1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật việt nam và hướng hoàn thiện pháp luật

80 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 139,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài không chỉ đơn thuần bằngviệc áp dụng các văn bản luật trong nước mà còn bằng cả hệ thống luật phápquốc tế có liên quan bao gồm các Điều ước qu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Phạm Trung Hòa

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Hiệp định tương trợ tư phápHôn nhân gia đình

Nghiên cứu pháp luậtNghị định

Sắc lệnhThông tư liên Bộ

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LY HÔN CÓ YẾU

TỐ NƯỚC NGOÀI 7

1.1 Khái niệm về ly hôn, ly hôn có yếu tố nước ngoài 7

1.1.1 Khái niệm ly hôn 7

1.1.2 Khái niệm ly hôn có yếu tố nước ngoài 9

1.2 Hậu quả pháp lý của ly hôn, ly hôn có yếu tố nước ngoài 12

1.2.1 Quan hệ nhân thân 13

1.2.2 Quan hệ tài sản 16

1.3 Nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài 17

1.3.1 Các loại nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài 17

1.3.2 Mối quan hệ giữa các loại nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài 19

1.4 Nguyên tắc và phương pháp điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài .20

1.4.1 Nguyên tắc điều chỉnh 20

1.4.2 Phương pháp điều chỉnh 21

Kết luận chương 1 24 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ MÀ VIỆT NAM KÝ KẾT VÀ THAM GIA VỀ VIỆC GIẢI

Trang 5

2.1 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về ly hôn có yếu

tố nước ngoài 26

2.1.1 Giai đoạn trước năm 1945 26

2.1.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi có Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 27

2.1.3 Giai đoạn từ 1986 đến trước khi có Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 29

2.1.4 Giai đoạn từ 2000 đến trước khi có Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 32

2.1.5 Từ năm 2014 đến nay 33

2.2 Quy định hiện hành của Việt Nam về giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài .34

2.2.1 Vấn đề chọn pháp luật áp dụng 34

2.2.2 Thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài 37

2.2.3 Thủ tục giải quyết các vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài 39

2.3 Quy định của các Điều ước quốc tế và tập quán quốc tế về giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài 41

2.3.1 Các Điều ước quốc tế về giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài 41

2.3.2 Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo các hiệp định tương trợ tư pháp của Việt Nam 42

2.3.3 Ly hôn và giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài theo tập quán quốc tế 44 2.3.4 Sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế về giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài 45

Kết luận chương 2 49

CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 51

Trang 6

3.1.1 Những thành tựu đạt được 52

Trang 7

3.1.2 Những hạn chế 55

3.1.3 Nguyên nhân dẫn đến các thực trạng trên 59

3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài 60

Kết luận chương 3 65

KẾT LUẬN 67

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, cùng với những thay đổi về kinh tế - xã hội,quan hệ giữa con người với con người trong đó có quan hệ hôn nhân và gia đìnhcũng bị tác động mạnh mẽ Ngày nay, ly hôn đã được nhìn nhận đúng với bảnchất tích cực và tiến bộ của nó Dưới góc độ pháp lý, ly hôn được ghi nhận làmột chế định độc lập của Luật Hôn nhân và gia đình, nó là cơ sở cho Tòa án vàcác bên đương sự giải quyết vấn đề ly hôn một cách thấu tình đạt lý, góp phầngiải phóng con người ra khỏi sự ràng buộc không cần thiết khi tình cảm vợ chồngkhông còn Nhà nước đặt ra chế độ hôn nhân tự nguyện, bình đẳng, tiến bộ,nhằm xây dựng gia đình dân chủ, hòa thuận, bền vững ngay cả khi gia đình đótan vỡ thì sự bình đẳng về quyền và lợi ích giữa vợ và chồng vẫn được đảm bảo

Đó là sự tiến bộ thể hiện quyền tự do ly hôn của hai vợ chồng

Thông qua Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Nhà nước đã tuyêntruyền và phổ biến rộng rãi để mọi người dân hiểu biết trong việc bảo vệ quyềnlợi của mọi thành viên và xây dựng hạnh phúc gia đình xã hội chủ nghĩa Tuynhiên, trong thực tế xét xử các vụ án ly hôn cho thấy, còn tồn tại một số vướngmắc như vấn đề xác định căn cứ ly hôn, hậu quả pháp lý của ly hôn Ở nước ta,những năm gần đây, do việc mở rộng quan hệ hợp tác, giao lưu mọi mặt về kinh

tế, văn hóa, chính trị, xã hội với các nước trong khu vực và trên thế giới đã làmcho quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều Cùng với việc giatăng số lượng các quan hệ hôn nhân là việc ly hôn giữa công dân Việt Nam vớingười nước ngoài đã và đang ngày càng trở lên phổ biến trong xã hội

Trang 9

Việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài không chỉ đơn thuần bằngviệc áp dụng các văn bản luật trong nước mà còn bằng cả hệ thống luật phápquốc tế có liên quan bao gồm các Điều ước quốc tế, (trong đó có các Hiệp địnhtương trợ tư pháp) và Tập quán quốc tế.

Cùng với sự phát triển giao lưu quốc tế nói chung và giao lưu dân sự nóiriêng, quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài và ly hôn có yếu tố nướcngoài trên thực tế ngày càng đa dạng và phức tạp Pháp luật Việt Nam cũng đãtích cực hoàn thiện nhằm giúp cho công tác giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tốnước ngoài vừa việc đạt được hiệu quả cao vừa vẫn đảm bảo được về mặt pháp

lý, phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế

Tuy nhiên, đứng trước bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, vớithực trạng nền kinh tế thị trường và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa thì vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài ngày càng phong phú và cũng nảysinh nhiều dạng tranh chấp phức tạp đòi hỏi phải được nghiên cứu sâu hơn, toàndiện hơn nữa và xử lý kịp thời, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong việc bảo vệcác quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể Nhìn chung, những vấn đề pháp

lý về ly hôn có yếu tố nước ngoài đóng một vai trò quan trọng trong việc xâydựng và phát triển xã hội Nếu những vấn đề pháp lý không phù hợp sẽ làm xãhội hỗn loạn và hậu quả là làm cho xã hội suy yếu Ngược lại, nếu phù hợp thìkhông những làm cho xã hội ổn định mà còn làm cho xã hội vững mạnh, mốiquan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia trên thế giới cũng được phát triển,khăng khít Bởi vì như đã nêu trên, ly hôn cũng có những điểm tích cực trongviệc thúc đẩy sự phát triển một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Tuy nhiên,pháp luật Việt Nam hiện nay thực sự vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa thểgiúp giải quyết được kịp thời và hiệu quả các vụ việc ly hôn có yếu tố nướcngoài phát sinh trên thực tế

Trang 10

Nhận thức nói trên chính là xuất phát điểm để tác giả xác định chủ đề và

thực hiện việc nghiên cứu đề tài: “Giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam và hướng hoàn thiện pháp luật” trong phạm

vi quy mô của một Luận văn thạc sĩ luật học Đề tài mang không chỉ mang ýnghĩa lý luận mà còn mang ý nghĩa thực tiễn, hi vọng sẽ đóng góp phần xây

dựng luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật trong giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Ở Việt Nam trước đây hôn nhân có yếu tố nước ngoài nói chung và ly hôn

có yếu tố nước ngoài nói riêng là một loại quan hệ không phổ biến Tuy nhiên,

trong gần hai thập kỷ qua, đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, hônnhân có yếu tố nước ngoài không còn là hiện tượng hiếm hoi trong đời sống xãhội Có lúc hôn nhân có yếu tố nước ngoài đã trở thành một hiện tượng khá phổbiến Cũng như mọi quan hệ khác, quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài cần có

sự điều chỉnh của pháp luật Vì vậy, nghiên cứu các vấn đề pháp lý liên quan tớiquan hệ này trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết

Do vậy, vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam đã có nhiều đềtài, nhiều công trình nghiên cứu cùng rất nhiều các bài viết khoa học đăng trêncác báo, tạp chí chuyên ngành Trong các công trình nghiên cứu này có nhữngcông trình nghiên cứu đã đi sâu vào vấn đề lý luận về ly hôn có yếu tố nướcngoài, có những công trình lại đi tìm hiểu thực trạng áp dụng các quy định về lyhôn có yếu tố nước ngoài để tìm ra giải pháp hoàn thiện pháp luật Tiêu biểu như

Nguyễn Thanh Hoa (Luận văn thạc sĩ), Thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp; Đỗ Thị Vân Anh (Luận văn thạc sĩ), Giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài qua thực tiễn xét xử tại Toà án

Trang 11

nhân dân thành phố Hà Nội; Nguyễn Hồng Nam, Vài ý kiến về thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam đối với các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài, Tạp chí Tòa án, số 13/2009, Nông Quốc Bình (Luận án tiến sĩ luật học), Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam; Nông Quốc Bình – Nguyễn Hồng Bắc (2006), Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế Nxb Tư pháp, Hà Nội; Bùi Thị Minh Nhã (Luận văn thạc sĩ), Vấn đề ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài theo pháp luật Việt Nam…

Nhìn chung, các khía cạnh của vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài đều đãđược phân tích ở những góc độ khác nhau Tuy vậy, do cuộc sống luôn luôn thayđổi, các vấn đề thực tế về ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng không nằm ngoàiquy luật này và đã có nhiều thay đổi, luôn luôn phát sinh ra những vấn đề mới,những trường hợp đặc biệt mà các quy định của pháp luật chưa dự liệu tới Cáccông trình nghiên cứu trước đây cũng chưa nghiên cứu đầy đủ hoặc sâu sắc Mặtkhác, trong bối cảnh Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh hội nhập kinh tế

quốc tế, đề tài “Giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam và hướng hoàn thiện” vẫn là vấn đề có tính thời sự.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích tổng quát của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ thêm một số vấn

đề lý luận cơ bản về ly hôn có yếu tố nước ngoài, thực trạng nội dung các quyđịnh của pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về

ly hôn có yếu tố nước ngoài, thực trạng ly hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Namhiện nay và hướng hoàn thiện, đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiệnpháp luật và nâng cao hiệu quả thực tiễn giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nướcngoài ở nước ta trong thời gian tới

Trang 12

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu khái lược các quy định của pháp luật Việt Nam, các Điều ước Quốc tế về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài mà Viêt Nam ký kết và tham gia

- Phân tích sâu thêm một số vấn đề lý luận về về ly hôn có yếu tố nướcngoài, các quy định hiện hành các quy định của pháp luật Việt Nam về ly hôn cóyếu tố nước ngoài, từ đó đánh giá tính phù hợp với thực tế, tính tương thích đốivới pháp luật quốc tế về vấn đề này

- Trên cơ sở thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam về lyhôn có yếu tố nước ngoài, xác định những điểm hạn chế và đề xuất phươnghướng, giải pháp hoàn thiện trong các quy định của pháp luật về vấn đề này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định pháp luật Việt Nam vàcác Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về ly hôn có yếu tố nước ngoài.Thực tiễn giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay để từ đóđưa ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quảgiải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài ở nước ta trong thời gian tới

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu chủ yếu là các quy định hiện hành của pháp luật ViệtNam và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về ly hôn có yếu tố nướcngoài, thực tiễn giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận củaChủ nghĩa Mác - Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh; Đường lối của Đảng về Nhànước và pháp luật

Trang 13

Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài cũng sử dụng các phương phápnghiên cứu khoa học chuyên ngành như lịch sử, thống kê, phân tích, tổng hợp, sosánh, diễn giải, suy diễn logic v.v…để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu.

6 Điểm mới của luận văn

So với những công trình nghiên cứu có liên quan trước đây, bên cạnh việclàm rõ thêm những vấn đề lý luận, lịch sử mang tính cốt lõi đã được đề cập, luậnvăn này tập trung đi sâu phân tích toàn diện hơn các quy định hiện hành củapháp luật Việt Nam về ly hôn có yếu tố nước ngoài; làm rõ hơn được tính tươngthích của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế về vấn đề ly hôn có yếu tốnước ngoài, từ đó xác định những mặt tích cực cũng như những hạn chế trongviệc xây dựng các quy định của pháp luật Việt Nam và đề xuất phương hướng,giải pháp hoàn thiện

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 3 chương sau đây:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về ly hôn có yếu tố nước ngoài; Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết và tham gia về việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài;

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết ly hôn

có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam và phương hướng hoàn thiện pháp luật.

Trang 14

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ

NƯỚC NGOÀI

1.1 Khái niệm về ly hôn, ly hôn có yếu tố nước ngoài

1.1.1 Khái niệm ly hôn

Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, chế định ly hôn đượcquy định tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau Điều 42 Bộ luật Dân sự Việt

Nam năm 2005 (BLDS 2005) quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn” [5] Khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định “Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xác định cha, mẹ, con, quyền được nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và các quyền nhân thân khác trong quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ

và con và quan hệ giữa các thành viên gia đình” [6].

Tuy nhiên, khái niệm ly hôn chỉ được quy định rõ tại Luật Hôn nhân vàgia đình Cụ thể, theo quy định tại Khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình

hiện hành năm 2014 thì “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án” [32].

Xét về mặt xã hội, ly hôn chính là giải pháp giải quyết sự khủng khoảngtrong mối quan hệ vợ chồng Ly hôn là mặt trái của hôn nhân nhưng đồng thời

nó cũng là mặt không thể thiếu khi quan hệ hôn nhân tồn tại chỉ còn là hình thức

vì tình cảm vợ chồng còn, hôn nhân không có tiếng nói chung Trong quan hệhôn nhân, việc kết hôn giữa nam và nữ được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, hợppháp mà tình cảm và sự đồng cảm giữa hai bên là nguồn cội của sự tự nguyên.Khi tình cảm không vợ chồng không còn, kết hợp với nhiều yếu tố khác khiến

Trang 15

cho quan hệ hôn nhân rạn nứt thì giải pháp hữu hiệu nhất và cũng là thông dụngnhất mà các cặp vợ chồng hướng tới là ly hôn Như vậy, pháp luật không cóquyền yêu cầu nam nữ phải kết hôn khi họ không tự nguyện và cũng không cóquyền từ chối khi họ có nhu cầu ly hôn Việc ly hôn nhằm giải phóng cho vợ,chồng khỏi cuộc sống chung đầy đau khổ hiện tại, giúp chồng thoát khỏi nhữngmâu thuẫn sâu sắc mà không thể giải quyết được.

