1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoàn thiện pháp luật về bán hàng đa cấp tại việt nam theo kinh nghiệm một số nước trên thế giới 07

103 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 123,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện mục đích nghiên cứu ở trên, tác giả sẽ triển khai đồng bộ các nhiệm vụ sau: Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề chung về BHĐC; Phântích, đánh giá thực trạng pháp luật về BH

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ QUANG

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo độ chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

VŨ VĂN TÚ

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BÁN HÀNG ĐA CẤP VÀ VIỆC HỌC HỎI KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ BÁN HÀNG ĐA CẤP CỦA VIỆT NAM 4

1.1 Bán hàng đa cấp 4

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của bán hàng đa cấp 4

1.1.2 Vai trò bán hàng đa cấp 7

1.1.3 Nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động bán hàng đa cấp tại Việt Nam 8

1.2 Pháp luật về bán hàng đa cấp 10

1.2.1 Khái niệm pháp luật về bán hàng đa cấp 10

1.2.2 Nội dung pháp luật về bán hàng đa cấp 11

1.3 Vấn đề học hỏi kinh nghiệm một số nước trên thế giới về bán hàng đa cấp của Việt Nam 14

1.3.1 Nhu cầu học hỏi kinh nghiệm quốc tế để hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bán hàng đa cấp 14

1.3.2 Nguyên tắc học hỏi kinh nghiệm quốc tế 16

1.3.3 Kinh nghiệm của một số nước 16

Tiểu kết chương 1 41

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BÁN HÀNG ĐA CẤP CỦA VIỆT NAM 42

2.1 Một số nét về ngành công nghiệp bán hàng đa cấp tại Việt Nam 42

Trang 4

2.1.2 Thực trạng ngành công nghiệp bán hàng đa cấp tại Việt Nam 44

2.2 Thực trạng quy định pháp luật về bán hàng đa cấp của Việt Nam 45

2.2.1 Chủ thể của quan hệ pháp luật bán hàng đa cấp 45

2.2.2 Quản lý nhà nước đối với hoạt động Bán hàng đa cấp 48

2.2.3 Các hiệp hội có liên quan 49

2.2.4 Hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp 50

2.2.5 Kiểm soát hoạt động bán hàng đa cấp 55

2.3 Thực trạng thực thi quy định pháp luật và những khó khăn trong việc quản lý về bán hàng đa cấp tại Việt Nam 57

2.3.1 Vi phạm pháp luật về bán hàng đa cấp 57

2.3.2 Xử lý vi phạm 61

2.3.3 Khó khăn, vướng mắc trong quá trình quản lý bán hàng đa cấp tại Việt Nam 65 Tiểu kết chương 2 72

Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BÁN HÀNG ĐA CẤP TẠI VIỆT NAM THEO KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 73

3.1 Nhận định chung 73

3.1.1 Nhu cầu hoàn thiện những quy định pháp luật về Bán hàng đa cấp tại Việt Nam 73

3.1.2 Một số nét chính có thể học hỏi trong kinh nghiệm các nước để hoàn thiện pháp luật Việt Nam về Bán hàng đa cấp ………75

3.2 Các giải pháp cụ thể để hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về Bán hàng đa cấp 77

3.2.1 Tiếp tục thừa nhận phương thức bán hàng đa cấp và siết chặt quản lý 77

3.2.2 Điều chỉnh tên gọi của phương thức 77

3.2.3 Tội phạm hóa hành vi bán hàng đa cấp vi phạm pháp luật 78

3.2.4 Thừa nhận một cách chính thức bán hàng đa cấp đối với dịch vụ 79

3.2.5 Điều chỉnh các quy định về Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động Bán hàng đa cấp 79

Trang 5

3.2.6 Các điều chỉnh khác 82

Tiểu kết chương 3 85

KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 6

Kinh doanh theo mạngNhà phân phối

Người tiêu dùng

Sở Công thươngCục Quản lý cạnh tranh

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

BHĐC trên thế giới có lịch sử phát triển gần 80 năm và có những bước pháttriển nhất định tại Việt Nam Trên thế giới có hơn 30.000 công ty phân phối sảnphẩm theo phương thức BHĐC [53] Tại Việt Nam tính đến tháng 10/2012 đã có sựxuất hiện của 77 doanh nghiệp kinh doanh theo phương thức BHĐC với số lượngNPP ngày càng tăng nhanh (khoảng 1 triệu người) [23] Trong khi đó, làn sóng củacác công ty Việt Nam và các công ty có vốn đầu tư nước ngoài gia nhập thị trườngViệt Nam sẽ chưa dừng lại trong thời gian tới với sự xuất hiện của một số công tylớn có thể kể đến như TUPPERWARE (Indonesia), GANO EXCEL (Malaysia)…

Hiện nay, hệ thống pháp luật Việt Nam quản lý về hoạt động BHĐC cònđang trong giai đoạn hoàn thiện với: Luật Cạnh tranh số 27/2004/QH11 ngày

03/12/2004 (Luật Cạnh tranh 2004) [26]; Nghị định số 110/2005/NĐ-CP ngày 24/08/2005 của Chính phủ về quản lý hoạt động BHĐC (Nghị định 110) [7] được

thay thế bởi Nghị định số 42/2014/NĐ-CP ngày 14/5/2014 của Chính phủ về quản

lý hoạt động BHĐC (Nghị định 42) [10]; Thông tư số 19/2005/TT-BTM hướng dẫn một số nội dung quy định tại Nghị định 110 (Thông tư 19) [2] và Thông tư số

35/2011/TT-BCT sửa đổi, bổ sung một số nội dung về thủ tục hành chính tại Thông

tư 19 (Thông tư 35) [3] được thay thế bởi Thông tư số 24/2014/TT-BCT hướng dẫn Nghị định 42 (Thông tư 24) [5] Hệ thống pháp luật về BHĐC vẫn còn nhiều lỗ

hổng, hạn chế dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp lợi dụng gây khó khăn trongcông tác quản lý, tình trạng BHĐC bất chính diễn ra phổ biến, vi phạm quy địnhhoạt động BHĐC xảy ra ngày một nhiều ảnh hưởng quyền lợi NTD Do vậy, nhucầu sửa đổi, bổ sung là tất yếu để kiểm soát tốt sự phát triển ngành công nghiệp này

Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, Việt Nam là một thành viên tích cực

và có trách nhiệm trong hội nhập kinh tế quốc tế Chúng ta là thành viên của tổ chứcthương mại thế giới – WTO (2007), Diễn đàn hợp tác Châu Á – Thái Bình Dương –APEC (1998)… Do vậy, chúng ta cũng tranh thủ cơ hội để tiếp thu những thành tựu

Trang 8

của nền lập pháp thế giới để giải quyết vấn đề cấp bách hiện nay.

Do tính cấp bách của việc hoàn thiện pháp luật về BHĐC và ảnh hưởng của

xu thế toàn cầu hóa nên việc nghiên cứu, tìm hiểu các quy định pháp luật về BHĐCtại Việt Nam trên cơ sở tham chiếu, học tập kinh nghiệm của một số nước trên thếgiới để hoàn thiện pháp luật trong nước là rất cần thiết Bởi vậy, trong đề tài luận

văn thạc sĩ của mình, tác giả xin lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện pháp luật về Bán hàng đa cấp tại Việt Nam theo kinh nghiệm một số nước trên thế giới” làm đề tài

nghiên cứu Luận văn nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của quy định pháp luật

về BHĐC tại Việt Nam và tham khảo kinh nghiệm lập pháp của một số nước đểthấy được những vấn đề còn tồn tại của hệ thống pháp luật Việt Nam và tìm rahướng hoàn thiện

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Các đề tài nghiên cứu trước đây thường đề cập đến vấn đề BHĐC dưới góc

độ “Bất chính” “Cạnh tranh không lành mạnh”, có thể kể đến luận văn thạc sĩ

“Pháp luật về Bán hàng đa cấp bất chính ở Việt Nam” của tác giả Ninh Thị Minh

Phương bảo vệ năm 2012 do TS Bùi Nguyên Khánh hướng dẫn khoa học, đề tài

tiến sĩ “Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam” của tác giả Lê

Anh Tuấn bảo vệ năm 2008 do PGS.TS Nguyễn Như Phát hướng dẫn khoa học…

Luận văn này sẽ cố gắng đi sâu vào các khía cạnh khác nhau của hoạt độngBHĐC, phân tích và đánh giá nó trên cơ sở học tập kinh nghiệm xây dựng pháp luậtcủa một số nước trên thế giới để đưa ra được định hướng hoàn thiện hệ thống phápluật và kiện toàn công tác quản lý trong thực tiễn hiện nay ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu, luận văn sẽ khảo cứu hệ thống pháp luật Việt Nam về

quản lý hoạt động BHĐC, trên cơ sở đó, tìm hiểu thực trạng vi phạm và rà soát côngtác quản lý đối với các doanh nghiệp hoạt động BHĐC tại Việt Nam Bên cạnh đó,luận văn cũng khảo sát pháp luật của một số nước về quản lý hoạt động BHĐC đểhọc tập kinh nghiệm giúp hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung đi sâu tìm hiểu quy định pháp luật về

Trang 9

BHĐC, thực trạng vi phạm và vấn đề xử lý vi phạm của các cơ quan quản lý đối vớicác doanh nghiệp BHĐC tại Việt Nam những năm gần đây Song song với nó, luậnvăn cũng chú trọng tìm hiểu quy định pháp luật các nước: Malaysia, New Zealand,Canada để học hỏi kinh nghiệm, hoàn thiện pháp luật Việt Nam.

