1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giao kết hợp đồng dân sự theo bộ luật dân sự việt nam năm 2005

92 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 100,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định nghĩa về đề nghị của Bộ luật Dân sự 2005 không đềcập tới sự chấp nhận của bên được đề nghị, về vấn đề này, có ý kiến bình luận về định nghĩa này rằng, nếu định nghĩa như vậy thì một

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

DƯƠNG THỊ NGỌC CHIẾN

GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc

Hµ néi - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

DƯƠNG THỊ NGỌC CHIẾN

GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

Chuyên ngành : Luật Dân sự

Mã số

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Đăng Hiếu

Ha noi - 2010

Trang 3

1.1 Khái niệm hợp đồng và khái niệm giao kết hợp đồng dân sự 6

theo pháp luật Việt Nam

1.1.2 Khái niệm giao kết hợp đồng dân sự theo pháp luật Việt Nam 101.2 Các nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự theo pháp luật 14

Việt Nam

1.2.2 Nguyên tắc cụ thể được quy định cho giao kết hợp đồng 151.2.2.1 Nguyên tắc tự do hợp đồng nhưng không được trái pháp 15

luật, đạo đức xã hội

1.2.2.2 Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung 18

thực và ngay thẳng

Chương 2: TRÌNH TỰ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ THEO 21

BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

Trang 4

2.2 Chấp nhận giao kết hợp đồng dân sự (hình thức, nội dung, 35

thời hạn )

2.2.2 Hiệu lực chấp nhận, thời gian và địa điểm chấp nhận 40

Chương 3: GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ TRONG MỘT SỐ 54

TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT

Chương 4: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ KIẾN NGHỊ 63

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

4.1 Thực tiễn sử dụng và áp dụng các quy định pháp luật về 63

giao kết hợp đồng dân sự

4.1.1 Về việc sử dụng thuật ngữ "giao kết hợp đồng dân sự" 64

5.1.3 Giao kết hợp đồng dân sự trong trường hợp một người có 65

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài

Bộ luật Dân sự đóng vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật ViệtNam Trước đây, người ta quan niệm luật dân sự chỉ điều chỉnh các quan hệsinh hoạt thường ngày của người dân Ngày nay, Bộ luật Dân sự điều chỉnh tất

cả "các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, thương mại, lao động"(Điều 1, Bộ luật Dân sự năm 2005) Các chủ thể được luật dân sự điều chỉnhcũng rất rộng: "cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác" (Điều 1, Bộ luật Dân sựnăm 2005) Như vậy, mọi quan hệ được đặc trưng bởi tính bình đẳng, tựnguyện, tự định đoạt giữa các chủ thể độc lập về nhân thân và tài sản đềuđược coi là quan hệ pháp luật dân sự và được luật dân sự điều chỉnh

Không chỉ có vậy, Bộ luật Dân sự năm 2005 còn được coi là cơ bản đểsoạn thảo, xây dựng các luật khác Một điều dễ thấy sự khẳng định lớn lao của

Bộ luật Dân sự năm 2005, đó là bằng việc ban hành Bộ luật Dân sự không chỉthay thế các quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 mà còn khẳng định việcmất hiệu lực hoàn toàn của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 Điều nàycho thấy các nguyên tắc của Bộ luật Dân sự được coi là nguyên tắc cơ bản củakhông chỉ đối với hợp đồng dân sự mà còn có giá trị cao đối với các hợp đồngthương mại quốc tế Trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóahiện nay, nắm vững các kiến thức về luật dân sự và biết cách vận dụng chúng

là chìa khóa để đàm phán với các đối tác nước ngoài một cách bình đẳng

Khoa học pháp luật dân sự cũng là một khoa học có truyền thống hàngngàn năm Luật dân sự Việt Nam có hai nguồn gốc khoa học Nguồn gốc thứnhất từ luật dân sự La Mã, bắt nguồn từ năm 700 trước công nguyên, du nhậpvào Việt Nam thông qua bộ luật Napoléon hay còn gọi là Bộ luật Dân sự

Trang 6

Pháp Nguồn gốc thứ hai là từ tập quán của nhân dân, được luật hóa thông qua

Bộ luật Hồng Đức của Lê Thánh Tôn từ thế kỷ thứ 15

Do vậy, các quy định về giao kết hợp đồng dân sự dân sự, một trongcác vấn đề mấu chốt không thể thiếu của pháp luật dân sự được sử dụng rấtnhiều trong cuộc sống kinh tế-xã hội và hầu hết hệ thống pháp luật của cácnước trên thế giới đều đề cập đến Việc nghiên cứu một cách đầy đủ và toàndiện vấn đề này là cần thiết Trong Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng đã được đềcập và quy định trong một tiểu mục riêng về Giao kết hợp đồng dân sự (Điều

388 đến Điều 411) nằm trong Mục 7 Hợp đồng dân sự Với số lượng là 24điều so với 15 điều của Bộ luật Dân sự năm 1995 đã thấy rõ là vấn đề nàyđược quan tâm Tuy nhiên, các quy định về giao kết hợp đồng dân sự còn bộc

lộ những bất cập, hạn chế trong việc bảo vệ hoạt động thương mại-dân sự,như: sự thiếu thống nhất, mâu thuẫn, hạn chế của các văn bản pháp luậtchuyên ngành quy định về các hợp đồng trong những hoạt động thương mại-dân sự đặc thù so với các quy định về hợp đồng của Bộ luật Dân sự năm

2005 Ngay trong Bộ luật Dân sự 2005, dù mới được ban hành, nhưng còn cónhững hạn chế trong việc bảo đảm giao kết hợp đồng dân sự, như: quy định

về hình thức, nội dung giao kết hợp đồng dân sự, bảo vệ các quyền giao kếthợp đồng dân sự của các bên trong quan hệ hợp đồng… Trong thực tiễn giaokết hợp đồng dân sự ở Việt Nam, đang xuất hiện khá phổ biến việc các doanhnghiệp sử dụng các "điều kiện thương mại chung" các "hợp đồng mẫu" (hợpđồng được soạn trước và khó thay đổi được nội dung), nhất là các hợp đồngđược ký kết bởi các doanh nghiệp có vị trí độc quyền (điện, nước, ….) Thực

tế này đã đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu xác định bản chất của các loạigiao kết hợp đồng dân sự này

Từ thực tiễn, kinh nghiệm của các nước nói chung và Việt Nam nóiriêng cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng dân sự có ýnghĩa to lớn đối với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã

Trang 7

hội chủ nghĩa ở Việt Nam Trong điều kiện như vậy, việc lựa chọn vấn đề:

"Giao kết hợp đồng dân sự theo Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005" làm đềtài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ luật học là rất có ý nghĩa cả về lý luận vàthực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đề tài nghiên cứu hợp đồng ở nước ta là vấn đề thu hút được sự quantâm của nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau Trong những nămqua, giới nghiên cứu khoa học pháp lý đã có một số công trình, bài viết

nghiên cứu liên quan đến vấn đề này, như: "Pháp luật về hợp đồng" của TS Nguyễn Mạnh Bách, Nxb Chính trị quốc gia, (1995); "Chế định hợp đồng kinh tế - tồn tại hay không tồn tại" của GS.TS Lê Hồng Hạnh, Tạp chí Luật học số 3/2003; "Một số vấn đề liên quan đến việc sửa đổi pháp luật Việt Nam

về hợp đồng" và "Hoàn thiện pháp luật về biện pháp bảo đảm nhìn từ quyền

tự do hợp đồng" của TS Nguyễn Am Hiểu, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 4/2004, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 7/2004; "Hoàn thiện chế định hợp đồng", của TS Phan Chí Hiếu, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 4/2005; "Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam", của PGS.TS Dương Đăng Huệ, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 6/2002; "Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) và vấn đề cải cách pháp luật hợp đồng ở Việt Nam" của PGS.TS Phạm Hữu Nghị, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 4/2005; "Điều chỉnh thông tin bất cân xứng và quản lý rủi ro trong pháp luật hợp đồng Việt Nam" của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 5/2003; "Điều kiện thương mại chung và nguyên tắc tự do khế ước", của PGS.TS Nguyễn Như Phát, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6/2003; "Hợp đồng kinh tế vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng kinh tế vô hiệu" của TS Lê Thị Bích Thọ, Viện Khoa

học Pháp lý thuộc Bộ Tư pháp, số 5/2002; Luận án tiến sĩ của Phạm HữuNghị; các công trình nghiên cứu của TS Ngô Huy Cương… Trong nhữngcông trình nghiên cứu này, các tác giả đã tập trung luận giải một số vấn đề lý

Trang 8

luận và thực tiễn xung quanh yêu cầu xây dựng và hoàn thiện pháp luật hợpđồng của Việt Nam Các công trình nghiên cứu này đã chỉ ra một số hạn chế,bất cập nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện cụ thể, như: về tính thống nhấtcủa pháp luật hợp đồng; những hạn chế của các quy định về hình thức hợpđồng, nội dung hợp đồng, chủ thể hợp đồng, hiệu lực của hợp đồng…

Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa đi sâu một cách cơ bản, toàn diện,mang tính hệ thống những vấn đề về giao kết hợp đồng, các loại giao kết hợpđồng dân sự đặc biệt ở Việt Nam hiện nay Hy vọng rằng với sự đầu tư thíchđáng, kết quả nghiên cứu sẽ là một tài liệu tham khảo có giá trị và những kiếnnghị của đề tài sẽ đem lại những kết quả thiết thực cho việc hoàn thiện cácquy định pháp luật của Việt Nam

Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề lý luận cơ bản về giao kết hợpđồng dân sự của pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia và pháp luậtViệt Nam; phân tích thực trạng và quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam vềgiao kết hợp đồng dân sự Trong nội dung trình bày, tác giả sẽ đưa ra nhữngnhận xét, đánh giá thực tiễn cũng như đánh giá xu hướng của việc quy định vềgiao kết hợp đồng dân sự của các nước trên thế giới Qua đó nêu lên nhữngkiến nghị có thể áp dụng cho Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật đốivới lĩnh vực này đồng thời xây dựng cơ chế cho việc áp dụng chúng một cáchphù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế

4 Phương pháp nghiên cứu luận văn

Đề tài nghiên cứu vấn đề lý luận về giao kết hợp đồng dân sự theo Bộluật Dân sự Việt Nam năm 2005 dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩaduy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và các phương pháp nghiên cứukhoa học cụ thể như: phương pháp hệ thống, tổng hợp, phân tích, diễn giải,quy nạp, so sánh pháp luật và tham khảo ý kiến của các chuyên gia

Trang 9

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 4 chương:

Chương 1: Khái quát chung về giao kết hợp đồng dân sự.

