1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Công ước viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

100 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 94,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Công ước Viên năm 1980 CISG về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một trong những công ước quốc tế về thương mại được phê chuẩn và ápdụng rộng rãi nhất hiện n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ MAI

C¤NG ¦íC VI£N N¡M 1980

VÒ HîP §åNG MUA B¸N HµNG HãA QUèC TÕ

Chuyên ngành: Luật quốc tế

Mã số: 60 38 01 08

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN LAN NGUYÊN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu củariêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trongbất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trongLuận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đãhoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụtài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét đểtôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Mai

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG ƯỚC VIÊN NĂM 1980 VÀ ĐẶC ĐIỂM HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 5

1.1 Tổng quan về Công ước viên năm 1980 5

1.1.1 Định nghĩa và mục đích của Công ước 5

1.1.2 Sơ lược về lịch sử Công ước Viên 1980 6

1.1.3 Quá trình tham gia Công ước viên 7

1.1.4 Thành công của Công ước viên 1980 9

1.2 Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo các nguồn 16

1.2.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 16

1.2.2 Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 19

1.2.3 Nguồn luật điều chỉnh của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 20

Chương 2: NỘI DUNG CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG ƯỚC ĐẾN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 23

2.1 Nội dung của Công ước viên năm 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 23

2.1.1 Về phạm vi áp dụng của Công ước 23

2.1.2 Về xác lập hợp đồng trong Công ước 24

Trang 4

2.1.3 Về mua bán hàng hóa 28

2.1.4 Các quy định cuối cùng 37

2.2 Ảnh hưởng của Công ước viên năm 1980 đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam 47

2.2.1 Luật áp dụng cho hợp đồng 47

2.2.2 Hiệu lực của hợp đồng 48

2.2.3 Giao kết hợp đồng 49

2.2.4 Đề nghị giao kết hợp đồng 50

2.2.5 Chấp Nhận giao kết hợp đồng 51

2.2.6 Hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng 52

2.2.7 Hình thức của hợp đồng 54

2.2.8 Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng 56

Chương 3: SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC VIỆT NAM GIA NHẬP CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ ĐỀ XUẤT VIỆC GIA NHẬP CỦA VIỆT NAM 60

3.1 Sự cần thiết của việc Việt Nam gia nhập Công ước viên 1980 60

3.1.1 Những lợi ích của việc Việt Nam gia nhập CISG 63

3.1.2 Bất lợi của Việt Nam khi tham gia Công ước Viên 73

3.2 Những đề xuất, kiến nghị về việc Việt Nam gia nhập Công ước viên năm 1980 76

3.2.1 Đề xuất Việt Nam nên tham gia Công ước Viên 1980 76

3.2.2 Đề xuất thời gian chuẩn bị phù hợp cho việc gia nhập CISG 79

3.3 Kiến nghị một số giải pháp cho việc Việt Nam gia nhập CISG 81

KẾT LUẬN 88

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLDSVN: Bộ luật dân sự Việt Nam

CISG: Công ước viên năm 1980 về hợp đồng

mua bán hàng hóa quốc tế

EC: Ủy ban châu Âu

HĐMBHH: Hợp đồng mua bán hàng hóa

ICC: Phòng Thương mại quốc tế

ITC: Trung tâm Thương mại Quốc tế

UCC: Bộ luật thương mại thống nhất

UNCITRAL: Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật

thương mại quốc tếUNIDROIT: Viện nghiên cứu quốc tế về thống nhất

luật tưXHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công ước Viên năm 1980 (CISG) về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc

tế là một trong những công ước quốc tế về thương mại được phê chuẩn và ápdụng rộng rãi nhất hiện nay, với 83 nước thành viên (tính đến thời điểm hiệnnay), ước tính CISG điều chỉnh khoảng 3/4 giao dịch thương mại quốc tế.Công ước này đã thống nhất hóa và khắc phục được nhiều mâu thuẫn giữa các

hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới, đóng vai trò quan trọng trong việcgiải quyết các xung đột pháp luật trong thương mại quốc tế và thúc đẩythương mại quốc tế phát triển, đem lại sự công bằng cho các thương vụ muabán quốc tế

Đáng tiếc Việt Nam hiện nay vẫn chưa phải thành viên của CISG, hầuhết các doanh nghiệp Việt Nam được tiếp xúc chưa nhiều, chưa có nhiềuthông tin về CISG, và chưa được hưởng nhiều lợi ích rõ ràng từ Công ước nàytrong các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế của mình Việc nghiên cứu vềCông ước này là hết sức cần thiết trong thời điểm hiện tại, khi mà nền kinh tếViệt Nam ngày càng hội nhập với nền kinh tế thế giới

Do đó, việc nghiên cứu đề tài: “Công ước Viên năm 1980 (CISG) về

hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” là cần thiết và có ý nghĩa lý luận, thực

tiễn quan trọng trong thời điểm hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu

Trên thế giới, hầu hết các cường quốc thương mại trên thế giới trong đó

có nhiều quốc gia là bạn hàng lớn và lâu dài của Việt nam đều đã gia nhậpCông ước Viên như Pháp, Mỹ, Italia, Liên bang Nga, Canada, Đức, Hà Lan,Australia, Trung Quốc… còn tại khu vực châu Á là các quốc gia mới gia nhậpnhư Hàn Quốc và Nhật Bản Việc Công ước Viên 1980 trở thành nguồn luật

Trang 7

của tất cả những quốc gia này và được khuyến khích sử dụng cho mọi giaodịch thương mại quốc tế có thể thấy có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt độngmua bán hàng hóa quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam.

Do đó, tác giả nghiên cứu luận văn mong muốn nghiên cứu, phân tíchnhững nội dung cơ bản của CISG và đưa ra những đề xuất, kiến nghị về việcViệt Nam gia nhập Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế và các giải pháp cụ thể cho việc Việt Nam gia nhập Công ước Viênnăm 1980 thông qua đó thúc đẩy việc gia nhập Công ước viên năm 1980 củaViệt Nam trong thời gian tới

3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Mục đích nghiên cứu của luận văn: Nghiên cứu lãm rõ thêm một sốvấn đề lý luận cơ bản về ký kết hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bêntrong hợp đồng, hàng hoá trong hợp đồng, việc chuyển rủi ro, bồi thường thiệthại,…; Những đề xuất và kiến nghị về vấn đề Việt Nam gia nhập Công ướcviên năm 1980

- Về phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi đề tài thuộc chuyên ngànhluật Tư pháp quốc tế, tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu những vấn đề cơbản sau đây: Nghiên cứu những nội dung cơ bản của „Công ước Viên năm

1980 (CISG) về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”; sự cần thiết của việcViệt Nam gia nhập Công ước viên 1980 (CISG) về hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế cũng như đề ra các giải pháp, những kiến nghị thúc đẩy việc gianhập CISG của Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận chung của Luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trên nền tảng phương pháp luận đó, tác giả ápdụng các phương pháp cụ thể như: Phương pháp hệ thống, thống kê, phântích, so sánh, tổng hợp

Trang 8

5 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn

Trong quá khứ, ngay tại thời điểm Công ước Viên bắt đầu có hiệu lực(năm 1989), ở Việt Nam những chuyên gia và các nhà nghiên cứu pháp luật

đã bắt đầu có những nghiên cứu về Công ước này và những lợi ích của ViệtNam khi tham gia Công ước Từ góc độ các cơ quan quản lý Nhà nước, cầnphải kể đến nghiên cứu của TS Đinh Thị Mỹ Loan và các cán bộ nghiên cứuthuộc Vụ Pháp chế Bộ Ngoại thương (nay là Bộ Công Thương) về vấn đề này.Nghiên cứu đã cho thấy những lợi ích nổi trội mà Công ước có thể mang lạicho hoạt động thương mại quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam cũng nhưcho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về lĩnh vực này Từ đó,nghiên cứu đã khuyến nghị Chính phủ Việt Nam nhanh chóng tham gia Côngước này Tiếc rằng sau đó, trong bối cảnh đổi mới kinh tế khó khăn, phức tạp,Chính phủ đã không dành ưu tiên cho công việc này Gần đây hơn, năm 2007,

trong khuôn khổ Dự án “Nâng cấp Hệ thống pháp lý thương mại đa phương của Việt Nam” do Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) tiến hành với sự

hỗ trợ của Ủy ban châu Âu (EC), Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC), phốihợp với các Bộ ngành liên quan (Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Tổng Cục Hảiquan, Đoàn Luật sư Hà Nội, Đại học Luật Hà Nội và Đại học Ngoại thương),nhóm nghiên cứu đã tiến hành rà soát khoảng 200 Điều ước thương mại quốc

tế quan trọng trên thế giới và đánh giá khả năng Việt Nam tham gia các Côngước này Tuy nhiên, khi nghiên cứu CISG, học viên tiếp cận ở một góc độhoàn toàn mới cụ thể như:

Thứ nhất, Việt Nam vẫn cần tăng cường tham gia vào các điều ước

quốc tế đa phương quan trọng trong lĩnh vực thương mại Công ước Viên vềmua bán hàng hóa quốc tế là một trong số các điều ước quốc tế đa phươngquan trọng nhất mà Việt Nam được khuyến nghị phê chuẩn trong thời giansớm nhất có thể

Trang 9

Thứ hai, Khẳng định bản chất tiến bộ, dân chủ và ngày càng phù hợp

với thông lệ quốc tế của pháp luật dân sự Việt Nam điều chỉnh các quan hệhợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế Thông qua đó, đề cao vai trò của phápluật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, góp phần ổn địnhcác quan hệ xã hội dân sự, phục vụ tích cực công cuộc đổi mới đất nước