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích chung nhất là hoàn thiện pháp luật về BHĐC Việt Nam để quản lýtốt hơn phương thức này trở thành một phương thức bán hàng đúng nghĩa của nó.Trên cơ sở đó, xây dựng cơ chế quản lý, điều hành tốt hơn đem lại lợi ích cho cácbên liên quan Để thực hiện mục đích nghiên cứu ở trên, tác giả sẽ triển khai đồng

bộ các nhiệm vụ sau: Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề chung về BHĐC; Phântích, đánh giá thực trạng pháp luật về BHĐC của Việt Nam để thấy những điểm cònhạn chế, chưa hợp lí; Phân tích, đánh giá thực trạng vi phạm, thực tiễn xử lý viphạm pháp luật về BHĐC tại Việt Nam và nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạmpháp luật về BHĐC; Nghiên cứu, tìm hiểu quy định pháp luật về BHĐC của một sốquốc gia trên thế giới để rút ra bài học cho Việt Nam; Đề xuất các phương hướng,giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quản lý hoạt động BHĐC

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Tác giả đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học trên cơ

sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử bao gồm: Phương pháptổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, đối chiếu

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn được kết cấu ra thành ba phần gồm lời mở đầu, nội dung chính vàkết luận Phần nội dung chính tác giả bố cục thành ba chương theo hướng đi từnhững vấn đề chung mang tính khái quát đến những vấn đề cụ thể hơn Chi tiết:

Chương 1: Những vấn đề chung về BHĐC và việc học hỏi kinh nghiệm một

số nước trên thế giới về BHĐC của Việt Nam

Chương 2: Thực trạng pháp luật về BHĐC của Việt Nam

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về BHĐC tại Việt Nam theo kinh nghiệm

Trang 10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BÁN HÀNG ĐA CẤP VÀ VIỆC HỌC HỎI KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ BÁN HÀNG ĐA CẤP

CỦA VIỆT NAM

1.1 Bán hàng đa cấp

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của Bán hàng đa cấp

BHĐC là thuật ngữ chung dùng để chỉ phương thức tiếp thị để bán lẻ sảnphẩm với đội ngũ bán hàng được trả thưởng không chỉ từ doanh số bán hàng của họ

mà còn từ doanh số bán hàng của những NPP cấp dưới, từ đó tạo thành hệ thốnggồm các cấp độ trả thưởng khác nhau

Thông thường, các NPP sẽ bán sản phẩm trực tiếp tới tay NTD thông qua cácmối quan hệ quen biết hay thông qua trao đổi, gặp gỡ và tiếp thị trực tiếp Kháchhàng cũng có thể lựa chọn mua hàng trực tiếp tại công ty hoặc qua một NPP củacông ty (nhưng không phải thông qua các đại lý hay cửa hàng bán lẻ) Nhờ vậy, hìnhthức này tiết kiệm rất nhiều chi phí về tiền sân bãi, kho chứa, vận chuyển, khuyếnmại, quảng cáo… Số tiền này thay vào đó, được dùng để trả thưởng cho NPP vànâng cấp, cải tiến sản phẩm (do đó chất lượng sản phẩm của các công ty tiếp thị đacấp thường cao và liên tục được nâng cấp)

BHĐC là phương thức tiếp thị tận dụng chính thói quen của NTD khi sửdụng sản phẩm, dịch vụ tốt là thường chia sẻ cho người thân, bạn bè và nhữngngười xung quanh NPP có vai trò như những đại lý bởi họ dùng những kinh nghiệm

sử dụng sản phẩm của bản thân và những người quen biết để chia sẻ, từ đó thu hút

khách hàng Trên cơ sở đó, họ đem về lượng khách hàng cho công ty và bản thân

họ Ngoài ra họ còn có thể tìm kiếm những đối tác khác để có thể trở thành NPPcùng làm việc với mình, việc này được quản lý bằng mã số Khi đó, mã số của mộtNPP mới được kết nối với mã số của người bảo trợ hay còn gọi là tuyến trên củangười đó

Tại Việt Nam, BHĐC được định nghĩa trong Luật Cạnh tranh 2004 cũngmang những đặc điểm chung của BHĐC như sau:

Trang 11

BHĐC là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Việc tiếp thị để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới người tham gia BHĐC gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau;

b) Hàng hóa được người tham gia BHĐC tiếp thị trực tiếp cho NTD

tại nơi ở, nơi làm việc của NTD hoặc địa điểm khác không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hoặc của người tham gia;c) Người tham gia BHĐC được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởnghoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả tiếp thị bán hàng của mình và củangười tham gia BHĐC cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức vàmạng lưới đó được doanh nghiệp BHĐC chấp thuận [26, Điều 3 khoản11]

Căn cứ vào định nghĩa được nêu ra tại khoản 11 Điều 3 Luật Cạnh tranh

2004, các đặc trưng của phương thức BHĐC bao gồm:

- BHĐC là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa

Với phương thức bán lẻ hàng hoá thông qua mạng lưới tiếp thị, doanh nghiệpBHĐC thiết lập mối quan hệ mua bán sản phẩm trực tiếp với NTD không cần đầu tưthành lập, duy trì mạng lưới phân phối dạng cửa hàng giới thiệu sản phẩm, đại lýphân phối Doanh nghiệp BHĐC có thể là doanh nghiệp sản xuất trực tiếp tiếp thị vàbán lẻ bằng phương thức đa cấp (Công ty TNHH Amway Việt Nam, Công ty TNHH

Mỹ phẩm AVON Việt Nam…) hoặc là các doanh nghiệp phân phối hàng hóa dodoanh nghiệp khác sản xuất (Công ty TNHH Kangzen-Kenko Việt Nam, Công tyTNHH Nu Skin Enterprises Việt Nam, Công ty TNHH Tupperware Việt Nam…).Cầu nối giữa doanh nghiệp và NTD là hệ thống NPP Họ được cung cấp tài liệu vàhướng dẫn các thông tin về đặc tính của sản phẩm để họ có thể giới thiệu chi tiết tớikhách hàng Họ được trả hoa hồng thay vì lương, cộng tác với doanh nghiệp và tìmkiếm đối tác để xây dựng hệ thống của chính mình thay vì được tuyển dụng Điềunày giúp cho cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp BHĐC gọn nhẹ, tiết kiệm chi phí hệ

Trang 12

Đối tượng của phương thức BHĐC hiện nay vẫn chỉ là hàng hoá Mặc dùNghị định số 42 được thông qua có ghi nhận trường hợp BHĐC đối với dịch vụ cóthể được phép [10, Điều 4.3] Tuy nhiên, cho đến khi nào nhà làm luật có nhữngquy định cụ thể hơn thì việc BHĐC với dịch vụ mới được triển khai Hiện tại, dịch

vụ vẫn chưa phải là đối tượng được phép BHĐC Mặt khác, không phải mọi hànghóa đều là đối tượng có thể được phân phối dưới hình thức BHĐC Theo quy địnhcủa pháp luật hiện hành, những hàng hóa như: dược phẩm, hóa chất, chế phẩm diệtcôn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế, hàng hóa pháp luật cấmkinh doanh… không được phân phối dưới phương thức BHĐC

- Việc tiếp thị để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới người tham gia gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau.

Người tham gia BHĐC là những cộng tác viên trong việc tiếp thị, bán lẻ

hàng hoá (họ được gọi với nhiều tên khác nhau như NPP độc lập, tư vấn viên…)

trực tiếp cho NTD mà không nhân danh doanh nghiệp Như vậy, doanh nghiệpkhông phải là chủ thể trực tiếp thiết lập quan hệ với NTD mà thông qua mạng lướingười tham gia Do người tham gia BHĐC không phải là nhân viên của mình, nêndoanh nghiệp không phải chịu trách nhiệm trước khách hàng tiêu thụ sản phẩm vềhành vi của người tham gia, mà chỉ chịu trách nhiệm trong giới hạn phạm vi chấtlượng sản phẩm và các thông tin liên quan đến sản phẩm do họ cung cấp

Khi tham gia mạng lưới BHĐC, người tham gia không phải là các đại lýphân phối theo quy định của Luật Thương mại 2005 [29], không thuộc các cửa hàngtiêu thụ sản phẩm do doanh nghiệp thành lập Luật Cạnh tranh 2004 quy định:

“người tham gia tiếp thị hàng hoá tại nơi ở, nơi làm việc của NTD mà không phải

là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hay của người tham gia” [26, Điều 3 khoản 11] Do trực tiếp gặp gỡ NTD để giới thiệu và bán lẻ sản phẩm, người

tham gia không phải đăng ký kinh doanh khi tham gia BHĐC

Người tham gia được tổ chức thành những cấp khác nhau Trong quan hệ nội

bộ, người tham gia ở cấp trên có vai trò tổ chức và điều hành hoạt động của nhữngngười trong mạng lưới cấp dưới của mình và khi số người trong hệ thống đạt đếnmột mức độ nhất định thì hệ thống sẽ tách nhánh Số lượng bao nhiêu để một hệ

Trang 13

thống tách nhánh tùy thuộc vào chính sách của mỗi doanh nghiệp.

- Người tham gia được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác từ kết quả bán hàng của mình và của người tham gia khác trong mạng lưới do mình tổ chức ra và được doanh nghiệp BHĐC chấp nhận.

Như vậy, thù lao của người tham gia được hưởng xuất phát từ hai nguồn: Hoahồng trực tiếp được tính trên doanh số BHTT của người tham gia; Hoa hồng gián tiếp:

là khoản tiền thưởng cho công sức xây dựng mạng lưới tiêu thụ của người tham gia.Cách thức phân chia lợi ích như trên vừa kích thích người tham gia tích cực tiêu thụhàng hoá, vừa kích thích họ tích cực tạo lập hệ thống phân phối cấp dưới Tùy vàochính sách cụ thể của từng doanh nghiệp mà người tham gia BHĐC được hưởng cáckhoản hoa hồng khác nhau Nhưng, nhìn chung hoa hồng được trích cho người thamgia từ khoản tiền chênh lệch giá mà họ lấy từ hàng hóa của doanh nghiệp với giá sỉ vàbán ra với giá bán lẻ đã được công ty ấn định và số hoa hồng trích ra từ phần trăm hoahồng của những người tham gia cấp dưới do mình xây dựng lên

1.1.2 Vai trò của bán hàng đa cấp

- BHĐC là phương thức tiếp cận NTD hữu hiệu, có thể đem lại nhiều lợi íchthiết thực cho NTD như: mua hàng trực tiếp từ nhà sản xuất, tránh được nạn hànggiả, hàng kém chất lượng Vào năm 1990, BHĐC đã được nhận định là phương thứctiếp cận NTD hữu hiệu nhất những năm 90 trên tạp chí Business – một tạp chí kinhdoanh hàng đầu của Mỹ [54] Cho đến ngày nay, người ta vẫn không thể phủ nhậnđây là một ngành kinh doanh hiệu quả và nhiều triển vọng

- Đối với doanh nghiệp, BHĐC tiết kiệm được chi phí quảng cáo, cắt giảmđược hàng loạt các chi phí khác như chi phí thuê mặt bằng trưng bày, chi phí vậnchuyển Mặt khác do có mạng lưới phân phối để đưa hàng hoá trực tiếp đến NTD,BHĐC tạo nhiều thuận lợi cho quảng bá hàng hoá một cách trực tiếp và hữu hiệu

- BHĐC là một thay đổi lớn về thương mại Thay vì đi siêu thị hay đến tậncác cửa hàng mua sắm theo kiểu truyền thống, giờ đây với sự ra đời của loại hìnhBHĐC, NTD đang dần chuyển sang mua sắm qua internet, qua catalogue, qua tivi

Trang 14

đang ngày càng đóng vai trò lớn trong sự thay đổi này BHĐC là một phương thức tiếp cận khách hàng hiệu quả trong thời buổi NTD vô cùng bận rộn hiện nay.

