1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đổi mới cơ cấu tổ chức của toà án, từ thực tiễn toà án nhân dân thành phố hải dương, tỉnh hải dương

110 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp tục hoàn thiện mô hình tổng thể bộ máy nhà nước BMNN theonhững nguyên tắc pháp quyền, Hiến pháp năm 2013 đã có những bổ sungquan trọng bảo đảm vị thế, tính độc lập của hoạt động tư

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN ĐĂNG DUNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét

để tôi có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trần Quang Minh

Trang 4

1.1 Địa vị pháp lý mới của Tòa án nhân dân 71.2 Cơ cấu tổ chức mới của Tòa án nhân dân các cấp 221.3 Tòa án nhân dân huyện, thành phố trực thuộc tỉnh và thành phốtrực thuộc trung ương - cấp xét xử sơ thẩm cơ bản trong hệ thống tưpháp Việt Nam 35Tiểu kết chương 1 44

CHƯƠNG 2: CƠ CẤU VÀ TỔ CHỨC CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG 45

2.1 Thành phố Hải Dương- trung tâm địa - chính- kinh tế và văn hóatỉnh Hải Dương 452.2 Thực trạng cơ cấu, tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân

thành phố Hải Dương - cấp xét xử chính của Thành phố Hải Dương 532.3 Giải pháp về cơ cấu tổ chức nhằm tăng cường hoạt động của

Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương 73Tiểu kết chương 2 76

KẾT LUẬN 77

Trang 5

Hội đồng thẩm phánHội đồng xét xửHội thẩm nhân dânHội thẩm quân nhânNhà nước pháp quyềnNhà xuất bản

Quyền lực nhà nướcTòa án cấp caoTòa án nhân dânTòa án nhân dân cấp caoTòa án nhân dân tối caoTòa án quân sự

Tòa án quân sự khu vựcTòa án quân sự quân khuTrách nhiệm hình sựThẩm phán cao cấpThẩm phán sơ cấpThẩm phán trung cấp

Tố tụng hình sự

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Ủy ban nhân dân

Ủy ban Thường vụ Quốc hộiVăn bản pháp luật

Viện kiểm sát nhân dânViện kiểm sát nhân dân tối cao

Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày 28 tháng 11 năm 2013, kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII đã thôngqua bản Hiến pháp năm 2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm

2014 “Đây là bản hiến pháp được sửa đổi, bổ sung cả về nội dung, bố cục và kỹthuật lập hiến Với những điểm mới tiến bộ, Hiến pháp 2013 đã làm sáng tỏ hơnnhận thức, nội dung và yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa(NNPQ XHCN) của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; phù hợp với yêu cầuthực tiễn Việt Nam và tiếp cận với những giá trị chung của nhân loại” [10] LàLuật cơ bản có vị trí pháp lý cao nhất, bằng cả lời văn và tinh thần của nó, Hiếnpháp năm 2013 có sứ mệnh tạo nền tảng pháp lý mới và động lực mới cho sự vậnhành toàn bộ đời sống xã hội và sinh hoạt quốc gia trên nền tảng dân chủ, phápquyền Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam phản ảnh nhu cầu bức xúc của sự pháttriển mọi mặt của đất nước trên con đường phát triển và hội nhập, bảo đảm sựphù hợp với các giá trị căn bản của thời đại

Tiếp tục hoàn thiện mô hình tổng thể bộ máy nhà nước (BMNN) theonhững nguyên tắc pháp quyền, Hiến pháp năm 2013 đã có những bổ sungquan trọng bảo đảm vị thế, tính độc lập của hoạt động tư pháp và tiến thêmmột bước trong việc tạo ra những yếu tố của cơ chế phân công, phối hợp vàkiểm soát quyền lực nhà nước (QLNN), làm đậm nét tính pháp quyền củanền tư pháp Việt Nam; thể hiện nhận thức mới về vai trò và nhiệm vụ củaTòa án, trong đó quyền con người, quyền công dân được tôn trọng, bảo vệ

và bảo đảm tốt nhất bằng việc thực hiện quyền tư pháp đồng thời tạo cơ sởnền tảng hiến định để đổi mới mô hình hệ thống tòa án nhân dân (TAND)

Trên tinh thần đó, Luật Tổ chức TAND năm 2014 (Luật số 62/2014/QH13) đã thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng về cải cách tư pháp cũng

Trang 7

như các quy định của Hiến pháp năm 2013 đối với TAND; đổi mới mộtcách toàn diện về tổ chức và hoạt động của TAND theo hướng hợp lý, khoahọc; bảo đảm cho Tòa án thực hiện tốt chức năng xét xử, thực hiện quyền

tư pháp; phục vụ có hiệu quả công cuộc đổi mới của đất nước, đáp ứng yêucầu xây dựng NNPQ Việt Nam XHCN

TAND huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (cấphuyện), theo quy định của Luật Tổ chức TAND năm 2014 được Quốc hộithông qua dựa trên tinh thần của Hiến pháp năm 2013, có nhiệm vụ, quyềnhạn xét xử sơ thẩm hầu hết các vụ, việc thuộc thẩm quyền của Tòa án vàgiải quyết các loại việc khác theo quy định của pháp luật Vì vậy, đổi mớimột cách toàn diện về tổ chức và hoạt động của TAND nói chung và TANDcập huyện với tư cách là cấp xét xử đầu tiên (xét xử sơ thẩm) nói riêng theohướng hợp lý, khoa học; bảo đảm cho Tòa án thực hiện tốt chức năng xét

xử, thực hiện quyền tư pháp; bảo đảm không lọt tội phạm, không làm oanngười vô tội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Từ những lý do trên, học viên chọn đề tài “Đổi mới cơ cấu tổ chức của Tòa án, từ thực tiễn Tòa án nhân dân Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương” làm Luận văn thạc sĩ Luật học, chuyên ngành Luật Hiến pháp - Luật hành chính.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cùng với việc khẳng định mục tiêu xây dựng NNPQ trong Hiến pháp

1992, ở Việt Nam đang tiến hành chủ trương cải cách tư pháp (CCTP) theo

Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về Một số nhiệm

vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Điều đó cho thấy một khi đã quyết tâm xây dựng NNPQ thì không thể không CCTP.

2

Trang 8

Nhận thức được tầm quan trọng của Tòa án cùng những đặc điểmbiểu hiện của Tòa án trong NNPQ là rất cần thiết xuất phát từ những yêucầu của công cuộc xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay Có rấtnhiều dự án, sách chuyên khảo về lĩnh vực này trước và sau Hiến pháp năm

2013 được ban hành, đó là:

- “Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân”, Đề tài khoa học cấp Nhà nước, mã số KX.04.06 do TS Uông Chu Lưu chủ nhiệm đề tài;

- Tính độc lập của Tòa án của TS Tô Văn Hòa, Sách tham khảo,

Nxb

Lao Động, năm 2007;

- “Cải cách tư pháp: Ý nghĩa, mục đích và trọng tâm” của GS

TSKH Đào Trí Úc, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2 năm 2003;

- “Về quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân ở Việt Nam” của GS.TS Võ Khánh Vinh, Tạp chí Nhà nước

và Pháp luật, số 8 năm 2003;

- “Tòa án Việt Nam trong bối cảnh xây dựng nước pháp quyền” của

GS.TS Nguyễn Đăng Dung, Nxb ĐHQG Hà Nội, năm 2012;

- “Hiến pháp năm 2013 - Bước phát triển quan trọng trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa” của TS Đỗ Đức Minh, Tạp chí Luật học, số 10 năm 2014.