Thứ ba, Gia nhập Công ước không chỉ góp phần hiện thực hóa chủ

trương hội nhập quốc tế một cách tích cực, chủ động và toàn diện của Đảng

và Nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển nội tại của quan hệ kinh tế, thươngmại có yếu tố nước ngoài mà còn nâng cao vai trò của Việt Nam trong hoạtđộng hài hóa hóa pháp luật trong lĩnh vực tư pháp quốc tế

6 Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn:

Luận văn đã đã phân tích và làm rõ những nội dung cơ bản của Công ướcViên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và ảnh hưởng của Côngước đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam.Trên cơ sở đó, học viên đã đưa ra những đề xuất, kiến nghị về việc Việt Nam gianhập Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và cácgiải pháp cụ thể cho việc Việt Nam gia nhập Công ước Viên năm 1980 thông qua

đó thúc đẩy việc gia nhập Công ước viên năm 1980 của Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,nội dung của luận văn gồm 3 chương sau:

- Chương 1: Tổng quan về Công ước Viên 1980 và đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

- Chương 2: Những nội dung của Công ước Viên

1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và ảnh

hưởng của Công ước đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

- Chương 3: Sự cần thiết của việc Việt Nam gia nhập công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa

quốc tế và một số giải pháp cho việc gia nhập

Trang 10

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ CÔNG ƯỚC VIÊN NĂM 1980 VÀ

ĐẶC ĐIỂM HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

1.1 Tổng quan về Công ước viên năm 1980

1.1.1 Định nghĩa và mục đích của Công ước

- Định nghĩa: Theo ngôn ngữ tập quán, Công ước Liên Hợp Quốc vềmua bán hàng hóa quốc tế (“Công ước” hay là “CISG”) là một hiệp ước haybản hợp đồng có tính chất ràng buộc giữa các nước Nó thiết lập một loạtnhững quy tắc điều chỉnh những mặt cụ thể trong việc ký kết và thực hiện cáchợp đồng thương mại giữa người bán và người mua mà trụ sở thương mại của

họ ở các nước khác nhau Bằng việc thừa nhận nó, một nước sẽ cam kết vớicác nước khác cũng thừa nhận Công ước này sẽ thừa nhận các quy tắc củaCông ước như một phần của pháp luật nước đó

- Mục đích: Mục đích của CISG là tạo thuận lợi và hiệu quả cho việcmua bán nguyên liệu thô, hàng tiêu dùng, hàng chế tạo trong thương mại quốc

tế Nếu không có Công ước sẽ có nhiều nguy cơ dẫn đến sự không chắc chắn

và các tranh chấp Luật mua bán hàng hóa ở các nước khác nhau thì thường làkhác nhau Trong giao dịch quốc tế, thường xảy ra vướng mắc về vấn đề luậtnước nào sẽ điều chỉnh Khi vướng mắc này xảy ra, các bên sẽ không chắcchắn về quyền và nghĩa vụ của mình Sự không chắc chắn này tạo nên sựkhông hiệu quả và ý chí không tốt CISG chứa đựng các quy tắc điều chỉnhquá trình tạo lập và giải thích hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Nó cũngcung cấp các quy tắc điều chỉnh nghĩa vụ và các biện pháp khắc phục của cácbên trong giao dịch nói trên CISG không hạn chế sự tự do của người bán vàngười mua trong việc soạn thảo hợp đồng cho phù hợp với điều kiện của họ.Nhìn chung, bạn được tự do sửa đổi các quy tắc của Công ước hoặc chấp nhận

có áp dụng Công ước hay không

Trang 11

1.1.2 Sơ lược về lịch sử Công ước Viên 1980

Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế (viết tắt theo tiếng Anh là CISG - Convention on Contracts for theInternational Sale of Goods) được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp Quốc

về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) với nỗ lực hướng tới việc thốngnhất nguồn luật áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế Việcthống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đãđược khởi xướng từ những năm 30 của thế kỷ 20 bởi UNIDROIT (Việnnghiên cứu quốc tế về thống nhất luật tư) Unidroit đã cho ra đời hai Côngước La Haye năm 1964 là:

- Công ước thứ nhất “Luật thống nhất về thiết lập hợp đồng mua bánquốc tế các động sản hữu hình”, điều chỉnh việc hình thành hợp đồng (chàohàng, chấp nhận chào hàng);

- Công ước thứ hai “Luật thống nhất cho mua bán quốc tế các động sảnhữu hình”, đề cập đến quyền và nghĩa vụ của người bán, người mua và cácbiện pháp được áp dụng khi một hay các bên vi phạm hợp đồng

Tuy nhiên, trên thực tế hai Công ước La Haye năm 1964 rất ít được áp dụng Theo các chuyên gia, có 4 lý do chính sau đây:

- Hội nghị La Haye chỉ có 28 nước tham dự, có rất ít đại diện từ cácnước XHCN và các nước đang phát triển, vì thế người ta cho rằng các Côngước này được soạn có lợi hơn cho người bán từ các nước tư bản;

- Các Công ước này sử dụng các khái niệm quá trừu tượng và phức tạp nên rất dễ gây hiểu nhầm;

- Các Công ước này có xu hướng thiên về thương mại giữa các quốc gia cùng chung biên giới hơn là thương mại quốc tế liên quan đến vận tải biển;

- Quy mô áp dụng của hai Công ước trên quá rộng, được áp dụng bất kể

có xung đột pháp luật hay không

Trang 12

Năm 1968, trên cơ sở yêu cầu của đa số các thành viên Liên Hợp Quốc,UNCITRAL đã khởi xướng việc soạn thảo một Công ước thống nhất về phápluật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhằm thay thế cho haiCông ước La Haye năm 1964 Công ước Viên ra đời, được soạn thảo dựa trênhai Công ước La Haye, song có những điểm đổi mới và hoàn thiện cơ bản.Công ước được thông qua tại Viên (Áo) ngày 11 tháng 04 năm 1980 tại Hộinghị của Ủy ban của Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế với sự có mặtcủa đại diện của khoảng 60 quốc gia và 8 tổ chức quốc tế và có hiệu lực từngày 01/01/1988.

1.1.3 Quá trình tham gia Công ước viên

Kể từ khi được ký kết vào năm 1980 đến nay, Công ước Viên đã trảiqua 30 năm với nhiều dấu mốc trong việc mở rộng các nước thành viên Cóthể tạm chia các làn sóng gia nhập CISG của các nước theo 4 giai đoạn sau:

Giai đoạn 1 (1980-1988): Đây là giai đoạn 10 nước đầu tiên phê chuẩn

Công ước để đủ số lượng cho phép Công ước có hiệu lực 10 nước này là: AiCập, Argentina, Cộng hòa Ả Rập, Syrian, Hoa Kỳ, Hungary, Italy, Lesotho,Pháp, Trung Quốc, Zambia Có thể thấy trong số 10 nước thành viên đầu tiênHoa Kỳ và Trung Quốc là hai thành viên rất đáng chú ý, vì Hoa Kỳ là nềnkinh tế lớn nhất thế giới, và Trung Quốc là quốc gia đầu tiên của Châu Á thamgia CISG Tuy nhiên cả hai quốc gia này đều tuyên bố bảo lưu Điều 1.1(b),khiến mức độ áp dụng và ảnh hưởng của CISG tại hai quốc gia này giảm đángkể

Giai đoạn 2 (1989-1993): Đây là làn sóng thứ 2 của việc gia nhập

Công ước, với 29 quốc gia, trong đó hầu hết là các quốc gia thuộc Liên minhchâu Âu, lần lượt hoàn thành các thủ tục phê chuẩn để tham gia Công ước.Thời gian này cũng đánh dấu sự sụp đổ của hệ thống XHCN tại Nga và Đông

Âu, các nước này sau khi chuyển đổi nền kinh tế cũng đã nhanh chóng hòa

Trang 13

nhập với xu thế chung của các nước Tây Âu gia nhập Công ước Viên (trongquá trình đàm phán Công ước Viên, Nga và các nước Đông Âu cũng đóng vaitrò lớn trong việc soạn thảo, góp ý kiến tại các hội nghị, vì vậy việc tham gianhanh chóng của các quốc gia này cũng không đáng ngạc nhiên) Đáng chú ýtrong thời gian này có hai thành viên mới là Úc và Canada, hai nước có nềnkinh tế khá phát triển và áp dụng hệ thống Thông Luật Việc tham gia của hainước này đã khiến đại diện hệ thống Thông Luật trong CISG tăng lên và thuhút sự chú ý của nhiều quốc gia khác.