Chương 2: Trình tự giao kết hợp đồng dân sự theo Bộ luật Dân sự năm

2005

Chương 3: Giao kết hợp đồng dân sự trong một số trường hợp đặc biệt Chương 4: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật giao

kết hợp đồng dân sự

Trang 10

Chương 1

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

1.1 KHÁI NIỆM HỢP ĐỒNG VÀ KHÁI NIỆM GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1.1.1 Khái niệm hợp đồng theo pháp luật Việt Nam

Giống như các hệ thống pháp luật trên thế giới và theo xu hướng pháttriển của hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa, pháp luật dân sự Việt Nam chủyếu chịu ảnh hưởng của luật La Mã và thừa hưởng nhiều thành tựu của CivilLaw Tuy nhiên đó là tính từ khi chúng ta là thuộc địa của thực dân Pháp,trước đó, ở nước ta cũng có chế định hợp đồng - hay còn gọi là khế ước, thểhiện trong các bộ luật lớn như: Quốc triều hình luật, Hoàng Việt Luật Lệ

Trong pháp luật triều Lê, chế định khế ước được quy định chủ yếutrong Quốc triều hình luật Những quy định này nằm rải rác ở các phần và tậptrung hơn cả là ở quyển III, chương Điền sản [19, tr 57] Trong Quốc triềuhình luật không sử dụng khái niệm hợp đồng hay khế ước, mà thường dùngcác khái niệm cụ thể như mua, bán, cho, cầm; nhưng một dạng của khế ướccũng được xác định dưới tên gọi: Văn khế Tuy trong Quốc triều Hình luậtkhông định nghĩa cũng như nêu ra một khái niệm cụ thể về hợp đồng, văn khếhay khế ước, nhưng khi nhìn vào một số quy định liên quan đến khế ước thìthấy có tồn tại yếu tố "thuận mua, vừa bán" thể hiện tư tưởng "thỏa thuận" Cóthể coi đây là bản chất của khế ước đã được thể hiện ngay từ thế kỷ XV trongpháp luật nước ta Ngoài ra, Quốc triều Hình luật có quy định trong khế ước,quyền và nghĩa vụ của các bên được xác lập; việc thực hiện, thay đổi và chấmdứt quan hệ nghĩa vụ cũng được đề cập trong một vài loại khế ước

Hoàng Việt Luật lệ cũng không sử dụng khái niệm khế ước mà thườngdùng các khái niệm cụ thể như mua bán, vay nợ, thuê giống như Quốc triều

Trang 11

Hình luật Không có những quy định chung về nguyên tắc giao kết và thựchiện khế ước trong Hoàng Việt Luật lệ, điều này cho thấy nhà lập pháp triềuNguyễn có quan điểm tự do giao kết khế ước của cá nhân và pháp luật chỉ cótác động điều chỉnh đến những khế ước mà nếu giao kết có thể xâm phạmthuần phong mỹ tục hoặc trật tự xã hội phong kiến.

Tuy vậy, chế định hợp đồng của nước ta được thể hiện trong hai Bộ luậtlớn đó vẫn chưa hoàn thiện và rõ ràng Nguyên nhân của tình trạng này là dotrong xã hội phong kiến các hiện tượng pháp lý chịu sự ảnh hưởng sâu sắc củaNho giáo, vấn đề đạo đức trong các quan hệ giữa các cá nhân trong xã hội được

đề cao và nếu có tranh chấp xảy ra thì đã có sự can thiệp của người gia trưởng,của tộc trưởng, của vua quan mà không cần đến pháp luật giải quyết, pháp luậtsinh ra chủ yếu điều chỉnh những vấn đề hình sự Sau đó, trong thời kỳ đất nướcchịu sự đô hộ của thực dân Pháp, hai Bộ luật Dân sự là Bộ Dân luật Bắc Kỳ đượcban hành năm 1931 và Bộ Dân luật Trung kỳ được ban hành năm 1938 đều cónhững điều khoản quy định về hợp đồng và phần lớn những quy định này đềumang dấu ấn của Bộ luật Dân sự Pháp Lý giải cho điều này có thể được hiểu lànhà làm luật của chế độ thuộc Pháp đã không thể đối chiếu với các bộ luật cổ của

để đưa ra những điểm riêng có của Việt Nam về nghĩa vụ và hợp đồng Nhưng lý

do chính là nước ta lúc đó đang là thuộc địa của Pháp, vì vậy, nhất thể đều phảituân theo pháp luật của "mẫu quốc" [2, tr 11]

Khế ước theo Bộ luật Dân sự Pháp là một trong những căn cứ làmphát sinh nghĩa vụ, vì lẽ đó, những vấn đề chung về khế ước được Dân luậtBắc kỳ và Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật quy định ngay tại chương I của thiên Itrong Quyển thứ tư Khác với Quốc triều Hình luật và Bộ luật Gia Long, đếnthời kỷ này, bộ Dân luật Bắc kỳ và Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật đã đưa rakhái niệm pháp lý về khế ước, chủ yếu dựa trên Bộ luật Dân sự Pháp Theo

đó, "khế ước là một hiệp ước của một hay nhiều người cam đoan với một haynhiều người khác để chuyển giao, để làm hay không làm cái gì Hiệp ước do

Trang 12

một người hay nhiều người đồng ý với nhau để lập ra hay chuyển di, đổi lạihay tiêu đi một quyền lợi thuộc về của cải hay về người" (Điều 664 Dân luậtBắc kỳ và Điều 680 Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật).

Từ khái niệm này, có thể thấy khế ước thực chất là sự thỏa thuận giữa

ít nhất hai người để xác lập quyền, nghĩa vụ của người này đối với người khác

và ngược lại Khái niệm khế ước này về cơ bản giống khái niệm hợp đồngtrong Bộ luật Dân sự hiện nay, trừ đối tượng của nghĩa vụ là người theo quanniệm của pháp luật phong kiến thuộc địa

Sau năm 1954, đất nước bị chia thành hai miền Ở miền Nam, chínhquyền Sài Gòn đã cho ra đời Bộ Dân luật quy định về các vấn đề dân sự cơbản trong đó có khế ước-hợp đồng Tiếp nối quan điểm từ những bộ dân luậttrước đó, khế ước trong Bộ Dân luật của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa cũngcoi khế ước là hành vi pháp lý phát sinh nghĩa vụ dân sự: "Khế ước hay hiệpước là một hành vi pháp lý do sự thỏa thuận giữa hai người để tạo lập, dichuyển, biến cải hay tiêu trừ một quyền lợi, đối nhân hoặc đối vật"

Ở miền Bắc, pháp luật hợp đồng thời kỳ đầu không đưa ra định nghĩahợp đồng nói chung, mà đưa ra định nghĩa các loại hợp đồng khác nhau gồm: Hợpđồng dân sự, hợp đồng kinh tế/hợp đồng thương mại

Theo quy định của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (1989): Hợp đồngkinh tế là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết vềviệc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu, ứngdụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thỏa thuận khác có mục đích kinhdoanh với sự quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng

và thực hiện kế hoạch (Điều 1)

Cho đến năm 1991, văn bản đầu tiên quy định về hợp đồng dân sự là Pháp lệnh hợp đồng dân sự đưa ra khái niệm hợp đồng dân sự một cách khá chi tiết:

Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong

Trang 13

mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản, làm một việc hoặckhông làm một việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đómột hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng [30].Tuy nhiên, chính việc liệt kê chi tiết này dẫn đến sự thiếu sót và dễ

"lạc hậu" của pháp luật trong khi các mối quan hệ xã hội ngày càng phát triển

Do đó, để định nghĩa khái quát và toàn diện hơn, Bộ luật Dân sự (1995) quyđịnh: Hợp đồng dân sự là thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi vàchấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự (Điều 934)

Luật Thương mại (1997) không đưa ra định nghĩa về hợp đồng thươngmại nhưng lại quy định về các loại hợp đồng được giao kết để thực hiện cáchoạt động thương mại theo quy định của Luật Thương mại Vì vậy, các loạihợp đồng này có thể gọi là hợp đồng trong hoạt động thương mại Về bảnchất, theo Luật Thương mại, hợp đồng thương mại là thỏa thuận giữa cácthương nhân, hoặc một bên là thương nhân với một bên không phải là thươngnhân, về việc thực hiện hành vi thương mại nhằm mục đích kiếm lời

Pháp luật hợp đồng của Việt Nam trước đây không đưa ra một khái niệmchung về hợp đồng trong các văn bản pháp luật, mà có sự phân biệt giữa hợpđồng dân sự, hợp đồng kinh tế, hợp đồng thương mại Ba loại hợp đồng này cóđặc điểm khác biệt và được điều chỉnh bởi ba văn bản pháp luật: Bộ luật Dân sự(1995), Luật Thương mại (1997), Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (1989) Đây lànguyên nhân tạo ra những bất cập, hạn chế trong lĩnh vực pháp luật hợp đồngcủa Việt Nam trước đây [10, tr 23-28], [11, tr 31], [12, tr 56-57], [13, tr 14-16], [14, tr 4-7], [15, tr 1-6] Để khắc phục hạn chế này, pháp luật hợp đồng củaViệt Nam đã được sửa đổi theo hướng không có sự phân biệt một cách độc lậpgiữa hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế và hợp đồng thương mại Sự khắc phụcnày được thể hiện thông qua việc ban hành Bộ luật Dân sự (2005), Luật Thươngmại (2005) (cả hai luật này đều có hiệu lực từ ngày 01/01/2006), theo hướng: Bộluật Dân sự quy định chung về hợp đồng áp dụng chung cho tất cả các loại hợpđồng Các loại hợp đồng khác (còn được

Trang 14

gọi là hợp đồng chuyên biệt) được xem xét là các dạng đặc thù của hợp đồng

do các văn bản pháp luật chuyên ngành quy định Pháp lệnh Hợp đồng kinh(1989) bị bãi bỏ, kể từ ngày Bộ luật Dân sự (2005) có hiệu lực

Bộ luật Dân sự (2005) quy định: Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuậngiữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự(Điều 388) Hợp đồng dân sự là một loại giao dịch mà trong đó phải có sựtrùng hợp ý chí của các bên Việc giao kết hợp đồng dân sự phải tuân theo cácnguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng,

tự do giao kết hợp đồng, nhưng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội.Hợp đồng dân sự được xem là giao kết khi các bên đã thỏa thuận xong nộidung chủ yếu của hợp đồng Nội dung chủ yếu của hợp đồng là những điềukhoản không thể thiếu được đối với loại hợp đồng đó hoặc do pháp luật quyđịnh hoặc theo thỏa thuận của các bên, bao gồm đối tượng của hợp đồng, sốlượng, chất lượng, giá, phương thức thanh toán, thời hạn, địa điểm, phươngthức thực hiện hợp đồng, quyền, nghĩa vụ của các bên, trách nhiệm do viphạm hợp đồng Hợp đồng cũng xem như được giao kết khi thời hạn trả lời

mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lờichấp thuận Đối với hợp đồng phải có chứng nhận của công chứng nhà nước,chứng thực, đăng ký hoặc xin phép, thì thời điểm giao kết hợp đồng là thờiđiểm được chứng nhận, chứng thực, đăng ký hoặc cho phép Hợp đồng dân sự

có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Nếupháp luật quy định một hình thức nhất định bắt buộc đối với từng loại hợpđồng cụ thể thì phải tuân thủ hình thức đó Hợp đồng được giao kết hợp pháp

có hiệu lực bắt buộc đối với các bên Hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểmgiao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác

