Trên thếgiới hiện nay, so với Việt Nam, mặc dù là một đất nước nhỏ bé, hầu như không có tài nguyên thiên nhiên nhưng Singapore lại là quốc gia phát triển trong sốnhững nước hàng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ VÂN ANH
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÓ TRÌNH ĐỘ CAO TỪ KINH
NGHIỆM CỦA SINGAPORE
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ VÂN ANH
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÓ TRÌNH ĐỘ CAO TỪ KINH
NGHIỆM CỦA SINGAPORE
Chuyên ngành : Luật Kinh Tế
Mã số
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Ngô Đức Mạnh
Hà Nội – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lê Thị Vân Anh
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục ký hiệu viết tắt
PHẦN MỞĐẦ
U 1
Chương 1- CƠ SỞ LÝ LUÂṆ VỀ NGUỒ N NHÂN LƯỰC VÀPHÁT TRIỂ N NGUỒ N NHÂN LƯỰC CÓTRÌNH ĐỘCAO 7
1.1 Nguồn nhân lưcỰ vàphát triển nguồn nhân lưcỰ 7
1.1.1 Khái niệm về nguồn nhân lực 7
1.1.2 Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực 9
1.1.3 Nhưững nhân tốảnh hưởng đến nguồn nhân lưcỰ 13
1.2 Nguồn nhân lực có trình độ cao 16
1.2.1 Quan niệm chung về nguồn nhân lực có trình độ cao 16
1.2.2 Phân loại nguồn nhân lực có trình độ cao 21
1.2.3 Vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao ở Việt Nam hiện nay 23
Chương 2 - THƯỰC TRANGỰ PHÁP LU ẬT VỀ NGUỒ N NHÂN LƯỰC CÓ TRÌNH ĐỘ CAO Ở VIỆT NAM VÀ SINGAPORE HIỆN NAY 34
2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về nguồn nhân lực có trình độ cao 34
2.1.1 Hệ thống văn bản pháp luật về nguồn nhân lực có trình độ cao của Việt Nam 34
2.1.2 Hạn chế và nguyên nhân tồn tại của hệ thống pháp luật về nguồn nhân lực có trình độ cao ở Việt Nam 47
2.2.1 Điều kiêṇ tư Ựnhiên, kinh tế– xã hội của Singapore 56
2.2.2 Hệ thống văn bản pháp luật về nguồn nhân lực có trình độ cao của Singapore 58
Trang 52.2.3 Thực trạng về nguồn nhân lực có trình độ cao ởSingapore hiêṇ nay 62
Tiểu kết chương 2 65Chương 3 - PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PH ÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬTVIÊṬ NAM VỀ
PHÁT TRIỂ
N NGUỒ
N NHÂN LƯỰC CÓTRÌNH ĐỘCAO
THEO KINH NGHIỆM CỦA SINGAPORE 66
3.1 Kinh nghiệm về phát triển nguồn nhân lực có trình độ c ao ởSingaporehiêṇ nay 66
3.1.1 Kinh nghiệm về xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực 66
3.1.2 Kinh nghiệm về giáo dục – đào tạo 683.1.3 Kinh nghiệm về đào tạo chuyên môn, chuyển giao kiến thức nghề
nghiệp, kỹ năng làm việc cho người lao động theo nhu cầu phát triển của các
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NNL
Bộ luật Dân sự
Luật giáo dục
Luật sở hữu trí tuệ
Luật công nghệ cao
Luật cán bộ, công chức
Luật giáo dục đại học
Luật khoa học và công
: Luật công nghệ cao số 21/2008/QH12 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
: Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 của của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
: Luật giáo dục đại học số 08/2012/QH13 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
: Luật khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
: Nghị định số 141/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thihành một số điều của Luật giáo dục đại học
: Nghị định số 40/2014/NĐ-CP ngày 12/05/2014của Chính phủ quy định việc sử dụng, trọng dụng cánhân hoạt động khoa học và công nghệ
: Nghị định số 87/2014/NĐ-CP ngày 22/09/2014của Chính phủ quy định về thu hút cá nhân hoạt độngkhoa học và công nghệ là người Việt Nam ở nước
Trang 7ngoài và chuyên gia nước ngoài tham gia hoạt độngkhoa học và công nghệ tại Việt Nam, có hiệu lực thihành kể từ ngày 10/11/2014.
Quyết định số 45 : Quyết định số 45/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
phủ về chế độ phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp đối vớingười làm việc trong các đơn vị thuộc lĩnh vực nănglượng nguyên tử của Bộ Khoa học và Công nghệ banhành ngày 15/08/2014, có hiệu lực thi hành kể từ ngày01/10/2014
Trang 8PHẦN MỞĐẦ
U
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Từ xưa đến nay, ở Việt Nam và trên thế giới, sự tồn vong, suy thịnh củaquốc gia, đều phụ thuộc rất lớn vào nguồn nhân lực (NNL) của quốc gia.Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học công nghệ hiệnđại, kinh tế trí thức và toàn cầu hoá, các nước ngày càng chú ý nhiều hơn đếnphát triển nguồn nhân lực có trình độ cao Nguồn nhân lực đã trở thành lợi thếcạnh tranh của nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới Phát huy vai trò của phápluật để phát triển, nâng cao trình độ nguồn nhân lực ngày càng được các nướcchú trọng nhằm phát huy nội lực đất nước trước sự cạnh tranh quyết liệt vàgay gắt giữa các quốc gia dân tộc trên thế giới trong không gian toàn cầu hóahiện nay
Gần ba mươi năm thực hiện công cuộc Đổi mới đất nước do Đảng takhởi xướng và lãnh đạo, cách mạng Việt Nam đã thu được những thành tựu
to lớn, có ý nghĩa lịch sử Đất nước đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xãhội, chuyển sang thời kỳ phát triển mới: đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước, vững bước đi lên trên con đường xã hội chủ nghĩa Nhữngthành tựu đó tạo điều kiện căn bản và đòi hỏi phải phát triển nguồn nhân lực,nhất là nguồn nhân lực có trình độ cao (hay còn được gọi là nguồn nhân lực
có chất lượng cao) để đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, nguồn nhân lực có trình độ caonước ta có sự phát triển nhanh, đóng góp quan trọng vào những thành tựu tolớn có ý nghĩa lịch sử của đất nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xãhội Pháp luật đã góp phần đặc biệt quan trọng quyết định trực tiếp đến sựphát triển nguồn nhân lực ấy của đất nước Đại hội XI của Đảng đã xác địnhđột phá chiến lược: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là ngồn nhân lực
1
Trang 9chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dụcquốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứngdụng khoa học, công nghệ” [19, tr.106].
Phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao tùy thuộc vào nhiều yếu tố,trong đó vai trò của hệ thống pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Trên thếgiới hiện nay, so với Việt Nam, mặc dù là một đất nước nhỏ bé, hầu như không
có tài nguyên thiên nhiên nhưng Singapore lại là quốc gia phát triển trong sốnhững nước hàng đầu thế giới về thu nhập tính theo đầu người và năng lực cạnhtranh quốc gia; nguồn nhân lực của Singapore được đánh giá là có trình độ vàchất lượng cao so với các nước khác trong khu vực Do đó, những kinh nghiệmquý báu của Singapore trong vấn đề phát triển nguồn nhân lực là rất hữu ích đểViệt Nam có thể tham khảo và học hỏi Vấn đề cấp bách đặt ra đối với Việt Namlà muốn phát triển đất nước thì phải có một nguồn nhân lực có chất lượng vàtrình độ cao, đáp ứng được các yêu cầu phát triển của quốc gia Mà muốn cóđược nguồn nhân lực trình độ cao như vậy thì phải xây dựng một hệ thống phápluật đồng bộ, thống nhất các văn bản pháp luật cụ thể quy định các vấn đề liênquan đến nguồn nhân lực có trình độ cao để hướng tới mục đích có được nguồnnhân lực có trình độ cao đủ sức đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế trong thời kỳ mới, góp phần thực hiệnmục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản là một nước công nghiệp theo hướnghiện đại, xây dựng thành công xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,văn minh như Đảng ta xác định
Những vấn đề đó đã đặt ra một cách rất cấp bách đối với nước ta hiệnnay cả về lý luận và thực tiễn, đòi hỏi phải được nghiên cứu thấu đáo Với ý
nghĩa đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao từ kinh nghiệm của Singapore” cho
luận văn thạc sĩ của mình
Trang 102 Tình hình nghiên cưứu
Ở Việt Nam cho đến nay, trong thực tiễn phát triển kinh tế của đấtnước, thuật ngữ NNL có trình độ cao (hay còn gọi là NNL chất lượng cao)được dùng khá phổ biến mặc dù thuật ngữ này chưa thấy xuất hiện trong từđiển Bách Khoa Việt Nam cũng như các từ điển tiếng Việt hay từ điển kinh tếkhác Đã có một số đề tài khoa học, luận án, luận văn … nghiên cứu các vấnđề liên quan đến nội dung này, cụ thể như:
Tác giả Lê Thị Hồng Điệp (2005), Luận án tiến sĩ kinh tế chính trị,
“Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức
ở Việt Nam”.