Giai đoạn 3 (1994-2000): Trong giai đoạn này rất nhiều nước đang

phát triển ở châu Phi và châu Mỹ, cũng như những quốc gia cuối cùng của EU(trừ Anh) như Bỉ, Ba Lan, Luxembourg, Hy Lạp đã hoàn thành các thủ tụcphê chuẩn và gia nhập Công ước Singapore là nước ASEAN đầu tiên gianhập CISG vào năm 1995 Luật pháp Singapore dựa trên cở sở nền tảngThông luật của Anh, từ lâu đã được xem là luật quốc gia có tính chất trungdung, quy định chặt chẽ đầy đủ, và được nhiều doanh nhân ưa thích áp dụngcho hợp đồng thương mại quốc tế của mình Vì vậy, mặc dù khi gia nhậpSingapore có bảo lưu điều 1.1(b) nhằm hạn chế áp dụng Công ước, việc thamgia CISG đánh dấu nỗ lực to lớn trong việc tham gia thống nhất hóa luật phápthương mại quốc tế của quốc gia có nền kinh tế phát triển chủ yếu dựa trênthương mại quốc tế này

Giai đoạn 4 (2001-2010): Đây là giai đoạn mà nền kinh tế thế giới đã

chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ và sự tăng cường vai trò của các nước đangphát triển mới nổi, trong đó nổi bật là Trung Quốc, Braxin, và Ấn Độ CISG

đã chứng kiến một thời kỳ trầm lắng từ năm 2001-2004 khi mà các vòng đàmphán trong khuôn khổ WTO đang diễn ra hết sức căng thẳng với sự xung đột

về lợi ích giữa các nước đang phát triển với nhiều đại diện mới nổi và cácnước đã phát triển Trong giai đoạn này chỉ có 5 thành viên mới phê chuẩn

Trang 14

Công ước là Saint Vincent và Grenadines, Colombia, Iceland, Honduras vàIsrael Năm 2005 chứng kiến sự gia nhập quan trọng của thành viên châu Ámới là Hàn Quốc, một trong 4 nước công nghiệp mới tại châu Á Sau nhiềunăm tranh cãi về sự khác biệt giữa luật quốc gia và CISG, trong bối cảnh tạinước láng giềng Nhật Bản, phong trào vận động Nhật Bản tham gia Công ướcngày càng mạnh mẽ, các nhà làm luật tại Hàn Quốc cuối cùng đã được thuyếtphục là việc áp dụng CISG sẽ giảm bớt tính không dự đoán trước của các giaodịch thương mại quốc tế của mình khi phải áp dụng luật của các quốc gia pháttriển như Hoa Kỳ và Đức Việc gia nhập của Hàn Quốc đã khởi động lại lànsóng nghiên cứu việc tham gia CISG tại các nước đang phát triển khác nhưCyprus, Gabon, Liberia, Montenegro, El Salvador, Paraguay, Lebanon,Albania, Armenia Cuối cùng, năm 2009 đánh dấu một bước ngoặt quan trọngcủa CISG tại châu Á khi Nhật Bản, quốc gia có nền kinh tế đứng thứ 2 thếgiới và lớn nhất tại châu Á, cuối cùng đã trở thành thành viên chính thức củaCISG mà không có bảo lưu nào Với sự kiện này, Anh sẽ là quốc gia phát triểnthuộc khối G7+1 cuối cùng chưa gia nhập Công ước Viên Sau Nhật Bản,chắc chắn nhiều quốc gia khác ở châu Á và khu vực ASEAN sẽ cân nhắc việcsớm tham gia Công ước, để có thể áp dụng CISG cho các giao dịch thươngmại quốc tế của mình một cách chủ động, khi mà các bạn hàng lớn đều đã làthành viên của Công ước này.

1.1.4 Thành công của Công ước viên 1980

Có hiệu lực từ ngày 01/01/1988, cho đến nay, CISG đã trở thành mộttrong các công ước quốc tế về thương mại được phê chuẩn và áp dụng rộng rãinhất Trong phạm vi hẹp hơn, so với các công ước đa phương khác về mua bánhàng hóa (như các công ước Hague 1964), CISG là Công ước quốc tế có quy môlớn hơn hẳn về số quốc gia tham gia và mức độ được áp dụng Với 74 quốc giathành viên, ước tính Công ước này điều chỉnh các giao dịch chiếm đến ba

Trang 15

phần tư thương mại hàng hóa thế giới Trong danh sách 74 quốc gia thànhviên của CISG, có sự góp mặt của các quốc gia thuộc các hệ thống pháp luậtkhác nhau, các quốc gia phát triển cũng như các quốc gia đang phát triển, cácquốc gia tư bản chủ nghĩa cũng như các quốc gia theo đường lối xã hội chủnghĩa nằm trên mọi châu lục Hầu hết các cường quốc về kinh tế trên thế giới(Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Canada, Australia, Nhật Bản…) đều đã tham gia CISG.

Sự thành công của CISG được khẳng định trong thực tiễn với hơn 2500

vụ tranh chấp đã được Tòa án và trọng tài các nước/quốc tế giải quyết có liênquan đến việc áp dụng và diễn giải Công ước Viên 1980 được báo cáo Điểmcần nhấn mạnh là 2500 vụ việc này không chỉ phát sinh tại các quốc gia thànhviên Tại các quốc gia chưa phải là thành viên, Công ước vẫn được áp dụng,hoặc do các bên trong hợp đồng lựa chọn CISG như là luật áp dụng cho hợpđồng, hoặc do các tòa án, trọng tài dẫn chiếu đến để giải quyết tranh chấp.Nhiều doanh nhân tại các quốc gia chưa phải là thành viên CISG đã tự nguyện

áp dụng CISG cho các giao dịch thương mại quốc tế của mình, bởi vì họ thấyđược những ưu việt của CISG so với luật quốc gia

Vai trò của CISG còn thể hiện ở chỗ CISG là nguồn tham khảo quantrọng của Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế (PICC)

và Các nguyên tắc của Luật Hợp đồng Châu Âu (PECL) Trên cơ sở nền tảngcủa CISG, các nguyên tắc này đã trở thành các văn bản thống nhất luật quantrọng về hợp đồng, được nhiều quốc gia và doanh nhân tham khảo và sử dụngtrong các giao dịch thương mại quốc tế

Năm 2008 đánh dấu sự thành công mới của CISG tại Châu Á, khi màNhật Bản tham gia Công ước này Với ảnh hưởng mạnh mẽ và rộng lớn vềthương mại hàng hóa của Nhật Bản ở Châu Á và trên thế giới, các chuyên gia

dự báo việc Nhật Bản, nền kinh tế hùng mạnh nhất Châu Á gia nhập CISG sẽkéo theo nhiều hồ sơ gia nhập hay phê chuẩn từ các quốc gia khác, đặc biệt làcác quốc gia Châu Á

Trang 16

Theo các chuyên gia và các doanh nghiệp, có nhiều yếu tố lý giải tại sao

CISG lại là một trong những Công ước thống nhất về luật tư thành công nhất:

Thứ nhất, CISG được soạn thảo và thực thi dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc- tổ chức quốc tế liên chính phủ lớn nhất hành tinh

Được Liên Hợp Quốc bảo trợ soạn thảo và thực thi, CISG không chỉtạo được sự tin cậy từ phía các quốc gia (trong quá trình soạn thảo) mà cònnhận được sự tin tưởng từ đông đảo doanh nghiệp (trong quá trình thực thi).Đây là yếu tố rất cần thiết đối với một văn bản nhất thể hóa pháp luật về mộtvấn đề quan trọng và vốn có nhiều khác biệt giữa các quốc gia, chủ thể có tậpquán khác nhau

Thứ hai, cách thức soạn thảo CISG cho thấy những nỗ lực thực sự trong việc tạo ra các quy phạm thực chất thống nhất về mua bán hàng hóa quốc tế

Đại diện của các quốc gia thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau (Dânluật, Thông luật - đặc biệt là đại diện của Hoa Kỳ và Anh), tại các châu lụckhác nhau, có chế độ kinh tế- chính trị khác nhau (các nước xã hội chủ nghĩa

và tư bản chủ nghĩa, các nước phát triển và các nước đang phát triển) đã đượcmời tham gia vào việc soạn thảo các điều khoản của Công ước này

Các tài liệu lịch sử về các phiên làm việc khác nhau của UNCITRALcho thấy quá trình đàm phán để soạn thảo CISG đã trải qua rất nhiều khó khăn

do sự khác biệt của pháp luật của các quốc gia cũng như những mối quan tâmkhác nhau của các quốc gia này khi tham gia vào việc soạn thảo một công ướcthống nhất luật thực chất như CISG Mỗi quy định trong văn bản cuối cùngđều là kết quả của quá trình thảo luận chi tiết, với việc xem xét đầy đủ và hợp

lý các yêu cầu, tập quán thương mại của các bên

Ví dụ như một chào hàng có bắt buộc phải có giá xác định trước haykhông? Đây là câu hỏi mà các đại diện của Civil Law và Common Law đã có

Trang 17

những tranh cãi rất gay gắt Đại diện của Pháp và CHLB Đức cho rằng giá cảcần phải được xác định trước hoặc có thể xác định trước (có các yếu tố để xácđịnh giá) Trong khi đó, theo luật các nước Common law (Anh, Hoa Kỳ), nếubên chào hàng chưa đưa ra giá trong hợp đồng thì điều này không ảnh hưởngđến hiệu lực của chào hàng Giá của hợp đồng sẽ được xác định theo giá hợp

lý trên thị trường vào thời điểm giao hàng

Để hài hóa hóa các quy phạm xung đột của hai hệ thống Civil law vàCommon law, các nhà soạn thảo CISG đã phải rất khéo léo bằng cách đưa ra 2điều khoản về xác định giá trong hợp đồng mua bán Điều 14 đòi hỏi giá cảphải được quy định rõ ràng hay cần phải xác định được theo các điều khoảntrong chào hàng, trong khi đó, điều 55 lại quy định rằng nếu các điều kiện vềgiá cả theo điều 14 không được thỏa mãn thì hợp đồng vẫn có hiệu lực và giácủa hợp đồng được hiểu là giá trên thị trường vào thời điểm giao hàng, tại địađiểm giao hàng Như vậy, Công ước Viên 1980, một mặt, yêu cầu một chàohàng bắt buộc phải có giá có thể xác định được, mặt khác, đưa ra quy định căn

cứ xác định giá cho các hợp đồng mà giá cả chưa được xác định Quy địnhnày là phù hợp với thực tiễn thương mại quốc tế khi mà các hợp đồng có giá

mở (open price contract) ngày càng phổ biến

Một điều đáng lưu ý khác là trong quá trình soạn thảo Công ước cũngnhư ngay trong nội dung Công ước, các soạn giả luôn nêu cao tính chất quốc

tế của Công ước và vì thế, cố gắng dùng ngôn ngữ trung tính, đơn giản, tránh

sử dụng các khái niệm riêng của từng hệ thống luật của các quốc gia Để tránhtối đa việc tham chiếu luật pháp quốc gia, ngay trong Điều 7 của Công ướccác soạn giả cũng đưa yêu cầu việc diễn giải và áp dụng CISG phải cân nhắctính chất quốc tế của nó và yêu cầu thúc đẩy sự thống nhất hóa trong việc diễngiải Công ước và tuân thủ nguyên tắc “thiện chí” trong thương mại quốc tế

Với cách thức soạn thảo như vậy, các điều khoản của CISG thể hiện

Trang 18

được sự thống nhất, hài hòa các quy phạm khác nhau trong pháp luật của các

quốc gia tham gia soạn thảo, phản ánh được mối quan tâm chung của các quốc gia này.