1.1.2 Khái niệm giao kết hợp đồng dân sự theo pháp luật Việt Nam

Như trên đã nói, hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên, có thể là haibên hoặc nhiều hơn hai bên Để một hợp đồng dân sự phát sinh quyền, nghĩa

Trang 15

vụ cho các bên thì giữa các bên, chủ thể của hợp đồng phải tồn tại các hành vipháp lý - giao kết hợp đồng Thông thường sự thỏa thuận đó được thể hiệnbằng hành vi pháp lý của hai bên hoặc nhiều bên Có thể hiểu thỏa thuận làkhởi nguồn cho hợp đồng và là vấn đề quan trọng nhất của hợp đồng màkhông thể thiếu Một đề nghị về một đối tượng nhất định, mà chỉ có thể đượcđáp ứng bởi một người khác, sẽ không làm phát sinh ra nghĩa vụ hay khôngthể được thỏa mãn, nếu không được đáp ứng chấp thuận Hành vi pháp lý đóđược hiểu và thể hiện thành hành động hoặc không hành động của mỗi bênthông qua việc một bên đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng còn bên kia đồng ývới đề nghị đó, được gọi là chấp thuận/chấp nhận giao kết hợp đồng Tuynhiên, hầu hết trong các quy định pháp luật của Việt Nam đều không đưa rakhái niệm "giao kết", có lẽ các nhà làm luật cho rằng khái niệm này nằm trongkhái niệm hợp đồng và được ngầm hiểu là hợp đồng Ngay trong Quốc triềuHình luật, có một số quy định có liên quan đến khế ước cho thấy có tồn tạiyếu tố "thuận mua, vừa bán" [1, tr 82], điều này có nghĩa là có sự đồng thuậngiao kết giữa các bên Hoàng Việt Luật lệ cũng như giống như Quốc triềuhình luật không đưa ra khái niệm giao kết mà chỉ cụ thể vào các hành vi cụthể của mua bán, vay nợ, thuê Không có những quy định chung về nguyêntắc giao kết và thực hiện khế ước.

Cho đến các Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931 và Trung kỳ 1938, do chịu đô

hộ của thực dân Pháp mà mang ảnh hưởng của Bộ luật Dân sự Pháp rất nhiều

và đều đã có những điều khoản quy định về hợp đồng Theo đó, "khế ước làhiệp ước của một hay nhiều người khác để chuyển giao, để lập ra hay chuyển

đi, đổi đi hay tiêu đi một quyền lợi thuộc về của cải hay về người" (Điều 664Dân luật Bắc kỳ và Điều 680 Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật) Khái niệm này về

cơ bản khá giống với khái niệm hợp đồng trong Bộ luật Dân sự hiện nay, trừđối tượng là "người" theo quan niệm phong kiến thuộc địa [1, tr 83]

Xét cho cùng, sự thỏa thuận bao gồm hai thành tố [6, tr 179] màkhông phụ thuộc cả vào một bên trong quan hệ hợp đồng, có nghĩa là mỗi bên

Trang 16

chỉ có thể đóng góp vào sự thỏa thuận một thành tố nhất định trong hai thành

tố đó Hai thành tố nói tới ở đây là "đề nghị giao kết hợp đồng" và "chấp nhận

đề nghị giao kết hợp đồng" Chúng ta có thể gọi là "đề nghị" và "chấp nhận"như là thuật ngữ chuyên môn Các luật gia trước kia sử dụng thuật ngữ "đề

ước" và "ưng thuận" (trong cuốn "Việt Nam dân luật lược khảo - Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước", Vũ Văn Mẫu sử dụng thuật ngữ "đề ước" và "sự ưng

thuận" Các thuật ngữ này tương ứng với "offer" và "acceptance" trong tiếngAnh, và "l’offer" và "l’acceptation" trong tiếng Pháp Xét cho cùng các thuậtngữ này do Vũ Văn Mẫu xây dựng thoả đáng hơn và có thể sử dụng trongphạm vi rộng rãi hơn) Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931 sử dụng thuật ngữ "thỉnh

- cầu lập - ước" và "giả lời nhận" Như vậy, cho thấy bản thân sự thỏa thuận

đã bao gồm hai thành tố là đề nghị và chấp nhận, nhưng không phải sự thỏathuận nào cũng là hợp đồng

Khái niệm về đề nghị và chấp nhận vốn thường được dùng để xác địnhxem hợp đồng đã được giao kết hay chưa, và nếu có thì khi nào [29, tr 78] Nếukhông có sự thỏa thuận thống nhất giữa đề nghị và chấp nhận, tòa án xem nhưkhông có hợp đồng nào tồn tại giữa các bên Sự thỏa thuận hình thành khi lời đềnghị giao kết hợp đồng của người này được người được đề nghị chấp nhận Vậyxem xét đề nghị và chấp nhận là những yếu tố thiết yếu để nhận biết giao kết

Từ những phân tích ở trên chúng ta có thể thấy những điểm khởi đầugiao kết hợp đồng là đề nghị, chấp nhận, các điều kiện của chúng Đối với cáchợp đồng, thỏa thuận cần được xem xét kỹ lưỡng để xác định được các bêntranh chấp có quan hệ đến hợp đồng hay không, cụ thể có phải là một bên đềnghị và một bên chấp nhận Đề nghị và chấp nhận giao kết hợp đồng là sự thểhiện ý chí độc lập, cho nên nội dung của chúng được xác định bằng cách thayđổi cho phù hợp với sự thể hiện mong muốn của các bên

Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định riêng đối với từng thành tố thỏathuận và được hiểu như là một khái niệm cơ bản, cụ thể:

Trang 17

- Đề nghị giao kết hợp đồng, là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp

đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xácđịnh cụ thể (Điều 390) Định nghĩa về đề nghị của Bộ luật Dân sự 2005 không đềcập tới sự chấp nhận của bên được đề nghị, về vấn đề này, có

ý kiến bình luận về định nghĩa này rằng, nếu định nghĩa như vậy thì một vấn

đề rắc rối mang tính pháp lý cũng như thực tiễn có thể đặt ra - đó là dựa trên tiêuchí hay cơ sở nào để có thể xác định ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc

về đề nghị giao kết hợp đồng của bên đề nghị

Bộ luật Dân sự 2005 cho rằng, một đề nghị phải được đưa tới ngườiđược xác định cụ thể (Điều 390, khoản 1) Ở đây có thể hiểu một đề xuất chỉ

có thể trở thành đề nghị khi đề xuất đó được đưa tới một hoặc một nhómngười xác định cụ thể Có tác giả Việt Nam cũng có cách hiểu như vậy đối vớiĐiều luật này, tuy nhiên tỏ ra đồng tình với nó [7, tr 34] Khi phân tích đềnghị, có ý kiến khác hơn Vũ Văn Mẫu khẳng định "đề ước có thể làm riêngcho một người hay là làm chung cho công chúng" [18, tr 93]

- Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, là sự trả lời của bên được đề

nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị (Điều

396, Bộ luật Dân sự 2005) Định nghĩa này được đưa ra có tính cách ứng dụng chocác trường hợp cụ thể theo pháp luật Việt Nam, nên đã bao hàm trong nó cả điềukiện của chấp nhận

Có thể thấy định nghĩa về chấp nhận tại các Điều 396, Bộ luật Dân sự

2005 không nhắc tới các cách thức hay hình thức của chấp nhận, và dườngnhư chỉ cho rằng chấp nhận là "sự trả lời" mà trong khi đó cụm từ "sự trả lời"không rõ nghĩa, đôi khi làm người ta tưởng lầm rằng sự chấp nhận phải bằngvăn bản hoặc lời nói

Có tác giả Việt Nam đã đưa ra định nghĩa chấp nhận giống như địnhnghĩa chấp nhận tại Điều 396, có nghĩa là coi "Chấp nhận đề nghị giao kếthợp đồng là sự thể hiện ý chí, theo đó bên nhận đề nghị đồng ý với tất cả điều

Trang 18

kiện được nêu trong đề nghị", trong khi đó cũng lại đưa ra đòi hỏi phải cảicách các quy định về chấp nhận trong Bộ luật Dân sự 2005 theo hướng Điều

19, khoản 2, Công ước của Liên hiệp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế 1980[16, tr 239] Điều 19 của Công ước Viên có nội dung:

(3) Những điều kiện bổ sung hoặc khác biệt liên quan, giữanhững vấn đề khác, về giá, thanh toán, chất lượng và số lượng hàng hóa, địa điểm

và thời gian giao nhận, phạm vi trách nhiệm của một bên đối với bên khác hoặcgiải quyết tranh chấp đều được xem là thay đổi một cách thiết yếu các điều kiệncủa đề nghị [4]

1.2 CÁC NGUYÊN TẮC GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1.2.1 Khái quát chung về các nguyên tắc

Các nguyên tắc của Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 về giao kết hợp đồng dân sự căn cứ vào bản chất có thể được phân thành hai nhóm như sau:

Nhóm thứ nhất, các nguyên tắc chung, cơ bản cho toàn bộ các vấn đề

của luật dân sự, bao gồm cả giao kết hợp đồng như được quy định từ Điều 4

14

Trang 19

đến Điều 13 của Bộ luật Dân sự là: (1) Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết,thỏa thuận, (2) Nguyên tắc bình đẳng, (3) Nguyên tắc thiện chí, trung thực,(4) Nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự, (5) Nguyên tắc tôn trọng đạo đức,truyền thống tốt đẹp, (6) Nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự, (7) Nguyên tắctôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của ngườikhác, (8) Nguyên tắc tuân thủ pháp luật, (9) Nguyên tắc hòa giải.

