- Quan hệ hôn nhân là quan hệ giữa người đàn ông với người đàn bà, dựatrên nhu cầu tính giao sự ham muốn khác giới được pháp luật công nhận hoặckhông được không cần pháp luật công nhận,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG
MÔ HÌNH GIA ĐÌNH VIỆT NAM THEO LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG
MÔ HÌNH GIA ĐÌNH VIỆT NAM THEO LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH NĂM 2014
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số : 60 38 01 03 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học:PGS.TS NGÔ HUY CƯƠNG
Hà Nội – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Mai Hương
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔ HÌNH GIA ĐÌNH 9
1.1.Khái niệm và bản chất của gia đình 9
1.2 Khái niệm và vai trò của mô hình gia đình đối với đời sống và pháp luật 11
1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của các học thuyết về xây dựng mô hình gia đình 15
1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển của mô hình Gia đình 15
1.3.2 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam về mô hình gia đình 20
CHƯƠNG II: CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG MÔ HÌNH GIA ĐÌNH CỦA VIỆT NAM THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 25
2.1 Những quy định của pháp luật trước đây về mô hình gia đình 25
2.1.1 Xác lập quan hệ hôn nhân 25
2.1.2 Thiết lập mối quan hệ giữa cha mẹ và con 27
2.1.3 Quan hệ của các thành viên trong gia đình với nhau 30
2.2 Những quy định của luật Hôn nhân và gia đình 2014 về mô hình gia đình 32
2.2.1 Những điểm mới của Luật hôn nhân và gia đình 2014 32
2.2.2 Quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 về Mô hình Gia đình 42
2.3 Thực trạng mô hình gia đình ở Việt Nam trong thời điểm hiện tại 54
2.3.1 Những mặt tốt 54
2.3.2 Những hạn chế còn tồn tại 58
3.1.2 Những sai lầm thường thấy trong các gia đình 61
CHƯƠNG III: CÁC KHUYẾN NGHỊ NHẰM XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN MÔ HÌNH GIA ĐÌNH CỦA VIỆT NAM 65
3.1 Phương hướng hoàn thiện mô hình gia đình cho pháp luật Việt Nam hiện tại 65 3.2 Các khuyến nghị cho các bên trong việc xây dựng mô hình gia đình 68
3.2.1 Các khuyến nghị cho các cơ quan xây dựng pháp luật 68
3.2.2 Các khuyến nghị cho các cơ quan thực hiện pháp luật 72
Trang 53.2.3 Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức người dân và cộng đồng 75
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môitrường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách góp phần vào sự nghiệpxây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong quan niệm truyền thống, đất nước đượchình dung như một gia đình lớn mà việc tổ chức và vận hành chỉ là sự phóng
to mô hình gia đình nhỏ, gồm những người gắn bó với nhau trên cơ sở quan
hệ huyết thống hoặc hôn nhân
Gia đình là một tổ chức xã hội được hình thành từ khá sớm trong lịch
sử của loài người Ngay từ buổi đầu của lịch sử, khi con người tách khỏi giớiđộng vật và tự tổ chức cuộc sống với tư cách là một cộng đồng độc lập thìcũng là lúc hình thức sơ khai của gia đình ra đời Lúc đầu gia đình chỉ baogồm các thành viên có quan hệ trực huyết với nhau, chủ yếu là những người
mẹ cùng các con, cháu (giai đình mẫu hệ) Sau đó được mở rộng bao gồm cácthành viên khác có thể có cùng huyết thống song cũng có thể không cùnghuyết thống Về quy mô ga đình, lúc đầu số lượng các thành viên gia đìnhtương đối đông có khi lên tới hàng trăm người Về sau, do yêu cầu thích ứngvới cuộc sống ngày càng phát triển của xã hội loài người nên số lượng cácthành viên gia đình giảm dần Mô hình gia đình hiện đại ngày nay, số thànhviên có khi chỉ có từ một đến ba người
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 ra đời có rất nhiều điểm mới liênquan đến việc hình thành một gia đình, mối quan hệ giữa những người tronggia đình sự chấm dứt các mối liên hệ gia đình Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014 đã đáp ứng kịp thời các yêu cầu khách quan của đời sống hôn nhân vàgia đình hiện nay, bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền con người, bình đẳng giới
và góp phần phát huy các giá trị văn hóa, phong tục tập quán tốt đẹp củangười Việt Nam
Trang 7Để có cơ hội được nghiên cứu sâu hơn về mô hình gia đình tôi đã lựa
chọn đề tài “Mô hình gia đình Việt Nam theo Luật hôn nhân và gia đình
2014” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tính mới của đề tài
Do Luật hôn nhân và gia đình 2014 vừa mới có hiệu lực ngày01/01/2015 nên hiện nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu nào về mô hìnhgia đình theo Luật mới Mặt khác đề tài “Mô hình gia đình Việt Nam theoLuật hôn nhân và gia đình 2014” không đi vào nghiên cứu một nội dung cụthể nào mà chỉ đánh giá chung về các quy định của Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 2014, tham khảo quy định của một số nước trên thế giới về vấn đề này
3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tìm hiểu các quy định của phápluật về mô hình gia đình hiện nay, xem xét thực trạng quan hệ giữa các thànhviên trong gia đình trong thời gian qua để đưa ra kiến nghị về một số giảipháp pháp lý nhằm áp dụng của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 mộtcách hiệu quả
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu tập trung vào các quy định củaLuật Hôn nhân và gia đình năm 2014, các văn bản hướng dẫn và các tài liệutrong nước và nước ngoài
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩaMác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước
ta về Nhà nước và Pháp luật, về hôn nhân và gia đình Việc nghiên cứu đượcthực hiện từ góc độ lý luận chung về hôn nhân và gia đình
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phân tích, tổng hợp, lịch sử, so sánh, thống kê v.v
5 Kết cấu của luận văn
Trang 8Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về mô hình gia đình
Chương II: Những quy định pháp luật và thực trạng mô hìnhgia đình
của Việt Nam theo Luật hôn nhân gia đình năm 2014
Chương III: Các khuyến nghị xây dựng, hoàn thiện mô hình gia đình
Việt Nam
Trang 9CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔ HÌNH GIA ĐÌNH
1.1 Khái niệm và bản chất của gia đình
Theo Việt Nam Dân luật lược khảo, so sánh các cách tổ chức gia đình trên thếgiới và trong lịch sử, nhân loại có hai quan niệm chính yếu về gia đình đó là:
“Quan niệm cổ ở Đông phương cũng như quan niệm cổ ở La Mã là quanniệm đại gia đình, gồm tất cả các bà con cùng huyết thống”, trái lại theo quanniệm mới, ở Tây phương cũng như ở Đông phương, gia đình chỉ gồm có hai
vợ chồng và các con chưa trưởng thành sống cùng với cha mẹ”[15]
Theo Từ điển tiếng Việt: “Gia đình là tập hợp những người cùng sống chungthành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hônnhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái”[12] Vớicách hiểu này, “Gia đình” được cho là một hạt nhân nhỏ nhất để xây dựng vàhình thành nên xã hội Bên trong nội hàm của “Gia đình” thường chỉ bao gồmnhững chủ thể được gắn kết với nhau bằng quan hệ hôn nhân hay quan hệtrực hệ - có sự liên kết với nhau về huyết thống Do đó, có thể hiểu rằng “Giađình” theo Từ điển tiếng Việt là định nghĩa về gia đình theo nghĩa hẹp nhất,không có sự bao hàm các trường hợp thực tế như đối với những gia đình cóquan hệ nuôi con nuôi
Dưới góc độ xã hội học, gia đình được coi là tế bào của xã hội[2] Khônggiống bất cứ nhóm xã hội nào khác, gia đình có sự đan xen các yếu tố sinhhọc, kinh tế, tâm lý, văn hóa Mối quan hệ gia đình được thể hiện ở các khíacạnh như: có quan hệ vợ chồng, sinh con và nuôi dạy con cái, lao động tạo racủa cải vật chất để duy trì đời sống gia đình và đóng góp cho xã hội Mối liên
hệ này có thể dựa trên những căn cứ pháp lý hoặc có thể dựa trên những căn
cứ thực tế một cách tự nhiên, tự phát
Trang 10Dưới góc độ pháp lý, tại Khoản 2 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014 quy định : Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau hôn nhân,quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền vànghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của luật này”[6]
Tuy nhiên, trong thực tế đời sống cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về kháiniệm gia đình: gia đình là tập hợp những người cùng có tên trong một sổ hộkhẩu; gia đình là tập hợp những người cùng chung sống với nhau dưới mộtmái nhà…Từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, gia đình được chia thànhrất nhiều dạng thức khác nhau: gia đình hiện đại và gia đình truyền thống; giađình hạt nhân và gia đình đa thế hệ; gia đình khuyết thiếu và gia đình đầyđủ…[13,15]