Thứ ba, nội dung của CISG được đánh giá là hiện đại, linh hoạt, phù hợp với thực tiễn mua bán hàng hóa quốc tế

Nhìn chung, các chuyên gia đánh giá CISG là tập hợp các quy phạmkhá hiện đại, thể hiện được sự bình đẳng giữa bên mua và bên bán trong quan

hệ mua bán hàng hóa quốc tế

Các quy phạm này cũng phù hợp với thực tiễn mua bán hàng hóa quốc

tế do được soạn thảo dựa trên một nguồn luật quan trọng là các tập quánthương mại quốc tế, trong đó có các Incoterms của ICC

Điều này được thể hiện, ví dụ, ở các điều khoản từ Điều 66 đến Điều 69quy định rất chi tiết về chuyển rủi ro- một câu hỏi đặc biệt quan trọng trongmua bán hàng hóa quốc tế Những giải pháp mà Công ước Viên 1980 đưa ra

là khá hợp lý, hiện đại Hoặc các quy định về thời hạn hiệu lực của chào hàng,

về các điều khoản chủ yếu của hợp đồng, về các trường hợp được hủy hợpđồng, về khái niệm vi phạm cơ bản…, đều được soạn thảo nhằm tạo sự phùhợp ở mức cao nhất với thực tiễn hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Đặc biệt, tính linh hoạt của các quy phạm là một trong yếu tố tạo nên sựthành công của CISG Sự linh hoạt này thể hiện trước hết ở quy định tại Điều

6 CISG, theo đó, hầu hết các điều khoản của CISG đều là các điều khoản tùynghi, nghĩa là các bên trong hợp đồng có thể thỏa thuận khác so với các quyđịnh tại các điều khoản đó Hơn nữa, Điều 6 cho phép các bên loại trừ việc ápdụng Công ước cho hợp đồng của mình, ngay cả khi các bên là doanh nghiệptại các quốc gia thành viên của Công ước Quy định “mềm dẻo” này tạo điềukiện để các thương nhân có quyền tự do thỏa thuận các nội dung trong hợpđồng cũng như lựa chọn cho mình nguồn luật áp dụng phù hợp nhất

Trang 19

trong trường hợp họ thấy rằng một/một số các quy định của CISG là chưa phùhợp đối với họ (ví dụ trong những lĩnh vực đặc thù, đối với những hàng hóađặc thù).Ngoài ra, nhiều điều khoản cụ thể của Công ước cũng có cách tiếpcận rất linh hoạt để phù hợp với thực tiễn rất phong phú về hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế.

Ví dụ về thời hạn hiệu lực của chào hàng, CISG quy định tại Điều 18khoản 2 rằng nếu trong đơn chào không quy định thì thời gian hiệu lực đượcxác định là một thời gian hợp lý (reasonable time) Đó là thời gian cần thiếtthông thường để chào hàng đến tay người được chào hàng và thời gian đểngười này trả lời chào hàng đó, tuỳ theo tính chất của hợp đồng, khoảng cáchgiữa hai bên và có tính đến các phương tiện chào hàng khác nhau (thư, telex,fax, thư điện tử…) Thật vậy, sẽ là không hợp lý nếu đưa ra một thời hạn chàohàng chung cho các loại chào hàng với tính chất phức tạp khác nhau, với cácmặt hàng khác nhau (từ các sản phẩm nhanh hỏng như rau hoa quả cho đếnmáy móc thiết bị), cũng như cho các giao dịch khác nhau mà khoảng cách địa

lý giữa các bên là khác nhau Việc đưa ra một thời hạn hợp lý thể hiện sự linhhoạt và khả năng phù hợp của quy phạm này với các giao dịch mua bán hànghóa có tính chất khác nhau

Thứ tư, CISG có được sự ủng hộ rất lớn từ phía các trọng tài quốc

tế đối với CISG trong nhiều vụ tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế thể hiện chủ yếu thông qua việc dẫn chiếu CISG như một lựa chọn ưu

Trang 20

tiên cho việc giải quyết các tranh chấp này khi các bên không lựa chọn luật ápdụng Điều này cho thấy trong đánh giá của nhiều trọng tài,CISG là mộtnguồn luật thích hợp để giải quyết thỏa đáng tranh chấp Thêm nữa, CISGcũng thường được các trọng tài áp dụng theo Điều 1.1.b của Công ước Sựủng hộ này của các trọng tài quốc tế khiến cho việc áp dụng Công ước ngàycàng rộng rãi hơn,đặc biệt khi mà phương thức giải quyết tranh chấp bằngtrọng tài ngày càng phố biến hơn.

ICC thể hiện sự ủng hộ của mình đối với văn bản thống nhất luật nàybằng việc đưa CISG vào điều khoản luật áp dụng mẫu có trong Hợp đồngmua bán hàng hóa quốc tế mẫu của ICC Điều 1.2 của phần “Những điềukhoản chung” (General Conditions) về luật áp dụng đã dẫn chiếu trực tiếp đếnCISG Nhờ việc dẫn chiếu đến CISG mà khi soạn thảo hợp đồng, các bên chỉcần thống nhất các nội dung tại phần “Những điều khoản riêng” (SpecificConditions), bao gồm các vấn đề liên quan trực tiếp đến từng giao dịch muabán cụ thể (hàng hóa, giá cả, điều kiện giao hàng, phương thức thanh toán, cácchứng từ cần cung cấp) và một số vấn đề mà CISG chưa đề cập tới (như điềukhoản phạt vi phạm hợp đồng, điều khoản quy định giới hạn trách nhiệm củacác bên, điều khoản quy định về thời hiệu hay dự kiến một nguồn luật bổ sungcho CISG đối với những vấn đề không nằm trong phạm vi điều chỉnh củaCISG) Tất cả những vấn đề khác đều được điều chỉnh bởi CISG ICC cũngnêu nêu rõ khuyến nghị của mình đối với các bên soạn thảo hợp đồng muabán hàng hóa quốc tế là không nên lựa chọn một luật quốc gia làm luật ápdụng thay cho CISG

Hợp đồng mẫu này cung cấp một khung pháp lý có thể áp dụng đối vớimọi giao dịch mua bán hàng hóa, đặc biệt là các hàng hóa được sản xuất nhằmmục đích bán lại Mục đích của Hợp đồng mẫu của ICC là đơn giản hóa quátrình soạn thảo hợp đồng cũng như giải quyết các tranh chấp liên quan

Trang 21

Qua nghiên cứu của các chuyên gia, với sự ảnh hưởng và uy tín của ICC đốivới các doanh nghiệp, các hợp đồng mẫu này đã được tham khảo và sử dụngrất rộng rãi trong mua bán hàng hóa quốc tế Hầu hết các vặn phòng tư vấnluật và các luật chuyên gia pháp lý trong các doanh nghiệp đều có mẫu hợpđồng này của ICC để tham khảo và tư vấn cho doanh nghiệp Điều này là mộtyếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy việc áp dụng CISG tại các doanh nghiệp.

1.2 Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo các nguồn

1.2.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Cơ sở pháp lý của việc mua bán hàng hoá chính là hợp đồng Hợp đồngmua bán hàng hoá quốc tế (MBHHQT) trước hết là một hợp đồng mang đầy

đủ đặc trưng của một hợp đồng mua bán hàng hoá, nhưng có thêm yếu tốquốc tế Tính quốc tế của hợp đồng MBHHQT có thể được xác định bằngnhiều cách, được công nhận cả trên phạm vi luật pháp quốc tế và phạm vi luậtpháp quốc gia Việc xác định yếu tố quốc tế này căn cứ vào nơi kinh doanhhoặc nơi thường trú của các đối tác, hay những tiêu chuẩn tổng quát hơn nhưviệc đánh giá hợp đồng “có quan hệ quan trọng tới nhiều quốc gia”, “liênquan đến sự lựa chọn giữa luật của các nước khác nhau”, hoặc “có ảnh hưởngđến các quyền lợi trong buôn bán quốc tế” Theo giả định của nguyên tắc hợpđồng thương mại quốc tế (PICC- Principles of International CommercialContracts) thì quan điểm về các hợp đồng “quốc tế” nên được giải thích theonghĩa rộng nhất, để loại trừ những trường hợp không liên quan đến yếu tốquốc tế, ví dụ khi tất cả các yếu tố cơ bản của hợp đồng chỉ liên quan đến mộtquốc gia cụ thể

Điều 1 Công ước La Haye 1964 về mua bán hàng hoá quốc tế những tàisản hữu hình, hợp đồng MBHHQT được định nghĩa: “Hợp đồng mua bánhàng hoá quốc tế là hợp đồng, trong đó các bên ký kết có trụ sở thương mại ởcác nước khác nhau, hàng hoá được chuyển từ nước này sang nước khác, hoặc

Trang 22

việc trao đổi ý chí kí kết hợp đồng giữa các bên ký kết được thiết lập ở cácnước khác nhau” Công ước Viên 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồngMBHHQT đã gián tiếp định nghĩa loại hợp đồng này khi quy định trong Điều

1: “Công ước này áp dụng đối với những hợp đồng mua bán hàng hoá được

ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau”