Nhóm thứ hai, các nguyên tắc cụ thể được quy định cho giao kết hợp

đồng (Điều 384 Bộ luật Dân sự) (1) Tự do giao kết hợp đồng, nhưng khôngđược trái pháp luật và đạo đức xã hội, (2) Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí,hợp tác, trung thực và ngay thẳng

1.2.2 Nguyên tắc cụ thể được quy định cho giao kết hợp đồng

1.2.2.1 Nguyên tắc tự do hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội

Bộ luật Dân sự quy định cho các chủ thể được tự do giao kết hợp đồngnhằm tạo điều kiện cho các chủ thể có thể thỏa mãn nhu cầu vật chất cũng nhưtinh thần Dựa trên nguyên tắc này, mọi cá nhân, tổ chức khi có đủ các điều kiện

tư cách chủ thể đều có thể tham gia giao kết bất kỳ một giao dịch/ hợp đồng dân

sự nào, nếu muốn Tuy nhiên, hợp đồng sẽ chỉ có hiệu lực pháp luật, được phápluật công nhận và bảo vệ khi các bên giao kết hợp đồng tuân thủ nguyên tắc này.Hay nói cách khác, khi giao kết hợp đồng các chủ thể phải thực hiện theo khuônkhổ, giới hạn nhất định - giới hạn lợi ích của các cá nhân khác, lợi ích chung của

xã hội và trật tự công cộng Nếu để các bên tự do vô hạn, thì hợp đồng dân sự sẽtrở thành phương tiện để kẻ giàu bóc lột người nghèo và sẽ là nguy cơ tiêu cựcđối với lợi ích chung của xã hội Vì vậy, phải tăng cường can thiệp của nhà nướcvào các quan hệ pháp luật tư, các việc dân sự … không được bỏ qua một khảnăng tối thiểu nào để mở rộng sự can thiệp của nhà nước vào các quan hệ dânluật [17, tr 577] Chính vì vậy, trong xã hội xã hội chủ nghĩa, lợi ích chung củatoàn xã hội (lợi ích cộng đồng) và đạo đức xã hội không cho phép bất cứ cá

Trang 20

nhân, tổ chức nào được lợi dụng tự do giao kết/thỏa thuận để biến những hợpđồng dân sự thành phương tiện bóc lột, bất công Bên cạnh việc bảo đảm lợi íchcủa mình, các chủ thể phải chú ý tới quyền, lợi ích của người khác, của toàn xãhội; tự do của mỗi chủ thể không được trái pháp luật, đạo đức xã hội Lợi ích củacộng đồng, của toàn xã hội được quy định bởi pháp luật và đạo đức xã hội trởthành giới hạn cho sự tự do thể hiện mong muốn của các chủ thể khi tham giagiao kết hợp đồng nói riêng, và trong mọi hành vi của chủ thể nói chung.

Nguyên tắc này được hiểu là các bên được tự do giao kết hợp đồngdân sự nhưng không được trái với đạo đức xã hội, nội dung của nguyên tắcbao gồm các quyền tự do như: tự do quyết định có tham gia hay không thamgia giao kết hợp đồng, tự do lựa chọn loại hợp đồng sẽ giao kết (dù cho phápluật có quy định loại hợp đồng này hay không), tự do lựa chọn đối tác giao kếtcủa mình nhưng phải tuân thủ quy định của pháp luật (có một số hợp đồng bịhạn chế đối tác giao kết), tự do ấn định và thỏa thuận nội dung cũng như cácđiều kiện của hợp đồng với điều kiện là hợp đồng không tồn tại một phần haytoàn bộ nội dung thỏa thuận trái quy định của pháp luật và đạo đức xã hội, tự

do lựa chọn hình thức giao kết hợp đồng (bằng miệng, bằng văn bản hay hành

vi, tuy nhiên có một số loại hợp đồng bắt buộc phải được lập thành văn bảntheo quy định của pháp luật)

Nguyên tắc này thể hiện một bước tiến bộ quan trọng trong việc bảođảm quyền tự do, thỏa thuận hợp đồng của các bên Từ chỗ Bộ luật Dân sự(1995) (Điều 7, Điều 10, Điều 395) chỉ ghi nhận quyền tự do hợp đồng phùhợp với quy định của pháp luật, Bộ luật Dân sự (2005) đã khẳng định cụ thể

các bên được quyền tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật Đây là những quy định, nguyên tắc thể hiện cao nhất việc bảo đảm quyền tự do giao kết hợp đồng trong Bộ luật Dân sự.

Theo quy định này, các chủ thể có quyền tự quyết định việc đưa ra đềnghị giao kết hợp đồng, nội dung đề nghị giao kết hợp đồng, thay đổi, rút lại

đề nghị giao kết hợp đồng, hủy bỏ giao kết hợp đồng theo quy định của pháp

Trang 21

luật Nội dung này được Bộ luật Dân sự quy định tại các Điều 390, 392, 393.Các bên cũng có quyền sửa đổi, chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghịgiao kết hợp đồng được đưa ra bởi bên kia (Điều 395, 396 Bộ luật Dân sự).Tuy nhiên, xuất phát từ yêu cầu bảo đảm trật tự công cộng và lợi ích chungcủa xã hội, pháp luật quy định nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng mà nộidung không trái với các quy định của pháp luật Điều này có ý nghĩa ngănngừa việc giao kết hợp đồng mà đối tượng là các hàng hóa, dịch vụ bị phápluật cấm Theo quy định của Điều 128 Bộ luật Dân sự, hợp đồng nhằm thựchiện các đối tượng bị cấm sẽ bị vô hiệu (Điều 127, 128 Bộ luật Dân sự).Trong trường hợp này, mọi người đều có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợpđồng vô hiệu Tuy nhiên, trong hoạt động thương mại, trừ trường hợp ngoại lệtheo quy định tại Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 59/2006/NĐ-CP quy định:việc cung ứng hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinhdoanh trong trường hợp cụ thể phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép.

Nội dung hợp đồng không trái với đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tụctheo quy định tại Điều 128 Bộ luật Dân sự được hiểu là: những chuẩn mựcứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồngthừa nhận và tôn trọng Với cách giải thích như Điều 128 Bộ luật Dân sự, nộidung "đạo đức xã hội" được giải thích rất chung

Theo pháp luật của Đức, các điều khoản có nội dung sau bị coi là tráiđạo đức xã hội: Điều khoản lạm dụng (một bên tham gia hợp đồng có vị trí ưuthế về kinh tế đã lạm dụng vị trí của mình để áp đặt các điều khoản bất lợi chobên kia); Điều khoản vi phạm những quyền cơ bản đã được quy định trongHiến pháp (quyền tự do đi lại, tự do kinh doanh, tự do chính kiến…); Điềukhoản phạt hợp đồng với mức cao hơn quy định của pháp luật; Điều khoảnhủy hợp đồng một cách vô lý (không có lý do chính đáng); Điều khoản miễn,giảm, giới hạn trách nhiệm hợp đồng của bên thế mạnh…; Điều khoản quyđịnh thời hạn quá dài; Điều khoản cho phép tăng giá trong một thời hạn ngắnsau khi ký kết hợp đồng… [31, tr 64-65]

Trang 22

Để bảo đảm việc áp dụng pháp luật được thống nhất, tránh việc Thẩmphán có thể lạm dụng quyền giải thích pháp luật trong quá trình đánh giá cácđiều khoản hợp đồng có nội dung trái với đạo đức xã hội khi xét xử, thiết nghĩcần phải ban hành văn bản hướng dẫn nội dung "trái với thuần phong mỹ tục

và đạo đức xã hội" quy định tại Khoản 1 Điều 389 và Điều 128 Bộ luật Dân

sự (2005)

Ngoài yêu cầu không trái pháp luật và đạo đức xã hội, quyền tự do lựachọn đối tác ký kết hợp đồng trong hoạt động dân sự-thương mại còn bị hạnchế bởi điều kiện về chủ thể đối với một số hoạt động thương mại, như: chủthể hoạt động kinh doanh dịch vụ logistic, kinh doanh dịch vụ giám định, bảohiểm, ngân hàng…

Hiệu lực pháp lý của hợp đồng này căn cứ vào nguyên tắc tự do giaokết và tôn trọng nguyên tắc lợi ích chung, trật tự công cộng Vì lý do này, hiệulực của hợp đồng đôi khi cũng bị hạn chế, nhưng đây là hạn chế cần thiết củapháp luật cũng như xã hội

1.2.2.2 Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng

Nguyên tắc này được quy định nhằm bảo đảm trong việc giao kết hợpđồng không ai bị cưỡng ép hoặc bị những cản trở trái với ý chí của mình;đồng thời thể hiện bản chất của quan hệ pháp luật dân sự Quy luật giá trị đòihỏi các bên chủ thể khi tham gia các quan hệ trao đổi phải bình đẳng vớinhau; không ai được viện lý do khác biệt về hoàn cảnh kinh tế, thành phần xãhội, dân tộc, giới tính hay tôn giáo… để tạo ra sự bất bình đẳng trong quan hệdân sự Hơn nữa, ý chí tự nguyện của các bên chủ thể tham gia hợp đồng chỉđược bảo đảm khi các bên bình đẳng với nhau trên mọi phương diện Chính vìvậy, pháp luật không thừa nhận những hợp đồng được giao kết thiếu sự bìnhđẳng và ý chí tự nguyện của một trong các bên chủ thể Tuy nhiên, trên thực

tế thì việc đánh giá một hợp đồng có được giao kết bảo đảm ý chí tự nguyện

Trang 23

của các bên hay chưa, trong một số trường hợp lại là một công việc hoàn toànkhông đơn giản và khá phức tạp bởi nhiều nguyên do chủ quan và khách quankhác nhau.