- “Độc lập xét xử ở những nước quá độ: Một góc nhìn so sánh” của ThS Lưu Tiến Dũng, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 20 và 21 năm 2006

- Xây dựng Tòa án nhân dân xứng đáng là biểu tượng của công lý, lẽ phải và niềm tin của Nguyễn Hòa Bình, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà

Nội, năm 2019

Trang 9

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3 1 Mục đích nghiên cứu

Phân tích, luận giải là rõ những nội dung mới của Hiến pháp năm

2013 và Luật Tổ chức TAND năm 2014 về tổ chức BMNN và tổ chức hệthống TAND; Khái quát tình hình Tỉnh Hải Dương và thực trạng đổi mới

cơ cấu TAND Thành phố Hải Dương, từ đó đề xuất giải pháp đổi mới cơcấu tổ chức để nâng cao hoạt động và hiệu quả của TAND Thành phố

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau:

Một là, phân tích tổng quát các vấn đề lý luận về ví trí, vai trò TAND

cấp sơ thẩm đầu tiên trên tinh thần các quy định của Hiến pháp mới năm

2013 và Luật Tổ chức TAND năm 2014;

Hai là, Khái quát điều kiện địa lý tự nhiên tình hình kinh tế, văn hóa

xã hội Tỉnh Hải Dương, lịch sử hình thành và phát triển của Thành phố ;

tình hình, kết quả đổi mới cơ cấu và hoạt động của TAND Thành phố HảiDương giai đoạn 2014 - 2019;

Ba là, Đề xuất các giải pháp tăng cường hoạt động và hiệu quả của

TAND Thành phố Hải Dương

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn đổi mới cơ cấu tổ chức của Tòa án, từ thực tiễn TAND Thành phố Hải Dương

Trang 10

- Thời gian: từ năm 2014 đến năm 2020.

5 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng các phương pháp luậnchủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộngsản Việt Nam (CSVN) về Nhà nước và pháp luật

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên nền tảng của phương pháp luận mácxít, luận văn sử dụng cácphương pháp nghiên cứu luật học phù hợp như: phương pháp phân tích vàtổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phươngpháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học , để giải quyếtnhững vấn đề được nghiên cứu trong luận văn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn là chuyên luận đầu tiên phân tích ý nghĩa của các quy địnhHiến pháp mới năm 2013 cùng Luật Tổ chức Tòa án về cơ cấu tổ chứcTAND cấp sơ thẩm và việc áp dụng trên một địa bàn một thành phố đôngdân thuộc tỉnh của đồng bằng Bắc bộ

Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và hữu íchkhông chỉ đối với các nhà lập pháp mà còn dành cho các nhà nghiên cứu, cáccán bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinhviên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo Luật

Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bịnhững kiến thức chuyên sâu cho các chuyên viên, thẩm phán TAND cáccấp thực tiễn công tác tổ chức và hoạt động xét xử của TAND cấp sơ thẩm

và những ai quan tâm đến vấn đề này

Trang 11

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản tổ chức và hoạt động của TAND thành phố thuộc tỉnh.

Chương 2: Thực tiễn tổ chức và hoạt động của TAND Thành phố Hải Dương.

6

Trang 12

Chương 1 HIẾN PHÁP NĂM 2013 VÀ NHU CẦU ĐỔI MỚI

CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA TÒA ÁN 1.1 Địa vị pháp lý mới của Tòa án nhân dân

Hiến pháp Cộng hòa XHCN Việt Nam được Quốc hội Khóa XIII Kỳhọp thứ 6 thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013 và có hiệu lực thi hành từngày 1 tháng 1 năm 2014 Là Luật cơ bản có vị trí pháp lý cao nhất, bằng cảlời văn và tinh thần của nó, Hiến pháp năm 2013 có sứ mệnh tạo nền tảngpháp lý mới và động lực mới cho sự vận hành toàn bộ đời sống xã hội và sinhhoạt quốc gia trên nền tảng dân chủ, pháp quyền Hiến pháp năm 2013 phảnảnh nhu cầu bức xúc của sự phát triển mọi mặt của đất nước trên con đườngphát triển và hội nhập, bảo đảm phù hợp với các giá trị căn bản của thời đại

Chương VIII về TAND, Viện kiểm sát Nhân dân (VKSND) trong Hiếnpháp năm 2013 có nhiều điểm mới, thể hiện nhận thức mới về quyền tư pháp.Trước hết xét về hình thức: Chương về TAND, VKSND, Hiến pháp năm 1992gồm 15 Điều; Hiến pháp năm 2013 chỉ có 8 điều với việc thể hiện logic, chặtchẽ đi từ vị trí, vai trò, nguyên tắc tổ chức và hoạt động đến nhiệm vụ vàquyền hạn của mỗi cơ quan và chỉ quy định những vấn đề nền tảng thuộc tầmhiến định; không quy định những vấn đề thuộc tầm luật định Về nội dung,Chương VIII TAND và VKSND có những điểm mới cơ bản sau đây:

Một là, TAND không những được quy định là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam như Hiến pháp năm 1992 mà còn khẳng định thực hiện quyền tư pháp [13, Điều 102].

Quy định mới này, thống nhất với nguyên tắc tổ chức QLNN Việt Nam

ghi nhận ở Hiến pháp: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” [13, Điều 2, Khoản 3]; thể hiện sự phân

Trang 13

công QLNN một cách mạch lạc; đề cao trách nhiệm của Tòa án trong việcthực hiện quyền tư pháp; công bằng và công lý của một quốc gia biểu hiệntập trung nhất ở quyền xét xử của Tòa án Từ đây, Nhân dân sẽ có địa chỉ

cụ thể để kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp mà Nhân dân đã giao phó,

đã ủy quyền cho Tòa án

Hai là, vai trò và nhiệm vụ của Tòa án cũng như vai trò nhiệm vụ của

VKSND có sự điều chỉnh, thể hiện nhận thức mới về quyền tư pháp Đối vớitòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, Điều 102 Khoản 3 đã đưa lên hàng

đầu vai trò và nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân sau đó mới quy định tiếp bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức cá nhân Đối với VKSND, nhấn mạnh vai trò và nhiệm vụ hàng đầu là bảo vệ pháp luật là “bảo vệ quyền con người, quyền công dân” sau đó mới quy định: “bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” [13, Điều 107, Khoản 3] Trong khi, Hiến pháp năm 1992 không phân biệt có sự

khác nhau giữa vai trò và nhiệm vụ của Tòa án và Viện kiểm sát, cả hai thiếtchế đều giống nhau và quy định chung vào một điều:

Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát Nhân dân nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam, trong phạm vi chức năng của mình, cónhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ chế độ XHCN vàquyền làm chủ của công dân, bảo vệ tài sản, tự do, danh dự vànhân phẩm của công dân [12, Điều 126]

So sánh với quy định của hai bản Hiến pháp, có thể thấy Hiến phápsửa đổi đã có một nhận thức mới về vai trò và nhiệm vụ của hai thiết chế TAND và VKSND; hoàntoàn phù hợp với tư duy xây dựng NNPQ là đề caoquyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp, coi con người làchủ thể là nguồn lực chủ yếu và là mục đích của sự phát triển;

8

Trang 14

Ba là, Hiến pháp năm 2013 đã quy định những nguyên tắc, nền tảng

về tổ chức và hoạt động thực hiện quyền tư pháp của Tòa án Các nguyên

tắc này được quy định trong một điều (Điều 103) gồm 7 khoản (7 nguyêntắc) với sự thể hiện chính xác, súc tích với những tư duy mới

Cụ thể, Khoản 1 quy định: Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân

có hội thẩm Nhân dân tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.

