các địa phương có những điều kiệnkinh tế - xã hội và trình độ khác nhau Tuy nhiên, cơ cấu kinh tế nước ta có
xu hướng vận động và phát triển như sau:
- Sự vận động từ một nền kinh tế tự cấp tự túc sang kinh tế hàng hoá
- Sự vận động trong quá trình tỷ trọng công nghiệp ngày càng cao, tỷ lệnông nghiệp giảm tương đối nhưng tăng tuyệt đối, phần dịch vụ tăng nhanh hơntrong tỷ trọng sản phẩm quốc dân
- Xu hướng biến đổi từ cơ cấu kinh tế khép kín trong phạm vi quốc giathậm chí trong từng địa phương sang cơ cấu kinh tế mở trong phạm vi cả nước vàquốc tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta theo mô hình sau:
Về cơ cấu ngành: chuyển từ cơ cấu nông nghiệp- công nghiệp trước
đây sang cơ cấu nông nghiệp công nghiệp và tiến tới cơ cấu công nghiệp nông nghiệp - dịch vụ Trong những năm trước mắt, phát triển mạnh côngnghiệp chế biến và kết cấu hạ tầng, chuẩn bị điều kiện để phát triển các ngànhmũi nhọn và có lợi thế so sánh
-Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần: Chuyển từ cơ cấu kinh tế quốc doanh,
tập thể là chủ yếu sang cơ cấu kinh tế nhiều thành phần: Kinh tế nhà nước,kinh tế tập thể, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài trong đó phải củng cố kinh tế nhà nước, phát triển mạnh kinh
tế tập thể và kinh tế tư nhân
Cơ cấu vùng: Cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần chỉ có thể đạt được
chuyển dịch trên một vùng nhất định Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng trongquá trình phát triển toàn diện và tập trung có trọng điểm, phát triển tổng hợp
Trang 35kết hợp với chuyên môn hoá Trong những năm tới, cần đầu tư phát triển cácvùng kinh tế trọng điểm, các khu kinh tế đặc biệt và các cực phát triển kinh tế
để tạo ra sự tăng trưởng nhanh, trên cơ sở lôi cuốn, thúc đẩy sự phát triểntoàn diện
1.2.3 Tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá
* Tiêu chí đánh giá cơ cấu kinh tế hợp lý
Một là: Kinh tế - xã hội, nhất là các quy luật kinh tế như: Quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất, những quy luật kinh tế thị trường như: Quy luật giá trị, quyluật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ, các quy luật củatái sản xuất như: quy luật năng suất lao động, quy luật tích luỹ, phân phốitổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân
Hai là: Đảm bảo khai thác tối đa các tiềm năng, nguồn lực của cả nước,
các ngành, các địa phương, các vùng qua các phương án sản xuất kinh doanh
Ba là: Sử dụng được ngày càng nhiều lợi thế tuyệt đối và lợi thế so
sánh giữa các nước, các vùng và khu vực Vai trò này gắn với việc hình thành
cơ cấu “kinh tế mở” Ở góc độ vĩ mô phải gắn với việc xây dựng chiến lượchướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu các mặt hang trongnước sản xuất không hiệu quả gắn với phân công lao động và thương mạiquốc tế
Bốn là: Phải phản ánh được xu hướng phát triển của cuộc cách mạng
khoa học - công nghệ, xu hướng quốc tế hoá và khu vực hoá
Năm là: Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm thước đo kết quả cuối cùng
của một cơ cấu kinh tế tối ưu
Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong quá trình mở rộng quy mô của nền kinh tế, do tốc độ tăng trưởngcủa các bộ phận cấu thành nền kinh tế không giống nhau, dẫn đến các mối
Trang 36quan hệ về số lượng và chất lượng giữa chúng thay đổi, tức cơ cấu kinh tế
biến đổi Sự biến đổi của cơ cấu kinh tế là một quá trình thường xuyên, liên
tục và thường diễn ra với tốc độ tương đối chậm chạm theo thời gian Các
nhà kinh tế gọi quá trình biến đổi đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Có nhiều phương pháp đánh giá trình độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế song
phương pháp vector là phương pháp được sử dụng phổ biến hơn cả Để
lượng hoá mức độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa hai thời điểm t0 và t1,
người ta thường dùng công thức sau:
Trong đó: Si(t) là tỷ trọng ngành i tại thời điểm t
φ được coi là góc hợp bởi 2 véc tơ cơ cấu S(t0) và S(t1)
Khi đó Cosφ càng lớn bao nhiêu thì các cơ cấu càng gần nhau bấy
nhiêu và ngược lại Khi cosφ = 1 thì góc giữa hai vector này bằng φ điều đó
có nghĩa là hai cơ cấu đồng nhất Khi cosφ = 0 thì góc giữa hai véc tơ này
bằng 900 và các vector cơ cấu là trực giao với nhau Như vậy:
0≤φ≤900
Để đánh giá một cách trực giác sự chuyển dịch có thể so sánh góc 0 với
giới hạn tối đa của sự sai lệch giữa hai vector Do vậy tỷ số φ / 90 phản ánh tỷ
lệ chuyển dịch cơ cấu
Hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Sự ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội là yêu cầu trước hết để các nhà
kinh doanh yên tâm bỏ vốn đầu tư, có thể dự kiến và thực thi những dự án đầu
Trang 37quan đặc biệt đến sự ổn định của tiền tệ, sự đúng đắn của các định hướngchiến lược phát triển dài hạn đất nước.