Theo Việt Nam dân luật lược khảo:Về phương diện xã hội, gia đình là nềntảng của quốc gia Theo kinh nghiệm, những người công dân biết làm tronbổn phận đối với Tổ quốc bao giờ cũng là những con người đã hấp thụ mộtnền giáo dục tốt ở trong gia đình Trái lại, phần đông những phần tử xấu xaphạm tội lỗi trong xã hội là những người không có gia đình hoặc bị gia đìnhruồng bỏ [15]
Về phương diện chính trị, sự tổ chức gia đình là một vấn đề rất hệ trọng Sựsuy vọng hưng thịnh của một quốc gia vốn có liên lạc chặt chẽ với vấn đềsinh sản tức là vấn đề gia đình Ở nước Pháp chẳng hạn, về đầu thế kỷ thứ 20
do sự sinh sản sút kém, dân số đã đứng nguyên trong khi dân số của Đức đãtăng gia một cách rất đáng lo ngại cho Pháp Vì vậy, chính phủ Pháp đã phảitheo đuổi một chính sách bảo vệ gia đình và từ năm 1939, khuyến khích sựlập gia đình và sự sinh sản bằng cách trợ cấp các gia đình đông con Số tiềntrợ cấp cho mỗi gia đình càng lớn nếu số con càng đông Nhờ thế, sự sinh sảnsau khi nước pháp được giải phóng đã tăng lên đôi chút [2]
Trang 11Về phương diện kinh tế, gia đình vốn là một đoàn thể kinh tế rất chặt chẽ.Hơn nữa, gia đình là một động lực khuyến khích rất mạnh mẽ sự tồn tích ởtrong nước Trong đời sống hàng ngày, có rất nhiều hoạt động kinh tế thíchứng cho khuôn khổ gia đình như: các sự kinh doanh về nông nghiệp, các tiểucông nghệ, các tiểu kỹ nghệ, tiểu thương mại ”[1,11]
Như vậy bản chất của gia đình là dựa trên ba mối quan hệ là hôn nhân, huyếtthống và pháp lý
- Quan hệ hôn nhân là quan hệ giữa người đàn ông với người đàn bà, dựatrên nhu cầu tính giao (sự ham muốn khác giới) được pháp luật công nhận hoặckhông được (không cần) pháp luật công nhận, nhưng có sự thừa nhận của cộngđồng theo luật tục (chủ yếu ở những cộng đồng chưa có pháp luật về giá thú) hoặctheo các qui định của tôn giáo, tập quán cộng đồng… Quan hệ hôn nhân là quan hệ
cơ bản của gia đình tạo ra những quan hệ khác và làm nền tảng cho sự bền vữngcủa gia đình
- Quan hệ huyết thống là quan hệ sinh học – xã hội giữa cha mẹ và con cáinảy sinh từ quan hệ hôn nhân Quan hệ huyết thống được biểu hiện ở sự gắn bógiữa cha mẹ và con cái và giữa các anh, chị, em cùng cha, mẹ sinh ra Do sự tiếpnối giữa các thế hệ trong gia đình, ngoài các quan hệ trên còn có các quan hệ khác:Ông bà và con, cháu, chắt…
- Quan hệ pháp lý và tình cảm: Mối qua hệ giữa các thành viên trong gia đình
về quyền lợi, nghĩa vụ, về của cải, tài sản và sự “ cấp dưỡng” những nghĩa vụ tìnhcảm, những cấm đoán về tính giao giữa những người có cùng huyết thống gần, haygiữa cha mẹ nuôi và con nuôi…mà pháp luật quy định
1.2 Khái niệm và vai trò của mô hình gia đình đối với đời sống và pháp luật
Kể từ khi chưa có sự điều chỉnh của pháp luât, gia đình đã là một định chế được hình thành một cách tự nhiên thuần túy Đi ngược lại dòng lịch sử
Trang 12theo các tài liệu thì ta có thể thấy gia đình đã được xây dựng trên hai mô hìnhchính là Đại gia đình và Tiểu gia đình, mà cụ thể như sau:
Đại gia đình là mô hình gia đình được tổ chức theo tộc họ và được đặtdưới chế độ phụ quyền Song quy mô tổ chức của gia đình - tộc họ cũng nhưcách vận hành của chế độ phụ quyền không giống nhau tuy theo gia đìnhđược hình dung ở góc độ kinh tế hay ở góc nghi lễ, tín ngưỡng Ở góc độkinh tế, gia đình - tộc họ gồm tất cả những người thuộc các thế hệ khác nhausống trong cùng một nhà (gọi là gia tộc) Gia đình có người đứng đầu gọi làgia trưởng (chủ gia đình) Gia đình, chứ không phải các nhân, là chủ thể củaquyền sở hữu tài sản và việc thực hiện quyền sở hữu đó là của gia trưởng.Cũng chính gia trưởng là người điều hành các công việc thược sinh hoạt nội
bộ của gia đình, kể cả việc dựng vợ, gả chồng cho con, cháu[1]
Ở góc độ nghi lễ, tín ngưỡng, gia đình - tộc họ (còn gọi là dòng họ haytông tộc) gồm tất cả những người có chung một tổ tiên Người đứng đầu gia đìnhgọi là trưởng tộc Các thành viên gia đình có mối quan hệ gắn bó do trước hết họ
có sự quan tâm chung đối với việc thờ cúng tổ tiên cũng như đối với việc gìn giữ
và phát huy truyền thống[13] Những mối quan tâm ấy chỉ gắn với lợi ích tinhthần Bởi vậy, chế độ phụ quyền xoay quanh nhân vật trung tâm là trường tộc, cónhiều nét giống với chế độ trưởng giáo của các
giáo phái Mô hình gia đình - Tộc họ theo chế độ phụ quyền được quyền duytrì trong luật Việt Nam cho đến khi chấm dứt chế độ thuộc địa
Xét về khía cạnh tiểu gia đình có thể coi là một mô hình khá nổi bậthiện tại, tương ứng với chế độ hộ gia đình theo mô hình gia đình được ngườilàm luật XHCN lựa chọn như một biện pháp đấu tranh chống những tàn dưcủa chế độ hôn nhân và gia đình thực dân phong kiến và thúc đẩy quá trìnhdân chủ hóa trong đời sống gia đình Việt Nam Tổ chức gia đình gồm cha mẹ
và con là đối tượng của những quy tắc tạo thành Luật hôn nhân và gia đình
Trang 13năm 1959 Gia đình hộ tiếp thục là đề tài chính của Luật hôn nhân và gia đìnhnăm 1986 và được chi phố trong Luật này bởi một hệ thống quy tắc khá chitiết[10,20].
Gia đình không chỉ là “tế bào” tự nhiên mà còn là một đơn vị kinh tếcủa xã hội Vì thế vai trò của mô hình gia đình có vai trò đặc biệt quan trọngtrong chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ đất nước.Gia đình có vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển của xã hội.Pháp luật về gia đình phải xây dựng hoặc thừa nhận một mô hình gia đìnhnhất định trong việc điều tiết gia đình (với tính cách là một hiện tượng kháchquan đối với loài người nhưng chủ quan đối với mỗi cá nhân trong việc tạolập gia đình) Những chuẩn mực giá trị tốt đẹp của gia đình được tiếp nhận,phát triển góp phần xây dựng, tô thắm, làm rạng rỡ thêm bản sắc văn hóa dântộc Đại hội XI, Đảng ta khẳng định: Gia đình là môi trường quan trọng, trựctiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách, góp phần chăm lo xây dựngcon người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệmcông dân, có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi, sống có văn hóa, nghĩa tình, cótinh thần quốc tế chân chính[23]
Con người Việt Nam chỉ có thể được trang bị những phẩm chất tốt đẹpnếu có một môi trường xã hội tốt Môi trường đó trước hết là từ mỗi gia đình,mỗi tế bào của xã hội Gia đình chịu trách nhiệm trước xã hội về sản phẩm củagia đình mình, có trách nhiệm nuôi dưỡng và giáo dục con cái, cung cấp cho xãhội những công dân hữu ích Cùng với nhà trường, gia đình tham gia tích cựcnhiệm vụ “dạy người, dạy chữ”, tạo ra lực lượng lao động tương lai chất lượngcao Gia đình chính là “đơn vị xã hội” đầu tiên cung cấp lực lượng lao động cho
xã hội Từ những người lao động chân tay giản đơn đến lao động trí óc đềuđược sinh ra, nuôi dưỡng và chịu sự giáo dục của gia đình
Trang 14Gia đình không chỉ giữ vai trò nền tảng, tế bào của xã hội mà còn làmôi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống, hình thành nhân cách contrẻ Gia đình là nơi giữ gìn, vun đắp, phát huy những giá trị truyền thống quýbáu của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam đã hình thành trong quá trìnhlịch sử dựng nước, giữ nước Đó là lòng yêu nước, yêu quê hương, yêuthương đùm bọc lẫn nhau, thủy chung, hiếu nghĩa, hiếu học, cần cù, sáng tạotrong lao động, bất khuất kiên cường vượt qua mọi khó khăn, thử thách
Gia đình cũng là nơi tiếp thu, giữ gìn và lưu truyền các giá trị văn hóatruyền thống của dân tộc Thông qua các câu chuyện cổ tích, ca dao, tục ngữ, cha
mẹ, ông bà là những người thầy đầu tiên dạy dỗ, nuôi dưỡng tâm hồn, phát triển
tư duy và từng bước giáo dục hình thành nhân cách cho mỗi con người Qua laođộng, qua việc xử lý các mối quan hệ hằng ngày, gia đình đã truyền thụ cho contrẻ những nét đẹp của truyền thống gia đình, dòng họ, truyền thống văn hóa dântộc[19] Từ đó mỗi cá nhân hình thành và bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tựhào dân tộc, tình cộng đồng, lòng nhân ái, tinh thần tự lực, tự cường, anh hùngtrong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình, chăm chỉ cần cù trong lao độngsản xuất Gia đình cũng giữ vai trò đặc biệt quan trọng tới số lượng, chất lượngdân số và cơ cấu dân cư của quốc gia
Trong mỗi gia đình, vai trò của cha mẹ có vị trí tối quan trọng Theotruyền thống Việt Nam, đàn ông thường là chủ của gia đình Người cha là trụcột, là biểu hiện của nhân cách văn hóa cao đẹp nhất để con cái học tập và noitheo Còn người mẹ là chỗ dựa, là hạt nhân tâm lý chủ đạo, nguồn lửa sưởi ấmyêu thương trong gia đình, nguồn tình cảm vô tận cho các con[17] Vì thế, giađình là cái nôi văn hóa đầu tiên hình thành nhân cách cho trẻ em Trình độ vănhóa, tri thức và hiểu biết của bố mẹ cũng phần nào tác dộng đến sự hình thànhnhân cách, đạo đức và trí tuệ của thế hệ nối tiếp, đồng thời cũng tác động
Trang 15không nhỏ tới quá trình phát triển và hoàn thiện xã hội tiến tới xã hội vănminh, tiến bộ.