Ở Việt Nam, Luật Thương mại 1997 đề cập đến “hợp đồng mua bánhàng hoá với thương nhân nước ngoài” ở Điều 80, và chỉ đề cập đến nhữngđiểm khác biệt của loại hợp đồng này thông qua sự khác biệt trong quốc tịchcủa các chủ thể tham gia hợp đồng: “hợp đồng mua bán hàng hoá với thươngnhân nước ngoài là hợp đồng mua bán hàng hoá được ký kết giữa một bên làthương nhân Việt Nam với một bên là thương nhân nước ngoài” Luật Thươngmại Việt Nam 2005 cũng chỉ đưa ra quy định hình thức hợp đồng mua bánhàng hoá quốc tế là “thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằnghình thức khác có giá trị pháp lý tương đương” (Điều 27.2)

Việc đưa ra một khái niệm rõ ràng, chính xác cho hợp đồng mua bánhàng hoá quốc tế chưa được quan tâm thích đáng trong khoa học pháp lý ViệtNam Điều này có thể do Việt Nam mới tham gia vào các hoạt động thươngmại quốc tế và trong thực tiễn chưa có vụ tranh chấp nào liên quan đến việcxác định luật áp dụng, căn cứ vào tính quốc tế cuả hợp đồng Một số tác giả

đã đưa ra khái niệm cho hợp đồng này trên tinh thần của các công ước quốc

tế, các văn bản pháp luật mà Việt Nam đề cập Tiến sỹ Phan Thị Thanh Hồng

– Đại học KT Đà Nẵng đưa ra khái niệm:

Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thoả thuận ý chígiữa các thương nhân cớ trụ sở kinh doanh đặt ở các quốc gia khácnhau, theo đó một bên gọi là Bên xuất khẩu có nghĩa vụ giao hàng

và chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên khác gọi là Bên nhậpkhẩu và nhận thanh toán Bên nhập khẩu có nghĩa vụ thanh toán chobên xuất khẩu, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thoảthuận

Trang 23

Một khái niệm khá phổ biến nữa là của ông Vũ Hữu Tửu-giảng viên cao cấp, già giáo ưu tú Đại học Ngoại Thương Hà Nội thì:

Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, còn gọi là hợp đồngxuất nhập khẩu hoặc hợp đồng mua bán ngoại thương là sự thoảthuận giữa các đương sự có trụ sở kinh doanh ở các nước khácnhau, theo đó một bên gọi là bên xuất khẩu (Bên bán) có nghĩa vụchuyển vào quyền sở hữu của một bên khác gọi là bên nhập khẩu(Bên mua) một tài sản nhất định gọi là hàng hoá; bên mua có nghĩa

vụ nhận hàng và trả tiền hàng …

Như vậy, ta có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thốngnhất về ý chí giữa các bên trong quan hệ mua bán hàng hoá có yếu tố nướcngoài mà thông qua đó, thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa

vụ pháp lý giữa các chủ thể đó với nhau

Yếu tố nước ngoài trong hợp đồng mua bán hàng quốc tế được biểu hiện:

- Các bên tham gia giao kết hợp đồng MBHHQT là các thương nhân cóquốc tịch khác nhau (nếu chỉ xác định tính quốc tế bằng cách này thì gặpnhiều khó khăn và đôi khi không xác định được do pháp luật của nhiều quốcgia khác nhau xác định quốc tịch của pháp nhân không giống nhau) và có trụ

sở thương mại ở các nước khác nhau (đây là cách xác định theo Công ướcViên 1980 được áp dụng rất phổ biến);

- Hàng hóa - đối tượng của hợp đồng được dịch chuyển qua biên giớiquốc gia hoặc giai đoạn chào hàng và chấp nhận chào hàng có thể được thiếtlập ở các nước khác nhau;

- Nội dung của hợp đồng bao gồm các quyền và nghĩa vụ phát sinh từviệc chuyển giao quyền sở hữu về hàng hoá từ người bán sang người mua ởcác nước khác nhau;

- Đồng tiền thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là ngoại tệ đối với ít nhất là một bên trong quan hệ hợp đồng;

Trang 24

- Luật điều chỉnh hợp đồng là luật quốc gia, các điều ước quốc tế và cáctập quán quốc tế khác về thương mại và hằng hải.

1.2.2 Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

- Bản chất của hợp đồng là sự thoả thuận có ý chí giữa các bên giao kết.Đây là đặc trưng rất cơ bản của một hợp đồng nói chung

- Chủ thể của hợp đồng là bên bán và bên mua là các thương nhân cótrụ sở kinh doanh đặt tại các quốc gia khác nhau Nếu các bên không có trụ sởkinh doanh thì sẽ căn cứ vào nơi cư trú của họ Việc căn cứ vào quốc tịch của

cá nhân ít được sử dụng do không phổ biến và đôi khi gặp khó khăn ví dụ haingười trực tiếp ký vào hợp đồng đều mang quốc tịch Việt Nam nhưng đại diệncho các bên có trụ sở kinh doanh đặt tại các quốc gia khác nhau, và hợp đồngnày vẫn là hợp đồng MBHHQT

- Đối tượng của hợp đồng là hàng hoá phải qua biên giới quốc gia (biêngiới hải quan) hay giai đoạn chào hàng và chấp nhận chào hàng có thể đượcthiết lập ở các nước khác nhau; hoặc hàng hoá không phải qua biên giớinhưng hàng được các tổ chức quốc tế dùng ở lãnh thổ Việt Nam (sứ quán,công trình đầu tư nước ngoài…) Thuật ngữ “biên giới hải quan” được sửdụng xuất phát từ thực tiễn hình thành các kho ngoại quan, các khu chế xuất,các đặc khu kinh tế, và những quy chế hải quan đặc biệt dành cho sự hoạtđộng của các khu vực này làm cho biên giới lãnh thổ không thật chính xác đểxác định ranh giới di chuyển của hàng hoá xuất nhập khẩu

- Nội dung của hợp đồng bao gồm các quyền và nghĩa vụ phát sinh từviệc chuyển giao quyền sở hữu của hàng hoá từ người bán sang người mua ởcác nước khác nhau;

- Đồng tiền tính giá hoặc thanh toán không còn là đồng nội tệ của mộtquốc gia mà là ngoại tệ đối với ít nhất một bên ký kết Phương thức thanhtoán thông qua hệ thống ngân hàng

Trang 25

- Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng đa dạng và phức tạp Không chỉ cònluật quốc gia mà còn bao gồm các điều ước quốc tế về thương mại, luật nướcngoài và các tập quán thương mại quốc tế.

- Cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng là toà án, haytrọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vựckinh tế đối ngoại là cơ quan nước ngoài đối với ít nhất một trong các chủ thể

1.2.3 Nguồn luật điều chỉnh của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Hợp đồng MBHHQT có thể chịu sự điều chỉnh của nhiều nguồn luậtkhác nhau như các điều ước về MBHHQT, các tập quán quốc tế về thươngmại, pháp luật của các quốc gia… Việc nguồn luật nào điều chỉnh còn tuỳ vàotừng trường hợp cụ thể

1.2.3.1 Điều ước quốc tế

Theo Công ước Viên 1969 về Luật Điều ước quốc tế: “Điều ước quốc

tế là tất cả các văn bản được ký kết giữa các quốc gia và do Luật quốc tế điềuchỉnh” Vậy có thể nói, điều ước quốc tế về thương mại là sự thoả thuận bằngvăn bản giữa hai hoặc nhiều quốc gia ký kết phù hợp với những nguyên tắc cơbản của Luật quốc tế, nhằm ấn định, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa

vụ đối với nhau trong quan hệ thương mại quốc tế

Trong lĩnh vực mua bán hàng hoá quốc tế có một số điều ước quốc tế tiêu biểu:

- Điều kiện chung về giao hàng giữa các tổ chức kinh tế của các nướcthành viên Hội đồng tương trợ kinh tế (ĐKCGHSEV 1968/1988) điều chỉnhquyền lợi và nghĩa vụ của các bên ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

- Một điều ước quốc tế quan trọng trong lĩnh vực MBHHQT là côngước Viên về mua bán hàng hoá quốc tế ngày 1/1/1980 Đến nay đã có 74 nướcphê chuẩn công ước này

Trang 26

- Quy tắc La Hay ngày 15/6/1955 về Luật áp dụng vào hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.

- Công ước Rôma về luật áp dụng đối với các nghĩa vụ phát sinh từ hợpđồng được ký tại Rôma ngày 19/6/1980

- Công ước Liên Mỹ về luật áp dụng đối với hợp đồng quốc tế được ký

ởMehico City ngày 17/5/1994, được thông qua bởi Hội nghị quốc tế Liên Mỹ

về tư pháp quốc tế tổ chức tại Mehico City

Tính đến nay, Việt Nam đã ký kết hơn 60 Hiệp định thương mại songphương Trong đó phải kể đến: Hiệp định Buôn bán hàng dệt may Việt Nam –

EU là hiệp định thương mại chứa đựng những điều khoản liên quan đến xuất xứcủa hàng hoá, điều khoản liên quan đến hạn ngạch (quota) và quy định danh mụcmặt hàng Việc ký kết các hiệp định thương mại, là thành viên của các công ướcquốc tế sẽ tạo cơ sở pháp lý thuận lợi và thống nhất cho hoạt động MBHHQTgiữa các thương nhân Việt Nam với các thương nhân nước ngoài

1.2.3.2 Luật quốc gia

Trong hoạt động thương mại quốc tế, luật quốc gia áp dụng thôngthường là luật của nước bên bán, nhưng cũng có thể là luật của nước bên mua,

có thể là luật của nước thứ ba, luật nơi ký hợp đồng, luật quốc tịch, luật nơinghĩa vụ hợp đồng được thực hiện…Luật quốc gia trở thành luật áp dụng chohợp đồng MBHHQT trong các trường hợp:

- Các bên ký hợp đồng về việc chọn luật của một bên để điều chỉnh hợpđồng Việc thoả thuận áp dụng luật của một bên để điều chỉnh hợp đồng phảiđược ghi trong hợp đồng MBHHQT

- Khi điều khoản về luật áp dụng cho hợp đồng MBHHQT được quyđịnh trong các điều ước quốc tế liên quan xác định luật của một quốc giađương nhiên trở thành luật áp dụng cho các hợp đồng đó Thông thường, luậtquốc gia áp dụng sẽ là luật của nước bên bán, nhưng cũng có thể là luật của

Trang 27

nước bên mua, có thể là luật của nước thứ ba, luật nơi ký kết hợp đồng, luậtcủa nước mà các bên mang quốc tịch,…

1.2.3.3 Án lệ

Án lệ hay tiền lệ pháp về thương mại cũng được các thương nhân thamgia ký kết hợp đồng thương mại quốc tế coi trọng và lựa chọn, đặc biệt là ởcác quốc gia theo hệ thống thông luật (Common law) Trong thương mại quốc

tế, việc công nhận và sử dụng các phán quyết của toà án cũng như thừa nhậnvai trò tích cực của án lệ đang ngày một gia tăng tại các nước có hệ thốngpháp luật khác nhau Cơ quan xét xử có thể vận dụng án lệ tương tự để giảmnhẹ những khó khăn phức tạp trong việc tra cứu, mà các tranh chấp trong hoạtđộng thương mại quốc tế thường tập trung vào một số vấn đề và có nhiềutrường hợp tương đồng

1.2.3.4 Tập quán thương mại quốc tế

Các tập quán thương mại quốc tế hình thành từ rất lâu đời Các tậpquán này sẽ trở thành nguồn luật đìều chỉnh các hợp đồng MBHHQT nếu cácchủ thể tham gia ký kết hợp đồng chấp nhận các tập quán thương mại quốc tế

sẽ là nguồn luật điều chỉnh

Khi được dẫn chiếu vào hợp đồng MBHHQT, các tập quán thương mại

sẽ có hiệu lực bắt buộc áp dụng đối với các chủ thể ký kết, chúng được chiathành nhóm: Các tập quán có tính chất nguyên tắc; các tập quán thương mạiquốc tế chung và các tập quán thương mại khu vực Ví dụ, một tập quán thôngdụng trong mua bán quốc tế được Phòng Thương mại quốc tế (TheInternational Chamber of Commerce - ICC) soạn thảo và ban hành một tậpquán thông dụng trong mua bán quốc tế là Incoterms

Trang 28

Chương 2

NỘI DUNG CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG ƯỚC ĐẾN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ CỦA CÁC DOANH

NGHIỆP VIỆT NAM 2.1 Nội dung của Công ước viên năm 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Công ước này được ký kết ngày 11/4/1980 tại Viên (Áo) Ban đầu kýkết chỉ có 6 quốc gia thành viên Số lượng các quốc gia phê chuẩn Công ướcngày càng tăng lên và đến nay đã có trên 83 quốc gia thành viên

Công ước Viên là nguồn luật chủ yếu để điều chỉnh hợp đồng mua bánhàng hoá quốc tế hiện nay

Kết cấu của Công ước Viên 1980 gồm 101 Điều, được chia làm 4 phầnvới các nội dung chính sau:

2.1.1 Về phạm vi áp dụng của Công ước

Phạm vi áp dụng và các quy định chung (Điều 1- 13) Phần này quyđịnh trường hợp nào Công ước Viên 1980 được áp dụng và trường hợp nàoCông ước Viên 1980 không được áp dụng (từ Điều 1 đến Điều 6), đồng thờinêu rõ nguyên tắc trong việc áp dụng Công ước viên 1980, nguyên tắc diễngiải các tuyên bố, hành vi và xử sự của các bên, nguyên tắc tự do về hình thứccủa hợp đồng Ngoài ra, Công ước cũng nhấn mạnh đến giá trị của tập quántrong các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế

Công ước Viên được áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hoá giữacác bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau Theo Điều 1, Côngước Viên chỉ coi trọng nơi đặt trụ sở thương mại chứ không chú ý tới quốctịch của các bên tham gia hợp đồng

Công ước được áp dụng khi các bên tham gia hợp đồng có trụ sở ở các

Trang 29

quốc gia là thành viên của Công ước Công ước cũng được áp dụng nếu chỉ cómột bên có trụ sở tại nước phê chuẩn Công ước, nhưng quy định xung đột vềluật điều chỉnh đã dẫn tới việc áp dụng luật của nước này ví dụ như khi cácbên thoả thuận áp dụng luật của nước bên bán, mà nước bên bán là thành viêncủa Công ước; hoặc trường hợp các bên thoả thuận áp dụng luật của nước thứ

ba, mà nước này là thành viên của Công ước Ngoài ra, Công ước cũng có thểđược áp dụng khi hai bên không có trụ sở thương mại tại nước thành viênCông ước nhưng lại thoả thuận áp dụng Công ước Trường hợp này, Công ướccũng cho phép các bên có thể thoả thuận không áp dụng hoặc không áp dụnghoàn toàn một điều khoản nào đó của Công ước trên cơ sở nguyên tắc tự dohợp đồng

2.1.2 Về xác lập hợp đồng trong Công ước

Xác lập hợp đồng (trình tự, thủ tục ký kết hợp đồng) (Điều 14- 24).Trong phần này, với 11 điều khoản, Công ước Viên đã quy định khá chi tiết,đầy đủ các vấn đề pháp lý đặt ra trong quá trình giao kết hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế

+ Điều 14 của Công ước định nghĩa chào hàng, nêu rõ đặc điểm của chào hàng và phân biệt chào hàng với các “lời mời chào hàng”:

(1) Một đề nghị giao kết hợp đồng gửi cho một hay nhiều bên xác địnhđược xem là một chào hàng nếu nó đầy đủ và thể hiện rõ ý định giao

kết hợp đồng của người đề nghị trong trường hợp chào hàng được chấp nhận.Một đề nghị được coi là đầy đủ nếu có nêu rõ hàng hóa và - ngầm định hoặc

rõ ràng - xác định hoặc quy định cách thức xác định giá cả và số lượng hànghóa của hợp đồng

(2) Một đề nghị không gửi tới một hoặc nhiều bên xác định thì chỉ đượcxem là lời mời chào hàng, trừ trường hợp bên đưa ra đề nghị đó tuyên bố rõràng sẽ chịu ràng buộc trách nhiệm

Trang 30

Như vậy khoản 1 Điều 14 điều chỉnh một vấn đề hết sức cơ bản tronghợp đồng mua bán - đó là vấn đề chào hàng Trước hết có thể khẳng địnhCông ước Viên, thông qua quy định tại khoản 1 Điều 14, đã chọn sử dụngphương thức truyền thống của việc kết lập hợp đồng thông qua mô thức chàohàng - chấp nhận chào hàng Theo đó, bên chào hàng - thông qua đề nghị giaokết hợp đồng - thể hiện ý định giao kết hợp đồng, đưa ra các điều kiện củagiao dịch cho bên được chào hàng Dựa trên các điều kiện này, bằng quyếtđịnh chấp nhận chào hàng, bên được chào hàng kết lập nên hợp đồng với cácđiều khoản đưa ra trong chào hàng Trong mô thức này, việc thể hiện ý địnhgiao kết hợp đồng của bên chào hàng trước hết được xác định thông qua cácđiều kiện đưa ra trong chào hàng Trong trường hợp được chấp thuận thì cácđiều kiện trong chào hàng trở thành những điều khoản cốt lõi của hợp đồng.Khoản 1 Điều 14 đã đưa ra các tiêu chí để xác định nội dung chủ yếu cần cócủa một chào hàng.

Xét trên phương diện thực hiện hợp đồng, chào hàng không chỉ là sựthể hiện ý định giao kết hợp đồng của người đưa ra chào hàng Chào hàng cònthể hiện các yếu tố cơ bản cần thiết để các bên dựa vào đó thực hiện các nghĩa

vụ của mình và qua đó đáp ứng quyền của bên kia Tùy thuộc vào từng loạihợp đồng cụ thể mà yêu cầu về điều kiện cơ bản của hợp đồng có thể khácnhau Với hợp đồng mua bán, khoản 1 Điều 14 quy định nội dung chào hàngphải thể hiện tối thiểu ba điều kiện Đó là: hàng hóa mua bán, số lượng và giá

cả Về giá cả, đó có thể là giá cả cụ thể hoặc phương thức xác định giá cả,được nêu ra rõ ràng hoặc ngầm định trong chào hàng

Như thế, theo quy định tại khoản 1 Điều 14, bên cạnh những điều kiệnkhác, một chào hàng bắt buộc phải thể hiện điều kiện về giá cả thì mới đượcxem là đầy đủ để kết lập nên hợp đồng trong trường hợp chào hàng được chấpnhận

Trang 31

+ Các vấn đề hiệu lực của chào hàng, thu hồi và hủy bỏ chào hàng đượcquy định tại các điều 15, 16 và 17: Hiệu lực chào hàng chỉ phát sinh khi chàohàng tới nơi người được chào hàng (Điều 15 khoản 1) Chào hàng cũng có thể

bị huỷ nếu thông báo của người chào hàng về việc huỷ chào hàng gửi đến tớinơi người được chào trước hoặc cùng lúc với chào hàng (Điều 15 khoản 2),Một chào hàng có thể bị thu hồi khi cho tới khi hợp đồng được giao kết ngườichào hàng vẫn có thể thu hồi chào hàng nếu như thông báo về việc thu hồi đótới nơi người được chào hàng trước khi người này gửi thông báo chấp nhậnchào hàng, tuy nhiên chào hàng cũng không thể bị thu hồi khi nếu nó chỉ rõbằng cách ấn định một thời hạn xác định để chấp nhận hay bằng cách khácrằng nó không thể bị thu hồi hoặc nếu một cách hợp lý người nhận coi chàohàng là không thể bị thu hồi và đã hành động theo chiều hướng đó (điều 16);Một chào hàng sẽ mất hiệu lực khi người chào hàng nhận được thông báo vềviệc từ chối chào hàng (Điều 17)