Viện Chiến lược phát triển của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2006) đã chủ
trì triển khai nghiên cứu đề tài khoa học cấp Bộ với chủ đề “Nguồn nhân lực chất lượng cao: Hiện trạng phát triển, sử dụng và các giải pháp tăng cường”.
PGS.TS Phạm Hồng Tung (chủ biên) (2008), Sách chuyên khảo,
“Lược khảo về kinh nghiệm phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài trong lịch
sử Việt Nam”.
Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Chủ nghĩaxã hội khoa học (2010), Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài khoa học
cấp cơ sở năm 2010, “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu
cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức”.
TS Nguyễn Hữu Dũng (2002), Tạp chí Lý luận chính trị số 8 T8/2002,
“Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế”.
PGS.TS Đàm Đức Vượng (2008), “Báo cáo khoa học tại Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ ba với chủ đề: Việt nam, Hội nhập và phát triển, Thực trạng và giải pháp về phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam”,
T12/2008
3
Trang 11Tác giả Nguyễn Tiến Dũng, Đỗ Văn Dạo, Tạp chí Lao động và xã hội,
số 329 tháng 2/2008, “Vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay”.
GS.TS Hoàng Văn Châu (2009), Tạp chí Kinh tế đối ngoại số 38/2009,
“Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho hội nhập kinh tế - vấn đề cấp bách sau khủng hoảng”.
GS.TS Nguyễn Văn Khánh, TS Hoàng Thu Hương (2010), Tạp chí
nghiên cứu con người số 1/2010, “Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và triển vọng”.
Thượng tướng, VS.TS Nguyễn Huy Hiệu (2011), Tạp chí Tổ chức
Nhà nước số 6/2011, “Giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN theo tinh thần nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI”.
Hầu hết các công trình nghiên cứu trên đều đi sâu phân tích các giảipháp, chiến lược một cách khái quát, tổng thể về phát triển nguồn nhân lực cótrình độ cao như các giải pháp về giáo dục - đào tạo, các vấn đề cần đặt ra đốivới nguồn nhân lực có trình độ cao trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đạihóa, hay là đối với nền kinh tế tri thức tuy nhiên chưa có công trình nàonghiên cứu một cách toàn diện, cụ thể về việc việc hoàn thiện pháp luật ViệtNam về phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi, phương pháp nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích một số khái niệm chung về nguồn nhân lực vàphát triển nguồn nhân lực có trình độ cao, luận văn đi sâu phân tích, đánh giáthực trạng pháp luật Việt Nam và Singapore về phát triển nguồn nhân lực cótrình độ cao, từ đó đưa ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật
Trang 12Việt Nam về phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Singapore.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn tập trung vào những nhiệm
vụ cụ thể sau:
Một là, phân tích tổng quát các vấn đề lý luận về pháp luật nguồn nhân
lực và phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về nguồn nhân lực có trình
độ cao ở Việt Nam hiện nay, từ đó rút ra được các hạn chế và nguyên nhân tồntại của hệ thống pháp luật về nguồn nhân lực có trình độ cao ở Việt Nam
Ba là, phân tích, đánh giá kinh nghiệm Singapore, nhất là kinh nghiệm
pháp luật về phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao
Bốn là, đề xuất các ý kiến về phương hướng và giải pháp nhằm hoàn
thiện pháp luật Việt Nam về phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao
* Phạm vi nghiên cứu
Với khuôn khổ của Luận văn, luận văn sẽ tập trung đi sâu phân tích cácvấn đề lý luận về pháp luật phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao, thựctrạng pháp luật Việt Nam về phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao và kinhnghiệm phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao của Singapore
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được hoàn thành trên cơ sở vận dụng các phương pháp luậnduy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểmcủa Đảng cộng sản Việt Nam Luận văn cũng sử dụng những phương phápnghiên cứu luật học truyền thống như phương pháp phân tích, phương pháptổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử,
tư duy logic, phương pháp quy nạp, diễn giải … nhằm làm sáng tỏ nội dungvà phạm vi nghiên cứu của đề tài
5
Trang 134 Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận pháp luật vềnguồn nhân lực có trình độ cao, phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao vàtầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao ở Việt Namhiện nay
Luận văn phân tích, đánh giá được thực trạng pháp luật Việt Nam vềphát triển nguồn nhân lực có trình độ cao và kinh nghiệm phát triển nguồnnhân lực có trình độ cao của Singapore
Luận văn đề xuất một số phương hướng và giải pháp mang tính lý luậnvà thực tiễn theo kinh nghiệm của Singapore nhằm hoàn thiện hệ thống phápluật Việt Nam về phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luậnvăn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhânlực có trình độ cao
Chương 2: Thực trạng pháp luật về nguồn nhân lực có trình độ cao ởViệt Nam và Singapore hiện nay
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam vềphát triển nguồn nhân lực có trình độ cao theo kinh nghiệm của Singapore
Trang 14Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUÂṆ VỀ
NGUỒ
N NHÂN LƯCC̣ VÀPHÁT
TRIÊN NGUÔN NHÂN LƯCC̣ CÓ TRÌNH ĐỘ CAO
1.1 Nguồn nhân lưcC̣ vàphát triển nguồn nhân lưcC̣
1.1.1 Khái niêṃ vềnguồn nhân lưcc
Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự pháttriển kinh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, conngười … Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người được nhìn nhận làquan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triểnkinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay Một nước cho dù có tài nguyênthiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có nhữngcon người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó cókhả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và ngày nay trongcông cuộc hội nhập và phát triển nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ, văn minh”, Đảng ta luôn xác định nước ta có nguồnlao động dồi dào, con người Việt Nam có truyền thông yêu nước, cần cù,sáng tạo, có nền tảng văn hoá, giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa họcvà công nghệ là nguồn lực quan trọng nhất - nguồn năng lực nội sinh Vậynguồn nhân lực là gì? Hiện nay, trong quá trình nghiên cứu trên thế giới vàtrong nước, có nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến khái niệm NNLdưới các góc độ khác nhau
Theo Từ điển Tiếng Việt: Nguồn là nơi phát sinh, nơi cung cấp Nhân lực là sức của con người bao gồm: sức lực cơ bắp (thể lực), trình độ tri thức
được vận dụng vào quá trình lao đọng của mỗi cá nhân (trí lực), những hammuốn, hoài bão của bản thân người lao động hướng tới một mục đích xácđịnh (tâm lực) Nhân lực với ý nghĩa đầy đủ của nó bao gồm ba yếu tố: Thể
7
Trang 15lực, trí lực và tâm lực Ba yếu tố đó có quan hệ biện chứng với nhau, trong đótrí lực giữ vai trò quyết định, nhưng thể lực và tâm lực cũng đóng vai trò quantrọng như điều kiện cần thiết không thể thiếu đối với sự phát triển của NNL.