- Cung cấp hàng hóa chất lượng cao, giá cả phù hợp cho xã hội Các công tyBHĐC phân phối rất nhiều mặt hàng khác nhau như: thời trang, đồ trang sức, sảnphẩm dinh dưỡng, hóa mỹ phẩm Các sản phẩm của các công ty đều đã đượcchứng nhận chất lượng trước khi lưu hành Mặt khác, vì các doanh nghiệp BHĐCkhông phải tốn chi phí cho quảng cáo, thuê kho bãi, lưu thông hàng hóa nên giá

cả hàng hóa của các doanh nghiệp này thường rất cạnh tranh với sản phẩm cùng loạicủa các doanh nghiệp khác

- Giải quyết việc làm cho xã hội BHĐC tạo ra nhiều việc làm cho xã hội dophương thức kinh doanh này không giới hạn số lượng người tham gia Điển hìnhnhư ở Việt Nam, số lượng người tham gia BHĐC lên tới hơn 1 triệu người [23], nómang lại nguồn thu nhập cho nhiều người BHĐC có khả năng giải quyết nhiềucông ăn việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống Đối với nhữngnghành nghề khác để được làm việc trong các doanh nghiệp thì người lao động phảiđáp ứng những điều kiện nhất định như vốn, bằng cấp, kinh nghiệm… Còn thamgia mạng lưới BHĐC thì họ không bị yêu cầu nhiều như vậy Họ sẽ được công tyđào tạo, trang bị những kiến thức liên quan về BHĐC Do đó từ những người nội trợđến học sinh, sinh viên đều có thể tranh thủ thời gian nhàn rỗi của mình để BHĐCtăng thêm thu nhập Thực tế trong thời gian qua đã có số lượng người tham giaBHĐC ngày càng tăng với rất nhiều thành phần khác nhau trong xã hội

1.1.3 Nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động bán hàng đa cấp tại Việt Nam

Một trong những đặc trưng của pháp luật là tính dự báo và định hướng Tuynhiên, nhà làm luật Việt Nam chưa làm tốt công tác này đối với vấn đề quản lý hoạtđộng BHĐC Chúng ta không thấy trong chương trình của các nhà lập pháp có địnhhướng lập pháp trong vấn đề này khi chúng chưa vào Việt Nam

Một trong những yêu cầu của pháp luật là bám sát đòi hỏi thực tiễn quản lý.Tuy nhiên, chúng ta đã cũng không làm tốt được khâu này khi điều chỉnh hoạt động

Trang 15

trường Việt Nam và liền sau đó chúng ta đã bắt đầu chứng kiến mặt trái của nó Tuynhiên, phải đến khi các hiện tượng tiêu cực do hoạt động này gây ra đã gần nhưvượt xa mức kiểm soát thì các nhà làm luật mới loay hoay để xây dựng các quy địnhpháp luật điều chỉnh.

Khi vấn đề trở nên nóng trên diễn đàn lập pháp bởi các hậu quả của BHĐC,nhiều quan điểm về hướng điều chỉnh đã được đưa ra Có quan điểm cho rằng cầnphải cấm toàn diện hoạt động này do nó gây ảnh hưởng xấu đến xã hội và gây thiệthại đến lợi ích của nhà nước, người tham gia và NTD Quan điểm này không thừanhận rằng nó tồn tại khách quan và chúng ta không có cách nào khác là phải kiểmsoát nó Một quan điểm khác đã nhìn ra được vấn đề là BHĐC tự nó đã có đời sốngriêng, nhà làm luật có trách nhiệm là định hướng và kiểm soát đời sống riêng đó

Quan điểm thứ hai được thừa nhận rộng rãi và từ đó, các nhà làm luật tậptrung vào cách thức điều chỉnh BHĐC Nhiều quan điểm đã được đưa ra Có quanđiểm cho rằng BHĐC là hành vi thương mại tương tự như quảng cáo, khuyến mạihay đại lí… Quan điểm này chưa hợp lí do BHĐC không phải là hoạt động kinhdoanh mà là phương thức kinh doanh mà thôi Bởi vậy, không thể đưa nó thành một

bộ phận dưới sự điều chỉnh của Luật Thương mại được Quan điểm khác dưới giác

độ kinh tế thị trường, góc nhìn của Luật cạnh tranh đã đưa ra được một lập luận hợp

lí hơn Theo đó, BHĐC cần phải có quy phạm riêng điều chỉnh Đối với những hành

vi sai trái hay biến dạng thì sử dụng công cụ đặc thù của nền kinh tế thị trường làLuật Cạnh tranh để điều chỉnh Cùng quan điểm này, Nhóm tác giả biên soạn Giáotrình Luật cạnh tranh Đại học Kinh tế Luật – Đại Học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí

Minh xuất bản tháng 06/2010 viết: “hệ thống truyền tiêu đa cấp là cách thức đặc thù để xây dựng mạng lưới tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm, là một thủ pháp cạnh tranh trong kinh doanh, nhằm tạo lập vị thế của mình trên thương trường Hành vi thiết lập hoặc vận hành hệ thống BHĐC ẩn chứa trong mình nó những toan tính thiết lập trong mình nó hệ thống phân phối ảo xâm phạm đến lợi ích của những người tham gia, của NTD và của các doanh nghiệp khác, được chính sách cạnh tranh coi là không lành mạnh cần phải được cấm đoán và trừng phạt nhằm bảo vệ

Trang 16

tiếp cận này như: Canada, Đài Loan…

Quy phạm hóa quan điểm trên, Luật Cạnh tranh 2004 đã ghi nhận BHĐC.Sau đó, các văn bản quy định về quy chế pháp lý đối với hoạt động BHĐC cũng lầnlượt ra đời Cụ thể: Nghị định 110 sau đó được thay thế bởi Nghị định 42; Thông tư

19 hướng dẫn một số nội dung quy định tại Nghị định 110; Thông tư 35 sửa đổi, bổsung một số nội dung về thủ tục hành chính tại Thông tư 19 Hai thông tư này đượcthay thế bởi Thông tư 24 có hiệu lực từ 15/09/2014

Việc ghi nhận và có chính sách quản lý BHĐC đã cho thấy quan điểm đúngđắn của nhà làm luật khi tác dụng điều chỉnh của các văn bản này đã được ghi nhận,góp phần nào đó hạn chế được các hành vi vi phạm pháp luật đang diễn ra đưa hoạtđộng BHĐC vào một khuôn khổ mà nhà nước là chủ thể kiểm soát khuôn khổ đó

1.2 Pháp luật về bán hàng đa cấp

1.2.1 Khái niệm pháp luật về bán hàng đa cấp

Hiện tại, chưa có một nhà nghiên cứu pháp lý nào đưa ra khái niệm pháp luật

về BHĐC Qua khảo cứu các giáo trình, bài báo, tạp chí, bài nghiên cứu… các tácgiả mới chỉ bàn đến khái niệm BHĐC bất chính hay tính không lành mạnh của hành

vi BHĐC bất chính [33, tr.149-151] [35, tr.190-198] Bởi vậy, việc xây dựng mộtkhái niệm pháp luật về BHĐC là một vấn đề mới và cần thiết trong khoa học pháp

lý Để xây dựng được khái niệm này, chúng ta cần nhận thức rõ được nội hàm của

nó và mối quan hệ với pháp luật khác

Pháp luật về BHĐC có phạm vi điều chỉnh là hoạt động BHĐC và quản lýhoạt động BHĐC Vậy nên, đối tượng điều chỉnh chủ yếu nó hướng đến là nhữngđối tượng chịu ảnh hưởng của hoạt động BHĐC là doanh nghiệp BHĐC, ngườitham gia BHĐC và NTD Tuy nhiên, quy định pháp luật Việt Nam hiện tại mới chỉchú trọng đến hai đối tượng là doanh nghiệp BHĐC và người tham gia NTD là đốitượng cần được quan tâm bảo vệ trong mối quan hệ này thì chưa được đề cập nhiều

Tại Việt Nam, quy định pháp luật quản lý hoạt động BHĐC chủ yếu ghinhận tại Nghị định 42 mà chưa đưa lên thành Luật như nhiều nước (Canada,

Malaysia, …) Trong phần căn cứ để ban hành Nghị định này có đề cập đến Luật

Trang 17

Cạnh tranh Tính đến thời điểm tác giả viết luận văn này, luật duy nhất đề cập trựctiếp đến phương thức BHĐC là luật Cạnh tranh Theo tác giả, đó là lí do nhà làmluật đưa Luật cạnh tranh là căn cứ khi ban hành Nghị định 42 và có thể khẳng địnhpháp luật về BHĐC là một bộ phận quan trọng trong pháp luật Cạnh tranh.

Tuy nhiên, pháp luật cạnh tranh chỉ điều chỉnh một phần trong các nội dungquản lý hoạt động BHĐC khi có dấu hiệu bất chính xảy ra Cụ thể, hành vi BHĐCbất chính là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh Phần điều chỉnh liên quanđến quản lý hành chính đối với hoạt động BHĐC không thuộc phạm vi điều chỉnhcủa luật Cạnh tranh Nó là tập hợp những quy phạm pháp luật có tính chất quản lýhành chính riêng

Trên cơ sở phân tích ở trên, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa về pháp luật vềBHĐC như sau:

Pháp luật về Bán hàng đa cấp là một bộ phận quan trọng của pháp luật cạnh tranh điều chỉnh những mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước quản lý hoạt bán hàng đa cấp.