+ Đặc biệt, tại các Điều 18, 19, 20 và 21 của Công ước có các quyđịnh rất chi tiết, cụ thể về nội dung của chấp nhận chào hàng: khi nào và trongđiều kiện nào, chấp nhận chào hàng là có hiệu lực và cùng với chào hàng cấuthành hợp đồng; thời hạn để chấp nhận, chấp nhận muộn; kéo dài thời hạnchấp nhận Ngoài ra, Công ước còn có quy định về thu hồi chấp nhận chàohàng và thời điểm hợp đồng có hiệu lực

Về vấn đề xác lập hợp đồng mua bán, Công ước Viên 1980 thừa nhậnquy tắc Chào hàng – Chấp nhận chào hàng (offer-acceptance rule): Một lờituyên bố hay một hành vi khác của người được chào hàng biểu lộ sự đồng ývới chào hàng cấu thành chấp nhận chào hàng Sự im lặng hoặc bất hợp tác vìkhông mặc nhiên có giá trị một sự chấp nhận (điều 18)

Khoản 1 Điều 19 Công ước Viên quy định rằng “Một sự trả lời cókhuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng có chứa đựng những điểm bổ

Trang 32

sung, bớt đi hay các sửa đổi khác thì được coi là từ chối chào hàng và cấu

thành một hoàn giá” Quy định này phản ánh quy tắc “hình ảnh trong gương”theo đó một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được giao kết khi nội

dung của chào hàng được bên kia chấp nhận một cách đầy đủ, chính xác vềmọi điều kiện nêu trong chào hàng Điều này có nghĩa là nếu một sự trả lời cókhuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng có bất kỳ sự sửa đổi, bổ sung tạonên sự khác biệt giữa chào hàng và chấp nhận chào hàng thì sự trả lời cókhuynh hướng chấp nhận chào hàng đó sẽ cấu thành một chào hàng mới hoặcmột hoàn giá Quy định này của Công ước Viên được áp dụng cho cả nhữngđiều khoản soạn sẵn trong các hợp đồng hoặc trong các mẫu chào hàng vàchấp nhận chào hàng mẫu

Trong thực tiễn giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, cả người bán vàngười mua đều có những mẫu chào hàng và/hoặc chấp nhận chào hàng riêngchứa đựng những điều khoản soạn sẵn nhằm phục vụ cho lợi ích của họ Do

đó, một sự trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng lại làm thayđổi hoặc bổ sung chào hàng là điều dường như khó tránh khỏi Nếu theo quy

tắc “hỉnh ảnh trong gương” thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khó có

thể được coi là giao kết

Tuy nhiên, khoản 2 điều 19 CISG quy định rằng:

Một sự trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng

có chứa đựng các điều khoản bổ sung hay những điều khoản khác

mà không làm biến đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng

thì được coi là chấp nhận chào hàng, trừ phi người chào hàng ngaylập tức không biểu hiện bằng miệng để phản đối những điểm khácbiệt đó hoặc gửi thông báo về sự phản đối của mình cho người đượcchào hàng Nếu người chào hàng không làm như vậy, thì nội dungcủa hợp đồng sẽ là nội dung của chào hàng với những sự sửa đổi

nêu trong chấp nhận chào hàng.

Trang 33

Khoản 2 điều 19 của CISG chính là ngoại lệ của quy tắc “hình ảnh trong gương” và làm dịu bớt “sự khe khắt” của quy tắc này, theo đó, yêu cầu

một sự chấp nhận toàn bộ của khoản 1 điều 19 Theo quy định tại khoản 2điều 19 Công ước Viên thì không phải mọi sự trả lời có khuynh hướng chấpnhận chào hàng đều được coi là sửa đổi hoặc bổ sung chào hàng Tuy nhiên,

những sửa đổi hoặc bổ sung “không làm biến đổi một cách cơ bản nội dung chào hàng” và người chào hàng không có bất kỳ hành động nào (bằng lời nói hoặc thông báo) biểu hiện sự phản đối “ngay lập tức” với những sửa đổi hoặc

bổ sung đó thì hợp đồng xem như được giao kết Từ đó, có thể thấy rằng, vấn

đề quan trọng của việc xem xét hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có đượcgiao kết hay không tùy thuộc vào sự trả lời chào hàng của người được chàohàng có chứa đựng những điều khoản làm biến đổi (sửa đổi hoặc bổ sung) cơbản hay không cơ bản chào hàng

2.1.3 Về mua bán hàng hóa (Điều 25 - 88) Nội dung của phần 3 này

là các vấn đề pháp lý trong quá trình thực hiện hợp đồng Phần này được chiathành 5 chương với những nội dung cơ bản như sau:

2.1.3.1 Những quy định chung (Điều 25 – 29)

Khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng được quy định tại Điều 25 Côngước Viên, theo đó:

Một sự vi phạm hợp đồng do một bên gây ra là vi phạm cơbản nếu sự vi phạm đó làm cho bên kia bị thiệt hại mà người bị thiệthại, trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờđợi trên cơ sở hợp đồng, trừ phi bên vi phạm không tiên liệu đượchậu quả đó và một người có lý trí minh mẫn cũng sẽ không tiên liệuđược nếu họ cũng ở vào hoàn cảnh tương tự

Từ quy định trên, xét về mặt lý thuyết, có thể thấy vi phạm cơ bản hợp đồng được xác định dựa trên các yếu tố: (1) Phải có sự vi phạm nghĩa vụ hợp

Trang 34

đồng; (2) Sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng đó phải dẫn đến hậu quả là một bênmất đi điều mà họ chờ đợi (mong muốn có được) từ hợp đồng; (3) Bên viphạm hợp đồng không thể nhìn thấy trước được hậu quả của sự vi phạm đó.

Công ước Viên không đưa ra định nghĩa về vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.Tuy nhiên, vi phạm nghĩa vụ hợp đồng có thể hiểu là việc một bên giao kếthợp đồng không thực hiện nghĩa vụ mà các bên thỏa thuận trong hợp đồnghoặc thực hiện không hết nghĩa vụ hợp đồng hoặc thực hiện không đầy đủnghĩa vụ hợp đồng Ví dụ, các bên thỏa thuận cụ thể về nghĩa vụ giao hàngtrong hợp đồng nhưng người bán không giao hàng hoặc giao hàng thiếu, giaosai hàng hoặc giao hàng không đúng chất lượng như đã thỏa thuận trong hợpđồng Như vậy, nếu người bán giao hàng không phù hợp với hợp đồng, ví dụnhư hàng hóa được giao thiếu về số lượng và/hoặc không phù hợp về chấtlượng hoặc giao sai chủng loại hàng mà các bên đã thỏa thuận trong hợpđồng, thì được coi là người bán đã có sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng

Ngoài ra, vi phạm nghĩa vụ hợp đồng phải là nguyên nhân dẫn đến thiệthại đáng kể cho bên bị vi phạm Thế nào là thiệt hại đáng kể? Công ước Viêncho rằng thiệt hại đáng kể là những thiệt hại làm cho bên bị vi phạm mất đicái mà họ chờ đợi (mong muốn có được) từ hợp đồng Công ước Viên khônggiải thích rõ cái mà người này chờ đợi là gì Vì vậy, việc xác định mức độthiệt hại là đáng kể hay không đáng kể sẽ do tòa án (hoặc cơ quan có thẩmquyền giải quyết tranh chấp) quyết định căn cứ vào từng trường hợp, từng vụtranh chấp cụ thể Ví dụ, phải căn cứ vào giá trị kinh tế của hợp đồng, sự tổnhại về mặt tiền bạc do hành vi vi phạm hợp đồng hoặc mức độ mà hành vi viphạm hợp đồng gây cản trở đến các hoạt động khác của bên bị vi phạm

Tuy nhiên, mặc dù hành vi vi phạm hợp đồng dẫn đến thiệt hại cho bên

bị vi phạm nhưng hành vi vi phạm hợp đồng đó sẽ không bị coi là vi phạm cơ

bản hợp đồng nếu bên vi phạm “không thể nhìn thấy trước hậu quả của hành

Trang 35

vi vi phạm đó và người ở vào hoàn cảnh tương tự cũng không thể tiên liệu được” Chính xác hơn, khả năng nhìn thấy trước hậu quả của hành vi vi phạm

hợp đồng là yếu tố cần thiết để xác định hành vi vi phạm đó có phải là một sự

vi phạm cơ bản hợp đồng hay không Khả năng tiên liệu trước được nhữngthiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra sẽ phụ thuộc vào kiến thức củabên vi phạm về những sự kiện xoay quanh giao dịch như kinh nghiệm, mức

độ tinh tế và khả năng tổ chức của bên vi phạm

Có thể nói rằng, nội hàm khái niệm “vi phạm cơ bản hợp đồng” theoquy định của Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 cũng như của Công ướcViên là rất rộng Tuy nhiên, qua thực tiễn giải quyết một số vụ tranh chấp liênquan đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có áp dụng Công ước Viên, tòa

án các nước thành viên cũng đã đưa ra được một số căn cứ thực tiễn làm cơ sởcho việc giải thích nhằm làm rõ khái niệm này Mặc dù vậy, Tòa án của cácnước khác nhau có quan điểm không giống nhau hoàn toàn khi gặp vấn đềliên quan đến vi phạm cơ bản hợp đồng

Với Việt Nam, việc quy định “vi phạm cơ bản” trong Luật Thương mạinăm 2005 là cần thiết để xử lý những trường hợp vi phạm hợp đồng là cơ sở

để tuyên bố tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặchủy bỏ hợp đồng Việc áp dụng khái niệm này trong thực tiễn sẽ có thể gặpkhông ít khó khăn nếu không có được những hướng dẫn, giải thích cụ thể.