Về mặt pháp lý, quan hệ vợ chồng được phát sinh kể từ khi vợ, chồngđược cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vàchỉ chấm dứt khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án côngnhận về việc ly hôn Trên thực tế, có nhiều cặp vợ chồng không còn tỉnh cảm vớinhau, không sống cùng nhau, độc lập về kinh tế cũng như các hoạt động cá nhânkhác nhưng không có Quyết định hoặc bản án của Tòa án công nhận về việc lyhôn giữa hai vợ chồng thì về mặt pháp lý quan hệ giữa hai người vẫn là quan hệ

vợ chồng, vẫn bị ràng buộc với nhau bởi các quy định của pháp luật liên quanđến quan hệ giữa vợ và chồng

Trên cơ sở đó có thể hiểu một cách tổng quát nhất ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng, hủy bỏ trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm của hôn nhân và các ràng buộc dân sự khác Tòa án là cơ quan duy nhất có trách nhiệm ra phán quyết chấm dứt quan hệ hôn nhân của vợ chồng Phán quyết ly hôn của Tòa án được thể hiện dưới hai hình thức: bản án hoặc quyết định Nếu hai bên vợ chồng thuận tình ly hôn thỏa thuận với nhau giải quyết được tất cả các nội dung quan

hệ vợ chồng khi ly hôn thì Tòa án công nhận ra phán quyết dưới hình thức Quyết định Nếu vợ chồng có mâu thuẫn, tranh chấp thì Tòa án ra phán quyết dưới dạng bản án ly hôn.

Trang 16

1.1.2 Khái niệm ly hôn có yếu tố nước ngoài

Luật Hôn nhân và Gia đình đã dành nhiều điều luật để quy định về vấn đề lyhôn có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, cho đến nay, trải qua nhiều lần sửa đổi, bổsung Luật hôn nhân và Gia đình cũng như các văn bản pháp luật khác vẫn chưa có

quy định rõ ràng, định nghĩa cụ thể thế nào là “Ly hôn có yếu tố nước ngoài”.

Tại Khoản 2 Điều 663 của Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định về kháiniệm quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong cáctrường hợp sau đây:

- Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài;

- Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;

- Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài [6].

Quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung và quan hệ ly hôn có yếu tố nướcngoài nói riêng thuộc phạm trù quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nên có thể

áp dung toàn bộ quy định của Bộ Luật Dân sự về vấn đề quan hệ dân sự có yếu

tố nước ngoài để kết hợp với luật chuyên ngành để giải quyết quan hệ ly hôn cóyếu tố nước ngoài Tuy nhiên, việc xây dựng được khái niệm ly hôn có yếu tốnước ngoài một cách đầy đủ, toàn diện và chuẩn mực trong đạo luật chuyênngành là cần thiết

Với tinh thần đó, Khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

đã quy định rõ về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài như sau:

“Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân

và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là

Trang 17

công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan

hệ đó ở nước ngoài.” [32]

Mặt khác, ly hôn theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm

2015 được xem là một vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Điều 464 Bộ luật này có quy định rõ thế nào là một vụ việc dân sự Theo đó, “Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài; b) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; c) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài” [8]

Với hai quy định nêu trên ta thấy, tại Điều 464 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015

không quy định chủ thể trong vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là “người Việt Nam định cư nước ngoài” nhưng tại Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 lại quy định

chủ thể này Lý giải cho vấn đề này ta có thể hiểu, Điều 464 Bộ luật tố tụng Dân sự (BLTTDS) 2015 là văn bản luật hình thức áp dụng chung có các quan hệ có yếu tố nước ngoài Khi có sự kiện pháp lý xảy ra trên thực tế thì cần áp dụng luật chuyên ngành, trên sơ sở luật chung để giải quyết một vấn đề cụ thể Mặt khác, chủ thể theo quy định tại Điều 464 BLTTDS 2015 đã bao hàm cả “người Việt Nam định cư ở nước ngoài” Như vậy, có thể thấy rằng, liên quan đến vấn đề “có yếu tố nước ngoài”

trong các quy định nêu trên của các văn bản pháp luật Việt Nam đã có sự thốngnhất với nhau

Theo đó, ta có thể hiểu “Ly hôn có yếu tố nước ngoài là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng giữa vợ và chồng mà ít nhất một trong hai bên là người nước

Trang 18

nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài; hoặc tài sản liên quan đến việc ly hôn ở nước ngoài”.

Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm

2014 có quy định về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài như sau: “ 1 Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này 2 Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam 3 Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.” [32].

Như vậy, khi giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài thì Tòa án khôngnhững chỉ áp dụng pháp luật của Việt Nam mà còn phải chú ý tới pháp luật nướcngoài Vấn đề lựa chọn pháp luật để áp dụng trong ly hôn có yếu tố nước ngoàicũng là một điều khá trọng Nếu lựa chọn không đúng thì bản án hoặc Quyếtđịnh có thể bị hủy Đặc biệt là pháp luật cùa nước nơi thường trú chung của vợchồng hay là pháp luật nơi có bất động sản của vợ chồng

Từ các cơ sở trên ta có thể thấy quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài cómột trong các yếu tố sau:

Trang 19

- Yếu tố làm chấm dứt quan hệ hôn nhân:

Bao gồm căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân Đóchính là sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ hôn nhân Điều kiện để xác địnhviệc ly hôn có yếu tố nước ngoài hay không trong trường hợp này là sự kiện pháp

lý đó phải theo pháp luật nước ngoài hoặc xảy ra ở nước ngoài

Đối với những quan hệ này, yếu tố chủ thể không được đặt ra Nghĩa là,trong trường hợp các bên chủ thể tham gia đều là công dân Việt Nam, nhưng nếu

sự kiện pháp lý là chấm dứt quan hệ hôn nhân xảy ra ở nước ngoài hoặc theopháp luật nước ngoài thì quan hệ đó là quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

- Yếu tố vị trí của tài sản liên quan đến quan hệ ly hôn:

Trong trường hợp này, không cần xét đến hai yếu tố trên, nếu tài sản liênquan đến quan hệ ly hôn không nằm trên lãnh thổ Việt Nam mà ở nước ngoài, thìquan hệ đó cũng được coi là quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Bên cạnh đó, một quan hệ ly hôn khi không xét đến cả ba yếu tố trên nhưngnếu quan hệ ly hôn chấm dứt bằng một bản án, quyết định ly hôn của Toà án hoặc

cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài thì đó cũng là một trong những dấuhiệu xác định quan hệ ly hôn đó là quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Như vậy, để xác định một quan lệ ly hôn có yếu tố nước ngoài cần xét đếnmột trong các yếu tố trên, nếu đáp ứng điều kiện đối với ít nhất một yếu tố đểquan hệ ly hôn đó trở thành quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài thì không cầnxét đến các yếu tố còn lại

1.2 Hậu quả pháp lý của ly hôn, ly hôn có yếu tố nước ngoài

Nếu kết hôn là cơ sở pháp lý để hình thành các quan hệ nhân thân và tàisản giữa vợ và chồng thì ly hôn chính là cơ sở pháp lý để làm thay đổi hay chấmdứt các quan hệ đó

Trang 20

Luật Hôn nhân và Gia đình không có những điều khoản cụ thể, riêng biệtquy định về quan hệ nhân thân, tài sản đối với trường hợp ly hôn có yếu tố nướcngoài Việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài phải áp dụng các quy địnhpháp luật chung về điều kiện, căn cứ ly hôn.