Xã hội chuyển động ngày một nhanh hơn, các “tế bào” của xã hội chịuảnh hưởng mạnh mẽ của thế giới bên ngoài, đặc biệt là từ thế giới internet,chịu tác động bởi nền kinh tế hàng hóa và cơ chế thị trường nên văn hóa giađình đang có biểu hiện xuống cấp vì những tác động xấu của đời sống xã hội.Mặt trái của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đã kích thích nhu cầuham muốn vật chất, ít chú trọng đời sống tình cảm tinh thần, tình trạng xungđột gia đình dẫn đến đổ vỡ và ly hôn ngày càng gia tăng, làm cho gia đìnhkhông được bền vững[21, 22] Vì thế, để tạo dựng nền tảng vững chắc chothế hệ tương lai, phải bắt đầu giáo dục con trẻ trong gia đình - trước khinhững mầm non ấy đặt chân tới trường và tiếp xúc với môi trường xã hội Đóđược xem là những viên gạch đầu tiên để xây dựng nên nhân cách của mộtcon người, một thế hệ
Từ đây có thể đưa ra định nghĩa về mô hình gia đình như sau: “Mô hình gia đình là một định chế đã tồn tại trước khi có sự điều chỉnh của pháp luật Mô hình gia đình xây dựng mối quan hệ, trách nhiệm giữa các thành viên trong gia đình với nhau được hình thành dựa trên sự xác lập hôn nhân, quy định các mối quan hệ và nghĩa vụ giữa các thành viên gia đình với nhau
để thực hiện đúng vai trò của hôn nhân gia đình.”
1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của các học thuyết về xây dựng mô hìnhgia đình
1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển của mô hình gia đình
Theo Ăngghen, các mô hình gia đình trong lịch sử luôn gắn với phươngthức sản xuất và chế độ xã hội nhất định Sự vận động, biến đổi của gia đình phụthuộc vào sự vận động và biến đổi của xã hội Gia đình “là sản vật của một chế
độ xã hội nhất định, hình thức đó sẽ phản ánh trạng thái phát triển của
Trang 16chế độ xã hội đó”[1.2] Ăngghen cũng vạch rõ nguồn gốc phát triển của cáchình thức gia đình trong lịch sử là do sự tác động của quy luật đào thải tựnhiên và do sự phát triển của những điều kiện kinh tế - xã hội, sự phát triểncủa tâm lý, đạo đức, tình cảm của con người, trong đó sự phát triển của cácđiều kiện kinh tế - xã hội là yếu tố quyết định Những điều kiện kinh tế - xãhội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định có tác dụng quyết định đến hình thức
tổ chức và kết cấu của gia đình “Chế độ gia đình hoàn toàn bị quan hệ sở hữuchi phối” Ngược lại, gia đình và trình độ phát triển của gia đình cũng có tácđộng rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, ảnh hưởng trựctiếp đến việc tái tạo ra bản thân con người để bảo vệ nòi giống cũng như táitạo ra sức lao động cho sản xuất xã hội
Thực tế lịch sử cho thấy, gia đình lần lượt biến đổi tương ứng vớinhững giai đoạn phát triển xã hội khác nhau Theo Ăngghen, trong xã hộicông xã nguyên thủy, trình độ lực lượng sản xuất rất thấp, cá nhân không táchrời tập thể, cuộc sống cộng đồng về nhiều mặt… đã tạo nên hình thức gia đìnhtập thể – quần hôn Mỗi bước tiến của xã hội cộng đồng nguyên thủy và kếtquả do đào thải tự nhiên lại đưa đến những dạng mới, mang sắc thái tiến bộhơn cho hình thái gia đình này Giai đoạn đầu của xã hội cộng đồng nguyênthủy có gia đình cùng dòng máu ( huyết thống ), các tập đoàn hôn nhân đềuphân theo thế hệ Đến giai đoạn giữa của xã hội cộng đồng nguyên thuỷ xuất
hiện gia đình punaluna ( bạn thân), trong đó quan hệ tỉnh giao giữa anh ẹm
trai với chị em gái đã bị hủy bỏ và giai đoạn cuối cùng của xã hội này đã hìnhthành gia đình cặp đôi ( đối ngẫu), trong đó kết hôn từng cặp đã tồn tại ( tuycòn lỏng lẻo); trong số vợ rất đông của mình, người đàn ông có một người vợchính, và trong số nhiều người chồng khác, anh ta lại là người chồng chínhcủa người đàn bà ấy Những kiểu trên cúa gia đình tập thể – quần hôn đều có
Trang 17đặc trưng là: tính giao tập thể, kinh tế cộng đồng nguyên thủy, chế độ mẫu hệ,không có áp lực và bất bình đẳng giữa các thành viên[2].
Ăngghen cho thấy rằng, trong thời kỳ đầu tiên của lịch sử nhân loại đãtừng tồn tại những hình thức khác nhau của chế độ quần hôn, sau đó xuất hiệnhôn nhân đối ngẫu, kết hợp những đôi riêng lẻ trong một thời kỳ nhất định.Cuối cùng, chế độ hôn nhân một vợ, một chồng xuất hiện Gia đình một vợ,một chồng được nảy sinh từ gia đình cặp đôi vào lúc giao thời giữa giai đoạngiữa và giai đoạn cao của thời đại dã man Thắng lợi của gia đình một vợ, mộtchồng là một trong những dấu hiệu của buổi đầu của thời đại văn minh Giađình một vợ, một chồng được hình thành chủ yếu do sự phát triển của lựclượng sản xuất làm nảy sinh chế độ tư hữu và sự phân chia giai cấp trong xãhội Hình thức này được duy trì cho đến ngày nay và sẽ ngày càng hoàn thiệnhơn khi xuất hiện chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất Gia đình một
vợ, một chồng trong chế độ tư hữu trở thành những đơn vị kinh tế của xã hội.Ăngghen viết: Việc chuyển sang chế độ tư hữu hoàn toàn được thực hiện dầndần và song song với việc chuyển từ hôn nhân cặp đôi sang chế độ một vợmột chồng Gia đình cá thể bắt đầu trở thành đơn vị kinh tế của xã hội.Ph.Ăngghen vạch rõ chế độ một vợ một chồng là hình thức gia đình đầu tiênkhông dựa trên những điều kiện tự nhiên mà dựa trên những điều kiện kinh tế,tức là trên thắng lợi của sở hữu tư nhân đối với sở hữu công cộng nguyênthủy và tự phát Sự phân tích toàn diện của Ăngghen về quá trình phát sinh vàphát triển của các hình thức gia đình cho thấy tính liên tục một cách khoa họcnhất, đúng đắn nhất của lịch sử nhân loại, điều mà trước kia chưa từng diễn
ra Lần đầu tiên trong lịch sử, bằng những cứ liệu khoa học, Ăngghen đã chỉ
ra các hình thức hôn nhân chính tương ứng với các giai đoạn phát triển khácnhau của nhân loại[1]
Trang 18Khi viết về gia đình, về hôn nhân và tình yêu nam nữ, Ăngghen tánthành quan điểm của Moóc gan cho rằng: “Gia đình là yếu tố năng động, nókhông bao giờ đứng nguyên một chỗ, mà chuyển từ hình thức thấp lên mộthình thức cao, như xã hội phát triển từ một giai đoạn thấp lên một giai đoạncao”[2] Các Mác và Ăngghen đã vận dụng quan điểm duy vật về lịch sử đểnghiên cứu xã hội loài người Các ông coi sự vận động phát triển và thay thếlẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội là quá trình phát triển lịch sử - tựnhiên Các ông cũng dự báo sự ra đời của hình thái kinh tế - xã hội cộng sảnchủ nghĩa, mà giai đoạn đầu của nó là “chủ nghĩa xã hội” Điều đó là do quyluật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượngsản xuất, trong các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất thì con người có vaitrò quyết định, mà con người cụ thể chính là sản phẩm duy trì nòi giống củagia đình.