1.2.2 Nội dung pháp luật về bán hàng đa cấp

1.2.2.1 Chủ thể của quan hệ pháp luật bán hàng đa cấp.

Có nhiều chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật BHĐC bao gồm: Nhà nướcvới vai trò quản lý, doanh nghiệp BHĐC, người tham gia BHĐC, khách hàng làNTD Chủ thể chính tham gia quan hệ pháp luật BHĐC bao gồm doanh nghiệpBHĐC và người tham gia BHĐC:

Thứ nhất, doanh nghiệp BHĐC có thể là doanh nghiệp trực tiếp sản xuất ra

các sản phẩm đem bán hoặc là doanh nghiệp phân phối các sản phẩm từ các thươngnhân khác nhau, nó có thể là doanh nghiệp trong nước hoặc nước ngoài tùy thuộcvào mức độ mở cửa thị trường của mỗi nước cũng như môi trường kinh doanh nộiđịa Doanh nghiệp BHĐC có thể được thành lập dưới các hình thức khác nhau nhưcông ty TNHH một thành viên, công ty TNHH hai thành viên, công ty cổ phần.Pháp luật mỗi quốc gia quy định về điều kiện (dào cản) để các doanh nghiệp tham

Trang 18

tình hình thị trường, quy mô dân số, quan điểm xây dựng…

Thứ hai, người tham gia BHĐC tham gia vào mạng lưới BHĐC thông qua

hợp đồng Lợi nhuận của người này nhận được từ phía công ty BHĐC thông quaviệc bán hàng của chính mình và của những người khác thuộc hệ thống do mình lập

ra Về địa vị pháp lý, người tham gia BHĐC có địa vị hết sức đặc biệt Họ vừa được

ví như là người đại lý, nhân viên tiếp thị, vừa là nhân viên bán hàng cũng là ngườivận chuyển sản phẩm đến tay NTD Pháp luật của mỗi quốc gia quy định nhữngđiều kiện đối với người tham gia căn cứ vào đặc điểm nhân thân, mức độ nhận thức,mật độ dân cư, chính sách lao động…

1.2.2.2 Nhà nước-chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật bán hàng đa cấp

Nhà nước là chủ thể đặc biệt trong quan hệ pháp luật BHĐC Sự tham giacủa nhà nước giữ vai trò điều tiết và quản lý Ví dụ: Mức hoa hồng trả cho ngườitham gia thường bị khống chế ở một mức độ nhất định (Việt Nam không quá 40%[26, Điều 27, Khoản 2])

Nhà nước thể hiện vai trò của mình thông qua việc ban hành các văn bảnpháp luật điều chỉnh về BHĐC; ban hành bộ thủ tục đăng ký để được cấp GĐK, chế

độ báo cáo, chế độ thanh, kiểm tra phát hiện và xử lý vi phạm (nếu có)… Nhà nước

có chính sách khuyến khích tạo điều kiện hoặc kìm hãm sự phát triển của ngànhcông nghiệp này tùy thuộc quan điểm của họ theo từng thời kỳ khác nhau

Ngoài ra, nhà nước còn là một chủ thể có quyền năng đặc biệt vì chỉ có nhànước mới quyết định được việc có hay không cho phép sự tồn tại của phương thứcBHĐC ở mỗi nước

1.2.2.3 Các hiệp hội có liên quan

Sự ra đời cũng như tham gia vào các hiệp hội đánh dấu sự phát triển quan hệhợp tác của các doanh nghiệp BHĐC Hiệp hội ra đời và tồn tại đem lại nhiều lợiích cho thành viên, đặc biệt hiệp hội có tiếng nói lớn hơn và giúp truyền tải tốt hơnnguyện vọng của các thành viên tới cơ quan có thẩm quyền và cộng đồng

1.2.2.4 Hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp

Trang 19

Quan hệ BHĐC giữa doanh nghiệp BHĐC với người tham gia vào mạng lướiBHĐC được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lí là hợp đồng Có thểhiểu rằng hợp đồng tham gia BHĐC là việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền

và nghĩa vụ trong quan hệ BHĐC giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luậtnày Với tư cách là hình thức pháp lí của quan hệ pháp luật BHĐC, hợp đồng thamgia BHĐC có những dấu hiệu pháp lí sau:

- Chủ thể của hợp đồng: Doanh nghiệp BHĐC và người tham gia BHĐC;

- Hình thức của hợp đồng là phương tiện để ghi nhận kết quả mà các bên đã

thỏa thuận với nhau Nó có thể thể bằng lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể Tuynhiên, với tính chất phức tạp của quan hệ BHĐC, khả năng phát sinh tranh chấptrong quá trình thực hiện hợp đồng là rất lớn nên hợp đồng tham gia BHĐC luônphải được thể hiện dưới những hình thức đảm bảo rõ ràng nhất để giúp cho quátrình thực hiện và giải quyết tranh chấp trở nên thuận tiện hơn

- Đối tượng của hợp đồng: Đối tượng của hợp đồng tùy thuộc vào từng quốcgia khác nhau Nhiều quốc gia thừa nhận cả hàng hóa và dịch vụ nhưng có nhữngquốc gia chỉ công nhận hàng hóa là đối tượng của hợp đồng này

- Nội dung cơ bản của hợp đồng: Nội dung của hợp đồng là thỏa thuận giữa

các bên về quyền và nghĩa vụ trong quan hệ BHĐC Pháp luật về BHĐC thường cónhững quy định hướng dẫn về những nội dung chủ yếu của hợp đồng tham giaBHĐC như: Chủ thể, hàng hóa, cách tính tiền hoa hồng, quyền và nghĩa vụ của cácbên, chấm dứt thanh lý hợp đồng, xử lý khi có tranh chấp và vi phạm hợp đồng…

1.2.2.5 Kiểm soát hoạt động bán hàng đa cấp

BHĐC là một biện pháp tiên tiến trong việc đem sản phẩm đến gần hơn vớiNTD Tuy nhiên, phương thức BHĐC cũng tiềm ẩn rất nhiều những nguy cơ ảnhhưởng xấu đến quyền lợi của NTD, của người tham gia và gây xáo trộn trật tự xãhội Bởi vậy, vấn đề kiểm soát hoạt động BHĐC là cần thiết Các cơ chế có thể

Trang 20

13

Trang 21

1.3 Vấn đề học hỏi kinh nghiệm một số nước trên thế giới về bán hàng

đa cấp của Việt Nam

1.3.1 Nhu cầu học hỏi kinh nghiệm quốc tế để hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bán hàng đa cấp

Thứ nhất, thế giới ngày càng phẳng hơn, thế giới mở ra với xu thế chínhtrong quan hệ quốc tế vẫn là hội nhập Đứng trước xu thế chính đó, Việt Nam khôngthể tự cô lập, tách mình ra khỏi cộng đồng quốc tế trở thành một ốc đảo Chúng tacũng đã nhận định được đúng đắn vấn đề này Do vậy, quan điểm đối ngoại của ViệtNam là hội nhập và muốn làm bạn với tất các nước trong cộng đồng quốc tế để họchỏi, tiếp thu và rút ngắn khoảng cách phát triển giữa chúng ta và thế giới [14, 15].Chúng ta cần phải tích cực hội nhập sâu sắc và tiếp thu những thành tựu của cácnước trong cộng đồng quốc tế trong đó có thành tựu lập pháp liên quan đến phápluật về quản lý hoạt động BHĐC

Thứ hai, BHĐC trên thế giới có lịch sử phát triển gần 80 năm nhưng vào ViệtNam rất muộn (chưa tròn hai chục năm) Chúng ta đi sau nên việc học tập kinhnghiệm của các nước có quá trình điều chỉnh lâu dài và phù hợp là điều cần thiết vàhợp quy luật Ra đời từ đầu thế kỉ 20, BHĐC gắn liền với tên tuổi của nhà hóa họcngười Mỹ Carl Renborg (1887-1973) Ông là người đầu tiên ứng dụng ý tưởng tiếpthị mạng lưới vào trong cuộc sống, tạo ra một hệ thống kinh tế, một ngành kinhdoanh được coi là có triển vọng nhất trong thế kỷ 21 [21] Thời điểm được coi là bắtđầu phương thức kinh doanh này là cuối năm 1939 đầu 1940 Hiện nay, KDĐC đã

và đang phát triển mạnh ở hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên khắp các châulục, với hơn 30.000 công ty lớn đã áp dụng phân phối hàng hóa theo mô hìnhBHĐC [53]

Thứ ba, nền công nghiệp BHĐC trên thế giới đã gặt hái được nhiều thành tựu vàcũng bộc lộ những khuyết điểm Do vậy, việc tìm hiểu và học tập kinh nghiệm cácnước sẽ giúp cho Việt Nam giảm thiểu được những khiếm khuyết phát huy được nhữngmặt tích cực của phương thức này Năm 2013, doanh số bán lẻ theo phương thức

Trang 22

Hiệp hội BHTT (DSA – Direct selling association), một cơ quan thuộc ngành côngnghiệp Mỹ, đã đưa ra báo cáo năm 1990, con số thành viên của hiệp hội này kinhdoanh theo phương thức đa cấp mới chỉ đạt 25%, nhưng đến năm 1999 con số này tănglên tới 77,3% [47] Các công ty lớn như Avon, Electrolux, Tupperware, và Kirby dù banđầu rất thành công với phương thức kinh doanh đơn cấp nhưng sau đó cũng đã chuyểnsang KDĐC [49] Đến năm 2009, 94,2% thành viên của hiệp hội đã kinh doanh theophương thức đa cấp Số lượng NPP của những công ty đó chiếm 99,6% số lượng nhânviên bán hàng của toàn bộ các công ty thành viên, và trong đó doanh số bán hàng củahiệp hội có đến 97,1% doanh số bán hàng từ các công ty BHĐC

[45].Số liệu báo cáo năm 2011, DSA có 200 thành viên [46] và ước tính tại Mĩ hiện cókhoảng hơn 2.000 công ty hoạt động kinh doanh theo mô hình BHĐC Cứ 10 gia đìnhtại Mĩ thì có một người làm trong ngành, chiếm khoảng 15% dân số, có khoảng500.000 người trở thành triệu phú nhờ BHĐC [36] Bên cạnh những thành tựu trên,chúng ta cũng sẽ rất thảng thốt khi nghe đến các vụ lừa đảo đa cấp làm rúng động thịtrường trên thế giới như: Vụ việc của PrimeAmerica làm thiệt hại cho nền kinh tế Hoa

Kỳ 57.6 tỷ USD/năm hay vụ việc ủy ban SEC (U.S Securities And ExchangeCommission) của Hoa Kỳ - một cơ quan có sứ mệnh bảo vệ nhà đầu tư, duy trì côngbằng, trật tự và hiệu quả của thị trường cũng như tạo điều kiện cho việc tạo lập nguồnvốn, đã ra quyết định chấm dứt hoạt động của Công ty ZEEKREWARDS.COM với 1,5triệu NPP vì bị kết luận kinh doanh đa cấp bất chính

Thứ tư, BHĐC là phương thức do nước ngoài du nhập vào Việt Nam nênchúng ta tiếp thu bị động Cả người dân và chính quyền đều chưa có sự chuẩn bị đầy

đủ để đón nhận phương thức mới mẻ này Trong khi chính quyền còn bộc lộ nhữngyếu kém về năng lực quản lý thì người dân lại vô cùng nhẹ dạ cả tin Muốn chuyển

từ bị động sang chủ động đòi hỏi chúng ta phải học tập kinh nghiệm quốc tế để hoànthiện pháp luật trong nước Năm 1998, tại TP Hồ Chí Minh một nhóm người từ ĐàiLoan sang Việt Nam liên doanh với Công ty Incomex và kinh doanh

dưới hình thức BHĐC đánh dấu sự xuất hiện lần đầu tiên của phương thức BHĐC tại Việt Nam [33]