Nguồn nhân lực được hiểu là nơi phát sinh, nguồn cung cấp sức của con
người trên đầy đủ các phương diện cho lao động sản xuất và quản lý
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lànhnghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tếhoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng” [27, tr.3]
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: Nguồn nhân lực của mộtquốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động.Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lựclà nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực conngười cho sự phát triển Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư cóthể phát triển bình thường Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng laođộng của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm cácnhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sảnxuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động,là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trìnhlao động [21, tr.46]
Kinh tế phát triển cho rằng: Nguồn nhân lực là một bộ phận dân sốtrong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động Nguồn nhân lực đượcbiểu hiện trên hai mặt: Về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổilao động làm việc theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thểhuy động được từ họ; về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn,kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động Nguồn lao động là tổngsố những người trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặcđang tích cực tìm kiếm việc làm Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai
Trang 16mặt: số lượng và chất lượng Như vậy theo khái niệm này, có một số đượctính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là: Nhữngngười không có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức lànhững người không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi laođộng quy định nhưng đang đi học…
Theo Giáo sư – Viện sĩ Phạm Minh Hạc cùng các nhà khoa học thamgia Chương trình KX – 07:
Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất lượng conngười,bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, nănglực, phẩm chất và đạo đức của người lao động Nó là tổng thểnguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵnsàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia haymột địa phương nào đó… [25, tr.323]
Có thể thấy rằng, xem xét dưới các góc độ khác nhau nên đã có nhiềuquan điểm khác nhau về NNL Tuy nhiên, những quan điểm này đều thốngnhất một nội dung cơ bản: NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội.Các khái niệm trên đều cho thấy NNL không chỉ đơn thuần là lực lượng laođộng đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thầncủa các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được đem ra hoặc có khảnăng đem ra sử dụng và quá trình phát triển xã hội
Từ những quan niệm trên có thể hiểu rằng Nguồn nhân lực là tổng thể
số lượng và chất lượng con người với các tiêu chí về thể lực, trí lực và tâm lực tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.
1.1.2 Khái niêṃ vềphát triển nguồn nhân lưcc
Sự phát triển nói chung được coi là quá trình vận động theo khuynhhướng đi lên từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện
9
Trang 17hơn Đó là sự biến đổi cả về số lượng và chất lượng của sự vật theo hướng ngàycàng hoàn thiện ở trình độ cao hơn Quan điểm mácxit về sự phát triển, vận dụngvào nghiên cứu con người đã nhấn mạnh yếu tố phát triển con người, lấy conngười làm trung tâm Lịch sử phát triển của nhân loại suy cho cùng là lịch sửphát triển con người Phát triển con người vừa là mục tiêu của phát triển kinh tế
- xã hội, vừa là phương tiện tốt nhất để thúc đẩy sự phát triển
Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một “tài nguyên đặcbiệt”, một nguồn lực của sự phát triển kinh tế Bởi vậy việc phát triển conngười, phát triển NNL trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thốngphát triển các nguồn lực Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảmchắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia Đầu tư chocon người là đầu tư có tinh chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự pháttriển bền vững Phát triển con người hay phát triển NNL ở đây chính là sự giatăng các giá trị về thể chất, trí tuệ, năng lực của từng cá nhân trong điều kiệnphát triển kinh tế - xã hội Đó cũng chính là quá trình mở rộng cơ hội lựa chọnnhằm nâng cao năng lực, trí tuệ và cuộc sống của con người, phù hợp với nhucầu lợi ích mà họ mong muốn
Ngày nay, người ta nói nhiều đến sự phát triển con người bền vững và
có làm được như vậy thì con người mới trở thành động lực phát triển, mụctiêu của phát triển Tuy nhiên, không dễ gì để thu hút sự chú ý của xã hội, củanhững nhà quản lý xã hội vào vấn đề phát triển con người bền vững, nhất là ởnhững quốc gia mà người dân đã phải sống trong giới hạn của mức tiêu dùngtối thiểu đã từ lâu, từ đó họ đang quan tâm nhiều đến quyền được nhận mứcsống cao hơn trong tương lai Nói cách khác, phát triển con người bền vữngcần được hiểu là sự tiến bộ, thông qua việc cải thiện chất lượng cuộc sốngcủa con người Để có được chất lượng cuộc sống cao hơn, chúng ta cần có trithức tốt hơn, có những thành tựu khoa học và công nghệ cao, khoa học xã hộivà nhân văn phát triển, sự thoải mái và hạnh phúc
Trang 18Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc(UNESCO): Phát triển NNL được đặc trưng bởi toàn bộ sự lành nghề của dân
cư, trong mối quan hệ phát triển của đất nước Quan niệm của Tổ chức Laođộng quốc tế (ILO): Phát triển NNL, bao hàm một phạm vi rộng lớn hơn chứkhông chỉ có sự chiếm lĩnh ngành nghề, hoặc ngay cả việc đào tạo nói chung.Quan niệm này dựa trên cơ sở nhận thức rằng, con người có nhu cầu sử dụngnăng lực của mình để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng như thỏa mãnvề nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân Sự lành nghề được hoàn thiện nhờ bổsung nâng cao kiến thức trong quá trình sống, làm việc nhằm đáp ứng kỳ vọngcủa con người [17, tr.11-14]
Liên Hợp Quốc cho rằng, phát triển NNL bao gồm: Giáo dục – đào tạovà sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy nền kinh tế kinh tế - xã hội vànâng cao chất lượng cuộc sống Quan niệm này đã nhấn mạnh khía cạnh xãhội của vấn đề: NNL vừa là một yếu tố của sản xuất, của tăng trưởng kinh tếvà là mục tiêu của phát triển Chú trọng đáp ứng nhu cầu của NNL về văn hóavà tinh thần, mở rộng tầm hiểu biết, cập nhật thông tin, mở rộng các mối liên
hệ xã hội, tạo ra điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của NNL Chất lượngcuộc sống được cải thiện là khi con người thoải mái và hạnh phúc hơn, họ sẽlàm việc hăng say và tạo ra năng suất lao động cao hơn, góp phần làm cho xãhội phát triển hiệu quả và bền vững
Có quan điểm cho rằng: Phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giá trịcho con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như
kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có nhữngnăng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn vàngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội
Một số tác giả khác lại quan niệm: Phát triển là quá trình nâng cao nănglực của con người về mọi mặt: Thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sử
11
Trang 19dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất nguồn nhân lực thông qua hệ thốngphân công lao động và giải quyết việc làm để phát triển kinh tế- xã hội.
Phát triển NNL được coi “là quá trình biến đổi về số lượng, chất lượngvà cơ cấu NNL để ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế - xãhội” [16, tr.20] Quá trình này bao gồm sự phát triển về thể lực, trí lực, khảnăng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề, tính năng động xã hội và sứcsáng tạo của con người Trong đó, nền văn hóa, truyền thống lịch sử dân tộcgóp phần quan trọng trong việc hun đúc nên bản lĩnh, ý chí của mỗi người
Như vậy, phát triển NNL là quá trình nhằm hoàn thiện và nâng cao chấtlượng từng con người lao động (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý- xã hội)đáp ứng đòi hỏi về NNL cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội
Các phương diện thể hiện phát triển NNL bao gồm: Phát triển về sốlượng và chất lượng
Về số lượng được thể hiện ở quy mô dân số, cơ cấu về giới và độ tuổi Về chất lượng là sự phát triển thể hiện ở cả ba phương diện: thể lực, trílực và nhân cách Phát triển thể lực là sự gia tăng chiều cao, trọng lượng cơthể, tuổi thọ, sức mạnh, sự dẻo dai cơ bắp và thần kinh Phát triển trí lực làphát triển năng lực trí tuệ của con người để nhằm đáp ứng yêu cầu của côngviệc đặt ra Phát triển nhân cách là phát triển những phẩm chất chính trị, đạođức, tác phong, lối sống lành mạnh, tính tích cực hoạt động, tinh thần tráchnhiệm công dân Ba phương diện trên có mối quan hệ mật thiết với nhaukhông thể tách rồi trong quá trình phát triển NNL
Căn cứ vào khả năng và mức độ tham gia hoạt động kinh tế thì nguồnnhân lực bao gồm:
- Nguồn nhân lực tham gia hoạt động kinh tế: Là lực lượng laođộng bao gồm những người từ đủ tuổi theo quy định của luật trở lênđang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân và những ngườiđang
Trang 20trong tình trạng không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc.