Trong nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, không chỉ các quan hệ xãhội mà cả quan hệ gia đình cũng bị thay đổi Sự yên ấm của từng gia đìnhcũng có thể bị phá vỡ theo dòng xoáy nền sản xuất tư bản chủ nghĩa: “Chínhnền sản xuất tư bản chủ nghĩa lại có sứ mệnh phải gây cho lối hôn nhân đómột vết rạn quyết định Biến mọi thứ thành hàng hoá” đồng thời “xé toangtấm màn tình cảm bao phủ những quan hệ gia đình và làm cho những quan hệ
ấy chỉ còn là những quan hệ tiền nong đơn thuần”[2]
Gia đình của xã hội văn minh được hình thành trên nền tảng của tìnhyêu và hôn nhân, đó cũng là những quyền hết sức cơ bản của con người -quyền được tự do yêu đương và tự do kết hôn, được cộng đồng xã hội tôntrọng và bảo vệ: “Hiện nay chỉ có trong giai cấp vô sản thì tình yêu nam nữmới có thể trở thành một quy tắc”, và muốn thực hiện được điều đó,“tất yếuphải xác lập sự bình đẳng xã hội thật sự giữa hai bên” Dưới chế độ tư hữu,phụ nữ phải chịu đựng một nghịch lý: vai trò lớn nhưng địa vị thấp hèn cả
Trang 19trong gia đình lẫn ngoài xã hội; luôn chịu cảnh bất bình đẳng với nam giới, bịbóc lột, bị tha hoá Trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau, các hình thức bấtbình đẳng tuy có thay đổi nhưng bản chất thì không thay đổi Các Mác còn tốcáo sự lợi dụng, bóc lột tinh vi, dã man và tàn bạo của chủ nghĩa tư bản Phụ
nữ bị đối xử kém hơn cả so với súc vật, họ phải lao động nặng nhọc trongnhững điều kiện khắc khổ: “để kéo thuyền dọc sông Đào, thỉnh thoảng người
ta vẫn còn dùng phụ nữ thay cho ngựa”[1,2]
Theo Lênin: “Muốn triệt để giải phóng phụ nữ, muốn làm cho họ thực
sự bình đẳng với nam giới, thì phải có nền kinh tế chung của xã hội, phải đểphụ nữ tham gia vào lao động sản xuất chung Như thế, phụ nữ mới có địa vịbình đẳng với nam giới”
Ăngghen viết: “Hiện nay, chúng ta đang tiến tới một cuộc cách mạng
xã hội, trong đó các cơ sở kinh tế từ trước tới nay của chế độ một vợ mộtchồng cũng như cơ sở của điều bổ sung cho nó là nạn mại dâm, đều nhất định
sẽ bị tiêu diệt…các tư liệu sản xuất mà được chuyển thành tài sản xã hội thìchế độ lao động làm thuê, giai cấp vô sản cũng sẽ biến mất, và đồng thời cũng
sẽ không còn một tình trạng một số phụ nữ… cần thiết phải bán mình vì đồngtiền nữa chế độ một vợ một chồng không những không suy tàn, mà cuốicùng lại còn trở thành một hiện thực - ngay cả đối với đàn ông nữa” Tuynhiên nếu gia đình một vợ một chồng không đáp ứng được yêu cầu của xãhội, không tiến triển cùng được với sự tiến triển của xã hội thì tất yếu sẽ cómột hình thức gia đình mới ra đời thay thế nó Vậy là theo quy luật phát triển,loài người tất yếu sẽ tiến một bước cao hơn thời đại xã hội tư bản chủ nghĩa,
đó là xã hội cộng sản chủ nghĩa mà trước hết phải xây dựng giai đoạn đầu
-xã hội -xã hội chủ nghĩa Gia đình cũng vậy, cũng phải có những bước tiến đểtheo kịp và phản ánh đúng, tiến triển cùng xã hội xã hội chủ nghĩa[2,10]
Trang 201.3.2 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam về mô hình gia đình
Trước năm 1945, Việt Nam là nước thuộc địa nửa phong kiến, quan hệhôn nhân gia đình thời kỳ này được điều chỉnh bởi một số bộ luật dân sựđược áp dụng cho từng khu vực Việt Nam như Bộ luật dân sự Bắc Kỳ 1931;
Bộ luật dân sự Trung kỳ 1936; Bộ luật giản yếu 1883
Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975 là thời kỳ Việt Nam bị chia cắtthành hai miền Nam Bắc Miền Bắc làm cuộc cách mạng dân tộc dân chủnhân dân, sau đó tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; Miền Namtiến hành cuộc cách mạng giải phóng để thống nhất nước nhà Pháp luật điềuchỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình ở mỗi miền có khác nhau Ở miền Bắc từnăm 1945 - 1958, trong giai đoạn này Bản Hiến pháp được Quốc hội nướcViệt nam dân chủ cộng hòa thông qua ngày 09/11/1946 có ý nghĩa quan trọngtrong đời sỗng xã hội Việt Nam Tại điều 9 Hiến pháp 1946 quy định: “Đàn
bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” Nội dung này là cơ sởpháp lý về quyền bình đẳng nam và nữ trong quan hệ hôn nhân, là quyền tắc
để giải quyết các quan hệ hôn nhân trong chế độ mới mà ngay sau đó nguyêntắc này được thể hiện rõ trong một số sắc lệnh liên quan tới hôn nhân và giađình trong thời kỳ này Ví dụ Sắc lệnh số 159 - SL được ban hành ngày17/11/1950 của Chủ tịch nước quy định về vấn đề ly hôn Sắc lệnh số 97 - SLngày 22/5/1950 của Chủ tịch nước về sử đổi một số quy định về hôn nhân vàgia đình Sắc lệnh số 97 - SL tuyên bố bãi bỏ việc thi hành ba bộ luật Bộ luậtdân sự Bắc Kỳ 1931; Bộ luật dân sự Trung kỳ 1936; Bộ luật giản yếu 1883trên toàn cõi Việt Nam Từ năm 1959 - 1975 trong giai đoạn này, bản Hiếnpháp mới của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được quốc hội thông qua tại
kỳ họp thứ 11 ngày 31/12/1959 Về vấn đề liên quan tới quan hệ hôn nhân giađình, đoạn 1 điều 24 Hiến pháp năm 1959 quy định như sau: “ Phụ nữ nước
Trang 21Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinhhoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình” Đoạn 4 điều 24 Hiến pháp
1959 quy định “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình” Xuất phát từ tìnhhình thực tế về quan hệ hôn nhân và gia đình trong trình hình mới, Luật hônnhân và gia đình Việt Nam được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 11 ngày29/12/1959 Điểm đáng lưu ý là việc ra đời của Luật hôn nhân và gia đìnhnăm 1959 được xem như dấu mốc cho việc tách quan hệ hôn nhân gia đình rakhỏi ngành luật dân sự thành ngành luật độc lập[16,17]
Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân gia đình ở miền Nam Việt Namvẫn chịu sự điều chỉnh của các quy định trong Bộ luật dân sự giản yếu Nam
kỳ 1883 cho đến năm 1959 Ngày 02/01/1959 chính quyền Ngô Đình Diệmcông bố Luật gia đình Tháng 11/1963 chính quyền Ngô Đình Diệm bị phếtruất và Luật gia đình năm 1959 của chế độ đó bị hủy bỏ bởi Sắc luật số15/64 Ngày 20/12/1972 Bộ luật dân sự được ban hành thay thế cho sắc luật
số 15/64 cùng văn bản sửa đổi và bổ sung Sắc luật này trước đó Như vậy từtháng 12/1972 cho đến ngày 30/4/1975 các quan hệ hôn nhân dưới chínhquyền Sài Gòn chịu nhiều sự điều chỉnh bởi các quy phạm quy định trong Bộdân luật này
Giai đoạn từ năm 1975 - 1986: Sau khi thống nhất đất nước, các quan hệ
xã hội nói chung và quan hệ hôn nhân nói riêng ở hai miền Nam _ Bắc cùngđược điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật của nhà nước Việt Nam thống nhất.Tại kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa VI đặt tên cho nước Việt Nam thốngnhất là “Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Đây là cơ sở pháp lý đểthống nhất về mặt nhà nước và pháp luật trên phạm vi cả nước Quan hệ hônnhân và gia đình trên cả nước trong thời gian này được điều chỉnh bởi Luật hônnhân và gia đình đang được áp dụng ở miền Bắc, đó là Luật hôn nhân và giađình năm 1959 Sau đó Hiến pháp năm 1980 của nước Cộng hòa
Trang 22xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khóa VI thông qua trong kỳ họpthứ 7 Bản Hiến pháp này quy định nhiều nguyên tắc cho việc ban hành cácvăn bản pháp luật đối với tất cả các lĩnh vực trong đó có lĩnh vực hôn nhân vàgia đình Về vấn đề hôn nhân được quy định tại Điều 63, 64 của Hiến pháp.Theo đó nam nữ có quyền ngang nhau trong quan hệ hôn nhân và gia đình; hônhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bìnhđẳng Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình Các nguyên tắc này cùng vớicác quy định của Luật hôn nhân và gia đình 1959 là cơ sở pháp lý để điềuchỉnh quan hệ hôn nhân cho tới khi Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 cóhiệu lực.