Môi trường đầu tư được hệ thống luật pháp và chính sách của nhànước đảm bảo Hệ thống Luật Pháp, trước hết là luật đầu tư công bằng, hợp
lý và được đảm bảo thực thi trong thực tiễn đối với mọi thành phần kinh tế,tạo dựng một nền kinh tế thị trường, với những quy luật vốn có phát huy tácdụng tích cực của cơ chế thị trường Nhờ đó, các nguồn vốn đầu tư được huyđộng, phân bổ, sử dụng có hiệu quả
Tính hợp lý của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tính hợp lý của một cơ cấu kinh tế thực chất là sự chuyển dịch cơ cấusản lượng đầu ra Sự chuyển dịch đó phụ thuộc vào hai yếu tố: năng suất laođộng và quy mô sử dụng các yếu tố đầu vào như vốn, lao động, tài nguyên vàkhoa học công nghệ
Việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý có ý nghĩa vô cùng quan trọng Vìtăng trưởng kinh tế và biến đổi cơ cấu kinh tế là hai mặt của phát triển kinh
tế Giữa chúng có mối quan hệ qua lại như mối quan hệ giữa lượng và chất
Cơ cấu kinh tế hợp lý thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng kinh tế tạođiều kiện cần thiết để hoàn thiện hơn nữa cơ cấu kinh tế trong tương lai
Tính bền vững trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Về mặt xã hội: Các chỉ số xã hội là thước đo mục tiêu cuối cùng của sựphát triển, nó được thể hiện trên các khía cạnh: mức độ bảo đảm các nhu cầu của conngười, mức độ nghèo đói và bất bình đẳng về kinh tế cũng như xã hội Các nghiêncứu kinh tế phát triển cho rằng vấn đề đảm bảo xã hội và tăng trưởng kinh tế khôngphải luôn vận động đồng biến với nhau, nó phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế,hướng đi của mỗi nước trong quá trình thực hiện mục tiêu phát triển và quan trọnghơn là chính sách phân phối thu nhập
Trang 38cũng như sự quan tâm đối với người nghèo và tầng lớp dễ bị tổn thương trong xã hội của nhà nước.