1.2.1 Quan hệ nhân thân

Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng là những quyền liên quan đến lợi íchtinh thần gắn liền với nhân thân của vợ chồng trong quan hệ vợ chồng, không cónội dung kinh tế, không định giá được bằng tiền và không thể chuyển giao chongười khác Quyền nhân thân giữa vợ và chồng có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, quyền nhân thân giữa vợ và chồng phát sinh trên cơ sở kết hôn,

gắn liền với quan hệ vợ chồng trong suốt thời kì hôn nhân Các quyền và nghĩa

vụ này chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt Tức là, quan hệ nhân thân giữa

vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân sẽ được bắt đầu bằng việc đăng ký kết hôn.Theo đó, vợ và chồng sẽ có thêm các quyền về hôn nhân gia đình theo quy địnhcủa pháp luật Còn sau khi quyết định, bản án của Tòa án giải quyết ly hôn cóhiệu lực hoặc khi một trong hai bên bị tuyên bố là đã chết thì quan hệ nhân thângiữa vợ và chồng chấm dứt

Thứ hai, quyền nhân thân là quyền gắn liền với cá nhân và không thể là

đối tượng chuyển dịch cho người khác, quyền này có tính độc lập, cá biệt hoá cánhân này với cá nhân khác, không thể trộn lẫn Vì vậy, quyền nhân thân của vợchồng không thể chuyển giao cho người khác, không thể do người khác thựchiện thay mà chỉ phụ thuộc giữa vợ chồng

Thứ ba, các quyền nhân thân giữa vợ và chồng được pháp luật thừa nhận

và bảo vệ Quyền nhân thân của cá nhân được quy định cụ thể tại BLDS và được

cụ thể hóa tại Luật HNGĐ với chủ thể cụ thể là vợ chồng Quyền nhân thân của

vợ chồng được pháp luật quy định trong các quy phạm pháp luật nên có thể thấyquyền này đã được pháp luật thừa nhận và bảo đảm thực hiện

Trang 21

Thứ tư, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng thể hiện mỗi liên hệ tình cảm

giữa vợ và chồng Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tình

nghĩa vợ chồng: "1 Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình 2 Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác." Nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, quan tâm, chăm sóc nhau được điều

chỉnh bằng các nguyên tắc đạo đức, truyền thống và theo phong tục, tập quán củangười Việt Nam rồi sau đó được nâng dần lên thành luật Vi phạm những quy tắcđạo đức chỉ bị xã hội lên án, vi phạm các quy tắc pháp luật sẽ bị xử phạt theo quyđịnh Về nghĩa vụ chung sống, có thể hiểu rằng hôn nhân trước hết là cuộc sốngchung giữa người đàn ông và người phụ nữ: chung nhà, chung bàn ăn và chungchăn gối Tất nhiên, vợ và chồng không nhất thiết phải ở chung, ăn chung, ngủchung một cách liên tục, thường xuyên trong suốt thời kỳ hôn nhân; song, ít nhấtgiữa họ luôn phải có mối liên hệ sâu đậm về phương diện sinh hoạt vật chất vàthân xác Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 ghi nhận một cách rõ ràng nghĩa

vụ chung sống; tuy nhiên, không thể nói rằng mục đích của hôn nhân đã đạt đượcmột khi hai bên kết hôn không thực sự chung sống với nhau Việc không chungsống liên tục trong một thời gian dài có thể dẫn đến những khó khăn trong việcduy trì cơ sở đạo lý và cơ sở thực tế của quy tắc suy đoán con chung của vợchồng

Thứ năm, các quyền và nghĩa vụ nhân thân thể hiện tính dân chủ, bình

đẳng giữa vợ, chồng: Vợ, chồng có quyền bình đẳng trong việc lựa chọn chỗ ở,

nơi cư trú theo Điều 20 Luật hôn nhân và gia đình 2014: "Việc lựa chọn nơi cư

Trang 22

trú của vợ chồng do vợ chồng thỏa thuận, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới hành chính." Vợ,chồng có quyền bình đẳng trong việc lựa chọn tín

ngưỡng: Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhânphẩm, uy tín cho nhau Ngoài ra, vợ chồng còn có quyền bình đẳng trong việclựa chọn việc làm, tham gia vào công tác xã hội theo quy định tại Điều 23 Luật

hôn nhân và gia đình: "Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ tạo điều kiện, giúp đỡ nhau chọn nghề nghiệp; học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội." Vậy quan hệ pháp luật

hôn nhân và gia đình chủ yếu là các quan hệ nhân thân mang tính chất lâu dài,bền vững được nhà nước quy định cụ thể, chặt chẽ và phù hợp trong Luật hônnhân và gia đình 2014

1.2.1.1 Quan hệ giữa vợ và chồng sau ly hôn:

Cũng như các trường hợp ly hôn không có yếu tố nước ngoài, việc ly hôn

sẽ được coi là căn cứ làm chấm dứt quan hệ vợ chồng Việc chấm dứt này có thểxuất phát từ yêu cầu ly hôn đơn phương hoặc do cả hai bên yêu cầu công nhậnthuận tình ly hôn và phải được Toà án công nhận bằng bản án ly hôn hoặc quyếtđịnh công nhận sự thuận tình ly hôn của các đương sự Sau khi bản án hoặcquyết định của Toà án có hiệu lực thì quan hệ vợ chồng sẽ chính thức chấm dứt

1.2.1.2 Quan hệ giữa cha, mẹ và con cái sau ly hôn:

Ly hôn làm chấm dứt quan hệ vợ chồng nhưng không làm chấm dứt quan

hệ giữa cha, mẹ và con chung Việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái là quyền lợiđồng thời là nghĩa vụ của cha mẹ trước và sau khi ly hôn Tuy nhiên, sau khi lyhôn sẽ làm phát sinh một vài vấn đề trong quan hệ giữa cha mẹ và con chung Ví

dụ như sau khi ly hôn, đương nhiên con cái không thể chung sống được với cảcha lẫn mẹ Do vậy, việc giao con chưa thành niên cho một trong hai người nuôi

Trang 23

dưỡng, chăm sóc, giáo dục là điều cần thiết Khi quyết định giao con chưa thànhniên cho ai (trong hai vợ chồng) nuôi dưỡng Toà án phải xem xét đến hoàn cảnhthực tế của mỗi bên, nhằm đảm bảo lợi ích về mọi mặt cho đứa trẻ Bên cạnh vấn

đề giao con cho ai nuôi thì việc cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn, thay đổi nuôi consau ly hôn… cũng là những vấn đề mới phát sinh trong quan hệ cha mẹ, con cáisau khi ly hôn nói chung và ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng

1.2.2 Quan hệ tài sản

Cũng giống như quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản giữa vợ và chồng cũng

sẽ chấm dứt kể từ sau khi bản án hay quyết định của Toà án về việc ly hôn cóhiệu lực pháp luật Tuy nhiên, việc chia tài sản sau ly hôn là vấn đề hết sức phứctạp, từ việc chia tài sản chung của vợ chồng đến việc xác định tài sản riêng củacác bên trong thời kỳ hôn nhân…Đặc biệt, việc giải quyết quan hệ tài sản trong

ly hôn có yếu tố nước ngoài còn gặp khó khăn hơn nữa bởi việc xác định khối tàisản khi tài sản đó ở nước ngoài, việc lựa chọn áp dụng pháp luật nước ngoàitrong trường hợp tài sản là bất động sản ở nước ngoài Do đó, khi giải quyết vấn

đề tài sản trong ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam phải kếthợp việc vận dụng các văn bản pháp luật trong nước, điều ước quốc tế, tập quánquốc tế, đôi khi cả pháp luật nước ngoài

Đối với trường hợp ly hôn có liên quan đến tài sản là bất động sản ở nướcngoài thì việc giải quyết vấn đề tài sản tuân theo pháp luật nơi có tài sản LuậtHôn nhân và Gia đình năm 2014 không có những điều khoản cụ thể và riêng biệt

về quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản đối với trường hợp ly hôn có yếu tố nướcngoài Vì vậy, thông thường khi giải quyết vấn đề này, Thẩm phán sẽ áp dụngpháp luật chung về điều kiện, căn cứ ly hôn Ví dụ thẩm quyền giải quyết vụ việc

ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc Tòa án Việt Nam sẽ áp dụng Luật HNGĐ Việt

Trang 24

Nam, BLDS Việt Nam và các văn bản pháp luật liên quan để giải quyết các vấn

đề hậu quả pháp lý của việc ly hôn nói chung, bao gồm quan nhân thân và quan

hệ tài sản giữa vợ và chồng

1.3 Nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

1.3.1 Các loại nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

Nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài gồm hailoại là nguồn pháp luật quốc gia và nguồn pháp luật quốc tế Trong đó, nguồnpháp luật quốc gia giữ vai trò chủ yếu