Như chúng ta đã biết, ý chí tự nguyện là sự thống nhất giữa ý chí chủquan bên trong và sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài của chủ thể Chính vì vậy, sựthống nhất ý chí của chủ thể giao kết hợp đồng với sự bày tỏ ý chí đó trongnội dung hợp đồng mà chủ thể này đã giao kết chính là cơ sở quan trọng đểxác định một hợp đồng đã đảm bảo nguyên tắc tự nguyện hay chưa Hay nóicách khác, việc giao kết hợp đồng chỉ được coi là tự nguyện khi hình thức củahợp đồng phản ánh một cách khách quan, trung thực mong muốn, nguyệnvọng của các bên chủ thể tham gia hợp đồng

Do đó, theo quy định của pháp luật thì tất cả những hợp đồng đượcgiao kết do bị nhầm lẫn, lừa dối [9] hay bị đe dọa đều không đáp ứng đượcnguyên tắc tự nguyện khi giao kết và do đó bị vô hiệu

Với các thuật ngữ mang tính định tính như vậy rất khó xác định nếukhông được đưa vào hoàn cảnh cụ thể của từng hợp đồng dân sự Theo

Deluxe Black's Law Ditionary thì thiện chí (good faith) là một tính từ trừu

tượng và mơ hồ không có nghĩa chặt chẽ về luật pháp hoặc không có địnhnghĩa bởi luật, và nó bao hàm trong mối liên hệ với các vấn đề khác, một sựtin tưởng thành thật, không có sự ác ý, không có dự định lừa dối hoặc tìmkiếm lợi ích không hợp lý

Thiện chí, trung thực và ngay thẳng được xem là một nghĩa vụ bắtbuộc dù các bên trong quan hệ hợp đồng dân sự có hoặc không có quy địnhhoặc cùng nhau loại trừ hay hạn chế nó Bộ luật Dân sự năm 2005 không dướihai lần nhắc tới thiện chí, trung thực với các cách thức khác nhau (Điều 6 vàĐiều 389), ghi nhận như vậy có nghĩa là trong quan hệ hợp đồng dân sự vấn

đề này được quan tâm nhiều Tuy nhiên, các quy định này chưa đủ tầm để làm

cơ sở giải quyết tranh chấp giữa các bên, và các quy định này mới thiên về

Trang 24

cách thức thực hiện hành vi có lừa dối hay không mà chưa nhấn mạnh vềđộng cơ, mục đích của hành vi Theo đó, Điều 283 có quy định "Bên có nghĩa

vụ dân sự phải thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác, đúngcam kết "

Việc quy định nguyên tắc thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳngtại Điều 389 được tách riêng thành từng thuật ngữ "trung thực" và "ngaythẳng" cho phép được suy luận là "trung thực" chưa bao hàm "ngay thẳng" vàngược lại Tuy nhiên, đây là vấn đề mà các thẩm phán cần phải xem xét,nghiên cứu để nhận thức và sử dụng nguyên tắc này để ra phán quyết

Trang 25

Chương 2

TRÌNH TỰ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005

Như đã phân tích ở Chương 1, giao kết hợp đồng dân sự có 2 thành tố

đó là: đề nghị và chấp nhận giao kết hợp đồng dân sự Theo Bộ luật Dân sựViệt Nam năm 2005 thì giao kết hợp đồng dân sự được quy định tại các Điều

390 đến Điều 404 Trên cơ sở trình tự giao kết hợp đồng các nhà làm luật đãquy định lần lượt đối với từng vấn đề như: đề nghị giao kết hợp đồng, các vấn

đề liên quan đến đề nghị (thời điểm giao kết; thay đổi, rút lại đề nghị; hủy bỏ

đề nghị; chấm dứt đề nghị…); chấp nhận giao kết hợp đồng, các vấn đề liênquan; thời điểm hợp đồng được giao kết

2.1 ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

Khi nghiên cứu về đề nghị, có tác giả gợi ý tới ba vấn đề pháp lý cơbản sau: (1) Thế nào là đề nghị; (2) Giá trị pháp lý của đề nghị; và (3) Thờiđiểm đề nghị có hiệu lực [7, tr 33] Có thể hiểu trong khi tìm hiểu thế nào là

đề nghị thì ngoài việc xây dựng định nghĩa khái niệm đề nghị, còn phải bàntới hình thức của đề nghị và điều kiện cụ thể của nó Giá trị pháp lý của đềnghị và thời điểm có hiệu lực của đề nghị có thể gộp vào thành một vấn đề làhiệu lực của đề nghị, bởi có thể hiểu nếu đề nghị có hiệu lực pháp lý thì kể từthời điểm nào phát sinh ra sự ràng buộc Vậy dưới đây sẽ trình bày lần lượtcác vấn đề này

2.1.1 Hình thức, nội dung của đề nghị

Hình thức của đề nghị được thể hiện dưới nhiều hình thức nhưng phápluật không quy định rõ ràng các hình thức thể hiện của đề nghị giao kết màmới chỉ quy định hình thức của hợp đồng là bằng miệng, bằng văn bản hoặcbằng hành vi (khoản 1, Điều 401) Việc biểu lộ ý định giao kết hợp đồng phải

Trang 26

được thể hiện ra bên ngoài thông qua một hình thức nhất định có thể bằngmiệng, bằng văn bản hay lời mời chào bằng miệng…, bằng văn bản rất dễ đểchúng ta nắm bắt Nhưng việc biểu lộ bằng hành động rất đa dạng, khó nắmbắt hơn Một xe taxi bật đèn báo tín hiệu cho thuê hoặc chạy lòng vòng để tìmkiếm khách hàng được xem như một đề nghị mà hành khách có thể chấp nhậnbằng cách bước lên xe và chỉ rõ nơi đến [38, tr 130] Cũng được coi như một

đề nghị khi một người đi bộ dọc theo con đường và dang một cánh tay ra, bàntay nắm lại với một ngón tay cái chỉ lên trời để vẫy xe Nếu người lái xe dừng

xe, mở cửa xe cho người đó lên thì có nghĩa là người lái xe đó chấp nhận đềnghị của người đó

Đề nghị chỉ có thể được xem xét chấp nhận khi nó được chuyển tớibên được đề nghị Pháp luật Việt Nam hiện nay đề cập tới ba trường hợp đượccoi là đề nghị đã chuyển tới bên được đề nghị, hay nói cách khác, ba trườnghợp được coi là bên được đề nghị nhận được đề nghị: (1) Đề nghị đượcchuyển tới nơi cư trú hay cư sở của bên được đề nghị; (2) đề nghị được đưavào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị; và (3) khi bên được

đề nghị biết được đề nghị thông qua các phương thức khác (Điều 391, khoản

2, Bộ luật Dân sự 2005)

Bộ luật Dân sự năm 2005 không có quy định cụ thể về nội dung của

đề nghị như Bộ luật Dân sự năm 1995 tại Điều 396, nhưng lại có quy định vềviệc thay đổi nội dung của đề nghị thì đề nghị đó lại được coi là đề nghị mới(khoản 2, Điều 392) Về vấn đề có cần quy định cụ thể nội dung của đề nghịtại Bộ luật Dân sự hay không thì có khá nhiều ý kiến mong muốn giữ lại Điều

396 Bộ luật Dân sự 1995, vì cho rằng là đề nghị phải được xác định mà sự xácđịnh được thể hiện ở chỗ trong đề nghị phải bao gồm những điều khoản cơbản của hợp đồng trong tương lai, điều luật này có xác định nội dung chủ yếucủa "hợp đồng tương lai" trong đề nghị giao kết hợp đồng [25, tr 34] Trong

đề tài nghiên cứu do Tiến sĩ Ngô Huy Cương chủ trì cũng đã đưa ra một sốlập luận cho thấy ý kiến này tương đối phù hợp với thông lệ quốc tế, tính xác

Trang 27

đáng của bình luận trên được thể hiện ở chỗ, trong các ấn phẩm của Unidroit

về Các nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế năm 1994 vànăm 2004 có kèm theo bình luận đều cho rằng, hợp đồng được giao kết chỉbởi chấp nhận một đề nghị, nên các điều kiện của thỏa thuận trong tương laiphải được chỉ ra trong đề nghị [29, tr 81] Sự chưa đầy đủ của bình luận trênthể hiện ở chỗ, lời bình luận chưa đề cập tới vấn đề, trong đề nghị có thểkhông cần thiết phải nêu tất cả các điều khoản mang nội dung chủ yếu nhưđược quy định tại Điều 401 của Bộ luật Dân sự năm 1995 nếu những điềukhoản này có thể được bù đắp hoặc bổ sung hay được giải thích bởi pháp luật

về hợp đồng Do đó, trong đề nghị có thể không có các điều kiện như mô tảchi tiết hàng hóa hoặc dịch vụ sẽ được cung cấp, giá cả, thời gian, địa điểmthực hiện hợp đồng mà vẫn không làm cho đề nghị thiếu tính xác định, vàtất cả tùy thuộc vào các bên giao kết có mong muốn bị ràng buộc bởi hợpđồng này hay không, còn những điều kiện bị thiếu đó có thể được giải thíchhoặc bổ sung theo pháp luật hoặc tập quán quan hệ giữa các bên [29, tr.81]

Trong giao kết hợp đồng dân sự thông thường, nhiều khi không phảibất cứ người giao kết hợp đồng nào cũng có sự am hiểu nhất định về hợpđồng và không phải bất kể người giao kết hợp đồng nào cũng nhờ tới luật sư,

do đó việc đòi hỏi hợp đồng phải bao gồm đầy đủ các nội dung chủ yếu để cóthể trở thành hợp đồng hoàn chỉnh như quy định tại Điều 401 Bộ luật Dân sự

1995 là thiếu hiện thực, có thể gây cản trở cho các giao dịch và tăng chi phí,trong khi pháp luật đã có giải pháp là thiết lập các quy định giải thích cho ýchí của các bên trong những trường hợp thiếu vắng một số nội dung chủ yếu

đó Vì vậy theo Vũ Văn Mẫu, các bên giao kết hợp đồng chỉ cần thoả thuận vềđót số vấn đề tối thiểu, có nghĩa là về bản chất và chủ đích của hợp đồng [18,

tr 58] và đây cũng là những điều khoản cơ bản của hợp đồng

Pháp luật Việt Nam trong vài năm về trước đã có quan niệm cực đoan,

do đó quy định hợp đồng phải bao gồm các điều khoản cơ bản và liệt kê rấtnhiều nội dung chủ yếu, và lại còn cho rằng nếu hợp đồng thiếu một trong số

Trang 28

chúng thì coi như hợp đồng không thể giao kết (khoản 1, Điều 401 Bộ luậtDân sự 1995) Quan niệm này đã bị loại bỏ khỏi pháp luật Việt Nam với sự rađời của Bộ luật Dân sự 2005 Nhưng, một đề nghị giao kết cần phải thể hiện

có những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, đền nghị phải có nội dung rõ ràng, cụ thể: Phải nêu rõ nội

dung chủ yếu, cơ bản của hợp đồng nhưng không nhất thiết phải như liệt kêtại Điều 401 Bộ luật Dân sự 1995 Tuy nhiên, các nội dung này không cần xácđịnh cụ thể, trừ rường hợp đề nghị giao kết mua bán tài sản Đối với loại hợpđồng này, Bộ luật Dân sự đã quy định tại mục 1 Chương XVIII

Thứ hai, đề nghị giao kết phải được thể hiện rõ ràng hoặc thể hiện

dưới dạng ẩn, hướng tới công chúng rộng rãi hoặc một nhóm người hoặchướng tới một người cụ thể, có kèm theo hoặc không kèm theo thời hạn trảlời Việc đưa kèm thời hạn trả lời sẽ tạo ra một cơ sở pháp lý trong việc xácđịnh tính hợp pháp của chấp nhận đề nghị cũng như trách nhiệm của các bêntrong quá trình giao kết

Thứ ba, đề nghị giao kết phải được thể hiện ra bên ngoài dưới một

hình thức cụ thể: bằng văn bản, bằng lời hay bằng một hành vi cụ thể…

Thứ tư, đề nghị phải chắc chắn: nội dung của đề nghị phải thể hiện rõ

ý định giao kết hợp đồng của người đưa ra đề nghị Nếu đề nghị giao kết đưa

ra kèm các điều khoản bảo lưu thì không bảo đảm Đề nghị phải chắc chắn để chỉcần hành vi chấp nhận đề nghị của bên kia là đủ để hợp đồng được giao kết Nếutrong đề nghị có điều bảo lưu thì đó chỉ là đề nghị thương thuyết chứ chưa phải là

đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp đó là những bảo lưu rõ ràng, cụ thể Đềnghị không được mang tính nước đôi

Đề nghị và lời mời đàm phán không có ranh giới thực sự rõ ràng Do

đó đòi hỏi sự phân biệt, nhiều khi gắn với hoàn cảnh cụ thể Tuy nhiên về mặt

lý thuyết ta có thể phân tích một đề nghị để nhận biết nó dựa trên các dấu hiệuđặc trưng của nó đã được nói ở trên Mong muốn bị ràng buộc thường được

Trang 29

dùng để xác định một bên đưa ra đề nghị hay chỉ nhằm khởi xướng việc đàmphán [29, tr 82].