Cũng nguyên tắc này Hiến pháp năm 1992 còn quy định thêm trong nội

dung của nguyên tắc này khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với thẩm phán.

Đây là quy định mở để tiếp tục cải cách chế định hội thẩm nhân dân(HTND), bảo đảm cho HTND tham gia vào hoạt động xét xử một cách phùhợp, khắc phục những hạn chế của chế định HTND hiện hành

Khoản 5 quy định Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo

là một nguyên tắc mới ra đời trong Hiến pháp nước ta, thể chế hóa quan

điểm của Đảng ta về cải cách tư pháp tăng cường tranh tụng trước phiên tòa Nguyên tắc này góp phần rất quan trọng để tòa án xét xử đúng người,

đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế tình trạng oan sai, bảo đảm cho nền tưpháp Việt Nam là một nền tư pháp dân chủ, công bằng và công lý

Khoản 6 quy định Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được đảm bảo vừa

thể hiện xét xử hai cấp được đảm bảo, quyền con người, quyền công dân đượcpháp luật bảo vệ và bảo đảm vừa đề cao trách nhiệm của Tòa án trong xét xử

Quan điểm chủ đạo của Đảng và Nhà Việt Nam là sửa đổi, bổ sungHiến pháp nhằm tiếp tục phát huy nhân tố con người, thể chế hóa sâu sắchơn quan điểm về tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người như mộtđịnh hướng mục tiêu của NNPQ XHCN Có thể nói rằng, sự khẳng định tôntrọng Hiến pháp đã trở thành một nguyên tắc xuyên suốt của tư tưởngNNPQ về việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người,

về sự minh bạch của Nhà nước, khẳng định quyền lực của nhân dân như là

lá chắn cho việc bảo vệ quyền con người

Trang 15

Về hình thức, vấn đề quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản củacông dân đã được chuyển dịch từ vị trí chương V trong Hiến pháp 1992 lên

vị trí Chương II, chỉ sau Chương I về Chế độ Chính trị Quyền con người lànội dung được bổ sung ngay trong Chương I Hiến pháp Hơn thế nữa, tạirất nhiều chương điều khác, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyềncông dân cũng hiện diện trong nội dung chức năng và nhiệm vụ của cácthiết chế Nhà nước như Quốc hội (Điều 70, khoản 14); Chính phủ (Điều

96, khoản 6); Tòa án nhân dân (Điều 102, khoản 3); Viện kiểm sát nhân dân(Điều 107, khoản 3), Đây là những nội dung hoàn toàn mới so với Hiếnpháp năm 1992 khi Hiến pháp 2013 trao những chức năng, nhiệm vụ chocác thiết chế, QLNN tương ứng

Con người và quyền con người là giá trị quan trọng và trở thành đốitượng ưu tiên bảo hộ của pháp luật trong tổ chức và hoạt động của nhànước Việt Nam Bảo đảm quan trọng cho việc bảo vệ quyền con người,quyền công dân, lá chắn quan trọng và vững chắc nhất đối với quyền conngười, quyền công dân nhằm phòng ngừa và ngăn chặn những vi phạm từphía các cơ quan nhà nước là việc thừa nhận và ghi nhận nguyên tắc suyđoán vô tội - theo đó bị can, bị cáo được coi là vô tội, không phải chịu tráchnhiệm hình sự (TNHS) khi lỗi của người đó chưa được chứng minh theotrình tự, thủ tục luật quy định và chưa có bản án kết tội của toà án đã cóhiệu lực pháp luật Đây là nguyên tắc “kinh điển” nhất của Tố tụng hình sựđược ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế quan trọng như Tuyên ngôn

toàn thế giới về nhân quyền năm 1948- Universal Declaration of Human

Rights: UDHR [30, Điều 11, Khoản 1]; Công ước của Liên hợp quốc về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 - International Covenant on Civil and Political Rights: ICCPR [27, Điều 14, Khoản 2] Đặc biệt bản Tuyên ngôn

nêu trên đã coi nguyên tắc này là “phẩm giá của văn minh nhân loại”

10

Trang 16

Suy đoán theo gốc Latinh “Praesumptino” có nghĩa là giả định thể hiện

ở yêu cầu: bị can, bị cáo phải được coi là vô tội khi mà lỗi của bị can, bị cáo

đó chưa được chứng minh theo một trình tự do pháp luật quy định và đượcxác định bởi một bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Yêu cầu này

được Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [13, Điều 31, Khoản 1].

Đặt ra yêu cầu này, Hiến pháp đã tạo ra sự an toàn pháp lý cho công dântrong cuộc sống và hoạt động của họ Yêu cầu đặt ra trong nguyên tắc nàyhoàn toàn phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Quyền Dân sự vàChính trị năm 1966 Theo đó, “Mọi người đều có quyền hưởng tự do và anninh cá nhân Không ai bị bắt hoặc giam giữ vô cớ Không một ai bị tướcquyền tự do trừ trường hợp có lý do và phải theo đúng thủ tục mà luật pháp

đã quy định - recognises the rights to liberty and security of the person It prohibits arbitrary arrest and detention, requires any deprivation of liberty

to be according to law, and obliges parties to allow those deprived of their liberty to challenge their imprisonment through the courts” [27, Điều 9, Khoản 1] và: “Người bị cáo buộc là phạm tội hình sự có quyền được coi là

vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của người đó được chứng minh theo

pháp luật - Everyone charged with a criminal offence shall have the right to

be presumed innocent until proved guilty according to law” [27, Điều 14, Khoản 2] Nội dung này là biểu hiện cụ thể của nguyên tắc pháp chế nhưng

nhấn mạnh yêu cầu về mặt thủ tục pháp lý, là dấu hiệu quan trọng nhất củachế độ pháp quyền, theo đó thủ tục công khai, minh bạch là đòi hỏi số mộtcho việc bảo vệ quyền con người chống lại sự truy tố tùy tiện

Thực hiện Chiến lược CCCTP với quan điểm xuyên suốt và nhất quáncủa Đảng và Nhà Việt Nam về sứ mệnh và vị trí của các cơ quan tư pháp

Trang 17

trong NNPQ XHCN, Hiến pháp năm 2013 đã tạo ra những cơ sở pháp lý mớicao nhất về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp Hiến pháp năm

2013 đã quy định nội dung của nguyên tắc mới về quyền của người bị buộc tộiđược tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai

- một nội dung quan trọng của quyền tiếp cận công lý của công dân Cùng vớiviệc xác định TAND là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp, sứ mệnh củaTAND được xác định là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền côngdân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợppháp của tổ chức, cá nhân Đây là những điểm mới có ý nghĩa quan trọngtrong lịch sử lập hiến Việt Nam, khẳng định những nguyên tắc của một nền tưpháp hiện đại như: Nguyên tắc hai cấp xét xử để bảo đảm thúc đẩy quyền củangười bị buộc tội được yêu cầu xem xét lại bản án; Nguyên tắc về quyền bàochữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự; nguyêntắc về sự tham gia xét xử của HTND Đây là những nguyên tắc phản ánh tínhdân chủ và đề cao quyền tiếp cận công lý của người dân Hiến pháp năm 2013

đã làm đậm nét tính pháp quyền của nền tư pháp nước ta

Thực tiễn tố tụng hình sự (TTHS) ở Việt Nam những năm gần đây đangđối diện với một số vấn đề lớn mà trước hết là vấn đề tiếp cận công lý, vấn đềoan, sai trong các vụ án hình sự Theo nhận định chung của các chuyên giacũng như của các cơ quan tư pháp thì các bảo đảm để có thể giải quyết tíchcực các vấn đề này trước hết nằm trong việc nhìn nhận lại tính chất và đặctrưng của tố tụng hình sự cũng như sự hoàn chỉnh và đầy đủ các quy định củapháp luật mà trung tâm là pháp luật TTHS Cuộc CCTP ở Việt Nam đã đượcphát động từ năm 2005 từ Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2.6.2005 của BộChính trị Ban chấp hành trung ương (BCHTW) Đảng CSVN “Về Chiến lượccải cách tư pháp đến năm 2020” và đã gặt hái được những kết quả nhất định

về nhận thức và về tổ chức thực hiện Tuy vậy, pháp luật TTHS, trải qua

12

Trang 18

những lần sửa đổi, bổ sung cần thiết, vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế,trong số đó có các vấn đề về những cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ quyền vàlợi ích của người bị buộc tội Từ những chủ trương đúng đắn của chínhsách hình sự và cải cách tư pháp hình sự cho đến thực tiễn TTHS vẫn cònmột khoảng cách lớn, trước hết là các vấn đề về chủ trương áp dụng rộngrãi việc tranh tụng tại phiên hòa xét xử hình sự, chủ trương tạo đầy đủ cácđiều kiện cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa; bảo đảm tính dânchủ, công khai và giám sát các hoạt động tố tụng, tăng cường trách nhiệmtrong việc đó từ phía các cơ quan tố tụng.

Vấn đề bảo đảm quyền con người trong TTHS có thể được coi là trụcxoay của toàn bộ các hoạt động TTHS Sở dĩ như vậy là vì TTHS phản ánhnhững mối liên hệ đa chiều và mang trong mình nó nhiều nghịch lý của cácmối liên hệ TTHS của bất kỳ quốc gia và hệ thống pháp lý nào cũng đềuphải thực hiện cùng một lúc hai nhiệm vụ: vừa phải xác định cho được sựthật của vụ án, bảo đảm để công lý được thực thi, nhưng lại vừa phải làmthế nào để trên con đường đi tìm sự thật và công lý thì quyền của tất cảnhững ai có liên quan đều phải được tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ

Chính vì vậy, mặc dù không thể coi nhẹ việc bảo đảm quyền con người,

mà trước hết là danh dự nhân phẩm, tính mạng và tài sản của tất cả c ác bên

và những con người trong quá trình tiến hành TTHS, tâm điểm chú ý của phápluật quốc tế và pháp luật quốc gia, của CCTP vẫn là việc bảo đảm quyền conngười đối với “phía” người bị buộc tội tại tất cả các giai đoạn của TTHS, tức

là bảo đảm để bảo vệ các quyền do sự cáo buộc phạm tội có thể gây ra

Trong lịch sử của tư pháp hình sự, TTHS ra đời với tính cách là một sựthỏa mãn nhu cầu của những người có liên quan về sự can thiệp của bên thứba: Nhà nước, các thiết chế tố tụng Đó là điều phổ quát đối với cả hai trườnghợp: cả khi tố tụng được quan niệm như là con đường đi tìm sự thật khách

Trang 19

quan của vụ án và trên cơ sở đó Tòa án ra phán quyết về kết cục của vụ án, cảtrong trường hợp tố tụng được coi như một vụ kiện thông thường và nó sẽdừng lại khi các bên tìm ra giải pháp chung, cùng thỏa mãn với giải pháp đó.Trong cả hai trường hợp, sự hiện diện của “bên thứ ba công minh” - cơ quanđiều tra, cơ quan công tố, Tòa án - đều là điểm hy vọng của cả hai phía, là chỗdựa về tâm lý và pháp lý của họ Xuyên suốt các yếu tố đó là tinh thần và đòihỏi về công bằng, sự vô tư và khách quan Mọi thứ chân lý, khi nó được hiểu

là chân lý khách quan và cả khi nó là chân lý pháp lý; mọi lẽ công bằng, khi

nó đạt được bằng nỗ lực tìm kiếm không mệt mỏi của cả hai phía và khi nó làyếu tố tâm lý sau sự thỏa thuận, sự cùng thỏa mãn như đã nêu ở trên, thì đềuchỉ có thể được xác lập trên tinh thần công bằng, không có độc quyền chân lý

vì thiếu công bằng thì con đường dẫn đến chân lý luôn luôn rất dài và mạohiểm, độc quyền chân lý sẽ là mầm mống của một nửa chân lý hoặc đó là sựthật được ngụy tạo Nói khác đi, điều cần được quan tâm nhất là những đảmbảo để vừa đạt được sự thật, vừa để không được có cái không phải là sự thật

Với logic đó, các bảo đảm để bảo vệ quyền con người trong TTHS

luôn gắn với yêu cầu về thủ tục pháp lý chặt chẽ (Due process of law), về tố

tụng công bằng Đó là yêu cầu không thể thiếu được đối với tiến trình pháp

lý nhằm xác lập sự cân bằng cần thiết giữa các bên khi thực hiện các nỗ lực

để bảo vệ quan điểm, quyền và lợi ích của mình Yếu tố “công bằng”,

“công minh” (Fair, Justice) vì thế là biểu tượng chung, bao trùm của mộtnền tư pháp, là bản tính của nền tư pháp Theo đó, công bằng được hiểutrên hai bình diện: Ở bình diện thứ nhất đó là yêu cầu về sự công bằng củacác thủ tục tố tụng, của việc tiến hành các thủ tục tố tụng (ii) Ở bình diệnthứ hai, đó là yêu cầu về sự đối xử công bằng, có vị trí pháp lý, có các cơhội pháp lý công bằng giữa các bên trong tố tụng

Mục đích hoạt động của các cơ quan tố tụng hiện nay đều xuất phát từ

14

Trang 20

QLNN để “phát hiện”, “xử lý”, để “không để lọt tội phạm” và “không làmoan người vô tội”; để bảo vệ chế độ XHCN, các lợi ích của Nhà nước, “trật

tự pháp luật”, “quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của tổ chức” Cácmục đích nêu trên được tiếp tục cụ thể hóa thông qua việc quy định trách

nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng phải “xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ”, trong đó có trách nhiệm “làm

rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can,

bị cáo” [16, Điều 10] Như vậy là, trách nhiệm đó chỉ thuộc về Nhà nước.