- Nguồn nhân lực dự trữ: là bộ phận còn lại trong nguồn nhânlực Đây là những bộ phận nhằm có thể bổ sung vào NNL tham giahoạt động kinh tế trong thời gian tương lai
1.1.3 Những nhân tốảnh hưởng đến nguồn nhân lưcc
Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quy mô nguồn nhân lực
- Dân số:
Dân số của một quốc gia có mối liên hệ rất chặt chẽ với quy mô NNL,là gốc sản sinh ra nguồn lao động Quy mô của dân sự phụ thuộc vào tỷ suấttăng tự nhiên của dân số và do vậy quy mô NNL cũng phụ thuộc vào tỷ suấttăng dân số tự nhiên
Sự vận động của dân số, tái sản xuất dân số là cơ sở tự nhiên của sựhình thành NNL và quan hệ giữa tốc độ tăng dân số và tốc độ tăng nguồn laođộng là quan hệ thuận Mối quan hệ đó được biểu hiện sau một thời gian nhấtđịnh, tùy thuộc vào quy định độ tuổi lao động của mỗi quốc gia Tăng, giảmdân số cơ học là kết quả của sự di chuyển, xuất nhập cư của dân số từ mộtvùng, địa phương đến một vùng, địa phương khác, hoặc từ khu vực này đếnkhu vực khác làm giảm dân số đầu đi và tăng dân số nơi tiếp nhận Quá trình
di chuyển, nhập cư dân số bao gồm cả nhập cư lao động, đo đó dẫn đến giảmquy mô NNL đầu đi và tăng quy mô NNL của đầu đến
- Mức độ phát triển của giáo dục, đào tạo:
Giáo dục, đào tạo tác động đến số năm đi học của người lao động Khi hệthống giáo dục, đào tạo phát triển ở mức độ cao thì tỷ lệ dân cư tham gia vàohọc tập tăng lên, số năm đi học của mỗi người tăng lên Đồng thời, các chínhsách của Chính phủ hướng vào kích thích xã hội, hỗ trợ phát triển hệ thống giáodục, đào tạo thì sẽ có nhiều người đi học hơn, NNL tương lai sẽ có
13
Trang 21chất lượng cao hơn, song trước mắt tốc độ phát triển quy mô NNL sẽ chậmlại vì số lượng người đi học đông Giáo dục nâng cao trình độ học vấn,chuyên môn, kỹ thuật và cũng sẽ làm thay đổi nhận thức về sinh đẻ, về số conngười và thời điểm sinh con của các cặp vợ chồng, cuối cùng sẽ tác động đếnquy mô NNL tương lai của quốc gia.
- Môi trường xã hội:
Các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến quy mô NNL bao gồm: An ninh, trậttự an toàn xã hội; bình đẳng xã hội; an toàn giao thông; an toàn vệ sinh thựcphẩm; môi trường sống… Đây là những yếu tố tác động đến tình trạng thamgia lao động của NNL, là một trong những nguồn gốc quan trọng để đảm bảoNNL có sự phát triển ổn định và bền vững, đáp ứng nhu cầu sức lao động củanền kinh tế
- Hợp tác quốc tế về lao động:
Quá trình hợp tác quốc tế về lao động của các quốc gia tác động đến quy mô NNL thong qua các hình thức thông qua các hình thức:
- Di cư ra nước ngoài
- Xuất khẩu lao động
- Nhập khẩu lao động
Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực của mỗi quốc gia chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tốkhác nhau, có những yếu tố thuộc về truyền thống, có những yếu tố phụ thuộcvào sự vận động của xã hội nhưng chủ yếu là do quá trình giáo dục đào tạo,việc làm, thu nhập, năng suất lao động, quan hệ xã hội mà hình thành nên Cụthể là những yếu tố sau:
- Sự phát triển kinh tế - xã hội:
Mức độ phát triển kinh tế - xã hội tác động trực tiếp đến chất lượngNNL ở các khía cạnh sau:
Trang 22+ Trình độ của nền kinh tế tác động đến chất lượng NNL bởi vì đó là cơ
sở để xác định tiền lương, tiền công, phúc lợi xã hội, cải thiện mức sống và nâng cao dân trí của các tầng lớp dân cư cũng như người lao động.+ Tăng trưởng đầu tư
+ Tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế
+ Tác động của phát triển ngành công nghệ thông tin
+ Tác động của tăng trưởng kinh tế đối với khả năng nâng cao đầu tư
của Chính phủ cho giáo dục, đào tạo nâng cao chất lượng NNL
+ Tác động của các yếu tố văn hóa – xã hội
- Tình trạng dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe:
Dinh dưỡng cần thiết cho con người, gồm nhiều yếu tố như lương thực, thực phẩm và các chất dinh dưỡng khác mà cơ thể cần hấp thụ để duy trì sức khỏe Thiếu dinh dưỡng dẫn đến thể lực ốm yếu, khả năng miễn dịch kém… làm cho năng suất lao động thấp và như thế thu nhập thấp, nguy cơ dẫn đến đói nghèo.
Sự phát triển, tính hiệu quả của hệ thống y tế và khả năng tiếp cận của dân
cư với hệ thống này có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của các thế hệ nguồnlao động Thông qua chăm sóc sức khỏe sinh sản, chăm sóc sức khỏe trẻ em, tưvấn về dinh dưỡng… tạo ra khả năng đảm bảo cho thế hệ lao động tương lai cóthể lực, trí lực tốt Cơ chế, chính sách y tế phù hợp sẽ tạo cơ hội cho các tầng lớpdân cư, người lao động đều có khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế, kể cả cácdịch vụ tư vấn chăm sóc về dinh dưỡng và phòng bệnh thường xuyên và do đó
sẽ có tác động đến chất lượng NNL ở phạm vi rộng lớn
- Trình độ phát triền giáo dục đào tạo:
Mức độ phát triển của giáo dục, đào tạo là một trong những yếu tố quantrọng nhất ảnh hưởng đến chất lượng NNL, bởi nó không chỉ quyết định trình
độ văn hóa, chuyên môn – kỹ thuật của người lao động mà còn tác động đếnsức khỏe, tuổi thọ của người dân, thông qua các yếu tố thu nhập, nhận thức và
Trang 2315
Trang 24xử lý thông tin kinh tế - xã hội, thông tin khoa học… Các tác động chính của phát triển giáo dục, đào tạo đối với chất lượng NNL bao gồm:
+ Mức độ phát triển của giáo dục và đào tạo càng cao thì quy mô NNL chuyên môn – kỹ thuật càng mở rộng
+ Mức độ phát triển của giáo dục và đào tạo càng cao thì càng có khả năng nâng cao chất lượng theo chiều sâu của NNL
+ Đầu tư cho giáo dục, đào tạo đúng hướng, hiệu quả sẽ đem lại nhữnglợi ích to lớn, lâu dài cho cá nhân và xã hội Trong đó người lao động lànhững đối tượng trực tiếp được thụ hưởng
- Các chính sách của nhà nước:
Các chính sách của Chính phủ có vai trò quan trọng đối với nâng caochất lượng NNL của quốc gia Chính phủ hoạch định các chính sách, tạo môitrường pháp lý cho phát triển hệ thống giáo dục, đào tạo cả chiều rộng vàchiều sâu Ngoài các chính sách về kinh tế - xã hội hướng vào đảm bảo khôngngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, bảo vệ sức khỏe của dân cư vàngười lao động… thì còn có các chính sách tác động trực tiếp đến chất lượngNNL như:
+ Chính sách xã hội hóa giáo dục;
+ Chính sách phát triển các cơ sở giáo dục, đào tạo chất lượng cao đạt chuẩn khu vực và quốc tế;
+ Chính sách cải cách nội dung, phương pháp giáo dục, đào tạo;+ Chính sách phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên;
+ Chính sách đào tạo gắn với nhu cầu của thị trường lao động…
1.2 Nguồn nhân lực có trình độ cao
1.2.1 Quan niệm chung về nguồn nhân lực có trình độ cao
Chính vì có rất nhiều quan điểm về nguồn nhân lực như đã phân tích ở trên nên có nhiều cách hiểu khác nhau về NNL có trình độ cao Về vấn đề
16
Trang 25này, C.Mác đã từng quan niệm: “Vậy thì nền công nghiệp do toàn xã hội thựchiện một cách tập thể và có kế hoạch lại càng cần có những con người cónăng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông toàn bộ hệ thống sản xuất”[7,tr.474] Khi phân loại lao động thành “lao động giản đơn” và “lao động phứctạp”, C.Mác đã đi đến kết luận: lao động phức tạp (lao động được đào tạo) làbội số của lao động giản đơn.