Cần lưu ý, trong lời mời đàm phán người đưa ra lời mời thường sẵnsàng tiếp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của người được mời; và lời mời đôikhi định ra cách thức để lời đề nghị giao kết hợp đồng có thể được thiết lập

Ví dụ: Trong vụ Harvela Investment Ltd v Royal Trust Company of Canada (CI) Ltd, người kháng cáo và bị đơn thứ hai được bị đơn thứ nhất mời đề nghị

giao kết hợp đồng để mua cổ phần trong một công ty Thư mời quy định lời

đề nghị giao kết hợp đồng phải được gửi tới vào một ngày xác định Bị đơnthứ nhất cam kết bị ràng buộc bởi là người đã trả giá cao nhất Cả nguyên đơn

và bị đơn thứ hai đều gửi đề nghị tới bị đơn thứ nhất trong thời hạn xác định.Nguyên đơn chào mua với giá 2.175.000 đô la Bị đơn thứ hai chào mua vớigiá 2.100.000 đô la hoặc 101.000 đô la trội hơn bất kỳ đề nghị giao kết hợpđồng nào khác Bị đơn thứ nhất cho rằng mình bị ràng buộc chấp nhận lời đềnghị của bị đơn thứ hai Nguyên đơn kiện ra tòa đòi hỏi phải chuyển nhượngcác cổ phần đó cho mình The House of Lords nhận định, thư mời đề nghịgiao kết hợp đồng chỉ dự liệu về việc trả giá ấn định, có nghĩa là giá xác định;

và đưa ra phán quyết bị đơn thứ nhất có nghĩa vụ chuyển nhượng cổ phần chonguyên đơn [35, tr 16]

Đề nghị còn phải được phân biệt với quảng cáo, thậm chí trong quảngcáo có ghi rõ giá cả của hàng hóa Truyền thống Common Law áp dụng quytắc này đối với cả catalog, bảng liệt kê hay giấy báo giá [32, tr 121] Trong

vụ Grainger and Son v Gough vấn đề pháp lý đặt ra là một thương nhân phát

giấy báo giá liệt kê giá cả cụ thể của từng loại rượu được xem là đề nghị giaohợp đồng hay lời mời về việc đề nghị giao kết hợp đồng Qua xét xử vụ ánnày có phán quyết rằng giấy báo giá tạo thành lời mời đàm phán hợp đồng.Lord Herchell lập luận: Việc phát tán bảng liệt kê giá cả như vậy không đượcxem là một lời đề nghị cung cấp một số lượng rượu vô giới hạn mà được mô

tả với một mức giá ấn định, để đến nỗi ngay lập tức một đòi hỏi được đưa ra

Trang 30

là có một hợp đồng ràng buộc cung cấp số lượng rượu như vậy Nếu thế mộtthương nhân sẽ bị ràng buộc vào bất kỳ một nghĩa vụ hợp đồng nào để cungcấp rượu như được mô tả cụ thể trong khi anh ta có lẽ không đủ khả năngthực hiện, hầm rượu của anh ta nhất thiết phải có giới hạn Từ vụ án này cáchọc giả Common Law rút ra hai nguyên lý:

(1) Giấy báo giá, cattalogue, báo chí được xem là lời mờiđàm phán Các khách hàng tiềm năng có thể đề nghị giao kết hợp đồng và chủhàng tự do chấp nhận hay từ chối

(2) Quy tắc này cũng được áp dụng đối với trưng bày hàng hóa [32, tr.17], [35, tr 121]

Các quan niệm trên đây của các nước theo truyền thống Common Law

có sự khác biệt với quan niệm của Vũ Văn Mẫu Ông cho rằng: "Sự đề ước cóthể có nhiều hình thức, hoặc minh thị như khi một người bán nhà đề nghị rõrệt muốn bán với những điều kiện nào, hoặc mặc nhiên như trưng bày hànghóa ở trong tủ với giá bán hoặc để xe taxi đậu ở bến đỗ xe" [18, tr 93] Việctrưng bày hàng hóa ở các cửa hàng, thậm chí có niêm yết giá cả cụ thể, nếuđược xem là lời đề nghị thì sẽ dẫn tới trường hợp phức tạp khó khăn cho việcgiải quyết tranh chấp Chẳng hạn: khi vào một siêu thị, chọn được một hànghóa rất đắt tiền đang bày trên giá hàng hóa cùng với các hàng hóa khác đểngười mua lựa chọn, có niêm yết giá cả cụ thể, và rất phù hợp với nhu cầu củamình mà bấy lâu nay chưa tìm thấy Khi mang hàng hóa đó ra quầy thu ngân

để trả tiền, bị từ chối nhận tiền với lời giải thích rằng hàng hóa đó còn lại duynhất để làm mẫu, và giám đốc siêu thị vừa thông báo không bán Nếu tranhchấp xảy ra, thì có một vấn đề quan trọng cần phải cân nhắc - đó là việc trưngbày hàng hóa như vậy có được xem là đề nghị không Nếu là đề nghị, thìtrong trường hợp này có quan hệ hợp đồng giữa người mua và siêu thị Nhưvậy siêu thị vi phạm hợp đồng Còn nếu không phải là đề nghị mà chỉ là hoạtđộng mời khách hàng đưa ra lời đề nghị, thì chưa có quan hệ hợp đồng nào

Trang 31

được thiết lập giữa người mua và siêu thị Như vậy siêu thị không thể vi phạmhợp đồng, và siêu thị luôn luôn là bên sẵn sàng tiếp nhận đề nghị của khách hàngvới giá bán và các điều kiện đã được định sẵn Có lẽ bị ảnh hưởng bởi một bản

án của Pháp coi việc gửi giấy báo giá có thể được xem là đề nghị, Vũ Văn Mẫu

đã có quan niệm như trên Tuy nhiên ông cũng phân tích sự khác biệt giữa đềước và sự đề nghị thương lượng Đề ước, theo ông, khác với đề nghị thươnglượng ở chỗ: nếu được chấp nhận thì hợp đồng được kết lập, còn đối với đề nghịthương lượng thì không Sau khi lý giải về tính chất phức tạp và quan trọng của

sự phân biệt này, ông ủng hộ quan điểm cho rằng: sự phân biệt này là một vấn đềthực tế và không thể đưa ra một nguyên tắc tiên định nào, do đó nên để cho thẩmphán có toàn quyền giải quyết [18, tr 93] Sau đó Bộ luật Dân sự 1972 không cóquy định cụ thể về đề nghị và chấp nhận đề nghị, trong khi trước đó Bộ luật Dân

sự Bắc Kỳ và Bộ luật Dân sự Trung Kỳ đều có quy định cụ thể về đề nghị vàchấp nhận đề nghị tại các Điều thứ 655 và Điều thứ 691

Như vậy ranh giới giữa quảng cáo với đề nghị, cũng như ranh giớigiữa lời mời đưa ra đề nghị với đề nghị rất mong manh

Có lẽ khi giải thích các quy định của Bộ luật Dân sự 2005 về giao kếthợp đồng, Nguyễn Ngọc Khánh đã xuất phát từ cách xử lý của người Ngađược thể hiện trong Bộ luật Dân sự của họ và kết hợp với một vài thực tiễnxét xử, nên đã viết:

Như vậy, kết hợp quy định tại khoản 1 Điều 390 và quy địnhtại khoản 1 Điều 404 Bộ luật Dân sự năm 2005, chúng ta có thể

khẳng định rằng, để "thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng" thì bên

đưa ra đề nghị phải nêu rõ nội dung chủ yếu của hợp đồng, còn cáchình thức tờ rơi quảng cáo hàng hóa, catalog giới thiệu sản phẩm chỉ được coi là lời mời chào giao kết hợp đồng hoặc lời mời bàn bạc

để thỏa thuận giao kết, vì chúng không chứa đựng nội dung chủ yếucủa hợp đồng [16, tr 221]

Trang 32

Mặc dù pháp luật Việt Nam hiện nay không quy định thật cụ thể về vấn

đề này, nhưng trong thực tiễn thương mại ở Việt Nam mọi người có khuynhhướng xem giấy báo giá, catalogue, tờ rơi, báo chí là việc mời đàm phán Tuynhiên Tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa quan niệm: "Việc chào bán hàng tiêu dùngthường thông qua lời giới thiệu của nhân viên bán hàng và quan sát hiện vật Đa

số hàng tiêu dùng được chào bán thông qua hành vi cụ thể, ví dụ nhu yếu phẩm,sách vở đã ghi sẵn giá cả, được bày bán trong các cửa hàng tự chọn" [20, tr 86]

Có quan điểm giải thích: định nghĩa về đề nghị giao kết hợp đồng tại Điều 390,khoản 1, Bộ luật Dân sự 2005 đã không xem "đề xuất" giao kết hợp đồng vớicông chúng rộng rãi hoặc một nhóm người là đề nghị giao kết hợp đồng Về vấn

đề này, các tác giả của cuốn "Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương

mại quốc tế 2004" đã nói: "một đề nghị được gửi đến một người hay một số

người dễ được coi như một đề nghị giao kết hợp đồng hơn một đề nghị được gửicho nhiều người nói chung" [29, tr 82] Vậy sẽ là khó khăn cho việc giải thích,nếu theo Bộ luật Dân sự 2005, khi một người đưa ra đề nghị cho tất cả những ai

hễ có sắt vụn bán cho anh ta với một giá cả, địa điểm xác định trước trong đềnghị đó và tại bất kể thời điểm nào, với số lượng bao nhiêu và chất lượng như thếnào Nên chăng giải thích "người được đề nghị" theo pháp luật Việt Nam hiệnnay mở rộng theo hướng người đã được xác định cụ thể về một số đặc điểm nào

đó hoặc người có khả năng chấp nhận được đề nghị chung?