Trang 23

1.3.2 Nguyên tắc học hỏi kinh nghiệm quốc tế

Chúng ta đi sau, chúng ta chậm phát triển hơn nên việc học hỏi một cách chủđộng và có chọn lọc là cần thiết Chúng ta cần đặc biệt chú ý tới 02 nguyên tắc khitiếp thu kinh nghiệm quốc tế là:

Thứ nhất, kinh nghiệm của các nước phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của

Việt Nam Đặc thù, hoàn cảnh của mỗi quốc gia khác nhau là khác nhau, do vậy,quá trình hình thành, phát triển và điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt độngBHĐC cũng khác nhau Chúng ta cần phải lưu tâm đến nguyên tắc này nếu khôngmuốn bị xa vào tình trạng thiếu thực tế khi điều chỉnh dẫn đến hiệu quả không cao

Thứ hai, kinh nghiệm các nước đã được kiểm chứng qua thực tiễn quản lý,

kiểm soát, điều hành Tính thực tiễn cần được đặt ở một ví trí rất cao khi đánh giá

và học tập những quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động BHĐC của các nước.Phải thấy được quá trình điều chỉnh bằng pháp luật một cách toàn diện và lâu dàicủa các nước mới thấy được những ưu điểm, nhược điểm của nó, từ đó làm cơ sởrút ra những vấn đề nào nên học tập vấn đề nào không Kết hợp hệ quy chiếu nàyvới hoàn cảnh, điều kiện Việt Nam sẽ giúp chúng ta có được một sự tiếp thu khoahọc, khách quan và giàu tính sáng tạo đem lại hiệu quả cao trong thực tiễn

1.3.3 Kinh nghiệm của một số nước

1.3.3.1 Malaysia

Giới thiệu chung:

Malaysia là một quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, thành viên sáng lậpcủa Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) có những điểm tương đối gần gũivới Việt Nam về vị trí địa lí, văn hóa Đây là lí do tại sao tác giả chọn Malaysia làquốc gia đầu tiên để học hỏi kinh nghiệm về quản lý hoạt động BHĐC Malaysiatheo mô hình liên bang bao gồm 13 bang và 02 vùng liên bang Malaysia theo thểchế quân chủ nghị viện, lưỡng viện với hệ thống pháp luật theo hệ thống pháp luậtcủa Anh [60] Tính đến 02/2013 dân số Malaysia là 29.179.952 người trong đóngười Malay chiếm 50.4%, người Trung Quốc chiếm 23.7% và các dân tộc khác

Trang 24

Số liệu về BHTT tại Malaysia

Theo báo cáo của Liên đoàn các Hiệp hội BHTT thế giới năm 2013 doanhthu từ hoạt động BHTT của Malaysia đạt con số tương đối ấn tượng là 4,659 tỷUSD (chiếm khoảng 3% doanh số BHTT toàn cầu – tương đương với mức doanh sốcủa Pháp, một quốc gia có dân số cao hơn rất nhiều là 65,8 triệu người năm 2013[80]) Số lượng NPP đạt 4.250.000 người (chiếm hơn 15% dân số) [43]

Trong các sản phẩm BHĐC của Malaysia, thảo dược và thực phẩm bổ sung

có doanh thu cao nhất chiếm khoảng 33%, tiếp đó là mỹ phẩm & EPC đạt 23%,thiết bị gia dụng 13%, thực phẩm, đồ dùng gia đình chiếm 8%, sản phẩm thêu/đồ lótchiếm 6%, đồ uống chiếm 6% [62]

Hiệp hội Bán hàng trực tiếp tại Malaysia

Hiệp hội BHTT Malaysia (DSAM - Direct Selling Association of Malaysia)được thành lập năm 1978, là hiệp hội thương mại quốc gia với mục tiêu thúc đẩy vàquảng bá ngành BHTT và giữ vai trò người phát ngôn thực tiễn cho ngành côngnghiệp này Hiệp hội có 64 thành viên, trong đó 50% thành viên là các công ty đaquốc gia Sau 30 năm, vào năm 2008, biểu tượng của DSAM đã được thay đổi và sửdụng cho đến nay, tương xứng với tầm ảnh hưởng và sự phát triển của ngành côngnghiệp BHTT [62]

Cơ quan quản lý hành chính đối với hoạt động BHTT

Bộ Thương Mại Nội Địa, Hợp Tác Và Bảo Vệ Quyền Lợi Người Tiêu Dùng(MDTCC - Ministry of Domestic Trade, Co-operatives and Consumerism) là cơquan quản lý nhà nước đối với hoạt động BHTT tại Malaysia Được thành lập ngày27/10/1990, cơ quan này ra đời để đẩy mạnh sự phát triển của thương mại nội địa vàbảo vệ quyền lợi của NTD Malaysia [63] Để thực hiện hoạt động quản lý hànhchính đối với hoạt động BHTT tại quốc gia này, nhà làm luật đã ban hành rất nhiềuvăn bản và giao cho MDTCC tổ chức và thực hiện như:

Đạo Luật Bán hàng Trực tiếp 1993 (Luật 500);

Năm 2011, Đạo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Bán Hàng Trực tiếp và ChốngBán Hàng theo Mô Hình Kim Tự Tháp 1993 được ban hành;

Trang 25

Đạo Luật Cạnh Tranh 2010, Đạo Luật Bảo Vệ Dữ Liệu Cá Nhân 2010, ĐạoLuật Kiểm Soát Giá và Chống Đầu Cơ 2011, Đạo Luật Bảo vệ NTD 1999.

Một số nét chính trong quy định pháp luật quản lý hoạt động BHTT

Yêu cầu về giấy phép: Để hoạt động theo phương thức BHTT tại Malaysia,

việc đăng ký để được cấp giấy phép là một yêu cầu bắt buộc [43, Điều 4]

Đối tượng được phân phối theo phương thức BHTT: Pháp luật Malaysia thừa

nhận BHTT đối với cả hàng hóa và dịch vụ Trong đó: hàng hóa được định nghĩa làtất cả các loại động sản ngoại trừ các quyền tài sản khác, thương phiếu, cổ phiếu,trái phiếu và tiền; dịch vụ bao gồm các quyền và lợi ích bất kỳ loại trừ việc cungcấp hàng hóa và thực hiện các công việc theo hợp đồng dịch vụ, và một tham chiếuđến từ dịch vụ trong Luật 500 liên quan đến BHTT và bán hàng kim tự tháp; [43,Điều 2]

Khách hàng của kênh phân phối theo phương thức BHTT tại Malaysia chỉ cóthể là cá nhân [43, Điều 1(3)(a)]

Đối tượng BHTT tại Malaysia được mở rộng khi nhà làm luật thừa nhận cảhàng hóa và dịch vụ đều là đối tượng của hoạt động này Nhà làm luật cũng quyđịnh rõ những hàng hóa, những dịch vụ nào được tiến hành phân phối theo phươngthức BHTT Qua đó, chúng ta thấy rằng thị trường BHTT của Malaysia là tương đốirộng mở đối với nhà đầu tư

Tên gọi và định nghĩa: Tại Malaysia, hoạt động phân phối theo phương thức

BHĐC được gọi là: Bán hàng trực tiếp Theo pháp luật Malaysia, hoạt động BHTTđược định nghĩa bao gồm: Bán hàng tận cửa, bán hàng qua thư điện tử và bán hàngqua giao dịch điện tử Bán hàng tận cửa được định nghĩa là phương thức bán hànghóa hoặc dịch vụ được thực hiện theo cách thức: Một người hoặc bất kỳ người nàođược ủy quyền đến các địa điểm mà không phải là địa điểm kinh doanh cố địnhhoặc tiến hành thông qua các cuộc điện thoại để tìm ra những người có thể ký hợpđồng trở thành người mua hàng hóa, dịch vụ Sau đó, người này hoặc một số ngườikhác đàm phán với những người mua tiềm năng để ký những hợp đồng tương tự

Trang 26

Điện tử có nghĩa là các công nghệ sử dụng điện, quang, từ, điện tử, sinh trắchọc, quang tử hoặc công nghệ tương tự khác.

Bán hàng qua lệnh thư điện tử nghĩa là việc bán hàng hóa hoặc dịch vụ do cánhân tự mình hoặc thông qua người được ủy quyền tiến hành nhận đặt hàng cho hợpđồng bán hàng thông qua thư điện tử hoặc bất kỳ phương tiện nào khác thông quacông cụ điện tử [43, Điều 2]

Như vậy, theo quy định của pháp luật Malaysia, các hành vi BHTT được thừanhận bao gồm cả bán hàng qua điện thoại và bán hàng qua lệnh thư điện tử Nó phùhợp với sự phát triển của ngành công nghiệp này khi thói quen của người tiêu dùngđang ngày càng thay đổi với xu hướng sử dụng ngày một nhiều phương tiện điện tử

để cho việc mua sắm trở lên tiện lợi hơn

Ngoài khái niệm BHTT, nhà làm luật còn xây dựng thuật ngữ bán hàng kim

tự tháp Theo đó, hệ thống bán hàng kim tự tháp là bất kỳ hệ thống, sự sắp đặt, kế

hoạch, quá trình vận hành hoặc chuỗi có những đặc trưng:

Việc xúc tiến cho một mô hình hoặc thanh toán tiền thưởng hoặc lợi ích khácchỉ hoặc chủ yếu thông qua việc tuyển dụng hoặc giới thiệu người tham gia;

Việc trả thưởng hoặc lợi ích khác người tham gia được nhận chỉ hoặc chủyếu thông qua việc tuyển dụng hoặc giới thiệu người khác vào hệ thống;

Không cung cấp cho người tham gia hợp đồng hoặc tuyên bố chỉ ra điềukhoản của thỏa thuận;

Bắt buộc mua hàng hóa, dịch vụ hoặc tài sản vô hình hoặc thanh toán mức tốithiểu hoặc yêu cầu bán hàng được ấn định như điều kiện để thỏa mãn những tiêuchuẩn hoặc yêu cầu ban đầu cho việc tham gia hoặc thanh toán phần thưởng hoặclợi ích khác;

Người tham gia bị yêu cầu mua hàng hóa, dịch vụ hoặc tài sản vô hình theomột lượng không hợp lý vượt quá khả năng bán lại hoặc tiêu dùng trong một khoảngthời gian hợp lý Người tham gia không được tự do mua hàng, họ chịu áp lực muanhững gói được lựa chọn để phù hợp với yêu cầu bán hàng cho vị trí hoặc việc trảthưởng;

Trang 27

Không cung cấp chính sách hoàn trả lại sản phẩm được người tham gia muahoặc NTD;

Không cung cấp chính sách mua lại sản phẩm theo đề nghị của người thamgia theo điều khoản hoặc thỏa thuận hợp lý hoặc chính sách này không được phép;