Các nhà kinh tế học cũng cho rằng: NNL mà hạt nhân của nó là laođộng kĩ thuật là toàn bộ thể lực, trí lực với trình độ chuyên môn, kĩ năng màcon người tích lũy được, có khả năng đem lại thu nhập cao trong tương lai.Theo đó, có ba loại nhân lực chủ yếu quyết định sự phát triển là: người laođộng thể lực; chuyên gia lành nghề và những người có ý tưởng sáng tạo
Ở Việt Nam cho đến nay, thuật ngữ NNL có trình độ cao (hay còn gọi làNNL chất lượng cao) chưa thấy xuất hiện trong từ điển Bách Khoa Việt Namcũng như các từ điển tiếng Việt hay từ điển kinh tế khác, mặc dù trong thực tiễnphát triển kinh tế của đất nước, nó được dùng khá phổ biến Kể từ khi nước tagia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì thuật ngữ này được đề cậpkhá nhiều và chính thức được nhắc đến trong Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam để khẳng định sự hiện diện của một
bộ phận nhân lực đầu tàu trong quá trình phát triển đất nước: “Thông qua việcđổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao,chấn hưng nền giáo dục Việt Nam”[17, tr.34] Đến Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ XI Đảng ta lại khẳng định: “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhânlực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết địnhsự phát triển nhanh, bền vững đất nước” [19, tr.41] Từ quan điểm trên cho thấynhận thức của Đảng ta về NNL có trình độ cao ngày càng đầy đủ và phù hợp với
xu thế phát triển của thời đại, coi NNL có trình độ cao chính là khâu đột phá đểđưa Việt Nam sớm thoát
Trang 26khỏi tình trạng nước kém phát triển và vươn lên trở thành một nước côngnghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Cùng với quan điểm của các nhà kinh điển và Đảng Cộng sản Việt Nam,khái niệm NNL chất lượng cao hay NNL có trình độ cao được bàn luận khá sôinổi, song cho đến nay vẫn chưa có được một khái niệm thống nhất Mỗi tác giả,tùy theo góc độ tiếp cận của mình đưa ra các quan niệm khác nhau
Theo GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn cho rằng: “Nguồn nhân lực chấtlượng cao – một nguồn nhân lực mới, là một lực lượng lao động có học vẫn,
có trình độ chuyên môn cao và nhất là có khả năng thích ứng nhanh vớinhững thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất” [12, tr.185]
GS.VS Phạm Minh Hạc cho rằng:
NNL chất lượng cao là đội ngũ nhân lực có trình độ và năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, thực hiện có kết quả việc ứng dụng vào điều kiện nước ta là hạt nhân lĩnh vực của mình vào CNH – HĐH được mở rộng theo kiểu “vết dầu loang” bằng cách dẫn dắt những bộ phận công nhân có trình độ và năng lực thấp hơn, đi lên với tốc độ nhanh [23, tr.147-148].
TS Nguyễn Hữu Dũng, Viện trưởng Viện Khoa học Lao động – Xã hộithì cho rằng:
NNL chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, mộtngười lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn kỹthuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại laođộng về chuyên môn kỹ thuật nhất định (trên đại học, đại học,cao đẳng, công nhân lành nghề) [16, tr.20]
Tác giả Đỗ Văn Dạo cho rằng:
NNL chất lượng cao là bộ phận lao động xã hội có trình độ họcvấn và chuyên môn kỹ thuật cao; có kỹ năng lao động giỏi và có
18
Trang 27khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng củacông nghệ sản xuất; có sức khỏe và phẩm chất tốt, có khả năngvận dụng sáng tạo những tri thức, những kỹ năng đã được đàotạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chấtlượng và hiệu quả cao [13, tr.29-32].
Theo cách hiểu mang tính định tính, NNL có trình độ cao được xem làmột bộ phận của lực lượng lao động, có khả năng đáp ứng những yêu cầuphức tạp của công việc; từ đó tạo ra năng suất và hiệu quả cao trong côngviệc, có những đóng góp đáng kể cho sự tăng trưởng và phát triển của cộngđồng nói riêng và cho toàn xã hội nói chúng Còn nếu tiếp cận theo địnhlượng thì NNL có trình độ cao cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau.Thứ nhất, NNL có trình độ cao là những người lao động đã qua đào tạo, cóbằng cấp và trình độ chuyên môn kỹ thuật Tuy nhiên, khái niệm “lao độngqua đào tạo” khá phức tạp vì hiện nay có rất nhiều hình thức đào tạo khácnhau Học nghề ngắn hạn hay học cao đẳng, đại học đều có thể được cho vàokhái niệm “lao động qua đào tạo” Nếu coi NNL có trình độ cao là lao độngqua đào tạo thì sẽ có một sự phân hóa lớn về trình độ của nguồn nhân lực này.Cách hiểu định lượng hẹp hơn, NNL có trình độ cao là NNL có trình độ đạihọc, cao đẳng; nguồn nhân lực lãnh đạo, quản lý và hoạch định chính sách,nguồn nhân lực khoa học công nghệ, đội ngũ giảng viên các trường đại học,cao đẳng… Còn có một cách hiểu hẹp hơn nữa là chỉ xem những người cótrình độ thạc sĩ, tiến sĩ là nguồn nhân lực có trình độ cao
Ngoài ra, còn có những thuật ngữ cụ thể mang ý nghĩa gần gũi và được xãhội chấp nhận Những quan niệm này có nội hàm hẹp hơn và để chỉ người laođộng có trình độ, có chất lượng, đạt hiệu quả lao động trong hai lĩnh vực chủyếu: trong lĩnh vực sản xuất vật chất như chuyên gia, nghệ nhân…; trong lĩnhvực lao động trí óc, bên cạnh hệ thống học vị, học hàm của Nhà nước còn
Trang 28có các thuật ngữ như nhà chuyên môn, bác học… Bên cạnh đó, xã hội còn cónhững thuật ngữ như nhân tài, nguyên khí quốc gia … để tôn vinh nhữngngười tài có cống hiến cho sự phồn thịnh của đất nước.
Từ các quan niệm trên, chúng ta có thể thấy các đặc trưng cốt lõi củaNNL có trình độ cao như sau:
Một là, về vai trò và tầm quan quan trọng: NNL có trình độ cao là lựclượng lao động ưu tú nhất, thực hiện vai trò dẫn đường đối với NNL trongquá trình phát triển kinh tế - xã hội
Hai là, về số lượng: NNL có trình độ cao chỉ là một bộ phận trong tổngsố nhân lực quốc gia
Ba là, về chất lượng: NNL có trình độ cao được đánh giá thông qua cácyếu tố cơ bản sau: (1) Phẩm chất đạo đức; (2) Trình độ chuyên môn nghiệp vụđược đào tạo; (3) Có khả năng thích ứng và sáng tạo trong công việc
Như vậy, về mặt khái niệm, chưa có sự thống nhất về khái niệm NNL
có trình độ cao và cả hai cách hiểu định tính và định lượng đều có nhữngnhược điểm nhất định Cách hiểu về mặt định tính tạo ra khó khăn cho việcxác định NNL có trình độ cao về mặt thống kê Cách hiểu về mặt định lượng
sẽ loại những nghệ nhân, những người có khả năng đặc biệt, làm được nhữngviệc ít người làm được nhưng lại không qua trường lớp đào tạo Mặt kháckhông phải người lao động nào đã qua đào tạo đều có khả năng đáp ứng đượccác yêu cầu của công việc tương ứng với trình độ được đào tạo, do vậy rấtkhó có thể xem những người này là NNL có trình độ cao
Do đó, có thể hiểu: NNL có trình độ cao là một bộ phận lực lượng laođộng nổi trộithể hiện những gì tinh túy nhất của NNL, có khả năng đáp ứngnhu cầu cao của thực tiễn Họ là những lao động có trình độ học vấn vàchuyên môn nghề nghiệp cao, lành nghề có khả năng nhận thức và tiếp thunhanh chóng những kiến thức mới, có năng lực sáng tạo, biết vận dụng thành
20
Trang 29tựu khoa học và công nghệ vào thực tiễn Lực lượng lao động này có năngsuất, chất lượng hiệu quả lao động cao hơn hẳn so với NNL lao động phổthông NNL có trình độ cao có thể không cần đông về số lượng, nhưng phải
đi vào thực chất
Trong thế giới hiện đại, khi chuyển dần sang nền kinh tế chủ yếu dựatrên tri thức và trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, NNL đặcbiệt là NNL có trình độ cao ngày càng thể hiện vai trò quyết định của nó Các
lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởngnhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: áp dụng công nghệmới, phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại và nâng cao chất lượng NNL Trong đóđộng lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là nhữngcon người, đặc biệt là NNL có trình độ cao, tức là những con người được đầu
tư phát triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạonhằm trở thành “nguồn vốn - vốn con người, vốn nhân lực” Bởi trong bốicảnh thế giới có nhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt, phần thắng sẽ thuộcvề những quốc gia có NNL có trình độ cao, có môi trường pháp lý thuận lợicho đầu tư, có môi trường chính trị- xã hội ổn định
Như vậy, nghiên cứu, tiếp cận từ vị trí việc làm, về trình độ được đào
tạo có thể nêu khái niệm NNL có trình độ cao cần hướng đến như sau: Nguồn nhân lực có trình độ cao bao gồm những người lao động qua đào tạo và tự tích lũy được, có chuyên môn, nghiệp vụ kỹ thuật cao, có kỹ năng lao động giỏi, có khả năng hòa nhập, thích ứng với những thay đổi của xã hội, của khoa học – công nghệ, lao động có hiệu quả cao, có khả năng đóng góp cho
sự phát triển của các tổ chức và toàn xã hội.