Giai đoạn từ năm 1986 - 1993, trong giai đoạn này, Luật hôn nhân vàgia đình năm 1986 được ban hành thay thế cho Luật hôn nhân và gia đìnhnăm 1959 Trong gia đình xã hội chủ nghĩa, Luật này quy định hướng tới vợchống bình đẳng, thương yêu, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, khuyến khích cácchủ thể tham gia tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ
Tổ quốc, nhà nước cho rằng cha mẹ nên cùng nhau nuôi dạy con thành nhữngcông dân có ích cho xã hội Kế thừa và phát triển Luật hôn nhân và gia đìnhnăm 1959, để tiếp tục xây dựng và củng cố gia đình xã hội chủ nghĩa, giữ gìn
và phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc, Luật Hôn nhân vàgia đình 1986 đã giữ gìn lại những tập quán tốt đẹp của dân tộc, và tiến hànhxoá bỏ những tục lệ lạc hậu, những tàn tích của chế độ hôn nhân và gia đìnhphòng kiến, chống ảnh hưởng của chế độ hôn nhân và gia đình tư sản
Giai đoạn từ năm 1993 - 2000, trong giai đoạn này, sự ra đời của Luậthôn nhân và gia đình 2000 kế thừa và phát huy thành tựu của Luật Hôn nhân
và gia đình năm 1959 và năm 1986 của nhà nước ta, Luật Hôn nhân và giađình năm 2000 ra đời đã góp phần đề cao vai trò của gia đình trong đời sống
xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa đạo đức tốt đẹp của gia
Trang 23định Việt Nam, qua đó có những đóng góp đáng kể vào việc phát triển nguồnnhân lực, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương nói riêng
và đất nước nói chung[9]
Thông qua những quy định cụ thể , Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 đã góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đìnhtiến bộ, ấm no hạnh phúc ở Việt Nam, bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyềncông dân, đặc biệt là quyền của phụ nữ và trẻ em trong lĩnh vực hôn nhân vàgia đình, tạo ra hành lang pháp lý góp phần thiết lập và bảo đảm sự an toàncho các quan hệ tài sản phát sinh trong nội bộ các thành viên gia đình cũngnhư các giao dịch giữa các thành viên gia đình với các chủ thể khác trong xãhội; ghi nhận quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân
và gia đình có yếu tố nước ngoài
Tuy nhiên sau 13 năm đi vào cuộc sống, trong bối cảnh đất nước bướcsang giai đoạn phát triển mới, cùng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước và hội nhập quốc tế, các quan hệ hôn nhân và gia đình đã cónhững thay đổi đáng kể cần có sự điều chỉnh phù hợp hơn của pháp luật.Trong bối cảnh như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã bộc lộ một
số điểm bất cập, hạn chế Do đó, việc sửa đổi, bổ sung Luật này là yêu cầucấp thiết nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tế các quan hệ xã hội phát sinh tronglĩnh vực hôn nhân và gia đình
Sau một thời gian tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các địa phương và
bộ ngành có liên quan và thông qua quá trình tiếp thu, chỉnh lý của cơ quansoạn thảo, ngày 19/6/2014, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIII Luật Hônnhân và gia đình sửa đổi chính thức được thông qua, với 10 chương, 133 điềuquan hệ hôn nhân gia đình sẽ có những quy định pháp lý điều chỉnh về chế độhôn nhân và gia đình; chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử giữa các thànhviên gia đình; trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, Nhà nước và xã hội
Trang 24trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Cụ thể, Luật quyđịnh những vấn đề như: Kết hôn; quan hệ giữa vợ và chồng; chấm dứt hônnhân; quan hệ giữa cha, mẹ và con; quan hệ giữa các thành viên khác của giađình; cấp dưỡng; quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Trang 25CHƯƠNG II: CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG MÔ HÌNH GIA ĐÌNH CỦA VIỆT NAM THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA
ĐÌNH NĂM 2014
2.1 Những quy định của pháp luật trước đây về mô hình gia đình
2.1.1 Xác lập quan hệ hôn nhân
Theo Việt Nam dân luật lược khảo, giá thú là sự phối hợp, được luật phápcông nhận, giữa một người đàn ông và một người đàn bà với mục đích lập giađình sinh con để nối rõi và thờ phụng tổ tiên[15] Vì mục đích nối rõi là mụcđích cốt yếu của định chế giá thú, cho nên ngày xưa khi lấy vợ không có con,người chồng có quyền rẫy vợ Ngày nay, theo quan niệm Tây phương, mục đích
ấy không có tính cách thiết yếu nữa Vì vậy trong những cớ ly hôn, sự không cócon để phụng sự tổ tiên không được nhà làm luật chấp nhận Hơn nữa, sau khi đãlàm giá thú, người chồng không thể tự ý bỏ vợ; gặp trường hợp nào cũng vậy,muốn bỏ vợ phải theo thủ tục ly hôn đã ấn định trong luật Bởi vậy, hiện nay cóthể định nghĩa giá thú như sự phối hợp giữa một người đàn ông và một ngườiđàn bà, được pháp luật công nhận và không thể tự ý hủy bỏ được Trong việcgiá thú, sự ưng thuận của hai vợ chồng là một điều kiện căn bản, vì vậy người ta
có thể coi giá thú như một khế ước, do sự thỏa thuận của hai bên kết lập màthành Tuy nhiên, xét cho kỹ, bản chất pháp lý của giá thú không giống bản chấtcủa các khế ước khác Hai vợ chồng không thể tự mình ấn định hiệu lực của giáthú theo như ý riêng trong các khế ước Trái lại, hiệu lực của giá thú đối với hai
vợ chồng cũng như đối với các con đã do các điều khoản trong luật quy địnhsẵn; các sự không thể sửa chữa được, thay đổi theo ý riêng Vì lẽ ấy, một phầnhọc lý đã coi giá thú là một định chế chứ không phải là một khế ước Quan niệmnày nâng cao giá thú lên địa vị một tập thể hữu quan, một đoàn thể trong xã hộivượt ngoài ý chí cá nhân của các đương sự Một vài luật gia cho rằng vấn đề ấnđịnh rõ bản tính của giá thú
Trang 26không khỏi ảnh hưởng đến vấn đề quy định việc ly hôn Nếu coi giá thú nhưmột khế ước, tất nhiên sẽ đi đến chỗ chấp nhận thuận tình ly hôn, như trongdân luật của Pháp từ 1804 đến 1816 và trong ba bộ dân luật ban hành tại ViệtNam trong thời kỳ Pháp thuộc, vì ý chí cá nhân có thể tiêu hủy được nhữngđiều gì đã do ý chí ấy lập ra Trái lại với quan niệm giá thú là một định chế,định chế ly hôn phải gạt bỏ, vì một định chế là một cơ quan lâu dài không thểtiêu diệt được Sự thực, giải quyết vấn đề ly hôn trên căn bản yếu tính của giáthú như trên là một điều ngộ nhận Dù giá thú được coi là một định chế, điềunày cũng không phải là một luận cứ vững chắc để gạt bỏ hẳn sự ly hôn Khimột định chế không thể đạt được những mục đích đã trù liệu, định chế ấy chỉcòn là một cái xác không hồn, cần phải tiêu diệt Như vậy quan niệm “giá thúđịnh chế” không phải là bất khả tương hợp với ý niệm ly hôn Thiết tưởng đểlàm nội rã địa vị quan trọng của giá thú, có thể liên hợp cả hai quan niệm trên
để coi giá thú như một định chế được đặt trên sự thỏa thuận của hai vợchồng Quan niệm chiết trung này vừa tỏ rõ sự ưng thuận của vợ chồng làthiết yếu trong việc hôn nhâ, vừa nhấn mạnh vào điểm giá thú không phải chỉ
là một hành vi luật pháp thùy thuộc hoàn toàn ý chí của các đương sự
Kết hôn, theo định nghĩa chính thức của Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 tại Ðiều 8 khoản 2, là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quyđịnh của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn[8,13] Như vậyKết hôn là một giao dịch có tính pháp lý chứ không phải là một giao dịch có ýnghĩa vật chất hoặc tôn giáo; đó là một giao dịch xác lập trong đời sống dân
sự chứ không phải trong đời sống tâm linh và là một giao dịch được xác lậpvới sự tham gia bắt buộc của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Các điều kiện
về nội dung của việc kết hôn phải được cơ quan Nhà nước kiểm tra một cáchchặt chẽ; Kết hôn là một giao dịch long trọng, tuân theo những quy địnhnghiêm ngặt về trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Những quy định ấy tạo
Trang 27thành tập hợp các điều kiện về hình thức của việc kết hôn Các điều kiện kếthôn, trong khung cảnh của luật thực định Việt Nam, được xếp vào nhóm cácquy tắc mang tính mệnh lệnh bắt buộc Vi phạm các điều kiện ấy, hôn nhân bịcoi là trái pháp luật và có thể bị hủy Quan hệ vợ chồng mà vi phạm các điềukiện ấy không được coi là quan hệ hôn nhân và không thể làm phát sinh các