1.3.1.1 Nguồn pháp luật quốc gia

Nguồn pháp luật quốc gia bao gồm tất cả các quy định của pháp luật quốcgia liên quan đến vấn đề điều chỉnh pháp lý quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu

tố nước ngoài nói chung và quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng.Nguồn pháp luật quốc gia ở mỗi nước có thể là nguồn thành văn nếu thuộc hệthống Civil Law cũng có thể là nguồn không thành văn nếu thuộc hệ thốngCommon Law hoặc có thể gồm cả nguồn thành văn và không thành văn

Các quy định nói trên ở Việt Nam được quy định chủ yếu trong các vănbản pháp luật sau đây:

- Hiến pháp Quyền của công dân trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói

chung và hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng bao gồm cả lĩnh vực

ly hôn có yếu tố nước ngoài là một trong những quyền cơ bản được Hiến phápkhẳng định Đó là nhân quyền – quyền tối cao của công dân được Nhà nước vàpháp luật tôn trọng, bảo vệ Do vậy, trong các bản Hiến pháp của Việt Nam:Hiến pháp năm 1946; Hiến pháp năm 1960; Hiến pháp năm 1980; Hiến phápnăm 1992, đặc biệt là bản Hiến pháp năm 2013 đều quy định rất rõ quyền này

Trang 25

Đây là những quy định có tính nguyên tắc và trên tinh thần của các quyđịnh này, các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước đã ban hành các bộ Luật, đạoluật và một hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành dưới luật nhằm điều chỉnh lĩnhvực hôn nhân và gia đình nói chung và hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoàinói riêng, bao gồm cả lĩnh vực ly hôn có yếu tố nước ngoài,

2005, Bộ Luật Dân sự Việt Nam năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành đều có những quy định liên quan đến vấn đề hôn nhân gia đình nói chung

và vấn đề ly hôn và ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng

- Luật Hôn nhân và Gia đình Đây là đạo luật chuyên ngành điều chỉnh

quan hệ hôn nhân và gia đình, trong đó có quan hệ ly hôn và ly hôn có yếu tố nướcngoài Trước khi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chúng đã từng có

các đạo luật hôn nhân và gia đình sau đây: Luật Hôn nhân và Gia đình năm

1959, Pháp lệnh về hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với ngườinước ngoài năm 1993, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, Luật Hôn nhân vàGia đình năm 2000 Đi kèm theo từng đạo luật là hệ thống các văn bản hướngdẫn thi hành cụ thể

1.3.1.2 Nguồn pháp luật quốc tế điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

a Điều ước quốc tế

Về mặt lý luận, nguồn quốc tế điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình,trong đó có quan hệ ly hôn và ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng là các Điềuước quốc tế toàn cầu, Điều ước quốc tế khu vực và Điều ước quốc tế songphương Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay mới chỉ có các Điều ước quốc tếkhu vực và song phương giữa các quốc gia có quy định về vấn đề ly hôn có yếu

tố nước ngoài Song các Điều ước quốc tế loại này không điều chỉnh cụ thể mà

Trang 26

chỉ quy định nguyên tắc chọn pháp luật để áp dụng khi giải quyết vấn đề ly hôn

có yếu tố nước ngoài Ví dụ như Công ước La Haye về tư pháp quốc tế năm

1902, công ước Bustamante năm 1928 và nhiều Điều ước quốc tế song phương

về tương trợ tư pháp

Về mặt lý luận, tập quán quốc tế cũng là nguồn pháp luật điều chỉnh quan

hệ hôn nhân và gia đình, trong đó có quan hệ ly hôn và ly hôn có yếu tố nướcngoài Tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nào hệ thống hóa hay tổng hợpđược các tập quán quốc tế cụ thể đã và đang được áp dụng khi giải quyết vấn đềnày trên thực tế Nó chủ yếu được vận dụng với tính chất tập quán quốc gia trongkhuôn khổ loại nguồn quốc gia và do từng quốc gia tự xác định

1.3.2 Mối quan hệ giữa các loại nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn

có yếu tố nước ngoài

Như đã trình bày ở Mục 1.3.1, nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn

có yếu tố nước ngoài gồm hai loại là nguồn pháp luật quốc gia và nguồn phápluật quốc tế Trong đó, nguồn pháp luật quốc gia giữ vai trò chủ yếu Hai loạinguồn này tác động qua lại và bổ sung cho nhau trong việc điều chỉnh quan hệ lyhôn có yếu tố nước ngoài

Theo thông lệ và nguyên tắc xử lý mối quan hệ giữa pháp luật quốc giavới các Điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên trong lĩnh vực dân sự nóichung và trong lĩnh vực ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng, nếu cùng một vấn

đề mà quy định của Điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên khác với quyđịnh của pháp luật quốc gia thì áp dụng các quy định của Điều ước quốc tế đó

Trên thực tế hiện nay, trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình có yếu tố nướcngoài nói chung và ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng, không có các quy

Trang 27

phạm thực chất thống nhất mà mới chỉ có các quy phạm xung đột thống nhất Vìvậy, khi giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài nếu quy định của Điềuước quốc tế mà quốc gia là thành viên khác với quy định của pháp luật quốc giathì ưu tiên áp dụng các quy định của Điều ước quốc tế đó.

1.4 Nguyên tắc và phương pháp điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài

1.4.1 Nguyên tắc điều chỉnh

Trong việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoàinói chung và ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng, ngoài việc phải tôn trọng cácnguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc gia, pháp luật hôn nhân và gia đình quốcgia được áp dụng theo chỉ dẫn của quy phạm xung đột chúng ta còn phải tuântheo một số nguyên tắc đặc thù Cụ thể bao gồm các nguyên tắc sau đây:

- Tôn trọng và bảo vệ quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoàinói chung và quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng phù hợp với pháp luậtquốc gia theo chỉ dẫn của quy phạm xung đột và điều ước quốc tế mà quốc gia làthành viên

- Dành cho người nước ngoài chế độ đãi ngộ quốc dân trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói chung và quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng

- Không áp dụng pháp luật nước ngoài theo chỉ dẫn của quy phạm xungđột, nếu xét thấy hậu quả áp dụng pháp luật nước ngoài trái với trật tự công cộng haycác nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc gia của mình

Các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nướcngoài nói chung và ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng nêu trên hoàn toàn phùhợp với những nguyên tắc cơ bản của tư pháp quốc tế và công pháp quốc tế hiệnđại và sẽ là cơ sở để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các cánhân trong giao lưu dân sự quốc tế góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế,thương mại giữa các quốc gia

Trang 28

1.4.2 Phương pháp điều chỉnh

Về mặt lý luận cũng như trên thực tế, hiện nay có hai phương pháp điềuchỉnh quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài Đó là phương phápthực chất (áp dụng quy phạm thực chất thống nhất) và phương pháp xung đột(phương pháp áp dụng quy phạm xung đột)

Như đã trình bày ở Mục 1.3.2, hiện nay, trên thế giới chưa có quy phạmthực chất thống nhất điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nướcngoài nói chung và ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng nên trong lĩnh vực nàyhiện chỉ có phương pháp áp dụng quy phạm xung đột Và như vậy, các vấn đề cụthể về ly hôn có yếu tố nước ngoài sẽ được giải quyết theo pháp luật quốc giađược quy phạm xung đột chỉ dẫn áp dụng