Yêu cầu mô hình không hợp lý hoặc khắt khe đối với người tham gia đểđược trả thưởng hoặc lợi ích khác;

Chấm dứt tư cách người giam gia không được phép;

Cho phép hoặc khuyến khích người tham gia mua nhiều hơn 01 vị trí thamgia [43, Điều 27.A]

Pháp luật Malaysia quy định một số lượng lớn những hành vi bị coi là bánhàng theo mô hình kim tự tháp bị cấm Về cơ bản, những hành vi này không xuấtphát từ việc bán hàng hóa, dịch vụ mà chủ yếu từ việc lôi kéo người tham gia vào hệthống để được lợi ích kinh tế Bên cạnh đó, nhà làm luật cũng quy định một sốtrường hợp khác mà nhà làm luật cấm đối với người tham gia liên quan đến quản lýhành chính như ép buộc mua hàng, chấm dứt tư cách không thuộc trường hợp đượcphép, không có chính sách cam kết mua lại, đặt ra các điều kiện để hạn chế quyềnhưởng hoa hồng chính đáng của người tham gia

Giới hạn: Pháp luật về BHĐC không áp dụng đối với loại hình bảo hiểm

hoặc tái bảo hiểm và loại hợp đồng takaful [43, Điều 1(3)(c)]

Như vậy, nhà làm luật tại Malaysia đã có sự cân nhắc đối với một số trườnghợp không áp dụng pháp luật về BHĐC Những trường hợp này sẽ có quy chế đặcthù quy định trong luật riêng

Hợp đồng BHTT:

Hợp đồng BHTT là hợp đồng được ký giữa nhà cung cấp (vendor) và ngườimua (purchaser) đáp ứng một số các yêu cầu như:

- Về hình thức : Hợp đồng bắt buộc bằng văn bản đối với trường hợp bán hàng

tận cửa và qua lệnh thư điện tử [43, Điều 23]

Trang 28

Như vậy, nhà làm luật Malaysia đã có sự quan tâm đến vấn đề hình thức củahợp đồng khi đặt ra điều kiện về hình thức đối với một số trường hợp để đảm bảohợp đồng có hiệu lực pháp luật.

- Các điều khoản chính của Hợp đồng bao gồm:

Bản mô tả chi tiết của hàng hóa hoặc dịch vụ được cung cấp hoặc, nếu hợpđồng có đối tượng là việc tiến hành các công việc có tính chất đặc thù thì làm rõ chitiết công việc đó;

Các điều khoản mang tính hợp đồng của hợp đồng bao gồm tổng số tiền phảitrả hoặc được cung cấp bởi người mua, hoặc nếu tổng số tiền là không thể xác địnhtại thời điểm hợp đồng được ký kết thì phải nêu rõ cách thức tính;

Thời gian, địa điểm và phương thức thanh toán được thực hiện;

Thời gian, địa điểm của việc chuyển hàng và thực hiện dịch vụ;

Thông báo dưới hình thức được quy định thông báo cho người mua quyền của họ để huỷ bỏ hợp đồng trước khi hết thời hạn thẩm duyệt [43, Điều 24]

Như vậy, nhà làm luật cũng đã dự liệu những nội dung chính cần phải có đối với hợp đồng BHTT để đảm bảo tính hiệu lực của hợp đồng, trong đó, đặc biệt lưu

ý đến quyền để hủy bỏ hợp đồng trong thời hạn thẩm duyệt

- Quyền hủy bỏ hợp đồng: Người mua có quyền hủy bỏ hợp đồng vào bất kỳ

thời điểm nào trong thời hạn thẩm duyệt (10 ngày kể từ ngày hợp đồng được kýkết) Nếu người mua sử dụng quyền này, hợp đồng sẽ được xem là bị hủy bỏ bằng

sự thỏa thuận chung và không có hiệu lực, bất kỳ hợp đồng đảm bảo nào liên quanđến hợp đồng được xem là chưa bao giờ phát sinh hiệu lực [43, Điều 27]

Đây là quyền rất đặc biệt mà pháp luật trao cho người mua để bảo vệ quyềnlợi cho họ Hoạt động BHTT luôn tiềm ẩn những rủi ro cho người mua, do đó, nhàlàm luật cần phải quy định những quyền để loại trừ phần nào các rủi ro đó và quyềnchấm dứt hợp đồng trong thời hạn thẩm duyệt chính là một minh chứng cụ thể

Các hành vi bị cấm: Việc xúc tiến cho một mô hình kim tự tháp bị cấm tại

Malaysia, không ai được xúc tiến hoặc gây ra việc xúc tiến cho mô hình kim tự tháp[43, Điều 27A-27B]

Trang 29

Ta thấy rằng, theo quy định của pháp luật Malaysia, ngay cả việc xúc tiếncho một mô hình kim tự tháp cũng đã bị cấm Nhà làm luật cấm rất triệt để đểkhông phép cho mầm mống của hành vi BHĐC có thể nảy sinh.

Chế tài áp dụng:

Bất kỳ người nào vi phạm quy định pháp luật về BHTT có thể bị phạt tiềnkhông quá 100.000 ringgit hoặc phạt tù có thời hạn không quá ba năm hoặc cả hai.Đối với một hành vi phạm tội lần thứ hai trở lên hoặc vi phạm sau đó sẽ phải chịumột khoản tiền phạt không quá 250.000 ringgit hoặc phạt tù có thời hạn không quánăm năm hoặc cả hai

Bất kỳ tổ chức nào vi phạm Đạo luật 500 này có thể bị phạt 250.000 ringgit,nếu vi phạm lần 2 hoặc vi phạm sau đó sẽ chịu mức phạt không quá 500.000ringgit [43, Điều 39]

Đối với hành vi vi phạm quy định về hệ thống bán hàng kim tự tháp, hìnhphạt được áp dụng như sau: Đối với tổ chức, mức phạt không thấp hơn 1.000.000ringgit và không quá 10.000.000 ringgit, đối với vi phạm lần 2 và sau đó, mức phạt

từ 10.000.000 đến 50.000.000; đối với cá nhân, mức phạt từ 500.000 ringgit hoặcphạt tù không quá 5 năm tù hoặc cả 2 Đối với những vi phạm lần 2 hoặc sau đó,mức phạt từ 1.000.000 đến 10.000.000 ringgit hoặc phạt tù không quá 10 năm hoặc

cả 2 Đối với cá nhân đang là giám đốc, người quản lý, kế toán hoặc nhân viêntương tự khác của một tổ chức cũng có thể là tội phạm vi phạm theo quy định vềbán hàng theo mô hình kim tự tháp, họ sẽ chịu trách nhiệm theo quy định đối với viphạm này

Nhà làm luật Malaysia quy định chế tài rất nặng đối với hành vi vi phạmpháp luật về BHTT, đặc biệt đối với hành vi bán hàng theo mô hình kim tự tháp bấtchính Chế tài bao gồm phạt tiền và phạt tù Với nguyên tắc trách nhiệm hình sự ápdụng với cá nhân, những cá nhận chịu trách nhiệm trong những doanh nghiệp viphạm pháp luật về BHTT phải đứng ra chịu trách nhiệm cho việc điều hành doanhnghiệp của mình

Trang 30

Tiểu kết: Như vậy Malaysia là quốc gia thừa nhận cho BHTT tồn tại và đã

xây dựng lên một hệ thống quy phạm pháp luật để điều chỉnh nó Pháp luậtMalaysia thừa nhận cả hàng hóa và dịch vụ đều có thể tiến hành phân phối theophương thức BHĐC và quy định cụ thể đó là những hàng hóa, dịch vụ nào Yêu cầuđăng ký để có thể tiến hành hoạt động BHĐC là một yêu cầu bắt buộc Pháp luậtMalaysia đã đặt BHĐC dưới sự kiểm soát tương đối chặt chẽ với chế tài rất nặng và

bị coi là tội phạm Việc này đem lại hiệu quả cao trong quản lý Con số doanh thuhơn 4 tỷ USD năm 2013 là minh chứng rõ nét cho điều đó

1.3.3.2 New Zealand

Giới thiệu chung

New Zealand là một quốc gia thuộc Châu Đại Dương, là đảo thuộc biển NamThái Bình Dương nằm phía đông nam của Úc Đây là quốc gia tham gia sáng lập làLiên Đoàn Các Hiệp Hội Bán Hàng Trực Tiếp Thế Giới (WFDSA - WorldFederation of Direct Selling Association) Bởi vậy, tác giả chọn New Zealand là đốitượng tham chiếu để học hỏi kinh nghiệm về điều chỉnh pháp luật liên quan đến lĩnhvực BHĐC New Zealand theo thể chế Quân chủ nghị viện với chế độ một viện Đấtnước New Zealand có 93 hạt, 99 quận và 3 thành phố cấp quận Lãnh thổ phụ thuộc

và liên kết bao gồm Niu-ơ, Cúc, Tô-kê-lan Về pháp luật, New Zealand theo hệthống pháp luật của Anh [64]

Dân số tương đối ít ỏi chỉ 4.539.056 người (11/2014) Dân cư phần lớn gốcNgười Châu Âu chiếm 74%; người Maori 14,9%, người Châu Á chiếm 11,9%;người các nước đảo Nam Thái Bình Dương chiếm 7,4% Còn lại là các dân tộc khác(3/2013) [65]

Số liệu về BHTT tại New Zealand

Ngành công nghiệp BHTT ở New Zealand tương đối phát triển, doanh thu từhoạt động BHTT tại đây đạt 232 triệu USD Số người tham gia BHTT đạt 94.976người tương đương với 2,3 % dân số [43]

Trong các ngành hàng BHTT tại New Zealand, những sản phẩm có doanhthu lớn bao gồm: sản phẩm chăm sóc cá nhân ($ 63.048.589), sản phẩm gia dụng ($

Trang 31

24.181.330), sản phẩm dinh dưỡng ($ 62.490.424), sản phẩm thực phẩm và công cụthực phẩm ($ 3.867.844), quần áo ($ 16.488.567), sản phẩm thời trang và trang sức($ 10.428.771), chăm sóc nhà ($ 14.294.000)… [66]