hệ quả pháp lý của quan hệ hôn nhân
2.1.2 Thiết lập mối quan hệ giữa cha mẹ và con
Quan hệ cha mẹ - con ruột
Đây làm mối quan hệ có tính chất tự nhiên, quan hệ cha mẹ - con rằngbuộc những người có liên quan một cách tự nhiên và được người thứ 3 nhìnnhận mà không cần sự can thiệp của luật, không cần dựa vào các quy tắc pháp
lý Với tính cách là quan hệ tự nhiên, quan hệ cha mẹ - con có thể được xácđịnh dựa vào một trong hai yếu tố hoạc cả hai yếu tố: sinh học và xã hộihọc[13]
Từ lâu, thực tiễn dân gian vẫn thừa nhận việc sử dụng giấy khai sinh đểchứng minh quan hệ cha mẹ - con trong nhiều trường hợp Trong suy nghĩlành mạnh phù hợp với tâm lý của dân cư, giấy khai sinh là bằng chứng vềviệc có một người được sinh ra vào ngày tháng năm được ghi nhận trên giấy
tờ đó; người này có cha và mẹ lần lượt được ghi tên ở các mục tương ứngtrong Giấy khai sinh
Xác định quan hệ cha mẹ-con như là quan hệ tự nhiên Với tínhcách là quan hệ tự nhiên, quan hệ cha mẹ-con có thể được xác định dựa vào mộttrong hai yếu tố: sinh học và xã hội học Trong quan niệm truyền thống, con ruộtcủa cha và mẹ là con do người mẹ sinh ra từ một bào thai do người mẹ cưu mang
và bào thai đó là kết quả của sự phối hợp xác thịt của cha và mẹ Giả sử ngày sinhcủa con được xác định; làm thế nào để xác định ngày thành thai của con ? Luậtviết chưa trả lời câu hỏi này Trước khi có Luật hôn
Trang 28nhân và gia đình năm 1986, một số văn bản lập quy của cơ quan hành chínhhoặc cơ quan xét xử có ghi nhận các quy tắc về việc suy đoán khoảng thờigian mà trong khoảng thời gian đó người phụ nữ có thể mang thai Các quytắc ấy không giống nhau và hầu như không được áp dụng một cách phổ biếntrong thực tiễn Y học truyền thống, về phần mình, ghi nhận rằng trong đa sốtrường hợp, khoảng cách về thời gian giữa thời điểm thành thai và thời điểmsinh là chín tháng[16] Bài toán về xác định quan hệ cha mẹ-con bằng dữ kiệnsinh học được tục lệ giải quyết khá đơn giản: cha mẹ hai bên tổ chức lễ cướicho một cô gái và một chàng trai vào ngày rằm tháng Giêng; Hai vợ chồng lyhôn vào ngày 29 tháng Tư; người vợ sinh con vào đêm 30 tháng Chạp Vậy,con thành thai vào khoảng tháng Ba, nghĩa là trong thời kỳ hôn nhân; kếtluận: đó là con chung của người vợ và người chồng đã ly hôn Trường hợpsinh sản nhân tạo Trước Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 luật Việt Namchưa có các quy tắc liên quan đến việc xác định quan hệ cha mẹ-con trongtrường hợp sinh sản nhân tạo Tuy nhiên, thực tiễn có xu hướng thừa nhậnrằng: Nếu sự thụ tinh là kết quả sự phối hợp giữa các yếu tố vật chất của vợ
và chồng, thì trẻ sinh ra có cha và mẹ là chồng và vợ đó, người mang thai hộchỉ đóng vai trò người hỗ trợ cần thiết cho sự ra đời của trẻ ấy Nếu vợ hoặcchồng không cung cấp được yếu tố vật chất của chính mình cho việc thụ tinh,thì lai lịch của người cung cấp yếu tố bổ khuyết không được công bố cho vợ
và chồng biết, cũng như bản thân người cung cấp yếu tố bổ khuyết khôngbiết lai lịch của vợ và chồng muốn có con bằng con đường thụ tinh nhân tạo.Con được sinh ra coi như có cha và mẹ ruột là người chồng và người vợ đó
Yếu tố xã hội học : Giả thiết được hình dung như sau: một người thứ bađứng trước hai người A và B Nguyễn Văn A giới thiệu với người thứ ba rằngNguyễn Văn B là con ruột của mình Người thứ ba ghi nhận sự tồn tại của mốiquan hệ cha-con giữa hai người đối diện không chỉ thông qua lời giới thiệu
Trang 29mà còn qua thái độ cư xử của hai người đối với nhau Ta nói rằng sự tồn tạicủa quan hệ cha mẹ-con được xác định nhờ những biểu hiện bên ngoài củamối quan hệ ấy Một cách tổng quát, quan hệ cha mẹ-con được xác định vềphương diện xã hội, như là kết quả của sự hội tụ của ba yếu tố:
Thứ nhất, đó là danh xưng đối với Con của một người mang họ của
người đó Thông thường, con sinh ra từ quan hệ hôn nhân mang họ cha Consinh ra từ quan hệ chung sống như vợ chồng cũng thường mang họ cha, trừtrường hợp những người chung sống như vợ chồng chấp nhận tập tục củacộng đồng dân tộc ít người mà họ có xuất xứ, theo đó, con sinh ra phải mang
họ mẹ Con của một người phụ nữ độc thân thường mang họ của chính ngườiphụ nữ đó
Thứ hai là thái độ Việc chỉ mang chung một họ thôi là chưa đủ Các
đương sự phải cư xử với nhau như cha-con, mẹ-con Việc cha, mẹ cư xử với
tư cách đó trong quan hệ với con thể thiện một cách chung nhất qua việc cha
mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục, gầy dựng tương lai của con Việc con cư
xử với tư cách đó trong quan hệ với cha mẹ thể hiện một cách chung nhất quaviệc con tỏ ra kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡîng, tuân theo lời khuyên củacha mẹ
Và cuối cùng, chính là dư luận Quan hệ cha, mẹ - con chỉ có giá trị nếu
quan hệ đó được thừa nhận bởi gia đình và xã hội, bởi bất kỳ người thứ ba nàocũng như bởi quyền lực công cộng: ông bà gọi cha mẹ đến để góp ý về cách giáodục con; nhà trường gọi cha mẹ đến để họp bàn về việc học của con; Tòa án gọicha mẹ đến để tham gia vào vụ án hủy hoại tài sản của người khác mà con chưathành niên là thủ phạm; Trong tất cả những trường hợp đó, người thứ ba cũngnhư quyền lực công cộng thừa nhận quan hệ cha mẹ-con chỉ trên cơ sở ghi nhận
sự hội tụ của những yếu tố xã hội đặc trưng của quan hệ ấy
Xác định quan hệ cha mẹ-con như là quan hệ pháp lý
Trang 30Việc xác định quan hệ cha mẹ-con về phương diện pháp lý chịu sự chiphối của những quy tắc đặc thù, được xây dựng tùy theo việc xác định đượcthực hiện trong hay ngoài thủ tục tư pháp Bằng chứng chung là Giấy khaisinh Giấy khai sinh là chứng thư hộ tịch được lập nhằm ghi nhận các yếu tốđặc trưng của sự kiện một người nào đó, xác định, được sinh ra Trong đa sốtrường hợp, trên giấy khai sinh, tên họ của cha và mẹ được ghi nhận Giá trịchứng minh của giấy khai sinh đối với quan hệ cha mẹ-con ruột Không mộtvăn bản nào trong luật viết Việt Nam hiện hành quy định rằng giấy khai sinh
là bằng chứng về quan hệ cha mẹ-con ruột[13] Tuy nhiên, thực tiễn giao dịchvẫn thừa nhận việc sử dụng giấy khai sinh để chứng minh quan hệ ấy trongnhiều trường hợp Trong suy nghĩ lành mạnh phù hợp với tâm lý của dân cư,giấy khai sinh là bằng chứng về việc có một người được sinh ra; người này
có cha và mẹ lần lượt được ghi tên ở các mục tương ứng trong giấy khaisinh Ngay cả trong trường hợp những người được khai là cha và mẹ của đứatrẻ không có đăng ký kết hôn hợp lệ, thì tư cách cha và mẹ cũng có thể đượcchứng minh bằng cách dựa vào các ghi tiết được ghi nhận trên giấy khai sinh
Trong cả hai trường hợp trên, thực tiễn dường như vẫn có xu hướngxác định quan hệ cha mẹ-con của các đương sự theo các tiêu chí được chấpnhận cho quan hệ cha mẹ-con gắn với quan hệ hôn nhân hợp pháp Ðặc biệt,nếu con sinh ra hoặc thành thai trong thời kỳ chung sống của hai người, thìthực tiễn thừa nhận đó là con chung của vợ và chồng Ta nói rằng con ngoàigiá thú trong hai trường hợp đó là con ngoài giá thú một cách ngoại lê Ngoàihai trườìng hợp đó, con ngoài giá thú được gọi là con ngoài giá thú theonghĩa hẹp
2.1.3 Quan hệ của các thành viên trong gia đình với nhau
“Điều 103 Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định:
Trang 311 Các thành viên gia đình có quyền, nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ,tôn trọng nhau Quyền, lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản của các thành viêngia đình quy định tại Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan đượcpháp luật bảo vệ.
2 Trong trường hợp sống chung thì các thành viên gia đình có nghĩa vụ thamgia công việc gia đình, lao động tạo thu nhập; đóng góp công sức, tiền hoặctài sản khác để duy trì đời sống chung của gia đình phù hợp với khả năng thực
tế của mình
3 Nhà nước có chính sách tạo điều kiện để các thế hệ trong gia đình quantâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau nhằm giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp củagia đình Việt Nam; khuyến khích các cá nhân, tổ chức trong xã hội cùng tham giavào việc giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt
Nam.”