Các quy phạm xung đột hướng dẫn chọn pháp luật điều chỉnh quan hệ lyhôn có yếu tố nước ngoài bao gồm quy phạm xung đột do quốc gia tự xây dựng

và quy phạm xung đột thống nhất do các quốc gia thỏa thuận xây dựng bằngcách ký kết các Điều ước quốc tế để cùng áp dụng Tuy nhiên, quy phạm xungđột do quốc gia tự xây dựng là chủ yếu Hiện nay, các nước trên thế giới áp dụngcác quy phạm xung đột chủ yếu sau đây để hướng dẫn chọn pháp luật điều chỉnhquan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài:

- Quy phạm xung đột quy định áp dụng luật theo quốc tịch của đương

sự Đây là quy phạm chủ yếu và được áp dụng rộng rãi trên thế giới để giải quyết

xung đột pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nóichung và trong lĩnh vực ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng được quy địnhtrong pháp luật dân sự của nhiều nước trên thế giới và cả trong Công ước LaHaye về tư pháp quốc tế năm 1902, công ước Bustamante năm 1928 và nhiềuđiều ước quốc tế song phương về tương trợ tư pháp

Trang 29

- Quy phạm xung đột quy định áp dụng luật theo nơi cư trú của đương

sự Quy phạm này được áp dụng trong những trường hợp không áp dụng luật theo

quốc tịch của đương sự mà pháp luật quốc gia hoặc điều ước quốc tế quy định Ở Hoa

Kỳ, Vương quốc Anh và một số nước Nam Mỹ quy phạm này còn là quy phạm chủyếu được áp dụng để giải quyết xung đột pháp luật về hôn nhân và gia đình có yếu tốnước ngoài nói chung và trong lĩnh vực ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng

- Quy phạm xung đột quy định áp dụng luật theo nơi có tài sản của vợ chồng Quy phạm này được áp dụng chủ yếu trong lĩnh vực sở hữu, thừa kế bất động

sản v.v…có yếu tố nước ngoài nhưng trong một số trường hợp cũng được áp dụng đểgiải quyết xung đột pháp luật về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung

và trong lĩnh vực ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng

quyền giải quyết vụ việc Quy phạm này được quy định trong pháp luật quốc gia của

các nước và trong cả các Điều ước quốc tế, đặc biệt Điều ước quốc tế về tương trợ tưpháp và được áp dụng chủ yếu trong lĩnh vực tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoàinhưng trong một số trường hợp cũng được áp dụng để giải quyết xung đột pháp luật

về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung và trong lĩnh vực ly hôn cóyếu tố nước ngoài nói riêng

Việc áp dụng quy phạm xung đột nào cụ thể do từng quốc gia tự quy địnhtrong pháp luật quốc gia hoặc thỏa thuận với nhau để quy định trong Điều ướcquốc tế Ví dụ, theo Điều 17 Bộ Luật Dân sự Đức, việc ly hôn được giải quyếttheo luật của nước người chồng mang quốc tịch khi xin ly hôn, và cho phép dẫnchiếu ngược trở lại hoặc dẫn ciếu đến luật của nước thứ ba Đồng thời còn quyđịnh chỉ cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết việc ly hôn khi nộidung của nó phù hợp với điều kiện ly hôn mà pháp luật của Đức quy định

Trang 30

Theo quy định của các nước Đông Âu, vấn đề ly hôn được giải quyết theopháp luật của nước mà vợ chồng mang quốc tịch lúc xin ly hôn (Điều 21 Luật Tưpháp quốc tế của cộng hòa Séc, Điều 17 Luật Tư pháp quốc tế của cộng hòaBalan, Điều 95 Luật Hôn nhân và Gia định của Bungary…) Trường hợp vợchồng có quốc tịch khác nhau lúc xin ly hôn thì áp dụng luật nơi chung sống của

vợ chồng (theo pháp luật Balan) hoặc luật của nước có tòa án giải quyết việc lyhôn (theo pháp luật của cộng hòa Séc)v.v…

Việc áp dụng luật nơi cư trú của vợ chồng cũng được nhiều nước quy định

Ví dụ, theo pháp luật của Pháp, việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật nơi cưtrú chung của hai vợ chòng; trường hợp vợ chồng không có nới thường trú chungthì áp dụng pháp luật của nước mà vợ chồng mang quốc tịch Tòa án Pháp cũngvẫn công nhận một số trường hợp việc ly hôn được giải quyết trên cơ sở phápluật nước ngoài mặc dù điều kiện ly hôn không được pháp luật của pháp quyđịnh

Việc áp dụng luật của nước mà tòa án giải quyết việc ly hôn là thực tiễnphổ biến ở các nước như Anh, Hoa Kỳ, Singapore, Thụy Sỹ và Trung Quốc….Như vậy, việc xác định thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết vấn đề lyhôn cũng đồng thời là xác định luật áp dụng cho bản thân việc ly hôn Ở cácnước này, thẩm quyền của tòa án thường được xác định theo nơi cư trú củađương sự (theo quy định của nước Anh, là nơi cư trú của người chồng), mặc dù,

về nội dung, khái niệm nới cư trú ở các nước không hoàn toàn giống nhau

Trang 31

Kết luận chương 1

Từ những nội dung đã trình bày ở trên, có thể nói chương 1 đã góp phần lýgiải rõ thêm một số vấn đề lý luận cơ bản làm nền tảng cho việc phân tích vàđánh giá nội dung các vấn đề sẽ được trình bày ở các chương 2 và 3 Cụ thể,

chương 1 đã làm rõ khái niệm “ly hôn có yếu tố nước ngoài”, sự thống nhất của

các văn bản pháp luật Việt Nam trong việc xác định khái niệm này Tác giả đã

rút ra kết luận của mình như sau: “Ly hôn có yếu tố nước ngoài là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng giữa vợ và chồng mà ít nhất một trong hai bên là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; hoặc giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài; hoặc tài sản liên quan đến việc ly hôn ở nước ngoài”.

Tác giả cũng đã phân tích làm rõ thêm hậu quả của việc ly hôn; nguồnpháp luật điều chỉnh vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài, mối quan hệ giữa cácloại nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài; các nguyêntắc và các phương pháp điều chỉnh vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài

Đặc biệt, tác giả đã nhấn mạnh rằng hiện nay trên thế giới chưa có quyphạm thực chất thống nhất điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tốnước ngoài nói chung và ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng nên trong lĩnhvực này hiện chỉ có phương pháp áp dụng quy phạm xung đột Và như vậy, cácvấn đề cụ thể về ly hôn có yếu tố nước ngoài hiện nay được giải quyết theo phápluật quốc gia được quy phạm xung đột chỉ dẫn áp dụng

Các quy phạm xung đột hướng dẫn chọn pháp luật điều chỉnh quan hệ lyhôn có yếu tố nước ngoài bao gồm quy phạm xung đột do quốc gia tự xây dựng

Trang 32

và quy phạm xung đột thống nhất do các quốc gia thỏa thuận xây dựng bằngcách ký kết các Điều ước quốc tế để cùng áp dụng Tuy nhiên, quy phạm xungđột do quốc gia tự xây dựng là chủ yếu.