Hiệp hội bán hàng trực tiếp New Zealand

Hiệp Hội Bán Hàng Trực Tiếp New Zealand (DSANZ - Direct selling NewZealand) được thành lập từ năm 1974 DSANZ đã ban hành Bộ Quy Tắc Đạo ĐứcKinh Doanh lần đầu tiên vào năm 1978 và sau đó đã hiệu chỉnh nhiều lần để tiếp thutoàn bộ các yêu cầu của Liên Đoàn Các Hiệp Hội Bán Hàng Trực Tiếp Thế Giới.DSANZ chủ động trong việc đôn đốc các hội viên thực thi Bộ Quy Tắc Đạo ĐứcKinh Doanh và khuyến khích các đơn vị ngoài Hiệp Hội áp dụng như một chuẩnmực tối thiểu Năm 1998, DSANZ đã ký Biên Bản Ghi Nhớ với Chính Phủ về việcchấp nhận coi Bộ Quy Tắc Đạo Đức Kinh Doanh là tiêu chuẩn ngành tự nguyện cóhiệu lực cao nhất của New Zealand Hiệp hội có vai trò quan trọng trong việc quản

lý BHĐC tại New Zealand khi là cơ quan được Chính Phủ lựa chọn để tham vấn khixây dựng luật [48]

Cơ quan quản lý hành chính đối với hoạt động BHTT

Cơ quan quản lý hoạt động BHĐC tại New Zealand là Ủy Ban Thương mại(Commerce Comission) Đây là cơ quan độc lập được thành lập theo quy định củaLuật Thương mại năm 1985 Ủy Ban Thương Mại là cơ quan quản lý cạnh tranhchính ở New Zealand Ủy ban thương mại ra đời với mục đích để đạt được nhữngkết quả khả quan nhất trong thị trường cạnh tranh và tuân thủ đối với những lợi íchlâu dài của New Zealand [67]

Một số nét chính trong quy định pháp luật quản lý hoạt động BHTT

BHTT đối với các cơ sở kinh doanh tại New Zealand, là một kênh tiếp thịcho phép giới thiệu sản theo cách mà họ mong muốn giúp giải quyết khó khăn trongviệc tìm kiếm vị trí trưng bày trên kệ tại siêu thị, nơi tràn ngập hàng hóa của cáccông ty đa quốc gia và rất khó nhận ra sản phẩm của họ [48] Hoạt động BHĐC tạiNew Zealand được điều chỉnh bằng pháp luật từ khá sớm Trước đây, nó được điều

Trang 32

đổi năm 1973, Luật Thương Mại Công Bình năm 1986 (Fair Trading Act 1986)

cùng các bản sửa đổi của nó

Hiện tại, hoạt động BHTT tại New Zealand chủ yếu được điều chỉnh bởiLuật Thương Mại Công Bình bản sửa đổi năm 2013 (Fair Trading Act Amendment

2013) có hiệu lực từ ngày 17/06/2014 Mục đích của lần sửa đổi này của LuậtThương mại Công bình năm 2013 là để bảo vệ tốt hơn quyền lợi của NTD khi đượctiếp cận bởi BHTT không mời chào tại nhà, nơi làm việc của họ hoặc qua điệnthoại

Yêu cầu về giấy phép

Tại New Zealand, nhà cung cấp không cần phải có giấy phép để kinh doanhtheo phương thức BHTT bởi các quy định liên quan được áp dụng chung cho cảngười BHTT và tất cả các hình thức kinh doanh khác

Đối tượng được phân phối theo phương thức BHTT

Đối tượng được phân phối theo phương thức BHTT tại New Zealand baogồm cả hàng hóa và dịch vụ

Tên gọi và định nghĩa

Trước đây thuật ngữ được sử dụng trong các quy định pháp luật về quản lýhoạt động BHĐC tại New Zealand là bán hàng tận cửa (door to door sales) và bánhàng qua điện thoại (telemarketing sales) Hiện tại, thuật ngữ được sử dụng trongLuật Thương mại Công bình sửa đổi năm 2013 là Bán hàng trực tiếp không mờichào (uninvited direct sales) Nó được định nghĩa trong luật như sau:

Một thỏa thuận được coi là BHTT không mời chào là thỏa thuận khi nhàcung cấp hoặc đại lý của họ tiếp cận với NTD không mời chào tại nơi ở, nơi làmviệc hoặc qua điện thoại để cố gắng bán hàng hóa, dịch vụ và một thỏa thuận được

ký đối với hàng hóa hoặc dịch vụ trị giá $ 100 trở lên (hoặc một giá nhất định tạithời điểm cung cấp) [44, Điều 36K]

Như vậy, định nghĩa BHTT tại New Zealand về bản chất không khác so vớiđịnh nghĩa theo quy định của pháp luật Malaysia khi cho rằng, để được xem làBHTT thì việc bán hàng không được tiến hành tại địa điểm bán lẻ cố định của nhà

Trang 33

cung cấp hoặc đại lý của họ mà thông qua các hình thức khác nhau nhưng trực tiếptìm đến với NTD Cụ thể, nó có thể được tiến hành qua gặp gỡ tại nơi ở, nơi làmviệc của NTD hoặc qua điện thoại.

Về hợp đồng BHTT

Hình thức: Hợp đồng phải thể hiện dưới dạng văn bản sử dụng ngôn ngữ đơn

giản dễ hiểu, dễ đọc và trình bày rõ ràng

Pháp luật tại New Zealand đưa ra yêu cầu nghiêm ngặt về hình thức để đảmbảo cho hoạt động BHTT sẽ được kiểm soát chặt chẽ, bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp của NTD

Các điều khoản chính: Hợp đồng bao gồm các thông tin cơ bản như sau: 01

bản mô tả hàng hóa, dịch vụ được cung cấp; 01 bản tóm tắt quyền của NTD để hủy

bỏ hợp đồng; tên, địa chỉ, số điện thoại, email của nhà cung cấp; tên và địa chỉ củaNTD Đồng thời, hợp đồng phải ghi rõ ngày và tổng giá trị phải thanh toán theo hợpđồng [44, Điều 36L]

Những điều khoản cơ bản mang tính bắt buộc được nhà làm luật đưa ra đểđảm bảo tính hiệu lực của hợp đồng Quan trọng hơn, những điều khoản này giúpđảm bảo cho quyền lợi của các bên có liên quan đặc biệt là NTD khi việc ghi nhậnđiều khoản về quyền hủy bỏ hợp đồng là yêu cầu bắt buộc

Quyền hủy bỏ hợp đồng: NTD có quyền hủy bỏ hợp đồng trong khoảng thời

gian 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản sao hợp đồng [44, Điều 36M].Trong trường hợp NTD sử dụng quyền này, nhà cung cấp phải ngay lập tức trả lạitất cả số tiền NTD đã trả theo hợp đồng cũng như sắp xếp để thu hồi lại bất kỳ hànghóa nào họ đã cung cấp Trong trường hợp NTD đòi hỏi, nhà cung cấp phải khôiphục lại tài sản của NTD như điều kiện trước đó của nó khi dịch vụ đã được cungcấp và làm biến đổi hoặc hủy hoại tài sản của NTD

Về phía NTD, họ cũng có một số nghĩa vụ tương ứng: Họ phải tạo điều kiệncho nhà cung cấp thu hồi lại bất kỳ hàng hóa nào thuộc dạng được trả lại đã cungcấp cho họ; Coi sóc hợp lý bất kỳ hàng hóa nào đã được cung cấp và cho phép nhà

Trang 34

cung cấp với bất kỳ mất mát hoặc thiệt hại nào đối với hàng hóa trong khi nó thuộc

sở hữu của NTD trừ những mất mát và hư hỏng thông thường hoặc những hoàncảnh vượt ra ngoài tầm kiểm soát của NTD Trách nhiệm của NTD chấm dứt khi hếtthời gian 10 ngày làm việc kể từ sau ngày hủy bỏ, hoặc cho đến khi thương nhân đãđược trao một cơ hội hợp lí để thu lại hàng hóa (bất cứ cái nào đến trước)

Quy định do nhà làm luật tại New Zealand đưa ra không chỉ hướng đến bảo

vệ quyền lợi của NTD mà còn chú trọng đến việc bảo vệ quyền lợi của nhà cungcấp Chúng ta thấy rằng, trong mối quan hệ mua bán này, người tiêu dùng là ngườiyếu thế hơn Do vậy, nhà làm luật dành cho họ quyền để chấm dứt hợp đồng trongmột thời hạn mà không cần nêu lí do Bên cạnh đó, nhà làm luật cũng chú ý đến bảo

vệ quyền lợi hợp pháp của nhà cung cấp khi dành cho họ quyền được khấu trừ đinhững phần mà NTD đã sử dụng

Các hành vi bị cấm

Hệ thống bán hàng kim tự tháp bị cấm tại New Zealand Chúng bị cấm theoquy định của Luật Thương mại Công bình bởi vì sự không bình đẳng và nhiều hộiviên bị lừa dối về khả năng được hưởng thù lao Khả năng được trả thù lao chủ yếudựa trên cơ sở tuyển dụng thành viên mới để trả cho hệ thống, nhiều người tham gia

sẽ ở chân hoặc gần với chân của kim tự tháp không đạt được thù lao như đã hứa trên

cơ sở khoản đầu tư của họ Chỉ có một vài người tham gia ban đầu ở đỉnh của kim

tự tháp có khả năng kiếm được tiền vì số những hội viên mới tiềm năng trong bất kỳđịa phương nào là giới hạn [68]

Trang 35

Trong trường hợp hoạt động kinh doanh không tuân thủ những thông tinđược yêu cầu, Ủy ban Thương mại có thể ban hành một thông báo vi phạm và phạtlên đến $ 2.000 mà không cần đến một lệnh của Tòa án [44, Điều 27.1B].

Như vậy, chế tài phạt tiền được áp dụng đối với các vi phạm pháp luật liênquan đến BHTT tại New Zealand Nó thể hiện quan điểm của nhà làm luật tại quốcgia này không quá khắt khe với hành vi vi phạm pháp luật về BHTT

Tiểu kết

Hoạt động quản lý bằng pháp luật đối với phương thức kinh doanh BHĐC tạiNew Zealand có nhiều nét tương đồng với hoạt động này tại Malaysia Cụ thể: phápluật New Zealand thừa nhận BHTT đối với dịch vụ; người mua có quyền hủy bỏhợp đồng không cần nêu ra lí do trong một thời hạn nhất định kể từ khi nhận đượcbản sao hợp đồng; hành vi bán hàng theo hình thức kim tự tháp là hành vi bị cấm;yêu cầu về hình thức văn bản của hợp đồng

Bên cạnh những điểm tương đồng, quá trình điều chỉnh pháp luật đối vớihoạt động BHTT tại New Zealand đã hình thành nên một số đặc thù riêng Tiêu biểutrong số đó là để tiến hành kinh doanh theo phương thức BHTT tại New Zealandnhà cung cấp hoặc người bán hàng của nhà cung cấp không bị yêu cầu phải xin giấyphép Việc này giúp đơn giản hóa thủ tục hành chính là bài học bổ ích cho ViệtNam Thêm vào đó, chế tài áp dụng đối với hành vi vi phạm pháp luật về BHTT tạiNew Zealand chỉ có hình thức phạt tiền mà chưa bao gồm hình phạt tù giam nhưMalaysia

1.3.3.3 Canada

Giới thiệu chung:

Canada là quốc gia rộng thứ 2 trên thế giới được xây dựng theo thể chế quânchủ lập hiến mang tính dân chủ, với nữ hoàng là người đứng đầu Nhà nước và Thủtướng được bầu làm người đứng đầu Chính phủ Canada có một hệ thống liên bangchính phủ nghị viện, trong đó chính phủ liên bang, tỉnh và lãnh thổ chia sẻ tráchnhiệm và chức năng của chính phủ Chế độ quân chủ và những nhánh hành pháp,

Trang 36

Năm 2013 dân số Canada là 34,57 triệu người, trong đó: Người gốc Anh28%, người gốc Pháp 23%, người gốc châu Âu khác 15%, Amerindian 2%, khác(phần lớn là châu Á, châu Phi, Ả rập 6%[70].