Các quy định của pháp luật đã phần nào khái quát hóa được các yếu tốquan hệ của các thành viên trong gia đình với nhau giữa ba mối quan hệ làquan hệ giữa vợ và chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con, quan hệ giữa ông bà
và các cháu Quan hệ hôn nhân vợ chồng được coi là nền tảng và có ảnhhưởng mạnh mẽ đến hạnh phúc, độ bền vững và phát triển của gia đình nóichung Có một số khía cạnh đáng quan tâm trong mối quan hệ vợ chồng hiệnnay Gia đình và mối quan hệ gần gũi với cha mẹ là yếu tố bảo vệ quan trọngđối với thanh, thiếu niên Trong xã hội, cha mẹ là người chịu trách nhiệmchính chăm sóc trẻ từ tuổi ấu thơ cho đến tuổi trưởng thành, đặc biệt ở tuổitrước khi đi học, nơi trẻ có thể tiếp thu nhiều tri thức mới mẻ khác Các quanniệm, kì vọng, cách thức giáo dục, ứng xử khác nhau của cha mẹ và điều kiệnchăm sóc ở các gia đình ảnh hưởng mạnh đến sự phát triển thể chất, tinh thầncủa trẻ em Các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra nhiều khía cạnh hạn chế trongmối quan hệ giữa cha mẹ và con cái chưa trưởng thành hiện nay Giá trị của
Trang 32con cái là một trong những đặc điểm đáng quan tâm khi xem xét mối quan hệcha mẹ - con cái Số liệu cho thấy việc có con trai vẫn là một mục tiêu theođuổi của nhiều gia đình từ các góc độ khác nhau: nối dõi, nguồn nhân lực, trợgiúp khi tuổi già Hiện nay, gia đình đang đóng vai trò chủ yếu phụng dưỡng,chăm sóc người cao tuổi Việc dựa vào gia đình phụng dưỡng chăm sócngười cao tuổi giúp giảm áp lực cho nhà nước về chi phí trong điều kiện nềnkinh tế và ngân sách quốc gia còn gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, người caotuổi sống dựa vào con cháu có khó khăn vì bản thân cuộc sống còn nhiều vất
vả của con cháu
Các quy định trên phần nào đã khái quát được các vấn đề quan trọng
mà các thành viên trong gia đình phải đảm bảo để thực hiện các nghĩa vụ đốivới nhau Pháp luật chỉ mang tính khái quát chứ không quá tập trung khai thácsâu vào nội bộ gia đình để đảm bảo được sự tự chủ trong quan hệ hôn nhân vàgiữa vững được các giá trị truyền thống tốt đẹp còn lưu lại
2.2 Những quy định của luật Hôn nhân và gia đình 2014 về mô hình gia đình
2.2.1 Những điểm mới của Luật hôn nhân và gia đình 2014
Từ 01/01/2015, Luật hôn nhân & Gia đình chính thức có hiệu lực vàthay thế cho Luật hôn nhân & Gia đình 2000 (sau đây gọi là Luật 2000) Sovới Luật 2000 thì Luật 2014 rất nhiều sự khác biệt, cụ thể như sau:
Về phạm vi điều chỉnh, vấn đề này được quy định ngay tại Điều 1 củađạo luật 2014 Điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở Điều 1 Luật 2000.Theo đó, quy định ngắn gọn, xúc tích về phạm vi điều chỉnh thông qua việc
bỏ phần nhiệm vụ trong Luật 2000 vì nội dung này đã được lồng ghép vàonhững nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân & gia đình
Trong khi đó, những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân & gia đìnhcũng được quy định tại Điều 2 của luật này Điều này cũng đã được sửa đổi,
Trang 33bổ sung trên cơ sở Điều 2 Luật 2000 Theo đó, về cơ bản điều luật giữ nguyêncác nguyên tắc của Luật 2000, kèm theo đó bổ sung nguyên tắc “xây dựng giađình ấm no, tiến bộ hạnh phúc”, “kế thừa phát huy truyền thống văn hóa, đạođức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân & gia đình” Điều này dườngnhư khẳng định chắc chăn hơn vai trò của truyền thống xã hội, truyền thốngvăn hóa nhân văn tác động rất mạnh mẽ đến không chỉ đời sống hôn nhân dân
sự mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến pháp luật điều chỉnh Pháp luật ngày càngđược dung hòa hơn với thực tiễn đời sống Luật 2014 cũng bỏ đi nguyên tắc:
“Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá giađình” Bởi một lẽ, chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình một phần cũngđược bao hàm trong nguyên tắc xây dựng gia đình ấm no, tiền bộ, hành phúc
Sự lược bỏ này là hợp lý và cần thiết
Để giải thích từ ngữ, thuật ngữ được quy định trong luật cũng như diễndải một phần các quy phạm trong Luật hôn nhân và gia đình, Luật 2014 đãđưa việc giải thích từ ngữ quy định tại Điều 3 luật này Điều luật trên đượcsửa đổi bổ sung trên cơ sở Điều 8 Luật 2000 Theo đó, bổ sung thêm các thuậtngữ mới như sau: Tập quán hôn nhân & gia đình (khoản 4), chung sống như
vợ chồng (khoản 7), cản trở kết hôn, ly hôn (khoản 10), kết hôn giả tạo (khoản11), yêu sách của cải trong kết hôn (khoản 12), ly hôn giả tạo (khoản 15),thành viên gia đình (khoản 16), người thân thích (khoản 19), nhu cầu thiếtyếu (khoản 20), sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (khoản 21), mang thai
hộ vì mục đích nhân đạo (khoản 22), mang thai hộ vì mục đích thương mại(khoản 23) Việc giải thích những từ ngữ này là vô cùng cần thiết bởi luậtphải được đơn giản hóa về mặt ngữ nghĩa mới có thể giúp chúng dễ dàngđược tiếp cận và thực thi trong nhân dân
Khi quy định về Trách nhiệm của Nhà nước và xã hội đối với hôn nhân
& gia đình, Luật 2014 dành riêng một điều luật quy định tại Điều 4 để đề cập
Trang 34đến vấn đề trên Điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở điều 3 Luật 2000.Theo đó, về cơ bản nội dung cũ được giữ nguyên, chỉ sắp xếp lại về mặt hìnhthức câu chữ Sự sắp xếp lại sao cho phù hợp với những quy luật khách quantrong công tác quản lý nhà nước cũng như hợp lý hơn nữa về mặt logic trênkhía cạnh khoa học pháp lý về trách nhiệm của nhà nước và xã hội đối vớiquan hệ hôn nhân và gia đình.
Bảo vệ chế độ hôn nhân & gia đình cũng là một vấn đề luôn nắm vaitrò quan trọng khi pháp luật điều chỉnh Để quy định rõ về sự bảo vệ này, Luật
2014 quy định tại Điều 5 xoay quanh các vấn đề về việc đảm bảo cho chế độhôn nhân và gia đình văn minh, hiện đại và giàu văn hóa được duy trì Điềunày được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở Điều 4 Luật 2000 Theo đó, về cơ bảnnội dung cũ được giữ nguyên và bổ sung các hành vi cấm sau: Thực hiện sinhcon bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vìmục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính, lợi dụngviệc thực hiện quyền hôn nhân & gia đình để mua bán người, bóc lột sức laođộng, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi Đồngthời bổ sung quy định: “Danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư và cácquyền riêng tư khác của các bên được tôn trọng, bảo vệ trong quá trình giảiquyết vụ việc về hôn nhân & gia đình Sự bảo vệ này từ phía pháp luật và nhànước nhằm đảm bảo hơn nữa quyền và lợi ích của người yếu thế trong quan
hệ trên, đồng thời cân bằng đến mức tối ưu nhất lợi ích của các nhóm chủ thểtrong quan hệ hôn nhân và gia đình
Để thống nhất các quy phạm pháp luật, Luật 2014 đề cao sự dẫn chiếucác quy phạm có liên quan đến việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đìnhkhi quy định nó tại Điều 6 luật này Việc ap dụng quy định của Bộ luật dân sự
và các luật khác có liên quan trong điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sởĐiều 5 Luật 2000 Theo đó, về cơ bản nội dung cũ được giữ nguyên chỉ sửa
Trang 35đổi “ luật về hôn nhân và gia đình” thành “Luật này” nhằm lược bỏ và đơngiản hóa điều luật, hướng tới việc tạo nên một điều luật ngắn gọn mà có ýnghĩa dễ hiểu.
Về vấn đề áp dụng tập quán về hôn nhân & gia đình, Luật 2014 quyđịnh tại Điều 7 với việc sửa đổi, bổ sung trên cơ sở Điều 6 Luật 2000 Theo
đó, bổ sung quy định: “Chính phủ quy định chi tiết về vấn đề này” nhằm dẫnchiếu tới các văn bản quy phạm pháp luật khác sẽ được Chính phủ ban hành.Nội dung này sẽ được hướng dẫn cụ thể bởi văn bản pháp luật từ Chính phủnhằm làm rõ ràng và chi tiết hơn vấn đề, giúp cho việc áp dụng được dễ dàng
và hiệu quả hơn
Để có được sự phù hợp với các quy định trong các ngành luật khác,Luật 2014 đã quy định về Điều kiện kết hôn tại Điều 8 với sự tiến bộ đáng kể.Điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở điều Điều 9 & 10 Luật 2000 Theo
đó, độ tuổi kết hôn đối với nữ là từ đủ 18 tuổi (Luật 2000 là từ 18 tuổi), nam
là từ đủ 20 tuổi (Luật 2000 là từ 20 tuổi) Việc này cũng giảm được nhữngvướng mắc trong hoạt động tố tụng và xét xử quan hệ Hôn nhân và gia đìnhtrong Luật Tố tụng dân sự Bên cạnh đó, khi Luật 2000 cấm kết hôn giữanhững người cùng giới tính, thì nay Luật 2014 sửa đổi thành: “Nhà nướckhông thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” Như vậy, phápluật cũng dần dần tiến tới thừa nhận sự tồn tại của hôn nhân đồng giới màkhông cho nó là một hành vi vi phạm pháp luật nữa Việc này cũng đồngnghĩa với việc nhà nước cho phép kết hôn giữa những chủ thể này, nhưngkhông bảo vệ họ bằng các chế định trong pháp luật hôn nhân và gia đình Cácvấn đề phát sinh trong quan hệ này sẽ không có hiệu lực và được điều chỉnhvới Luật dân sự đối với vấn đề tài sản
Về vấn đề Đăng ký kết hôn Điều 9 Luật 2014 cũng đã quy định khángắn gọn và dễ hiểu về thủ tục cũng như nguyên tắc cơ bản của việc đăng ký
Trang 36kết hôn Điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở điều 11 Luật 2000 Theo
đó, điều này được quy định ngắn gọn lại khi dẫn chiếu việc đăng ký đượcthực hiện theo quy định của Luật hộ tịch và bỏ nội dung “Chính phủ quy địnhviệc đăng ký kết hôn ở vùng sâu, vùng xa” Như vậy, việc đăng ký kết đượcthống nhất trên toàn quốc
Người có quyền yêu cầu việc hủy kết hôn trái pháp luật được quy địnhtại Điều 10 Luật 2014 với sự sửa đổi bổ sung đáng kể Điều này được sửa đổi,
bổ sung trên cơ sở điều 15 Luật 2000 Theo đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức cóquyền tự mình yêu cầu Toà án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Toà án hủyviệc kết hôn trái pháp luật được bổ sung thêm: cơ quan quản lý nhà nước vềgia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em “Thay thế” cho Ủy ban bảo vệ
và chăm sóc trẻ em Như vậy, việc đảm bảo quyền yêu cầu hủy kết hôn tráipháp luật dường như được quy định rộng mở hơn nhằm đảm bảo thượng tônpháp luật, đảm bảo hiệu lực thi hành của luật hôn nhân và gia đình, đồng thờibảo vệ được các quyền và lợi ích chính đáng cho các bên chủ thể
Khi quy định về Xử lý việc kết hôn trái pháp luật, Luật 2014 đã quyđịnh tại Điều 11 với những tiến bộ nhất định Điều này được sửa đổi, bổ sungtrên cơ sở điều 16 Luật 2000 Theo đó, quy định chi tiết và rõ ràng hơn Luật
2000 về vấn đề xử lý hành vi kết hôn trái pháp luật sao cho giảm thiểu đượccác hệ quả xấu mà hành vi này gây ra Đồng thời bổ sung một khoản: “Tòa ánnhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ tưpháp phối hợp thực hiện điều này” Sự phân công phối hợp này nhằm giảiquyết triệt để hơn nữa việc phát hiện, giải quyết và xử lý vấn đề một cáchthống nhất và có hiệu quả
Còn với Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật, Luật 2014cũng có những thay đổi khi quy định tại Điều 12 Điều này được sửa đổi, bổsung trên cơ sở điều 17 Luật 2000 Theo đó, về cơ bản nội dung này được giữ
Trang 37nguyên nhưng chỉnh sửa về mặt hình thức câu chữ Ngoài việc, quy định giảiquyết quyền lợi của các con thì Luật 2014 còn quy định “ giải quyết quyền,nghĩa vụ của cha, mẹ, con” Sự đảm bảo cân bằng quyền lợi giữa tất cả cácchủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình ngày càng được nâng cao hơnnữa Và đó là sự bảo đảm cần thiết khi quy định về vấn đề này.