Tác giả cũng đã phân tích một số quy phạm xung đột chủ yếu hiện nayđang được các quốc gia trên thế giới áp dụng Đây cũng chính là các bài họckinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng và thực thi pháp luật quốc giacũng như ký kết các Điều ước quốc tế để điều chỉnh quan hệ hôn nhân và giađình có yếu tố nước ngoài nói chung và ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng

Trang 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ MÀ VIỆT NAM KÝ KẾT VÀ THAM GIA VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT LY HÔN

CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

2.1 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về ly hôn có yếu tố nước ngoài

Chế định ly hôn có yếu tố nước ngoài được quy định ngày càng chặt chẽ

và phát triển cùng với sự phát triển chung của các quy định về hôn nhân và giađình nói chung Mặt khác, do vấn đề này không chỉ chịu sự điều chỉnh của phápluật quốc gia mà còn chịu sự tác động của những hệ thống pháp luật khác nhaunhư Điều ước quốc tế, tập quán quốc tế Do đó, việc phát triển của các quy định

về ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng phụ thuộc nhiều vào quá trình phát triển về

ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật quốc tế

2.1.1 Giai đoạn trước năm 1945

Trong giai đoạn này, nước ta là một nước thuộc địa nửa phong kiến Đấtnước bị chia cắt làm ba miền với những chính sách kinh tế văn hóa và pháp luậtkhác nhau Cũng theo đó mà các quan hệ dân sự chịu sự điều chỉnh theo phápluật dân sự của ba miền riêng biệt, đó là: Dân pháp điển Bắc kỳ (1931) áp dụngcho Bắc kỳ; Dân pháp điển Trung kỳ (1936) áp dụng cho Trung kỳ và Pháp quygiản yếu (1883) áp dụng cho Nam kỳ

Sau này, dù có luật mới thay thế nhưng vấn đề ly hôn có yếu tố nướcngoài vẫn chưa được đề cập một cách cụ thể Trên thực tế, các bộ luật này cómột số quy phạm đề cập đến vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài nhưng khôngnhằm điều chỉnh quan hệ này mà chỉ tập trung điều chỉnh về vấn đề quốc tịch

Trang 34

Về cơ bản, nguyên nhân chính dẫn đến việc các quy định về ly hôn có yếu

tố nước ngoài không được quy định tại các văn bản pháp luật này do tại thờiđiểm đó, vấn đề giao lưu quốc tế chưa được mở rộng, quan hệ hôn nhân có yếu

tố nước ngoài xảy ra ít cùng với tư tưởng thời kỳ cũ nên vấn đề ly hôn nói chung

và đặc biết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài ít xảy ra

2.1.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi có Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986

2.1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954

Trong giai đoạn này, vẫn chưa có điều luật nào quy định trực tiếp, cụ thể

về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài

Với tinh thần kháng chiến cứu nước và kiến quốc được đặt lên hàng đầunên hoạt động lập pháp chưa được Nhà nước quan tâm và chú trọng Do đó, hệthống văn bản pháp luật nói chung và các văn bản pháp luật về hôn nhân và giađình nói riêng rất ít được ban hành Dù vậy, các quy định chung cũng vẫn có thểdùng để áp dụng đối với trường hợp xảy ra ly hôn có yếu tố nước ngoài Ví dụ:Điều 1 Sắc lệnh số 51-SL ngày 17/4/1946 quy định về thẩm quyền của Tòa ántrong việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, tuy chỉ rất chung

chung: "Trong toàn cõi Việt Nam, các Tòa án Việt Nam có thẩm quyền đối với mọi người, bất cứ quốc tịch nào" Đặc biệt, pháp lệnh số 159-SL ban hành

17/11/1950, là một văn bản pháp luật riêng biệt đầu tiên đề cập đến vấn đề lyhôn Thông qua các Sắc lệnh này đã có rất nhiều điểm mới, tiến bộ so với cácquy định trước đó về vấn đề này như vấn đề về tự do ly hôn là quyền của cả vợ

và chồng; các nguyên nhân ly hôn, thủ tục ly hôn và hiệu lực của việc ly hôn đềuđược quy định một cách cụ thể, rõ ràng hơn trước rất nhiều, tạo cơ sở pháp lí đểcác cơ quan có thẩm quyền có thể xử lí nhanh chóng và chính xác

Trang 35

2.1.2.2 Giai đoạn từ 1954 đến 1975

Trong giai đoạn này, miền Nam và miền Bắc Việt Nam chịu sự điều chỉnhcủa các quy định khác nhau Do đó, vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài cũngchịu sự điều chỉnh khác nhau

+ Ở miền Bắc: Luật Hôn nhân và Gia đình 1959 ra đời đánh dấu một bước

ngoặt trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình trong thờigian bấy giờ Trên cơ sở các quy định của Hiến Pháp về vấn đề liên quan đến hônnhân, về tố tụng thì những quy định cụ thể như việc hòa giải, chấp nhận thuận tìnhcủa vợ chồng trong ly hôn… đã tách quan hệ hôn nhân gia đình ra khỏi ngành luậtdân sự Tuy vậy, cho đến thời điểm này thì vẫn chưa có quy định riêng cho việc giảiquyết ly hôn có yếu tố nước ngoài

đoạn này, dưới chính quyền phản động, vấn đề ly hôn giữa vợ và chồng không đượccông nhận thể hiện một tư tưởng phản động, thụt lùi của chính quyền này trong việcgiải quyết các vụ án hôn nhân gia đình Theo đó vợ chồng không được phép ly hôn,cấm vợ chồng ruồng bỏ nhau, quy định trừng phạt nghiêm khắc về hnh sự đối với cáctrường hợp ngoại hôn…đã tạo ra sự mâu thuẫn sâu sắc trong ðời sống chung vợchồng khi mà tình cảm vợ chồng không còn nữa, đời sống chung không thể kéo dàinhưng vẫn phải tiếp tục duy trì Tuy đã có quy định về vấn đề hôn nhân có yếu tốnước ngoài tại các Điều 24, 25, 70 trong Luật Gia đình nhưng chỉ là những quy định

về thủ tục và tính hợp pháp của hôn thú mà không có quy định về nội dung ly hôn cóyếu tố nước ngoài đúng như theo tinh thần chung của Luật này

Cho đến năm 1972 khi Bộ Dân Luật ra đời thì những quy định về cấm lyhôn giữa vợ và chồng mới được thay thế Bộ luật này có quy định về quan hệhôn nhân có yếu tố nước ngoài nhưng cũng vẫn chỉ là quy định về thủ tục và cácđiều kiện hôn thú mà chưa có quy định về vấn đề ly hôn

Trang 36

2.1.2.3 Giai đoạn từ 1975 đến 1986

Miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất Do vậy trong giai đoạn này,pháp luật trong cả nước được thống nhất, những quan hệ hôn nhân gia đình đượcgiải quyết theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 Giai đoạn này Luật Hônnhân và Gia đình 1959 vẫn là căn cứ chính để xem xét, giải quyết các vụ việc mà

ít có sự thay đổi bổ sung đáng kể nào

2.1.3 Giai đoạn từ 1986 đến trước khi có Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000

Trước sự đổi mới toàn diện của đất nước cũng như những biến độngkhông ngừng của thế giới kéo theo sự đổi mới và hoàn thiện của pháp luật quốcgia là điều cần kíp để điều chỉnh kịp thời mọi lĩnh vực trong xã hội Trong đó,các quy định pháp lý về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ngàycàng hình thành rõ nét và cụ thể hơn

Về nội dung, Luật Hôn nhân và Gia đình 1986 ra đời thay thế cho Luật

Hôn nhân và Gia đình 1959, đã dành hẳn một chương riêng quy định về quan hệ

vợ chồng, quan hệ tài sản, quan hệ cha mẹ và con, hủy việc kết hôn, ly hôn, nuôicon và đỡ đầu giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài… với những quyđịnh khá cụ thể và riêng biệt này đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước tới lĩnhvực này, phù hợp với đòi hỏi của thực tế ở giai đoạn này