Những quy định của pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành đang ở trạngthái tạo ra sự chủ quan cho chủ thể đi tìm sự thật của vụ án hình sự Mặc dùpháp luật có xác định phải xử lý công minh, không làm oan người vô tội,nhưng đứng ở vị thế độc quyền chân lý, sự chủ quan là không tránh khỏi

Các mục đích được đặt ra cho TTHS mà thực chất là mục đích hoạtđộng của các cơ quan tiến hành tố tụng nặng về bảo vệ lợi ích công và coinhẹ lợi ích của cá nhân những con người cụ thể trong vụ án hình sự Bộluật TTHS chỉ nhắc đến mục đích “bảo vệ các quyền và lợi ích hợp phápcủa công dân” một cách chung chung mà không chỉ rõ là bảo vệ quyền vàlợi ích của những người ở vào vị thế bị động và yếu hơn so với bộ máycông quyền hiện diện trong TTHS, vả lại, cũng chỉ được nhắc đến saucùng, cần tạo cho bị can, bị cáo, người bào chữa của họ có được khả năng

và vị thế ngang với khả năng và vị thế của các cơ quan tiến hành tố tụng,người tiến hành tố tụng trong việc đi tìm sự thật cũng như chống lại những

gì phi sự thật, phản sự thật Cách duy nhất để thỏa mãn được yêu cầu đó làđổi mới cách nhìn về mục đích của TTHS theo hướng bình đẳng đối vớicác giá trị, lợi ích cần đạt được của TTHS, lợi ích của trật tự pháp luật vàlợi ích của cá nhân những con người nằm trong vòng tố tụng

Trang 21

Trên thế giới có hai quan điểm chủ yếu về mục đích của tố tụng hình sựcủa hai hệ thống pháp luật chủ yếu của thế giới là luật thành văn của châu Âu lụcđịa và của án lệ của thông luật Anh Mỹ (Common law): mục đích sự thật pháp lýtheo cách diễn đạt của các luật gia La Mã “quod non est in actua non in mundo”(“Cái không có trong hồ sơ là cái không tồn tại”) và xác định sự thật khách quancủa vụ án Mục đích nào đặt ra các nguyên tắc ấy Nếu vì mục đích thứ nhất, tốtụng hình sự phải tuân theo các nguyên tắc của mô hình tố tụng thẩm vấn (hayxét hỏi - Inquisitorial) Theo đó mục đích của tố tụng hình sự là đấu tranh chốngtội phạm, Tố tụng hình sự thiên về hướng sử dụng quyền lực và uy thế của các cơquan Nhà nước; coi trọng vai trò chứng minh của Tòa án Vì mục đích thứ hai,

Tố tụng hình sự phải tuân theo các nguyên tắc của tố tụng hình sự tranh tụng.Theo đó, TTHS không được coi chủ yếu hoạt động quyền lực mà được hình dungnhư sự giải quyết tranh chấp giữa một bên là Nhà nước - người đặt ra các điềucấm và một bên khác là bị can, bị cáo đã vi phạm các điều cấm đó Đồng thời, ởđây điều đáng quan tâm nhất không phải là áp dụng luật nội dung mà là thủ tụcpháp lý, thủ tục TTHS Mục đích của Tố tụng tranh tụng đặt ra các nguyên tắcđòi hỏi có vị trí bình đẳng của các bên tranh tụng, xác định trách nhiệm và khảnăng chứng minh trong vụ án hình sự, khuyến khích cả hai phía: người buộc tội

và bị cáo tìm kiếm những hình thức và khả năng khác nhau để giải quyết vụ án,việc xác định mục đích cần đạt được của TTHS sẽ là điểm mấu chốt cho việc cải

“nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” [13, Điều 103, Khoản 5].

Đây là hai quy định mới thể hiện quan điểm đổi mới của Đảng và nhà nước

16

Trang 22

Việt Nam đối với tổ chức và hoạt động tư pháp Cần có nhận thức đầy đủ

và sâu sắc hơn các quy định này của Hiến pháp sửa đổi Hiến pháp sửa đổilần này quy định Tòa án thực hiện quyền tư pháp có nghĩa là công bằng vàcông lý của một quốc gia, trước hết và chủ yếu biểu hiện điển hình và tậptrung nhất ở việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án Theo đó, bảo đảmtranh tụng (Adversarial) trong xét xử là một nguyên tắc đặc biệt quan trọng

để công bằng và công lý của một quốc gia được thể hiện Thực hiện quyền

tư pháp và nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo có quan hệchặt chẽ với nhau như hình với bóng Không thể thực hiện quyền tư phápnếu thiếu tranh tụng trong hoạt động xét xử và ngược lại chỉ có tranh tụngđược đảm bảo thì quyền tư pháp mới được thể hiện Nếu thừa nhận mốiquan hệ hữu cơ như vậy thì phải có một sự đổi mới về tư duy và nhận thức;phải coi trọng tranh tụng; tạo lập cho được môi trường thật sự dân chủ vàbình đẳng tại phiên tòa Hội đồng xét xử (HĐXX) là những trọng tài chủtọa cuộc tranh tụng để trên cơ sở đó đưa ra phán quyết

Thể chế hóa nguyên tắc hiến định “tranh tụng trong xét xử được đảm bảo” trong Luật tổ chức TAND, Luật tổ chức VKSND, Luật TTHS, và các luật

có liên quan Luật Tổ chức TAND nhấn mạnh: Nguyên tắc tranh tụng(adversarial) trong xét xử được bảo đảm Tòa án có trách nhiệm bảo đảm chonhững người tham gia tố tụng thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử Việc thựchiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử theo quy định của luật tố tụng Người bịbuộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luậtđịnh và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật [14, Điều 13]

Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp phápcủa đương sự được bảo đảm Bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa, nhờ luật

sư hoặc người khác bào chữa; đương sự khác trong vụ án có quyền tự mìnhhoặc nhờ người bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình Tòa án có trách nhiệm

Trang 23

bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự [14, Điều 14].

Theo đó, Tòa án thực hiện quyền tư pháp tức là thực hiện quyền xét

xử Những gì không thuộc quyền xét xử không nên giao cho Tòa án nhưquyền khởi tố vụ án hình sự Trách nhiệm chứng minh tội phạm là tráchnhiệm của bên buộc tội - Viện kiểm sát Kiểm sát việc xét xử của Tòa án tạiphiên tòa chủ yếu được thực hiện thông qua việc buộc tội (thực hành quyềncông tố) Coi trọng quyền chứng minh vô tội của người bị buộc tội (quyềnbào chữa); không nên xem đây là nghĩa vụ của họ Vì vậy, pháp luật phảitạo điều kiện thuận lợi hơn nữa, bình đẳng hơn nữa cho luật sư, người trợgiúp pháp lý tham gia vào hoạt động tố tụng Nếu như trong xét xử hình sựtinh thần mới phải coi trong quyền im lặng của bị can bị cáo, thì trong cáctranh chấp dân sự phải coi trọng quyền tự định đoạt của các bên