- Về môi trường: Việc khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên luôngắn bó hữu cơ với bảo vệ môi trường sinh thái Vì thế, cần phải hoàn thiện hệthống pháp luật, chính sách về khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên và tổ chứcthực thi có hiệu lực các luật pháp đã ban hành Một mặt sử dụng các biện phápsinh học để tái tạo, nâng cao độ phì miêu của đất đai, duỳ trì và phát triển các loàithực vật, động vật, đảm bảo sự ổn định và cân bằng sinh thái Mặt khác, sử dụngcác thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến để khắc phục tình trạng ô nhiễm khôngkhí, ô nhiễm nguồn nước, xử lý các chất thải rắn, sử dụng các loại thiết bị lọc bụi,giảm thanh, chống bức xạ, phóng xạ
- Tăng trưởng ổn định: Bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thayđổi về lượng của nền kinh tế Ngày nay, yêu cầu tăng trưởng kinh tế được gắnliền với tính bền vững hay việc bảo đảm chất lượng tăng trưởng ngày càng cao.Theo khía cạnh này, điều được nhấn mạnh nhiều hơn là sự gia tăng liên tục, cóhiệu quả của chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người Hơnthế nữa, quá trình ấy phải được tạo nên bởi nhân tố đóng vai trò quyết định là khoahọc, công nghệ và vốn nhân lực trong điều kiện một cơ cấu kinh tế hợp lý
* Tiêu chí đánh giá cơ cấu kinh tế trong quá trình Công nghiệp hóa
- hiện đại hóa
Trước hết cần căn cứ vào những đặc trưng công nghiệp hoá trong quátrình hiện đại của Việt Nam để đề ra các nhóm tiêu chí thích hợp, ở đây gồmcó: tiêu chí về kinh tế, về khoa học - công nghệ, về xã hội văn hoá, về môitrường tài nguyên, tương ứng với yêu cầu phát triển kinh tế nhanh và bềnvững, phát triển khoa học - công nghệ tiến tới kinh tế tri thức, phát triển xã
Trang 39hội hài hoà với phát triển kinh tế, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ, cảithiện môi trường sống.
Khi chọn tiêu chí, cần bảo đảm trước hết có đủ tính đại diện cho từngtiêu chí, đồng thời có tính khả thi cao, nghĩa là có đủ các số liệu thống kêtương ứng để t7ính toán và so sánh quốc tế Đồng thời, số lượng tiêu chíkhông nên tham nhiều và phải độc lập, không phụ thuộc lẫn nhau
Sơ bộ có thể đề xuất để tham khảo cơ cấu tiêu chí và chỉ tiêu sau:
- Tiêu chí kinh tế: 1) GDP bình quân đầu người; 2) Tỷ trọng giá trị giatăng nông nghiệp trong GDP; 3) Tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng số laođộng
- Tiêu chí khoa học - công nghệ: 4) Tỷ lệ kinh phí R&D và giáo dụctrong GDP; 5) Số sinh viên đại học trên 10 000 dân; 6) Số sử dụng internet trên dânsố; 7) Tỷ lệ hàng công nghệ cao trong hàng công nghiệp chế tác xuất khẩu
- Tiêu chí xã hội: 8) Tỷ trọng dân số đô thị trong tổng dân số; 9) Chênhlệch thu nhập giữa nhóm 20% dân số cao nhất và nhóm thấp nhất; 10) Số bác sĩtrên 10000 dân
- Tiêu chí tài nguyên môi trường: 11) Tỷ lệ sử dụng nước sạch; 12) Tỷ
lệ rừng che phủ
Các giá trị chuẩn của các tiêu chí công nghiệp hoá có thể chọn lựa dựatheo số liệu bình quân của các nước đi trước khi đã hoàn thành quá trìnhcông nghiệp hoá, gồm khoảng gần 20 nước phát triển nhất vào những năm 60và 70 của thế kỷ trước Những chỉ tiêu liên quan đến công nghệ mới và vấn
đề môi trường có thể tham khảo số liệu của các nước công nghiệp hoá mớivào đầu thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20 Sơ bộ số liệu ghi trong biểu sau:
Biểu 1.1: Tiêu chí công nghiệp hoá dự kiến
CNH
Trang 401 GDP bình quân đầu người USD > 5000 640
% dân số cao/thấp nhất
hàng chế tác xuất khẩu
Các số liệu trong bảng chỉ tiêu được lấy từ WDI của Ngân hàng Thếgiới, Niên giám Thống kê Việt nam, có tham khảo CHELEM, cơ sở dữ liệucủa Tổng uỷ Kế hoạch Pháp và PWT, cơ sở dữ liệu của Trường Đại họcPennsyl-vania, Mỹ
1.2.4 Phân loại cơ cấu kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế: Là tổ hợp các ngành hợp thành các tương quan
tỷ lệ biểu hiện mối liên hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân Cơcấu ngành phản ánh phần nào trình độ phân công lao động xã hội chung củanền kinh tế và trình độ phát triển lực lượng sản xuất Thay đổi mạnh mẽ cơcấu ngành là nét đặc trưng của nước đang phát triển khi phân tích cơ cấungành của một quốc gia người ta thường phân tích theo ba nhóm ngành (khu