"Đề ước" theo Vũ Văn Mẫu cũng có những bảo lưu, có thể là mặcnhiên, nhất là trong trường hợp những người được hưởng đề ước là vô hạnđịnh Ví dụ chủ cho thuê nhà có thể từ chối người hỏi thuê không vừa ý họ,mặc dù đã đưa ra đề nghị với giá cho thuê cụ thể, bởi theo ông đây là hợpđồng nhân vị [29] Việc đề nghị có bảo lưu, theo dân luật Pháp, chỉ được xem

là lời mời đàm phán, trừ trường hợp đó là bảo lưu rõ ràng, cụ thể [5, tr 28]

2.1.2 Hiệu lực đề nghị

Đề nghị bắt đầu có hiệu lực từ thời điểm nào? Hành vi đề nghị đượcthông báo cho đối tượng cụ thể có hiệu lực từ thời điểm đối tượng đó tiếp

Trang 33

nhận được đề nghị Hiệu lực của đề nghị được đặt ra trước tiên với vấn đề:một người đã đưa ra đề nghị có thể thay đổi, rút lại, hay hủy bỏ đề nghị đókhông, bởi nếu hành vi này thực hiện được, thì không có hợp đồng nào đượcgiao kết nếu chấp nhận đưa ra sau khi hành vi đó được thực hiện Tuy nhiên,nếu trong giai đoạn đề nghị mà người đề nghị chết hoặc mất năng lực hành vithì hiệu lực của đề nghị hoặc là bị chấm dứt do người đề nghị chết, hoặc là bịhủy bỏ do người đề nghị mất năng lực hành vi Tuy nhiên, vấn đề này cầnđược áp dụng trong giai đoạn từ thời điểm chuyển thông báo đề đến thời điểmbên đối tác nhận được đề nghị nhưng lại chưa được Bộ luật Dân sự năm 2005

đề cập Còn trong trường hợp người đề nghị chết sau khi bên đối tác đã nhậnđược đề nghị (Điều 398, Bộ luật Dân sự 2005) thì sẽ phát sinh vấn đề kế thừađịa vị pháp lý của người đề nghị Sự kế thừa địa vị pháp lý sẽ không phát sinhtrong trường hợp nội dung của đề nghị không cho phép kế thừa Việc người

đã mất năng lực hành vi sau khi bên đối tác nhận được đề nghị không hề ảnhhưởng đến đề nghị Vì vậy các Bộ luật Dân sự nếu có quy định về đề nghị thìthường khẳng định ngay hiệu lực ràng buộc của nó

Để giải quyết vấn đề này, Bộ luật Dân sự 2005 trước tiên khẳng địnhhiệu lực của đề nghị bằng việc xác định sự ràng buộc của đề nghị đối với bênđưa ra đề nghị trước bên được đề nghị (Điều 390, khoản 1 và Điều 398) Việckhẳng định này là đúng đắn Tiếp đó Bộ luật Dân sự 2005, tại Điều 390,khoản 2 quy định: "Trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõthời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trongthời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bênđược đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh".Việc đưa ra các quy định như vậy đã dấn thêm một bước nữa trong việc khẳngđịnh hiệu lực của đề nghị và hậu quả pháp lý của việc vi phạm đề nghị.Nhưng khó có thể giải thích được việc nêu ra trường hợp giao kết hợp đồngvới người thứ ba trong các quy định này Tuy nhiên đoạn quy định " phảibồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng

Trang 34

nếu có thiệt hại phát sinh" tại Điều 390, khoản 2, Bộ luật Dân sự 2005 rất khógiải thích, bởi thế nào là "không được giao kết hợp đồng" trong khi Điều 404,khoản 1 và khoản 2, Bộ luật Dân sự 2005 có quy định: hợp đồng được giaokết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết, và hợpđồng cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được

đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giaokết Vậy có mấy trường hợp sau cần xem xét: (1) Nếu A gửi đề nghị cho B vềđối tượng X, sau đó trong thời hạn trả lời lại giao kết hợp đồng với C về đốitượng X đó, và trong thời hạn trả lời B gửi chấp nhận A, và A nhận được, vậythì trường hợp này có coi là B "không được giao kết hợp đồng" không? (2)Nếu A gửi đề nghị cho B về đối tượng X, nhưng trong đề nghị giao kết của A

có quy định rằng hết thời hạn trả lời, theo thói quen quan hệ giữa A và B, nếu

B vẫn giữ im lặng thì coi là chấp nhận giao kết hợp đồng, và sau đó trong thờihạn trả lời lại giao kết hợp đồng với C về đối tượng X đó, và hết thời hạn trảlời B vẫn giữ im lặng, vậy thì trường hợp này có coi là B "không được giaokết hợp đồng" không? Rõ ràng là các quy định tại Điều 390, khoản 2 đã gâyrối cho các quy định chính đáng ở sau, vì chúng không nên có Khó lòng tìmthấy các quy định theo kiểu Điều 396, Bộ luật Dân sự 1995 và Điều 390,khoản 2, Bộ luật Dân sự 2005 trong các Bộ luật Dân sự khác Rõ ràng phápluật Việt Nam từ trước tới nay trong nhận thức, trong lý thuyết, cũng nhưtrong các đạo luật không có các quy định như trong hai Bộ luật Dân sự mớiban hành này về các vấn đề vừa nói Chẳng hạn Tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa viết:

Bên Chào hàng chịu trách nhiệm về Chào hàng của mình.Trách nhiệm này thể hiện ở chỗ, trong thời hạn mà chào hàng cóhiệu lực, nếu Bên nhận được chào hàng thông báo cho Bên chàohàng về chấp nhận toàn bộ các nội dung đã nêu trong Chào hàng,thì Hợp đồng mua bán hàng hóa đã được giao kết [20, tr 87]

Các giáo trình dạy luật dân sự ở Việt Nam hiện nay không hề đềcập tới các quy định thiếu thỏa đáng trên, trừ Lê Nết và Nguyễn Ngọc Khánh

Trang 35

Trong cuốn "Luật dân sự Việt Nam", sau khi đã trình bày rất nhiều

thông tin pháp luật đông tây kim cổ, học giả Lê Nết đã diễn giải lại các quyđịnh nói trên với sự bổ sung như sau: "Nếu lời đề nghị có xác định rõ thời hạntrả lời thì trong thời hạn chờ đợi bên kia trả lời, người đưa ra lời đề nghịkhông được đưa ra cùng lời đề nghị đó cho người thứ ba" [22, tr 331] Người

bổ sung dường như chỉ nghĩ rằng các quy định về đề nghị trong Bộ luật Dân

sự 1995 và Bộ luật Dân sự 2005 chỉ dành cho hợp đồng mua bán tài sản hữuhình, có nghĩa là đã chuyển giao rồi thì không còn nữa để chuyển giao? Songrất đáng tiếc hai Bộ luật này phải áp dụng cho cả các hợp đồng mua bán tàisản vô hình, sức lao động, dịch vụ , kể cả các hợp đồng làm phát sinh ranghĩa vụ không hành động Người bổ sung dường như cũng quên rằng đề nghịhay chào hàng được chia thành hai loại là chào bán và chào mua, và rằng đềnghị có thể đưa đến một người, một số người hoặc cả thế giới

Nguyễn Ngọc Khánh lại giải thích Điều 390, khoản 2, Bộ luật Dân sự

2005 theo cách thức khác rằng, các quy định này cũng giống như thu hồi đề nghịtrái phép, nên phải bồi thường thiệt hại Tác giả này còn băn khoăn không biếtnên xếp việc bồi thường phát sinh từ việc giao kết hợp đồng với người thứ batrong thời gian chờ người được đề nghị trả lời chấp nhận vào bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng hay bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng Và tác giả nàycòn phê phán Bộ luật Dân sự 2005 chưa có quy định rõ ràng về hậu quả trongtrường hợp đề nghị bị thu hồi trái phép [7, tr 231-232] Đáng tiếc Bộ luật Dân sự

2005 không hề có quy định nào gần gũi để có thể giải thích việc này được xemnhư hủy bỏ đề nghị Và cần suy nghĩ rằng, theo Tiến sĩ Ngô Huy Cương [6, tr.200], việc hủy bỏ đề nghị trái pháp luật trong thời hạn trả lời chấp nhận sẽ phảigánh chịu hậu quả pháp lý như khi vi phạm hợp đồng được giao kết, trừ một sốtrường hợp đặc biệt liên quan tới hình thức hoặc giao vật Về vấn đề này Vũ VănMẫu gọi là tiền lập ước và cho rằng về nguyên tắc chưa có một hợp đồng nàophát sinh, nên phải giải quyết trách nhiệm của người đề ước trong phạm vi tráchnhiệm dân sự phạm Tuy nhiên

Trang 36

theo ông trong một số trường hợp có thể đã có một tiền khế ước được thiết lậptrước khế ước chính yếu Ông lấy ví dụ một người cam đoan bán nhà cho mộtngười khác với giá bán cụ thể và ấn định một thời hạn trả lời chấp nhận, vàcho rằng trong trường hợp này giữa hai người đã có một tiền khế ước, và nếungười cam kết bán cho người khác trong thời hạn đó thì bị coi là vi phạmnghĩa vụ khế ước và phải chịu trách nhiệm khế ước [18, tr 451] Vấn đề tiềnhợp đồng có lẽ nhiều người cũng đã được biết trong việc thành lập công ty.Nhưng việc cam kết đơn phương bán nhà như vậy coi là tiền hợp đồng thì sẽkhó khăn cho việc áp dụng các quy định về trách nhiệm hợp đồng bởi khôngthể giải thích được cho ý chí của người được đề nghị Nguyễn Ngọc Khánhquan niệm việc rút đề nghị trước thời hạn trả lời được xem là căn cứ để yêucầu bồi thường thiệt hại [16, tr 232] Có thể phải hiểu rằng việc rút đề nghịtrong thời hạn trả lời chấp nhận sẽ không là căn cứ để yêu cầu bồi thườngthiệt hại nếu sau đó trong suốt thời hạn còn lại bên được đề nghị không trả lờichấp nhận hay không đòi giao kết hợp đồng, bởi việc không trả lời chấp nhậnhay không đòi hỏi giao kết hợp đồng phải được xem như đồng ý với việc chorút đề nghị, hoặc được xem như việc từ chối giao kết hợp đồng, có nghĩa đềnghị đó không có giá trị đối với bên được đề nghị, xét từ phía người được đềnghị Vậy không thể có thiệt hại gì phát sinh từ hành vi rút đề nghị đối vớingười được đề nghị Còn những chi phí liên quan tới việc tìm hiểu đề nghị lựachọn có chấp nhận đề nghị hay không là các chi phí liên quan tới việc tìmhiểu đề nghị để lựa chọn có chấp nhận đề nghị hay không là các chi phí thôngthường trong hoạt động sống của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào Nhưng nếungười được đề nghị đã hao tổn chi phí để hành động cho việc chấp nhận thìcác quan niệm mới hiện nay về vấn đề này đã có giải pháp mà sẽ được nghiêncứu dưới đây.