Về chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân

Luật tổ chức TAND năm 2014 đã cụ thể hóa các quy định của Hiếnpháp năm 2013 về TAND, bảo đảm Tòa án là cơ quan xét xử, thực hiệnquyền tư pháp; có nhiệm vụ bảo vệ công lý, quyền con người, quyền côngdân ; bảo đảm nguyên tắc QLNN là thống nhất, có sự phân công, phốihợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyềnlập pháp, hành pháp, tư pháp; thể chế hóa những định hướng của Đảng vềCCTP đồng thời quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn củaTAND, trong đó có nhiều nội dung mới, quan trọng

Khi thực hiện nhiệm vụ xét xử vụ án hình sự, Tòa án có quyền:

- Xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tốtụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Luật sư trong quá trình điều tra, truy tố,xét xử; xem xét việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; đìnhchỉ, tạm đình chỉ vụ án;

18

Trang 24

- Xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu do Cơquan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do Luật

sư, bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp;

- Khi xét thấy cần thiết, trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổsung; yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc Tòa án kiểmtra, xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ theo quy định của Bộ luật TTHS;

- Yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người khác trìnhbày về các vấn đề có liên quan đến vụ án tại phiên tòa; khởi tố vụ án hình

sự nếu phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm;

- Ra quyết định để thực hiện các quyền hạn khác theo quy định của

Bộ luật TTHS

Trong quá trình xét xử vụ án, Tòa án phát hiện và kiến nghị với các

cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản phápluật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghịquyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) để bảo đảm quyền vàlợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; cơ quan có thẩm quyền cótrách nhiệm trả lời Tòa án kết quả xử lý văn bản pháp luật bị kiến nghị theoquy định của pháp luật làm cơ sở để Tòa án giải quyết vụ án

Bên cạnh các nội dung nêu trên, Luật tổ chức TAND cũng đã quyđịnh cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong việc giải quyết các vụviệc dân sự, vụ án hành chính, xử lý vi phạm hành chính, công tác thi hànhán; bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử và thực hiện cácnhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của luật [14, Điều 2]

Luật tổ chức TAND cụ thể hóa đầy đủ các nguyên tắc cơ bản được quyđịnh tại Điều 103 của Hiến pháp, trong đó có những nguyên tắc mới quantrọng như nguyên tắc tranh tụng được bảo đảm trong xét xử; nguyên tắc suyđoán vô tội; đồng thời, bổ sung thêm nguyên tắc có tính chất đặc thù trong tổ

Trang 25

chức và hoạt động của Tòa án đã được ghi nhận tại các văn kiện Đại hộiĐảng gần đây và các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị về CCTP, cụ thể

là “Các TAND được tổ chức độc lập theo thẩm quyền xét xử” [14, Điều 5]

Các quan điểm của Hiến pháp mới được khẳng định chi tiết hơntrong Luật Tổ chức TAND; bằng quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn của TAND:

1 TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam,thực hiện quyền tư pháp

TAND có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người,quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhànước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

Bằng hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dântrung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôntrọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranhphòng, chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác

2 Tòa án nhân danh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam xét xử các

vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thươngmại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy địnhcủa pháp luật; xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu,chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kếtquả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có tội hoặc không có tội,

áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyếtđịnh về quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân

Bản án, quyết định của TAND có hiệu lực pháp luật phải được cơquan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữuquan phải nghiêm chỉnh chấp hành

20

Trang 26

3 Khi thực hiện nhiệm vụ xét xử vụ án hình sự, Tòa án có quyền:a) Xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định

tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Luật sư trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; xem xét việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy

bỏ biện pháp ngăn chặn; đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án;

b) Xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu

do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viênthu thập; do Luật sư, bị can, bị cáo và những người tham gia tốtụng khác cung cấp;

c) Khi xét thấy cần thiết, trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát điều tra

bổ sung; yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặcTòa án kiểm tra, xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ theo quyđịnh của Bộ luật TTHS;

d) Yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người kháctrình bày về các vấn đề có liên quan đến vụ án tại phiên tòa; khởi

tố vụ án hình sự nếu phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm;

e) Ra quyết định để thực hiện các quyền hạn khác theo quy định của Bộ luật TTHS

4 Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết các

vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại,lao động, hành chính và thực hiện các quyền hạn khác theo quyđịnh của luật tố tụng

5 Xử lý vi phạm hành chính; xem xét đề nghị của cơ quan quản

lý nhà nước và quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hànhchính liên quan đến quyền con người, quyền cơ bản của công dântheo quy định của pháp luật

Trang 27

6 Ra quyết định thi hành bản án hình sự, hoãn chấp hành hìnhphạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, giảm hoặc miễnchấp hành hình phạt, xóa án tích, miễn, giảm nghĩa vụ thi hành ánđối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước; thực hiện các quyềnhạn khác theo quy định của Bộ luật hình sự, Luật thi hành án hình

sự, Luật thi hành án dân sự

Ra quyết định hoãn, miễn, giảm, tạm đình chỉ chấp hành biệnpháp xử lý hành chính do Tòa án áp dụng và thực hiện các quyềnhạn khác theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính

7 Trong quá trình xét xử vụ án, Tòa án phát hiện và kiến nghị vớicác cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏvăn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốchội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH để bảo đảm quyền vàlợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; cơ quan có thẩmquyền có trách nhiệm trả lời Tòa án kết quả xử lý văn bản phápluật (VBPL) bị kiến nghị theo quy định của pháp luật làm cơ sở

để Tòa án giải quyết vụ án

8 Bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử

9 Thực hiện quyền hạn khác theo quy định của luật [16, Điều 2]

1.2 Cơ cấu tổ chức mới của Tòa án nhân dân các cấp

Địa vị pháp lý mới cùng nhiệm vụ chức năng mới có cơ cấu tổ chứcmới Điều 3 Tổ chức TAND quy định hệ thống các cơ quan thực hiệnquyền tư pháp xét xử gồm các Tòa án:

1 Tòa án nhân dân tối cao (TANNTC)

2 Tòa án nhân dân cấp cao (TANDCC)

3 TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

4 TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tươngđương

5 Tòa án quân sự (TAQS)

Trang 29

TANDTC là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa XHCN ViệtNam TANDTC giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của các Tòa án đã cóhiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng: Tổng kết thựctiễn xét xử của các Tòa án, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.