2.1.3.2 Quy định về quyền và nghĩa vụ của người bán

- Quyền của bên bán

Công ước nêu rõ, bên bán có quyền được thanh toán theo những quyđịnh trong hợp đồng Trường hợp bên mua vi phạm nghĩa vụ của mình thì bênbán có quyền thực hiện những biện pháp bảo hộ pháp lý cũng theo quy địnhcủa Công ước như sau:

+ Yêu cầu bên mua trả tiền, nhận hàng hay thực hiện các nghĩa vụ khác

Trang 36

của người mua, trừ phi họ sử dụng một biện pháp bảo hộ pháp lý khác không thích hợp với các yêu cầu đó (Điều 62).

+ Có thể chấp nhận cho người mua một thời gian bổ sung hợp lý để thực hiện nghĩa vụ của họ (Điều 63 khoản 1)

+ Tuyên bố huỷ hợp đồng trong các trường hợp quy định tại Điều64

+ Yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Điều 74

+ Ngoài ra, bên bán có thể yêu cầu trả tiền lãi khi bên mua chậm thanh toán, theo quy định Điều 78 của Công ước

- Nghĩa vụ giao hàng và chuyển giao chứng từ liên quan đến hàng hoá

Công ước Viên quy định về giao hàng và chuyển giao chứng từ liênquan đến hàng hoá từ Điều 31 đến Điều 34 của Công ước Theo đó, bên bán

có nghĩa vụ giao hàng và các chứng từ liên quan đến hàng hoá cho bên muađúng thời gian Thời gian này là thời điểm mà các bên đã thoả thuận, nếukhông thoả thuận cụ thể trong hợp đồng thì có thể căn cứ vào hợp đồng để xácđịnh được Bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng số lượng, chất lượng, quycách phẩm chất như mô tả trong hợp đồng Về địa điểm giao hàng, nếu cácbên không thoả thuận thì bên bán phải giao hàng theo quy định tại Điều 31Công ước

2.1.3.3 Quy định về quyền và nghĩa vụ của người mua

- Quyền của bên mua

Bên mua có quyền thực hiện một số biện pháp để bảo vệ lợi ích củamình khi bên bán vi phạm nghĩa vụ của họ Một số biện pháp được quy địnhtrong Công ước là:

+ Yêu cầu bên bán phải thực hiện nghĩa vụ của họ theo thoả thuậntrong hợp đồng Ở đây có thể là yêu cầu bên bán cung cấp hàng hoá đúng thoảthuận trong trường hợp hàng hoá chưa phù hợp; hoặc yêu cầu tiếp tục bổ sunghàng hoá nếu không đảm bảo đủ số lượng; hoặc sửa chữa…

Trang 37

31

Trang 38

+ Bên mua có thể cho phép bên bán thêm một thời hạn nhất định đểthực hiện hợp đồng nếu bên bán không đảm bảo được đúng thời hạn giaohàng (Điều 47).

+ Bên mua cũng có quyền tuyên bố huỷ hợp đồng trong các trường hợpbên bán không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng tạo thành một vi phạm cơbản hợp đồng hay khi bên bán không giao hàng trong thời hạn bên mua giahạn thêm hoặc bên bán tuyên bố sẽ không giao hàng trong thời bạn bổ sung

đó (Điều 49)

- Nghĩa vụ của bên mua

Điều 53 Công ước Viên quy định: người mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng và nhận hàng theo quy định của hợp đồng

+ Về thanh toán tiền hàng: bên mua phải trả tiền vào ngày thanh toán

đã quy định hoặc có thể được xác định theo hợp đồng và theo Công ước, màkhông cần phải có một lời yêu cầu hay việc thực hiện một tục nào khác vềphía người bán (Điều 59) Nghĩa vụ thanh toán tiền hàng bao gồm việc ápdụng các biện pháp và tuân thủ các biện pháp mà hợp đồng hoặc luật lệ đòihỏi để có thể thực hiện được thanh toán

+ Về việc nhận hàng: Bên mua có các nghĩa vụ theo quy định của Côngước Viên tại Điều 60 Theo đó, bên mua phải thực hiện mọi hành vi tạo điềukiện cho bên bán giao hàng và tiếp nhận hàng hoá

2.1.3.4 Quy định về chuyển rủi ro (Điều 66 đến điều 70)

Trước đây theo Luật Thương mại năm 1997, vấn đề chuyển rủi ro trongmua bán hàng hóa được coi là đồng nhất với việc chuyển quyền sở hữu hàng

hóa, theo đó: “người mua phải chịu rủi ro đối với hàng hóa trên đường vận chuyển kể từ thời điểm quyền sở hữu hàng hóa được chuyển từ người bán sang người mua nếu không phải do lỗi của người bán hoặc người vận chuyển” Trước

hết các quy định này không cho các bên chủ thể có quyền được thỏa

Trang 39

thuận – một vấn đề cốt lõi trong mọi quan hệ mua bán hàng hóa Thứ hai, việcquy định một cách chung chung như vậy không thể bao quát hết các tìnhhuống thực tiễn trong quan hệ mua bán Và có nhiều quan điểm cho rằng, tinhthần chung của điều luật đi ngược lại với tinh thần của pháp luật thương mại

quốc tế về việc người mua nhận rủi ro về mình đối với những hàng hóa trên đường vận chuyển từ lúc hàng hóa được giao cho người chuyên chở là người

đã phát chứng từ xác nhận một hợp đồng vận chuyển Chính vì vậy Luật

thương mại 2005 đã có những quy định cụ thể hơn Các trường hợp chuyểnrủi ro quy định từ Điều 57 đến Điều 61, trong mọi trường hợp này luật thươngmại đều cho phép sự thỏa thuận giữa các chủ thể vì vậy ta sẽ xem xét theohướng không có thỏa thuận

- Điều 68 Công ước Viên năm 1980 quy định về Chuyển rủi ro trong trường hợp có địa điểm giao hàng xác định: Địa điểm giao hàng xác định ở

đây là phải xác định theo thỏa thuận từ trước Nếu có địa điểm giao hàng nhấtđịnh thì rủi ro về mất mát, hư hỏng hàng hóa được chuyển cho bên mua khibên mua hoặc người được bên mua ủy quyền đã nhận hàng tại địa điểm giaohàng, kể cả bên bán được ủy quyền giữ lại các chứng từ xác lập quyền sở hữuđối với hàng hóa Đây cũng là một trường hợp mà thời điểm chuyển quyền sởhữu không đồng nhất với thời điểm chuyển rủi ro Trong trường hợp nàykhông nên coi người bán không có rủi ro, mà rủi ro này được ràng buộc bằngnghĩa vụ giao hàng Với bên mua, việc nhận hàng tại địa điểm giao hàng làmột quyền quan trọng, đây chính là điều kiện quan trọng khi xác định việcbên mua đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng nên bên mua có quyền thực hiệnviệc kiểm tra hàng hóa và quyền định có nhận hàng hay không

VD: Công ty A thỏa thuận mua hàng với công ty B và thực hiện giaohàng tại kho hàng 1, tuy nhiên công ty B vận chuyển lại giao hàng tại khohàng 2 cách kho hàng 1 20km Bên công ty A vẫn nhận hàng Trong trường

Trang 40

hợp này mặc dù có địa điểm giao hàng xác định là kho hàng 1 nhưng khi giaotại kho hàng 2, công ty A vẫn nhận coi như đã đồng ý với việc thay đổi địađiểm Trường hợp này nếu có rủi ro công ty A vẫn phải chịu trách nhiệm theotrường hợp có địa điểm giao hàng xác định Nếu như bên A không nhận hàngthì bên B coi như chưa hoàn thành nghĩa vụ giao hàng của mình và phải chịurủi ro nếu có với hàng hóa

- Điều 68 Công ước Viên năm 1980 quy định về Chuyển rủi ro trong

trường hợp không có địa điểm giao hàng xác định: Đây là trường hợp trong

hợp đồng mua bán không quy định về việc vận chuyển hàng hóa cũng nhưnghĩa vụ giao hàng tại một địa điểm nhất định Khi không có địa điểm giaohàng, việc chuyển rủi ro trong trường hợp này thuộc về bên mua sau khi hànghóa đã được giao cho người vận chuyển đầu tiên

- Điều 68 Công ước Viên năm 1980 quy định về Chuyển rủi ro trong

trường hợp giao hàng cho người nhận hàng: Ở đây cần lưu ý người nhận

hàng ở đây không phải là người vận chuyển mà là người nhận hàng để giaonắm giữ hàng hóa Trong trường hợp này rủi ro về hàng hóa được chuyển chobên mua trong các trường hợp sau:

+ Khi bên mua nhận được chứng từ sở hữu hàng hóa Đây là trường hợp chuyển rủi ro đồng nhất với thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hóa

+ Khi người nhận hàng để giao xác nhận quyền chiếm hữu hàng hóa của bên mua

- Điều 68 Công ước Viên năm 1980 quy định về Chuyển rủi ro trong

trường hợp mua bán hàng hóa đang trên đường vận chuyển: Đây là trường

hợp mà đối tượng của hợp đồng là hàng hóa đang trên đường vận chuyển, khi

đó rủi ro sẽ được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm giao kết hợp đồng Đây

là trường hợp có rất nhiều nhầm lẫn trong cách hiểu và áp dụng điều luật Phảilưu ý đối tượng của hợp đồng mua bán ở đây là hàng hóa đang trên

Ngày đăng: 04/11/2020, 15:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w