1.2.2 Phân loại nguồn nhân lực có trình độ cao
Phân loại hay xác định cấu trúc NNL có trình độ cao là quá trình xemxét từng bộ phận cấu thành theo một hệ thống chỉnh thế, từ đó phát hiện ra
Trang 30cấp độ và mối quan hệ giữa chúng tạo thành hệ thống cấu trúc NNL có trình
độ cao NNL có trình độ cao bao gồm những bộ phận sau:
- Lực lượng nòng cốt của NNL có trình độ cao là đội ngũ tri thức, trong
đó đội ngũ tri thức khoa học và công nghệ giữ vai trò hạt nhân của nền kinh tếtri thức, là nhân tố cơ bản cho sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa –hiện đại hóa theo hướng rút ngắn vào phát triển kinh tế tri thức Họ có nănglực sáng tạo cả về phương diện lý thuất lẫn thực hành, có năng lực giải quyếtnhững vấn đề trước mắt cũng như lâu dài của nền kinh tế - xã hội Đây cũnglà lực lượng xung kích đi đầu trong việc tiếp nhận công nghệ chuyển giaocông nghệ thông tin, làm chủ và thực hiện ứng dụng có hiệu quả vào điều kiệnthực tiễn đất nước Bên cạnh đó, họ có năng lực dẫn dắt, bồi dưỡng, đào tạonhững bộ phận lao động có năng lực và trình độ thấp hơn phát triển, bổ sungvào NNL có trình độ cao
- Lực lượng trụ cột của NNL có trình độ cao cũng là đội ngũ công nhân tríthức Đây là lực lượng lao động được đào tạo nghề nghiệp căn bản, có kiếnthức, kỹ năng và tay nghề giỏi, luôn thích nghi được với sự phát triển nhanhchóng của khoa học và công nghệ, có khả năng tiếp cận, ứng dụng và làm chủcác dây chuyền công nghệ mới của thế giới Họ là những người trực tiếp laođộng sản xuất, cho ra đời những sản phẩm tiên tiến cung ứng cho đời sống xãhội những dịch vụ có hàm lượng tri thức cao Lực lượng lao động này chủyếu làm việc trong các ngành công nghiệp dịch vụ công nghệ cao
- Lực lượng trụ cột của NNL có trình độ cao còn là đội ngũ những
người thợ thủ công mỹ nghệ lành nghề trong lĩnh vực ngành nghề truyềnthống Họ chính là những bàn tay vàng, những nghệ nhân có trình độ kỹ năng,
kỹ xảo giỏi Sản phẩm họ làm ra chính là sự sáng tạo hàm ẩn những giá trịtruyền thống dân tộc, vừa mang giá trị kinh tế cao Hiện nay, với chủ trươngbảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống của Đảng ta, lực lượng lao
Trang 3122
Trang 32động này đang phát triển nhanh chóng về số lượng cũng như chất lượng.Điều này được thể hiện thông qua sự gia tăng nhanh chóng của kim ngạchxuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của nước ta ra thị trường thế giới Nói cáchkhác, đất nước ta không chỉ đi lên bằng công nghiệp hóa – hiện đại hóa màcòn đi lên bằng những sản phẩm truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc.
- Lực lượng trụ cột của NNL có trình độ cao còn là đội ngũ những
người nông dân có tri thức Họ có trình độ khoa học kỹ thuật, giàu kinhnghiệm thực tiễn trong sản xuất, dám nghĩ, dám làm, đi đầu trong quá trìnhdịch chuyển cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại hóa nâng caohiệu quả sản xuất và chất lượng nông sản theo hướng gia tăng kim ngạchxuất khẩu Đồng thời họ có khả năng tiếp thu, ứng dụng các thành tựu côngnghệ sinh học tiên tiến của thế giới vào thực tiễn nông nghiệp Việt Nam quachuyển đổi, ứng dụng, lai tạo nhiều giống cây trồng, vật nuôi cho năng suấtcao, chất lượng tốt, biện pháp kỹ thuật tiên tiến…
1.2.3 Vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao ở Việt Nam hiện nay
Phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế; thực hiện xóa đói giảm nghèo; thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội.
Phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao là nhân tố quyết định tăngtrưởng kinh tế Thực tế Việt Nam cho thấy sau gần ba mươi năm thực hiệncông cuộc đổi mới đất nước, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có
ýnghĩa lịch sử Trong 10 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2001 - 2010, kinh tế nước ta tiếp tục tăng trưởng nhanh, đạt tốc độ bình quân7,26%/năm, GDP năm 2010 so với năm 2000 theo giá thực tế gấp 3,26 lần[19, tr.177]
Một nhân tố quyết định trong việc tạo nên những thành tựu và sự tăngtrưởng đó là nước ta có lực lượng lao động dồi dào, nguồn nhân lực đáp ứng
23
Trang 33yêu cầu, nhất là nguồn nhân lực có trình độ cao, Đảng và Nhà nước đã chútrọng phát triển nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân lực có trình độ cao nóiriêng Vai trò quyết định của phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao đối với
sự tăng trưởng kinh tế thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, tạo ra lực lượng lao động có
trình độ cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, thực hiện đổi mới khoa họclãnh đạo, quản lý, khoa học công nghệ, cải tiến kỹ thuật trong các lĩnh vực
kinh tế; thứ hai, trên cơ sở đó nâng cao năng suất lao động, tăng hàm lượng chất xám, tri thức và tính cạnh tranh của sản phẩm lao động; thứ ba,tạo ra lực
lượng trực tiếp thúc đẩy tiến bộ khoa học công nghệ, phát triển các ngành
kinh tế mũi nhọn, then chốt và công nghệ cao; thứ tư, tạo ra lực lượng cán bộ,
người lao động, đội ngũ chuyên gia giỏi có khả năng hội nhập quốc tế, tiếpthu và vận dụng các thành tựu khoa học công nghệ, quản lý kinh tế tiên tiếntrên thế giới, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng
Nếu không có nguồn nhân lực có trình độ cao đáp ứng yêu cầu, hoặcnguồn nhân lực này vừa thiếu vừa kém về trình độ, hạn chế về chất lượng sovới mặt bằng chung của khu vực và thế giới, thì nguy cơ tụt hậu xa hơn vềkinh tế khó có thể khắc phục Hiện nay, tỷ lệ công nghệ cao trong các doanhnghiệp Việt Nam còn kém Thái Lan 15 lần, Malaysia 25 lần, kém Singgaporekhoảng 35 lần Đây là một nhân tố dẫn đến năng suất lao động nước ta cònthấp hơn các nước trong khu vực từ 2 đến 15 lần Không thể có sự tangtrưởng kinh tế nhanh và bền vững, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, nếu như
40 chúng ta không có được lực lượng lao động giỏi, không có được nguồnnhân lực có trình độ cao đáp ứng yêu cầu, không thực sự quan tâm đến pháttriển nguồn nhân lực có trình độ cao
Phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao là nhân tố quyết định trongviệc thực hiện các mục tiêu xóa đói giảm nghèo Phát triển nguồn nhân lực cótrình độ cao là tạo ra lực lượng nòng cốt, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trên