Cơ cấu tổ chức của TANDTC gồm: a) Hội đồng Thẩm phán Tòa ánnhân dân tối cao; b) Bộ máy giúp việc; c) Cơ sở đào tạo, bồi dưỡng

Thành phần TANDTC có Chánh án, các Phó Chánh án, Thẩm phánTANDTC, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, công chức khác, viên chức vàngười lao động

Số lượng thành viên Hội đồng Thẩm phán (HĐTP) TANDTC khôngdưới mười ba người và không quá mười bảy người, gồm Chánh án, các PhóChánh án TANDTC là Thẩm phán TANDTC và các Thẩm phán TANDTC.Hội đồng Thẩm phán TANDTC có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng;b) Ban hành nghị quyết hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật;

c) Lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của HĐTP TANDTC, bản

án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực củacác Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để cácTòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử;

d) Thảo luận, góp ý kiến đối với báo cáo của Chánh án TANDTC về công tác của TAND để trình Quốc hội, UBTVQH, Chủ tịch nước; đ) Tham gia ý kiến đối với dự án luật, dự thảo nghị quyết để trình Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết để trình UBTVQH;

e) Thảo luận, cho ý kiến đối với dự thảo VBPL thuộc thẩm quyềnban hành của Chánh án TANDTC và dự thảo VBPL giữa TANDTCvới cơ quan có liên quan theo quy định của Luật ban hành VBPL

23

Trang 30

HĐTP TANDTC xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm bằng HĐXX gồm

05 Thẩm phán hoặc toàn thể Thẩm phán TANDTC Việc xét xử giám đốcthẩm, tái thẩm bằng HĐXX gồm 05 Thẩm phán hoặc toàn thể Thẩm phánTANDTC được thực hiện theo quy định của luật tố tụng

Hiến pháp mới 2013 và Luật Tổ chức TAND năm 2014 nhấn mạnh nhiệm

vụ vai trò của Chánh án TANDTC với tư cách là người đứng đầu quyền tư phápnhư sau: Chánh án TANDTC do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đềnghị của Chủ tịch nước Nhiệm kỳ của Chánh án TANDTC theo nhiệm kỳ củaQuốc hội Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chánh án TANDTC tiếp tục thực hiệnnhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khóa mới bầu ra Chánh án TANDTC

Nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án TANDTC

1 Tổ chức công tác xét xử của TANDTC; chịu trách nhiệm tổ chứcthực hiện nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theopháp luật

2 Chủ tọa phiên họp của HĐTP TANDTC

3 Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các TAND theo quy định của luật tố tụng

4 Trình Chủ tịch nước ý kiến của mình về trường hợp người bị kết

án xin ân giảm án tử hình

5 Chỉ đạo việc tổng kết thực tiễn xét xử, xây dựng và ban hành Nghịquyết của HĐTP TANDTC bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xétxử; tổng kết phát triển án lệ, công bố án lệ

6 Chỉ đạo việc soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết

do TANDTC trình Quốc hội, UBTVQH; ban hành hoặc phối hợp ban hànhvăn bản pháp luật thuộc thẩm quyền theo Luật ban hành VBPL

7 Trình Quốc hội phê chuẩn việc đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm,cách chức Thẩm phán TANDTC; trình Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễnnhiệm, cách chức Phó Chánh án TANDTC và Thẩm phán các Tòa án khác

Trang 31

8 Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh theo quy định tạikhoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 42, khoản 1 Điều 43,khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48, khoản 1 Điều 60, khoản 1 Điều 61,khoản 1 Điều 62, khoản 1 Điều 63, khoản 1 Điều 64 của Luật này và cácchức vụ trong TANDTC, trừ các chức vụ thuộc thẩm quyền bổ nhiệm, miễnnhiệm, cách chức của Chủ tịch nước.

9 Quyết định luân chuyển, điều động, biệt phái Thẩm phán quy địnhtại khoản 2 Điều 78, khoản 2 Điều 79 và khoản 2 Điều 80 của Luật này, trừThẩm phán TANDTC

10 Trình UBTVQH quyết định thành lập, giải thể TANDCC; TANDtỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; TAND huyện, quận, thị xã, thànhphố thuộc tỉnh và tương đương; Tòa án quân sự quân khu (TAQSQK) vàtương đương; Tòa án quân sự khu vực (TAQSKV); quy định về phạm vithẩm quyền theo lãnh thổ của TANDCC và thành lập các Tòa chuyên tráchkhác của TAND khi xét thấy cần thiết

Trình UBTVQH phê chuẩn cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn bộ máy giúp việc của TANDTC

11 Quyết định việc tổ chức Tòa chuyên trách theo quy định tại điểm

b khoản 1 Điều 38 và khoản 1 Điều 45; quy định cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ,quyền hạn của các đơn vị thuộc bộ máy giúp việc của TAND theo quy địnhtại Điều 24, khoản 2 Điều 34, khoản 2 Điều 41, Điều 46, khoản 4 Điều 51,khoản 3 Điều 55 và khoản 3 Điều 58 của Luật này

12 Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 6 Điều

66, khoản 3 và khoản 4 Điều 70, khoản 7 Điều 75, khoản 4 Điều 88, khoản

3 Điều 92 và khoản 3 Điều 93 của Luật này

13 Quyết định phân bổ biên chế, số lượng Thẩm phán, ngân sách chicho hoạt động của các TAND; quy định biên chế của các TAQS sau khithống nhất với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng

25

Trang 32

14 Tổ chức kiểm tra việc thực hiện biên chế, quản lý cán bộ, quản lý

và sử dụng ngân sách, cơ sở vật chất của TAND

15 Tổ chức công tác đào tạo; bồi dưỡng Thẩm phán, Hội thẩm và các chức danh khác của TAND

16 Chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thờigian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trướcUBTVQH và Chủ tịch nước; trả lời chất vấn, kiến nghị của đại biểu Quốc hội

17 Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của luật tố tụng; giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật

Một cơ cấu mới nhất trong tổ chức của hệ thống tòa án theo Hiến pháp mới là việc thành lập Tòa án cấp cao (TACC) với nhiệm vụ:

i Phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhândân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc phạm vi thẩm quyền theolãnh thổ chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy địnhcủa luật tố tụng

ii Giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực phápluật của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, TANDhuyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương thuộc phạm vithẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng

Cơ cấu tổ chức của TANDCC gồm: i Ủy ban Thẩm phán (UBTP) Tòa

án nhân dân cấp cao; ii Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa hành chính, Tòa kinh tế,Tòa lao động, Tòa gia đình và người chưa thành niên Trường hợp cần thiết,UBTVQH quyết định thành lập Tòa chuyên trách khác theo đề nghị của

Chánh án TANDTC;

Tòa án nhân dân cấp cao có Chánh án, các Phó Chánh án, Chánh tòa, cácPhó Chánh tòa, Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, công chức khác vàngười lao động UBTP TANDCC gồm Chánh án, các Phó Chánh án là Thẩm

Trang 33

phán cao cấp (TPCC) và một số TPCC do Chánh án TANDTC quyết địnhtheo đề nghị của Chánh án TANDCC Số lượng thành viên UBTPTANDCC không dưới mười một người và không quá mười ba người.