Về tố tụng, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ra đời ngày

29/11/1989, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1990 có ý nghĩa đặc biệt quantrọng trọng việc quy định về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, trong đó có các

vụ án hôn nhân gia đình

Pháp lệnh về hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với ngườinước ngoài được Chủ tịch nước công bố ngày 15/12/1993, có hiệu lực thi hành

từ ngày 01/3/1994 đã đánh dấu sự phát triển quan trọng của pháp luật Việt Nam

Trang 37

trong việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, trong đó việc lyhôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được quy định trong mộtmục riêng (Mục 4, Chương 2) đã cụ thể hoá các quy định này trong Luật Hônnhân và Gia đình năm 1986 Đây là văn bản pháp luật riêng biệt đầu tiên củaViệt Nam điều chỉnh một phần quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài và cũng

là văn bản đầu tiên quy định áp dụng tập quán quốc tế để điều chỉnh quan hệnày Tuy vậy, Pháp lệnh về hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam vớingười nước ngoài năm 1993 chỉ điều chỉnh một phần quan hệ hôn nhân có yếu tốnước ngoài, bởi nó mới điều chỉnh quan hệ hôn nhân giữa công dân Việt Nam vàngười nước ngoài còn quan hệ hôn nhân của công dân Việt Nam với nhau diễn ra

ở nước ngoài và quan hệ hôn nhân của các công dân nước ngoài với nhau trên lãnh thổ Việt Nam thì chưa được Pháp lệnh đề cập đến

Để góp phần vào việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, các văn bản pháp luật liên quan khác cũng lần lượt được ban hành, cụ thể:

- Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sựcủa toà án nước ngoài ngày 17.4.1993, trong đó quy định về nguyên tắc, thẩm quyền,thủ tục công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của toà án nướcngoài (trong đó có các bản án, quyết định của toà án nước ngoài tuyên về vấn đề lyhôn);

- Pháp lệnh thi hành án dân sự, được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thôngqua ngày 21.4.1993, quy định về vấn đề thi hành án các bản án, quyết định dân sự,trong đó có vấn đề ly hôn của Toà án nước ngoài tuyên, được quy định tại điểm dKhoản 1 Điều 3

Nội dung các quy định trong hai Pháp lệnh kể trên là cơ sở pháp lý để các

cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện nhiệm vụ của mình trong việcthi hành các bản án, quyết định về ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

Trang 38

Trong các năm 1991 đến 1993, cùng với việc mở rộng quan hệ hợp tác,giao lưu giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới, vấn đề hônnhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ngày càng đa dạng, phong phú Các việc

ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng ngày một gia tăng Để việc giải quyết các vụviệc ly hôn có yếu tố nước ngoài một cách nhanh chóng, có hiệu quả, Toà ánnhân dân tối cao đã liên tiếp có nhiều Công văn hướng dẫn về thủ tục tố tụngtrong việc giải quyết các vụ việc ly hôn có một bên đương sự ở nước ngoài như:Công văn số 130/NCPL ngày 16/10/1991, Công văn số 29/NCPL ngày06/4/1992, Công văn số 517/NCPL ngày 09/10/1993 Các Công văn này hướngdẫn cách thức điều tra, lấy lời khai của đương sự ở nước ngoài, đường lối giảiquyết đối với các trường hợp uỷ thác điều tra lấy lời khai của bị đơn ở nướcngoài không có kết quả

Trong giai đoạn này, góp phần không nhỏ vào việc điều chỉnh các quan hệ

ly hôn phải kể đến sự ra đời của Bộ luật Dân sự được Quốc hội nước cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 28/10/1995

Về quyền ly hôn được quy định tại Điều 38 như sau: “Ly hôn được coi là quyền của mỗi bên vợ chồng, theo đó vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu toà án cho chấm dứt quan hệ hôn nhân khi có lý do chính đáng”.

Ngoài ra, còn phải kể đến Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998, Nghị định số83/1993/NĐ-CP ngày 10/10//1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch Hai văn bảnnày đã có một số quy định về hộ tịch trong vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài

Có thể nói, giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2000 đã đánh dấu sự phát triểnđáng kể của pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam Mặc dù , cácvăn bản này đã không còn hiệu lực ở thời điểm hiện tại nhưng những nội dung cơbản của các văn bản kể trên đã được kế thừa và ghi nhận trong các văn bản phápluật hiện hành

Trang 39

2.1.4 Giai đoạn từ 2000 đến trước khi có Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014

Qua hơn 13 năm thi hành, những nguyên tắc cơ bản và các quy định chungcủa Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 vẫn tiếp tục phát huy hiệu lực trongđời sống xã hội, được nhân dân tôn trọng và chấp hành Tuy nhiên, Luật Hônnhân và Gia đình năm 1986 ban hành trong những năm đầu của thời kỳ đổi mớinên nhiều quy định của luật chưa phù hợp với sự vận động của các quan hệ hônnhân và gia đình trong cơ chế thị trường và sự giao lưu kinh tế trong điều kiện

“mở cửa và hội nhập” với các nước trong khu vực và trên thế giới Do đó, việcban hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 trên cơ sở cụ thể hoá Hiến phápnăm 1992 và các quy định của Bộ luật Dân sự 1995 về hôn nhân và gia đình và

kế thừa - phát triển những nguyên tắc cơ bản và các quy định còn phù hợp củaLuật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 là một yêu cầu bức thiết, đáp ứng đượcyêu cầu đòi hỏi của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã dành hẳn một chương riêng(Chương XI) gồm 7 Điều quy định về chế độ hôn nhân và gia đình có yếu tố nướcngoài Riêng ly hôn có yếu tố nước ngoài được quy định tại các Điều 102 và 104Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã chấm dứt hiệu lực của Pháp lệnh về hônnhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài năm 1993

Nhằm cụ thể hoá một số quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm

2000 về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Chính phủ đã banhành Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 về Quy định chi tiết một sốđiều của Luật Hôn nhân và Gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tốnước ngoài

Tại kỳ họp thứ V, Quốc hội khoá XI, năm 2004, Quốc hội đã thông qua

Bộ Luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt

Trang 40

Nam BLTTDS 2004 đã quy định cụ thể về thẩm quyền, trình tự, thủ tục giảiquyết các vụ việc dân sự, việc dân sự, trong đó có cả các vụ việc dân sự, việc dân

sự về ly hôn nói chung và ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng BLTTDS 2004

ra đời, cùng với các văn bản pháp luật nội dung khác đã tạo cơ sở pháp lý vữngchắc để giải quyết các vụ việc về ly hôn có yếu tố nước ngoài

Tuy nhiên, trải qua khoảng thời gian khá dài (hơn 10 năm thi hành), trongkhi Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ ngoại giao, kinh tế, thương mại vớinhiều nước trên thế giới, vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài nói chung và lyhôn có yếu tố nước ngoài nói riêng đã diễn ra ngày càng phố biến và đa dạng,phức tạp Vì vậy, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã bộc lộ những hạn chế,bất cập, đòi hỏi phải có quy định bổ sung để phù hợp với thực tế Năm 2013,Nghị định 24/2013/NĐ-CP của chính phủ quy định chi tiết thi hành một số Điềucủa Luật Hôn nhân và Gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nướcngoài đã thay thế Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 củaChính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình

về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Nghị định

24/2013/NĐ-CP ra đời được cho là phù hợp với tình hình thực tế tại thời điểm đó

Tuy nhiên, Nghị định 24/2013/NĐ-CP được thi hành chưa được bao lâuthì Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 được ban hành, thay thế Luật Hôn nhân

và Gia đình năm 2000 cùng các văn bản hướng dẫn

2.1.5 Từ năm 2014 đến nay

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 được ban hành đã kế thừa các quyđịnh tiến bộ của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, được xây dựng dựa trêntinh thần của Hiến pháp năm 2013 và có sự điều chỉnh phù hợp với tình hìnhthực tế

Ngày đăng: 04/11/2020, 15:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w