Trang 34cơ sở đó, tạo ra điều kiện vật chất, tinh thần, khả năng kinh tế - xã hội choviệc xóa đói giảm nghèo Ở nước ta thời gian qua, chúng ta đã xây dựng vàtạo ra được nguồn nhân lực có trình độ cao đáp ứng yêu cầu và nguồn nhânlực này đã phát huy vai trò to lớn tăng trưởng kinh tế, tạo nền tảng cho xóađói giảm nghèo Theo báo cáo kết quả thực hiện mục tiêu Chương trình 135giai đoạn 2006 -2010: Tỷ lệ hộ nghèo: mục tiêu 30%, đạt được còn 31,2%; xã
có đường xe cơ giới từ trung tâm đến thôn, bản: mục tiêu: 80%, đạt được75,2%; xã có đủ trường trung học cơ sở kiên cố: mục tiêu 100%, đạt được94,7%; xã có học sinh tiểu học trong độ tuổi đến trường: mục tiêu 95%, đạtđược 90%; xã có trạm y tế chuẩn quốc gia 100%, đạt được 41,2%; số thôn,bản có điện: mục tiêu 90%, đạt được 73,8%; số hộ có đủ nước sinh hoạt: mụctiêu 80%, đạt được 67,8% [49, tr.1]
Sau 12 năm thực hiện (1999 -2010), Chương trình đã góp phần làmthay đổi diện mạo nông thôn, miền núi Theo Báo cáo của Ủy ban Dân tộc:
Thực hiện Chương trình này giai đoạn 2006 - 2010, triển khai tại1.848 xã thuộc 50 tỉnh, đã xây dựng được gần 13.000 công trình
hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm, hỗ trợ sản xuấtcho hơn 2,2 triệu hộ, đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ hơn460.000 cán bộ xã, thôn bản, hỗ trợ kinh phí cho gần 930.000lượt học sinh con em hộ nghèo…, giảm tỷ lệ xã đặc biệt khókhăn từ 47,5% năm 2006 xuống còn 28,8% năm 2010; 100% sốxã ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số có trạm y tế, trường tiểuhọc; mạng lưới dịch vụ bưu điện viễn thông đến 100% số huyện,phủ sóng phát thanh 90%, truyền hình 80% lãnh thổ; đài truyềnhình và phát thanh Trung ương và nhiều địa phương có chươngtrình tiếng dân tộc thiểu số [41, tr.5]
25
Trang 35Nước ta đạt được kết quả xóa đói giảm nghèo một cách khá ngoạn mụctrong thời kỳ đổi mới, mà một yếu tố quyết định là đã chú trọng phát triểnnguồn nhân lực, nguồn nhân lực có trình độ cao Mạng Eurasia Review dẫnđánh giá của các chuyên gia Viện Nghiên cứu phát triển thuộc Đại học Tổnghợp Paris nhận định kinh tế Việt Nam là “một hiện tượng phát triển thần kỳ ởchâu Á sau nhiều năm khó khăn nghiêm trọng do chiến tranh gây ra”; “Chỉtrong vòng 15 năm, đã có 25 triệu người dân Việt Nam thoát nghèo” [1, tr.8].
Phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao là nhân tố quyết định thúcđẩy tiến bộ và công bằng xã hội Nhờ có nguồn nhân lực có trình độ cao, mộtloạt các chỉ số về tỷ lệ lao động qua đào tạo, có tay nghề, đội ngũ trí thức,chuyên gia giỏi được tăng lên; các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng tiến bộkhoa học công nghệ được đẩy mạnh, kinh tế - xã hội phát triển, thúc đẩy tiến
bộ, công bằng xã hội, thực hiện các chính sách xã hội và bảo đảm an sinh xãhội được tốt hơn Vai trò quyết định của việc phát triển nguồn nhân lực có
trình độ cao đối với tiến bộ và công bằng xã hội thể hiện ở chỗ: Thứ nhất,tạo
ra nguồn nhân lực có trình độ cao trực tiếp quyết định tăng trưởng kinh tế,
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân; thứ hai,
góp phần quan trọng giáo dục tuyên truyền, định hướng và tổ chức thực hiệnbảo đảm phát huy dân chủ, thực hiện các chính sách xã hội theo hướng tiến
bộ, công bằng
Theo Báo cáo, “chỉ số phát triển con người ở nước ta tăng từ mức 0,683năm 2000 lên 0,733 năm 2008, xếp thứ 100/177 nước, thuộc nhóm trung bìnhcao; hoàn thành 6/8 nhóm Mục tiêu Thiên niên kỷ (MDG) do Liên hợp quốc đặt
ra cho các nước đang phát triển đến năm 2015” [19, tr.41, 106] Và “nhiều nước
có thu nhập quốc dân theo đầu người cao hơn Việt Nam, như Indonesia, Ai Cập,Goa-tê-ma-na, Na-mi-bi-a, thậm chí GDP trên đầu người rất cao như NamPhi…, song các chỉ số về tuổi thọ và giáo dục thấp nên đã bị xếp hạng thấp hơn
Trang 36Việt Nam về phát triển con người Năm 2005, Việt Nam đứng thứ 108/177nước, GDP đầu người từ 200 đôla năm 1990 lên khoảng 600 đôla Mỹ năm2005; tuổi thọ lên từ 63 tuổi (1990) đến 71,5 tuổi năm 2005” [23, tr.5].
Phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao là yêu cầu cấp bách của thời đại, của nền kinh tế tri thức, của công cuộc đổi mới chấn hưng đất nước hiện nay.
Trong thời đại hiện nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại
có bước phát triển nhảy vọt và được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vựccủa đời sống xã hội, đạt được những kỳ tích mà cho đến nay chúng ta chưathể dự đoán và tiên lượng hết được Các loại công nghệ cao trở thành tiêuđiểm cạnh tranh giữa các quốc gia, đặc biệt là giữa các nước lớn Công nghệthông tin nổi lên như là “điểm nhấn” của cách mạng khoa học công nghệ,phát triển hết sức mạnh mẽ dẫn đến sự xuất hiện và phát triển “xã hội thôngtin toàn cầu”, nền kinh tế tri thức Những sản phẩm của công nghệ mới hiệnđại liên tục được ứng dụng trong thực tiễn làm biến đổi thái độ và hành viứng xử của con người Hàng loạt phương tiện thông tin mới, những công cụtìm kiếm dữ liệu, công cụ giao dịch, phần mềm xử lý công việc, khả năng tảilên mạng, đã giúp cho con người ở bất cứ nơi đâu trên hành tinh làm việcvà giao dịch với nhau nhanh hơn, chính xác hơn
Kinh tế tri thức là “nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra công nghệ, phổ cậpvà sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ranhiều của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống” [14, tr.152] Trong nền kinh tế trithức, sự sáng tạo, đổi mới thường xuyên là động lực chủ yếu thúc đẩy sự pháttriển; ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trở thành một nhân tố quan trọngnhất Nền kinh tế tri thức được xác định dựa trên các tiêu chí chính: từ 70% trởlên GDP là do đóng góp của các ngành kinh tế tri thức; từ 70% trở lên giá trị giatăng do lao động trí óc mang lại; từ 70% trở lên lực lượng lao động xã hội là laođộng trí óc; từ 70% trở lên vốn sản xuất là vốn về
27
Trang 37con người, tri thức trở thành nguồn lực mới tạo ra lực lượng sản xuất hoàntoàn mới cả về số lượng, chất lượng và hiệu quả.