Hiện nay Bộ luật Dân sự 2005 không dự liệu thời hạn trả lời hay thờihạn trách nhiệm cho các đề nghị không tự ấn định thời hạn Điều này có ýkiến cho rằng gây khó khăn cho việc xử lý các tình huống liên quan Tuy

Trang 37

nhiên có thể hiểu một bộ luật dù có ý tưởng dự liệu các trường hợp đầy đủnhất thì cũng nên chừa những khoảng trống nhất định cho các giải thích tưpháp Nhưng các khoảng trống được chừa ra phải được suy xét một cáchnghiêm túc trên cơ sở khoa học và có đánh giá thực tiễn Liệu tòa án ViệtNam hiện nay có quen cách hành xử đối với những trường hợp mà văn bảnkhông có quy định không?

Bộ luật Dân sự 2005 sau khi đã đưa ra nguyên tắc về hiệu lực của đềnghị đã quy định tiếp theo về thời điểm có hiệu lực của đề nghị:

Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực được xác định như sau:

b) Nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợpđồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó [23, Điều 391,khoản 1]

Việc nhận được đề nghị theo Bộ luật Dân sự 2005 được xác định theo

ba cách: (1) Đề nghị được chuyển đến cơ sở của người được đề nghị;

(2) Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của người được đềnghị; và (3) Đề nghị được người được đề nghị biết thông qua các phương thứckhác (Điều 391, khoản 2) Hai cách thức đầu tiên là thông thường Nhưng cáchthức thứ ba sẽ dẫn tới sự khó khăn trong việc xác định thời điểm có hiệu lực của đềnghị, cũng như hiệu lực của thông báo thay đổi, rút lại hoặc hủy bỏ đề nghị

Người đề nghị có thể rút đề nghị của mình không? Điều dễ hiểu là saukhi bên đối tác đã chấp nhận đề nghị thì việc rút đề nghị là không thể xảy ra.Tuy nhiên, cả trong giai đoạn trước khi hợp đồng được giao kết bằng cáchchấp nhận đề nghị, việc rút đề nghị cũng không được phép; bởi vì, thôngthường bên đối tác cũng cần một thời gian nhất định để cân nhắc đề nghị.Điều này gọi là đặc tính bắt buộc của đề nghị Theo Bộ luật Dân sự,

33

Trang 38

việc rút lại đề nghị trong đó có ấn định thời hạn để chấp nhận trước khi kếtthúc thời hạn thì "phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà khôngđược giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh" (khoản 2, Điều 390 Bộ luậtDân sự 2005) Trong trường hợp không ấn định thời gian, có thể rút đề nghịsau một thời gian hợp lý cần thiết cho việc tiếp nhận đề nghị, Bộ luật Dân sự

2005 có chia ra các trường hợp thay đổi, rút lại, hủy bỏ và chấm dứt đề nghịtương đối hợp lý Về việc thay đổi, rút lại đề nghị, Bộ luật Dân sự 2005 chi rahai trường hợp là: (1) thay đổi, rút lại có dự liệu trước, và (2) thay đổi, rút lạikhông có dự liệu trước (Điều 392, khoản 1) Trường hợp thứ nhất xảy ra khitrong điều kiện có xác định điều kiện mà khi điều kiện đó phát sinh thì người

đề nghị có quyền thay đổi, rút lại đề nghị Trường hợp thứ hai xảy ra khingười đề nghị không có dự liệu trước về việc thay đổi hoặc rút lại trong đềnghị, nhưng thông báo thay đổi hoặc rút lại đề nghị Đối với trường hợp nàythông báo thay đổi hoặc rút lại đề nghị được gửi tới trước hoặc cùng với đềnghị thì mới có hiệu lực Việc thay đổi nội dung của đề nghị được xem nhưđưa ra đề nghị mới (Điều 392, khoản 2) Về nguyên tắc, Bộ luật Dân sự 2005không ủng hộ việc hủy bỏ đề nghị Tuy nhiên Bộ luật này đã dự liệu rằng: nếu

đề nghị đã xác định quyền được hủy bỏ đề nghị, thì khi thực hiện quyền nàybên đề nghị phải thông báo cho bên được đề nghị; và thông báo chỉ có hiệulực nếu bên được đề nghị trước khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận (Điều393) Tuy nhiên thời điểm nào được xem là trả lời chấp nhận vẫn còn được bỏngỏ

Hiệu lực của đề nghị chỉ bị chấm dứt do hết thời hạn trả lời chấp nhận,

do bị từ chối chấp nhận, do người đề nghị và người được đề nghị thỏa thuậnchấm dứt, và do thay đổi, rút lại hay hủy bỏ (Điều 394, Bộ luật Dân sự 2005).Mặc dù đã rất cố gắng trong việc phân loại và thiết lập các quy chế pháp lýriêng cho từng phân loại liên quan tới đề nghị, nhưng có lẽ với chừng ấy quyđịnh hoặc nhiều hơn nữa vẫn cần tới giải thích tư pháp

Trang 39

2.2 CHẤP NHẬN GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ (HÌNH THỨC, NỘI DUNG, THỜI HẠN )

Đề nghị và chấp nhận là các khái niệm luôn luôn đi liền với nhautrong việc nghiên cứu về giao kết hợp đồng, bởi như mục trên đã nói chúng làcác thành tố của sự thỏa thuận

2.2.1 Hình thức, nội dung chấp nhận

Sự chấp nhận có thể chia thành ba loại cơ bản căn cứ vào hình thứccủa nó là chấp thuận rõ ràng, cụ thể như trường hợp tuyên bố rõ ý chí ưngthuận với đề nghị, hoặc chấp nhận thông qua cách hành xử ngụ ý về sự chấpnhận, hoặc im lặng hay không hành động giống như khi phân tích hình thứchợp đồng, chấp nhận cũng có hình thức biểu hiện như vậy chứng minh cho sựchấp nhận Các hình thức đó bao gồm văn bản, lời nói, cử chỉ hay hành động,hoặc sự im lặng hay không hành động Bộ luật Dân sự 2005 quy định ba hìnhthức đầu nói trên là hình thức của hợp đồng tại Điều 401, khoản 1 Còn hìnhthức thứ ba được nói một cách xa xôi tại Điều 404, khoản 2, có nghĩa là ngườiđược đề nghị có thể bằng sự im lặng của mình ngụ ý về chấp nhận đề nghị,tuy nhiên với điều kiện là phải có thỏa thuận sự im lặng là chấp nhận

Im lặng có phải là chấp nhận hoặc mặc nhiên không? Đó là một vấn

đề tranh luận sôi nổi Unidroit đã thể hiện rõ quan điểm về vấn đề này là im

lặng không hành động tự bản thân chúng không phải là chấp nhận (Các nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế 1994 và 2004 đều

định nghĩa: "Một tuyên bố hoặc cách hành xử khác của người được đề nghịcho biết sự đồng ý với đề nghị là chấp nhận Sự im lặng hoặc không hànhđộng tự bản thân nó không có nghĩa là chấp nhận" (Điều 2.6 và Điều 2.1.6tương ứng) Bộ luật Dân sự 2005 cũng không xem im lặng là sự chấp nhậnmặc nhiên, và chỉ thừa nhận một trường hợp cho sự chấp nhận bằng im lặngkhi có sự thỏa thuận giữa người đề nghị và người được đề nghị "im lặng là sựtrả lời chấp nhận giao kết" hợp đồng (Điều 404, khoản 2) Tuy nhiên để có

Trang 40

được hiểu biết rõ ràng hơn về các quy định này của Bộ luật Dân sự 2005, cầnphải giải thích sự thỏa thuận của hai bên về vấn đề này được thể hiện ở đâu:(1) Trong nội tại của đề nghị rồi được người được đề nghị thông báo đồng ýriêng về vấn đề đó; hay (2) trong đề nghị bổ sung rồi được người được đề nghị thôngbáo chấp nhận vấn đề đó trong đề nghị bổ sung; hay (3) trong một thỏa thuận khác;hay (4) trong tập quán; hay (5) trong thói quen quan hệ giữa hai bên Unidroit đã có

sự nhắc nhở: người đề nghị không thể đơn phương tuyên bố trong đề nghị của mìnhrằng đề nghị được coi là chấp nhận nếu không trả lời hoặc giữ im lặng, bởi người đềnghị là bên đề xướng hợp đồng và người được đề nghị có quyền tự do lựa chọn hoặcphớt lờ đề nghị [29, tr 92-93]

Luật dân sự Việt Nam cũng có những quan niệm như vậy từ nhiều thập

kỷ trước Vũ Văn Mẫu cho rằng việc buộc người được đề nghị phải trả lời mỗilần nhận được đề nghị không khác nào xâm phạm vào quyền tự do không kếtước của họ, do đó không thể suy diễn im lặng là đồng ý, tuy nhiên trong một sốtrường hợp như có thói quen quan hệ, tập quán, cách thức thực hành đối với một

số loại hợp đồng, hoặc đề nghị chỉ có lợi riêng cho người được đề nghị thì sự suydiễn trên được xem là có căn cứ Ông đã đưa ra gợi ý, im lặng được coi là sự ưngthuận khi có thỏa thuận "trước" của hai bên [18, tr 96-97] Vì vậy đề nghị vàchấp nhận trong trường hợp này có thể chỉ là một phần tách biệt của nhiều quan

hệ giữa hai bên Nhưng theo Tiến sĩ Ngô Huy Cương nó khác với thói quen quan

hệ, tập quán hay cách thức thực hành ở chỗ: ý chỉ của các bên được tuyên bố mộtcách rõ ràng cho một hoặc một số trường hợp đề nghị nhất định trong mộtkhoảng thời gian nhất định [6, tr 213]

Có thể thấy định nghĩa về chấp nhận tại các Điều 396, Bộ luật Dân sự

2005 không nhắc tới các cách thức hay hình thức của chấp nhận, và dườngnhư chỉ cho rằng chấp nhận là "sự trả lời" mà trong khi đó cụm từ "sự trả lời"không rõ nghĩa, đôi khi làm người ta tưởng lầm rằng sự chấp nhận phải bằngvăn bản hoặc lời nói Tuy nhiên nếu giải thích điều này trong mối quan hệ với

Ngày đăng: 04/11/2020, 15:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w