Xử lý việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền được quy định tạiĐiều 13 Luật 2014 Đây là điều luật mới với quy định như sau: Trong trườnghợp việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền thì khi có yêu cầu, cơ quannhà nước có thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn theo quyđịnh của pháp luật về hộ tịch và yêu cầu hai bên thực hiện lại việc đăng ký kếthôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong trường hợp này, quan hệ hônnhân được xác lập từ ngày đăng ký kết hôn trước Việc quy định như vậyvừa nâng cao trách nhiệm của nhà nước trong việc đăng ký kết hôn khi màxảy ra nhầm lẫn về thầm quyền đăng ký, cơ quan đăng có thẩm quyền phảithực hiện việc xử lý khi có yêu cầu của chủ thể Bên cạnh đó thừa nhận việckết hôn có hiệu lực từ lần đăng ký trước đó nhằm đảm bảo cho việc kết hônhợp pháp được tồn tại đúng với thời điểm mà nó xuất hiện
Tại Điều 14, Luật 2014 quy định về Giải quyết hậu quả của việc nam, nữchung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn Đây là điều luậtmới được quy định như sau: Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định củaLuật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thìkhông làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng Quyền, nghĩa vụ đối vớicon, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy địnhtại Điều 15 và Điều 16 của Luật này Trong trường hợp nam, nữ chung sống vớinhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiệnviệc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xáclập từ thời điểm đăng ký kết hôn” Điều luật thừa nhận
Trang 38một thực tế về việc chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn làmột hành vi đã và đang tồn tại trong đời sống hôn nhân thực tế Khi quy định
về vấn đề này, pháp luật cũng đã dự liệu phương hướng giải quyết theo quyđịnh của luật này và bên cạnh đó cũng như cho phép các chủ thể đăng ký kếthôn, và hiệu lực của quan hệ hôn nhân này chỉ bắt đầu khi xuất hiện sự kiệnđăng ký kết hôn
Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chungsống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn cũng được quy địnhmới tại Điều 15 Luật 2014 Điều luật mới này quy định như sau: “Quyền,nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giảiquyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con”.Như vậy, mặc dù quan hệ vợ chồng trong hôn nhân không được hình thànhtheo quy định của pháp luật, nhưng quan hệ của cả nam và nữ đối với ngườicon được sinh ra được xác lập và hình thành nên các quyền và nghĩa vụ của
họ đối với con giống như những quyền và nghĩa vụ của cha và mẹ được quyđịnh trong luật này Sự khác biệt được biết đến là quan hệ giữa cha và mẹ củangười con sinh ra không phải là quan hệ vợ chồng được pháp luật thừa nhận
Khi nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kếthôn, việc giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của họ được giảiquyết theo quy định tại Điều 16 Đây là điều luật mới được quy định như sau:Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợchồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên;trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luậtdân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan Cho đến các quy địnhnày, sự thỏa thuận của các bên chủ thể vẫn được đề cao, khi sự thỏa thuận khôngtồn tại hoặc không đạt được, pháp luật dân sự là bệ đỡ thứ hai nhằm đảm bảocho quyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan được thực thi
Trang 39Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ
nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đờisống chung được coi như lao động có thu nhập Như vậy, sự bảo đảm quyền
và lợi ích cho người phụ nữ và con cũng được đề cao hơn với sự công bằngnhất định
Sự bình đẳng về quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng cũng là một quy địnhkhá tiến bộ tại Điều 17 Luật này Điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sởđiều 19 của Luật 2000 Theo đó, bổ sung đoạn “trong việc thực hiện cácquyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này vàcác luật khác có liên quan” Như vậy, sự bảo đảm công bằng giữa nam và nữangày càng được pháp luật bảo vệ Khi mà các quyền và nghĩa vụ của vợchồng đạt được sự cân bằng hợp lý và tối ưu nhất, khi đó sự công bằng sẽđược thể hiện Đó chính là giá trị mà pháp luật phải mang lại không chỉ trongLuật hôn nhân và gia đình mà cả trong các luật khác.[29]
Tại Điều 18, Bảo vệ quyền, nghĩa vụ về nhân thân của vợ, chồng cũng
là một khía cạnh được quy phạm hóa Đây là điều luật mới với quy định nhưsau: “Quyền, nghĩa vụ về nhân thân của vợ, chồng quy định tại Luật này, Bộluật dân sự và các luật khác có liên quan được tôn trọng và bảo vệ” Pháp luậthướng tới không chỉ là sự bảo đảm các quyền lợi của chủ thể, quan hệ đượcchủ thể xác lập bằng một đạo luật chuyên ngành, mà bên cạnh đó, sự bảo đảmchặt chẽ được thể hiện thông qua việc bảo vệ quan hệ pháp luật cũng nhưquyền và lợi ích của các chủ thể bằng mạng lưới các luật có liên quan Sự bảođảm này không chỉ chặt chẽ hơn mà nó còn tạo nên hiệu quả hơn trong việcxây dựng hệ thống pháp luật quốc gia
Về tình nghĩa vợ chồng được quy định tại Điều 19 Điều này được sửađổi, bổ sung trên cơ sở điều điều 18 của Luật 2000 Theo đó, bổ sung nộidung sau: “Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ
Trang 40chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập,tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đángkhác” Như vậy, dường như pháp luật cho rằng, việc tình thể hiện tình nghĩa
vợ chồng được thể hiện rõ nhất trong việc vợ và chồng sống chung với nhau,trừ khi có thỏa thuận khác Điều này dự trên thực tiễn đời sống xã hội của conngười cũng như truyền thống văn hóa của nước ta Khi người vợ và chồngsống chung với nhau, sự gắn kết giữa các chủ thể trong quan hệ sẽ được chặtchẽ và bền vững hơn Do đó, sống chung là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởngđến tình nghĩa vợ chồng
Khi hình thành quan hệ hôn nhân và gia đình, việc lựa chọn nơi cư trú của
vợ chồng cũng là một vấn đề khá phức tạp Luật 2014 đã quy định về vấn đề nàytại Điều 20 Điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở điều 20 của Luật 2000
Về cơ bản nội dung này được giữ nguyên và bổ sung thêm từ “thỏa thuận” trongviệc lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng Như quy định trên, khi được quyền thỏathuận về nơi ở, những hủ tục về vấn đề cưới xin như việc cô dâu bắt buộc phải
về ở làm dâu nhà chồng hay người con trai bắt buộc phải
ở rể nhà vợ sẽ dần được hạn chế Điều này góp phần cho việc áp dụng phong tục tập quán phù hợp hơn với văn minh nhân loại cũng như tiến bộ xã hội
Để đảm bảo tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng, Luậtnày cũng xây dựng quy phạm tại Điều 21 như một sự bảo đảm pháp lý chắcchắn Điều này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở điều 21 của Luật 2000 Theo
đó, Điều luật này lược bỏ quy định “Cấm vợ, chồng có hành vi ngược đãi,hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau” bởi khoản 1 đãbao hàm nội dung này Sự chồng chéo giữa các quy phạm tại các điều luật cầnphải được hạn chế và giảm thiểu nhiều hơn nữa, giúp cho Luật có tính đơngiản, dễ hiểu và dễ áp dụng hơn