Toàn cầu hoá phản ánh tính chất hết sức sâu rộng của xu thế hiện nay;toàn cầu hóa gắn liền với mở cửa, hội nhập, giao lưu, đối thoại giữa các nềnvăn hóa, làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần xã hội Thông qua đó, tạo
cơ hội hiểu biết lẫn nhau, tăng cường trao đổi giữa các nước, khắc phục mâuthuẫn và xung đột, tăng cường hợp tác và hiểu biết lẫn nhau, cùng quan tâmđến sự phát triển chung của nhân loại Toàn cầu hóa phát triển làm cho việchội nhập quốc tế không đơn thuần là hội nhập về kinh tế, mà là hội nhập trêntất cả các lĩnh vực Quá trình hội nhập quốc tế sẽ tạo thời cơ và thách thứcmới đối với sức mạnh quốc gia theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực
Phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao là yêu cầu cấp bách của thờiđại, của nền kinh tế tri thức, của công cuộc phát triển, chấn hưng đất nướccủa các quốc gia hiện nay, đặc biệt là Việt Nam Trong điều kiện cách mạngkhoa học công nghệ hiện đại, kinh tế tri thức và toàn cầu hóa, hội nhập quốc
tế, một đất nước muốn phát triển, hội nhập khu vực và quốc tế thì nhất thiếtphải tiến hành cách mạng, đổi mới giáo dục - đào tạo phát triển nguồn nhânlực với những nhận thức mới và phương pháp mới trên nền tảng của tư duymới về con người, về nguồn nhân lực Nó đòi hỏi giáo dục - đào tạo phảiđược đổi mới và hiện đại hóa một cách căn bản, toàn diện Phát triển nguồnnhân lực có trình độ cao là đòi hỏi bức bách của nhiều quốc gia trong điềukiện mới Mỗi nước xuất phát từ đặc điểm và nhu cầu của mình mà tiến hànhthực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao riêng, phù hợp
Những thập kỷ cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, Mỹ đã rất chú trọng phát triển nguồn nhân lực và nhân tài đất nước Các chuyên gia Mỹ cho rằng:
Vị trí độc tôn của Mỹ trong thế kỷ XXI không chỉ là quân sự, mà còn cả về kinh tế, tài chính và công nghệ cao Mỹ xác định “tâm điểm” của mọi chiến
Trang 38lược là đẩy mạnh giáo dục phát triển nhân lực chất có trình độ cao và nhân tàiđất nước, chính sách thu hút nhân tài toàn thế giới Hàng năm, Mỹ cấp hơn10.000 visa cho các chuyên gia khoa học trên thế giới vào Mỹ dưỡng bệnhnghỉ ngơi, nếu có nhu cầu thì có thể định cư lâu dài tại Mỹ [33, tr.130-139].
Nhật Bản thực hiện chiến lược phát triển đất nước dựa vào khoa học,
kỹ thuật, công nghệ, mà cốt lõi là dựa vào tri thức, dựa vào nhân tài, mà nềntảng là phát triển giáo dục - đào tạo Đến nay, Nhật Bản không những là quốcgia có tiềm lực kinh tế lớn mà còn có nền giáo dục phát triển, có tiềm lựckhoa học công nghệ tiên tiến hiện đại vào loại nhất nhì thế giới
Trung Quốc là một nước đông dân, đến nay đã phát triển vượt bậc,đứng thứ hai thế giới về tổng thu nhập quốc dân Có được thành tựu đó là bởiTrung Quốc đã rất chú trọng đến giáo dục - đào tạo, tôn trọng trí thức, tôntrọng nhân tài, coi đó là “kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước” Trung Quốctập trung đẩy mạnh cải cách cơ chế, chương trình, nội dung và phương phápgiáo dục - đào tạo, nhấn mạnh giáo dục - đào tạo quốc dân hiện đại là yếu tốquan trọng để phát triển nguồn nhân lực và nhân tài đất nước theo yêu cầuhướng lên hiện đại, hướng ra thế giới và tương lai ” [32, tr 178-182]
Như vậy, phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao thực sự là một vấnđề cấp bách của thời đại ngày nay, trong chiến lược phát triển của các quốcgia Các quốc gia dân tộc, dù là nước lớn hay nước nhỏ, đều phải quan tâmđến phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có trình độ cao.Nước ta không thể đạt được mục tiêu đến năm 2020, về cơ bản, trở thànhnước công nghiệp theo hướng hiện đại như Đại hội XI của Đảng xác định;sự nghiệp đổi mới chấn hưng đất nước không thể thành công, nếu không cóđược nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có trình độ cao đủ mạnh,xứng tầm, nếu không quan tâm đúng mức đến phát triển nguồn
29
Trang 39nhân lực có trình độ cao Và pháp luật chính là một trong những nhân tố quantrọng ảnh hưởng đến sự phát triển của NNL có trình độ cao.
Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhànước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theomục tiêu, định hướng cụ thể Với cách tiếp cận này, pháp luật chính là chuẩnmực xã hội, là thước đo hành vi được hình thành bằng con đường Nhà nướcvà mang tính quyền lực Nhà nước Pháp luật là hiện tượng lịch sử có nguồngốc từ xã hội và là nhân tố trật tự hóa các quan hệ xã hội Tuy nhiên, thực tiễnnghiên cứu khoa học pháp lý ở nước ta cũng đã có ý kiến cho rằng cần phảimở rộng nội hàm khái niệm pháp luật để tiếp cận pháp luật một cách đầy đủhơn Theo đó, pháp luật không đơn thuần chỉ là sự hiện hữu bằng hệ thốngquy tắc xử sự có tính bắt buộc chung mà còn bao gồm nhiều yếu tố khác như:các nguyên tắc pháp luật, khung pháp luật, chính sách pháp luật, các họcthuyết pháp lý, các thực nghiệm pháp lý cũng như các hành vi pháp lý thựctiễn…[22, tr 96]
Bằng việc đặt ra các quy tắc mang tính khuôn mẫu, pháp luật xác địnhtrước cho các chủ thể trong xã hội phải có những ứng xử tương ứng vớinhững tình huống xảy ra trong xã hội theo ý chí của Nhà nước với nhữngquyền và nghĩa vụ pháp lý theo điều kiện kinh tế xã hội nhất định Pháp luậtđiều chỉnh các quan hệ xã hội sao cho mỗi thành viên hay bộ phận đều thểhiện được lợi ích của mình, đồng thời vẫn bảo vệ được lợi ích chung của xãhội Pháp luật ghi nhận và tác động vào các quan hệ xã hội đã hình thành từtrước mang tính ổn định, phổ biến, đồng thời đặt ra các biện pháp bảo đẩmcho sự phát triển bình thường của các quan hệ xã hội đó cũng như dự kiếntrước những quan hệ xã hội xảy ra trong tương lai Pháp luật điều chỉnh cácquan hệ xã hội thông qua việc quy định về quyền và nghĩa vụ cho các chủ thểtrong xã hội Khi các quan hệ xã hội thay đổi thì pháp luật cũng có sự thay đổi
Trang 40tương ứng Điều đó không chỉ nằm trong các quan hệ ở một nhà nước cụ thểmà còn được thể hiện trong các quan hệ quốc tế, nhất là trong xã hội hiện đại.
Pháp luật được đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội và cũng là đểbảo vệ trật tự xã hội Việc bảo vệ trật tự xã hội không bó hẹp trong các quyđịnh thuần túy và các biện pháp cưỡng chế Nhiều khi những quy định củapháp luật chỉ dừng lại ở mức độ răn đe, phòng ngừa đối với những nguy cơ viphạm cũng đã có tác dụng bảo vệ cho trật tự xã hội ở mức nào đó
Sự tác động của pháp luật tới con người không chỉ có ý nghĩa mang lạilợi ích của cá nhân với lợi ích của xã hội mà còn có ý nghĩa giáo hóa đối vớibản thân con người, qua đó con người tự điều hòa được lợi ích của cá nhânvới lợi ích của xã hội, đồng thời cũng thấy được trách nhiệm đối với chínhbản thân và trách nhiệm trước xã hội
Phát triển NNL là quá trình nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng từngcon người lao động (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý – xã hội) đáp ứng đòihỏi về NNL cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Một trong những nhân tốảnh hưởng đến sự phát triển của NNL nói chung và NNL có trình độ cao nóiriêng là các chính sách của nhà nước, của Chính phủ Nhà nước hoạch định cácchính sách về giáo dục, đào tạo; chính sách về kinh tế - xã hội… tạo môi trườngpháp lý cho sự phát triển NNL có trình độ cao Các chính sách đó đều được Nhànước thể chế hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật, trong đó quy định cácnội dung liên quan đến NNL có trình độ cao, các chế độ, chính sách, các quyềnvà nghĩa vụ… đối với các đối tượng được xem là NNL có trình độ cao Cụ thể làQuốc hội đã ban hành các văn bản pháp luật quy định các vấn đề pháp lý liênquan đối với từng đối tượng, bộ phận tương ứng tạo nên NNL có trình độ cao, ví
dụ như: Luật khoa học và công nghệ năm 2013; Luật cán bộ, công chức năm2008; Luật giáo dục năm 2005; Luật sở hữu trí tuệ năm 2005… và các văn bảnpháp luật hướng dẫn, thi
31