Pháp luật của Canada được xây dựng trên cơ sở luật của liên bang và phápcủa các tỉnh, vùng lãnh thổ và đã có quá trình điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạtđộng BHĐC tương đối dài Do vậy, tác giả chọn lựa Canada là một trong nhữngquốc gia thuộc đối tượng được xem xét để học hỏi kinh nghiệm Trong phần này,luận văn sẽ đi sâu tìm hiểu quy định pháp luật của bốn tỉnh là Price Edwards Island,Saskatchewan, Nova Scotia và New Brunswick để tìm ra những quy định chung củapháp luật BHTT Canada

Số liệu về BHTT tại Canada

Doanh thu từ hoạt động BHĐC tại Canada năm 2013 đạt 2,019 tỷ USD, sốlượng người tham gia BHĐC tại Canada cũng tương đối lớn đạt con số 789.518người tương đương với 2,3% dân số [43]

Trong các mặt hàng BHĐC tại Canada, doanh số từ các mặt hàng chăm sóc

cá nhân chiếm 39,9%, các mặt hàng chăm sóc gia đình và gia dụng chiếm 30,4%,các sản phẩm dinh dưỡng, vitamin và chăm sóc sức khỏe chiếm 17,9%, các sảnphẩm giải trí, giáo dục chiếm 6,3%, còn lại là các dịch vụ và các sản phẩm khácchiếm 5,5% [71] Giống như New Zealand và Malaysia, tại Canada, các sản phẩmchăm sóc cá nhân có doanh thu lớn nhất

Cơ quan quản lý hành chính đối với hoạt động BHTT

Cục Cạnh tranh (The Competition Bureau) – một cơ quan thuộc Bộ Côngnghiệp Canada là cơ quan thực thi pháp luật độc lập, đảm bảo cho những hoạt độngcủa những nhà kinh doanh và quyền lợi của NTD trong một thị trường cạnh tranh vàđổi mới Được đứng đầu bởi Cục trưởng, Cục Cạnh tranh chịu trách nhiệm quản lý

và thực thi Luật Cạnh tranh, Luật Bao gói và Ghi nhãn hàng tiêu dùng (ngoại trừliên quan đến thực phẩm), Luật ghi nhãn mặt hàng dệt và Luật Ký hiệu mã kim loạiquý Hoạt động của Cục Cạnh tranh đảm đương nhiệm vụ cơ bản là để cạnh tranh làtốt cho cả nhà kinh doanh và NTD [72]

Trang 37

Hiệp hội người bán hàng trực tiếp tại Canada

Thành lập năm 1954, Hiệp hội Người Bán hàng Trực tiếp của Canada đãthiết lập và duy trì các tiêu chuẩn nghiêm ngặt, đạo đức và nguyên tắc thực hànhkinh doanh tốt được công nhận là tiếng nói của ngành công nghiệp này tại Canada

Là tập hợp của những đối thủ cạnh tranh sử dụng sức mạnh kết hợp để đảm bảocông bằng trong tuân thủ và giành được sự tín nhiệm từ phía chính phủ, là mộtngành công nghiệp kết nối được hơn 900.000 người dân Canada

Không có sự thống kê về số lượng công ty thành viên của hiệp hội tại mộtthời điểm nhất định [73] Mục đích của hội là trở thành kênh thông tin giáo dục vềBHTT, đảm bảo bảo vệ quyền lợi NTD bởi đảm bảo hiệu lực tiêu chuẩn cao trongQuy tắc đạo đức [74]

Một số nét chính trong quy định pháp luật quản lý hoạt động BHTT

Hoạt động BHTT tại Canada được điều chỉnh trước hết bởi Luật Cạnh tranh(Competition Act) năm 1985 bản được sửa đổi cuối ngày 01/11/2014 Đây là đạoluật áp dụng chung trên toàn lãnh thổ Canada Các luật quản lý hành chính đối vớihoạt động BHTT được ban hành tại các tỉnh khác nhau Các luật này thường đượcmang tên là Luật những Người bán hàng Trực tiếp (Direct Sellers Act)

Yêu cầu về giấy phép: Để tiến hành hoạt động BHTT, tất cả các khu vực

khảo sát đều yêu cầu người bán hàng cũng như nhà cung cấp của họ phải có giấyphép theo quy định

Đối tượng được phân phối theo phương thức BHTT

Theo quy định của các bang được khảo sát, cả hàng hóa và dịch vụ đều là đốitượng có thể bán hàng theo phương thức BHTT

Tên gọi và định nghĩa: Pháp luật các địa phương đều xây dựng thuật ngữ bán

hàng trực tiếp (Direct selling) và định nghĩa như sau:

Tại Prince Edwards Island, BHTT được định nghĩa là việc bán, đề nghị bán

hoặc thu hút những đặt hàng để bán hàng hóa, dịch vụ bằng cách: đi từng nhà, quađiện thoại hoặc thư điện tử [39, Điều 1(c)] Như vậy, phương thức sử dụng để tiến

Trang 38

hành BHTT tại Prince Edwards Island là tiếp xúc trực tiếp (đến từng nhà) hoặcthông qua điện thoại hoặc thư điện tử.

Tại Nova Scotia, BHTT được định nghĩa là việc bán, đề nghị bán hoặc thu

hút những đặt hàng cho việc bán những hàng hóa hoặc dịch vụ, trong đó liên hệ trựctiếp đầu tiên được tiến hành bởi người bán hàng bên ngoài cửa hàng bán lẻ và baogồm việc bán hàng có kết quả từ một sự thu hút bởi người không phải là người bán

lẻ tiến hành tại nơi việc bán, đề nghị bán hoặc thu hút những đặt hàng cho việc bánhàng hóa hoặc dịch vụ nảy sinh và được thực hiện việc bởi một người bán buôn tiếpthị đa cấp, một NPP tiếp thị đa cấp và việc bán máy trợ thính không quan tâm đếnhoàn cảnh bán [40, Điều 1(c)] Nhà làm luật tại Nova Scotia đã mô tả chi tiết hơn sovới nhà làm luật tại Price Edwards Island về những đặc tính của hành vi BHTT Cụthể về nơi diễn ra (Không phải cửa hàng bán lẻ thông thường); chủ thể tiến hành(không phải người bán lẻ thông thường mà thay vào đó là người bán buôn tiếp thị

đa cấp hoặc NPP tiếp thị đa cấp); đối tượng BHTT (có thể là hàng hóa hoặc dịchvụ)

Tại Saskatchewan, BHTT được định nghĩa là việc bán hàng được tiến hành

bởi người BHTT thực hiện trong hoạt động kinh doanh của họ như một ngườiBHTT [41, Điều 2(a1)] Như vậy, định nghĩa BHTT tại Saskatchewan rất đơn giản

và không cho thấy được các tính chất của hoạt động này Để tìm hiểu sâu hơn,chúng ta cần phải xem xét người BHTT ở đây là ai và họ hoạt động như thế nào.Người BHTT được định nghĩa là người: đến từng nhà bán, đề nghị bán, thu hút đặthàng đối với hàng hóa và dịch vụ hoặc qua điện thoại để đề nghị bán hoặc thu hútđặt hàng đối với hàng hóa hoặc dịch vụ hoặc là cả hai phương thức trên [41, Điều2(c)] Qua hai định nghĩa này, chúng ta thấy rằng bản chất của hoạt động BHTT làviệc bán hàng không tiến hành tại địa điểm cố định So với quy định tại bang Price

Edwards Island, quy định của Saskatchewan có sự khác biệt khi không coi bán

hàng qua thư điện tử là BHTT

Tại New Brunswick, BHTT được định nghĩa là việc bán hàng tại nhà, đề

nghị bán hoặc thu hút đặt hàng đối với hàng hóa và dịch vụ Định nghĩa tại bang

Trang 39

New Brunswick quy định khá đơn giản khi chỉ nêu lên đặc tính của hoạt độngBHTT là trực tiếp và không phải tại cơ sở bán lẻ [42, Điều 1].

Bên cạnh các định nghĩa này, trong Luật cạnh tranh Canada còn đưa ra địnhnghĩa về kế hoạch BHĐC và hệ thống bán hàng kim tự tháp

Kế hoạch BHĐC (multi-level marketing plan) nghĩa là một kế hoạch cung

cấp một sản phẩm mà nhờ đó một thành viên tham gia trong kế hoạch được nhậnthù lao do việc cung cấp sản phẩm cho một thành viên khác tham gia kế hoạch vàngười này đến lượt mình lại nhận được thù lao do việc cung cấp sản phẩm này haysản phẩm khác cho các thành viên khác trong kế hoạch [38, Điều 55(1)] Như vậy,

để được coi là hành vi BHĐC hợp pháp, kế hoạch tiếp thị đa cấp cần phải xuất phát

từ chính hành vi cung cấp sản phẩm đến tay NPP để nhận thù lao

Thuật ngữ hệ thống bán hàng kim tự tháp (scheme of pyramid selling) có

nghĩa là một kế hoạch BHĐC, trong đó:

(a) Một thành viên tham gia kế hoạch quan tâm đến quyền được nhận thù lao

do đã tuyển thêm được người khác tham gia vào kế hoạch và bản thân người nàycũng quan tâm đến quyền đó;

(b) Một thành viên tham gia vào kế hoạch quan tâm đến một lượng sản phẩmnhất định, như điều kiện để tham gia, ngoài một lượng sản phẩm nhất định đượcmua ở mức giá của người bán chỉ với mục đích thúc đẩy hoạt động bán hàng;

(c) Một người cố ý cung cấp cho một người tham gia vào kế hoạch một số lượng sản phẩm bất hợp lý về mặt thương mại; hoặc

(d) Sản phẩm được cung cấp cho một thành viên tham gia vào kế hoạch mà

Trang 40

32

Ngày đăng: 04/11/2020, 15:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w