UBTP TANDCC có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: a) Giám đốc thẩm,tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ương, TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

và tương đương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị theoquy định của luật tố tụng; b) Thảo luận, góp ý kiến đối với báo cáo của Chánh

án TANDCC về công tác của TANDCC để báo cáo TANDTC

Phiên họp của UBTP TANDCC phải có ít nhất hai phần ba tổng sốthành viên tham gia; quyết định của UBTP phải được quá nửa tổng sốthành viên biểu quyết tán thành

Thẩm phán và HTND là những chủ thể tham gia xét xử Các chức danhnày được làm nhiệm vụ theo chế độ bổ nhiệm Thẩm phán; bầu, cử Hội thẩm:

1 Chế độ bổ nhiệm Thẩm phán được thực hiện đối với các Tòa án

2 Chế độ bầu HTND được thực hiện đối với TAND tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương, TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh vàtương đương Chế độ cử Hội thẩm quân nhân (HTQN) được thực hiện đối vớiTAQSQK và tương đương, TAQSKV Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án có Hộithẩm tham gia theo quy định của luật tố tụng, trừ trường hợp xét xử theo thủtục rút gọn Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật;nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩmphán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào Cá nhân, cơ quan tổ chức có hành

vi can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm thì tùy theo tính chất,mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu TNHStheo quy định của pháp luật TAND xét xử tập thể và quyết định theo đa số,trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn Thành phần HĐXX ở mỗi cấp xét

27

Trang 34

xử do luật tố tụng quy định TAND xét xử kịp thời trong thời hạn luật định,bảo đảm công bằng TAND xét xử công khai Trường hợp đặc biệt cần giữ

bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưathành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự thìTAND có thể xét xử kín

Cá nhân, cơ quan, tổ chức phải tôn trọng Tòa án Nghiêm cấm mọi hành

vi xúc phạm, xâm hại đến sự tôn nghiêm, danh dự của TAND, cản trở hoạtđộng của Tòa án; người có hành vi vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ viphạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu TNHS theo quyđịnh, của pháp luật Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thẩm phán,Hội thẩm có quyền liên hệ với các cơ quan nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổquốc Việt Nam (UBMTTQVN), các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổchức xã hội khác và công dân Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạncủa mình, các cơ quan, tổ chức và công dân có trách nhiệm thực hiện yêu cầu

và tạo điều kiện để Thẩm phán, Hội thẩm làm nhiệm vụ

Thẩm phán theo Luật Tổ chức TAND được phân định theo ngạch gồm:(i) Thẩm phán TANDTC; (ii) Thẩm phán cao cấp; (iii) Thẩm phán trung cấp

và iv thẩm phán sơ cấp Việc phân định này thực sự sẽ có ý nghĩa rất lớntrong việc thay đổi cách hiểu máy móc về vai trò và vị trí của thẩm phán.Cách gọi và cách hiểu có phần mặc định như trước đây là thẩm phán tỉnh,thẩm phán huyện vô hình trung đã địa phương hóa chức danh này Thẩm phán

dù ở địa phương nào, thẩm phán cấp nào đều là những người nhân danh nhànước, phán quyết của họ đều phải được mọi cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội

và công dân tôn trọng và nếu có liên quan thì phải có nghĩa vụ thi hành Họ lànhững người được bổ nhiệm để thực hiện quyền lực tư pháp và không thể làviên chức của chính quyền tỉnh, huyện và tuyệt nhiên không thể áp dụng cácchế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật áp dụng dành cho công chức nhà nước

Trang 35

thông thường Việc phân định cấp thẩm phán là quy định tiến bộ, song việc triểnkhai thực hiện nó cần có những bước tiếp cận mới, với sự đoạn tuyệt đối với tưduy và cách hành xử theo đó thẩm phán tòa án tối cao có quyền lực cao hơn thẩmphán TACC, thẩm phán tòa án tỉnh có quyền lực và ảnh hưởng cao hơn tòa ánhuyện Cần bố trí để trong tòa án huyện cũng có thể TPCC, thẩm phán trung cấp(TPTC), thẩm phán sơ cấp (TPSC) Tòa án cấp nào cũng cần Thẩm phán có trình

độ tinh thông, dạng chuyên gia luật pháp để hiểu đúng luật và áp dụng đúng luật

ở cấp của mình Bởi vì đa số bản án có hiệu lực thi hành là bản sơ thẩm, ở cấpxét xử đầu tiên Việc bổ nhiệm thẩm phán theo ngạch cao cấp, trung cấp hay sơcấp không nên gắn với nơi làm việc mà gắn với trình độ chuyên môn, thâm niênnghề nghiệp, bản lĩnh chuyên môn thông qua những cuộc sát hạch khách quan,qua đánh giá của dư luận xã hội Trong thực tiễn những năm vừa qua, có nhữngThẩm phán có thâm niên xét xử gần 40 nhưng do là thẩm phán huyện nên lươngcủa họ cũng chỉ đóng khung trong ngạch lương thẩm phán huyện Vì thế, không

ít thẩm phán quan ngại việc làm việc ở huyện do cơ hội trở thành thẩm phánngạch cao hơn không rộng mở với họ

Luật Tổ chức TAND năm 2014 thể hiện sự thay đổi quan trọng đối vớinhiệm kỳ của thẩm phán Rất nhiều nhà khoa học khi góp ý dự thảo Luật Tổchức tòa án cho rằng cần qui định nhiệm kỳ của thẩm phán là 10 năm hoặctrọn đời, tránh cho thẩm phán đầu phải chịu áp lực của việc tái bổ nhiệm Quiđịnh mới của Luật Tổ chức tòa án có sự dung hòa giữa những đề xuất mới vàqui định của Luật Tổ chức TAND năm 2002 Việc bổ nhiệm thẩm phán vớinhiệm kỳ đầu tiên là 5 năm và các nhiệm kỳ sau nếu được tái bổ nhiệm là 10năm cũng chứa đựng sự hợp lý nhất định Mặc dù chưa giống như nhiều quốcgia trên thế giới thẩm phán được bổ nhiệm suốt đời, qui định tái bổ nhiệm vớinhiệm kỳ 10 năm cũng giải tỏa phần nào áp lực của thẩm phán trước vị trí củamình, giúp họ trở nên bản lĩnh hơn trong xét xử Thực tế cho thấy việc bổ

29

Trang 36

nhiệm thẩm phán theo Luật Tổ chức TAND năm 2002 khiến cho rất nhiều thẩm phán trước thời tái bổ nhiệm gần như trở nên thiếu tự tin, lo lắng.

Việc bổ nhiệm suốt đời hoặc bổ nhiệm với nhiệm kỳ dài bắt nguồn từtính chất hoạt động của thẩm phán Lao động của Thẩm phán là lao động đặcbiệt, lao động được nhà nước trực tiếp phân công (Chủ tịch Nước bổ nhiệm).Khi xét xử, thẩm phán nhân danh công lý, nhân danh quốc gia, thực thi công

lý theo sự ủy thác của Nhân dân Khi xét xử, người Thẩm phán phải tuân thủnghiêm ngặt những nguyên tắc nhất định, trong đó nguyên tắc cơ bản và quantrọng nhất là độc lập, chỉ tuân theo pháp luật Trong NNPQ, tính độc lập của

tư pháp là một trong những đặc trưng cơ bản Tầm quan trọng của tư pháp độclập từ lâu đã được Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế năm 1948 (UDHR) ghinhận: mọi người “đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi mộtTòa án độc lập và khách quan” [30, Điều 10] Công ước quốc tế về các quyềndân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) cũng khảng định mọi người có “quyềnđược xét xử công bằng, công khai bởi một Tòa án có thẩm quyền, độc lập,

công minh được thiết lập theo pháp luật - Everyone has the right to a fair, public trial by a competent, independent and impartial Court established by law”. [27, Điều 14] Ở nước ta, tính độc lập khi xét xử của Thẩm phán và Hộithẩm từ lâu đã là một nguyên tắc Hiến định (được ghi nhận trong các bản Hiếnpháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013), được cụ thể hóa trong các đạoluật quan trọng như Bộ luật TTHS, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tốtụng hànhchính, Luật Tổ chức TAND để bảo đảm cho việc xét xử đúng người, đúng tội,đúng pháp luật Thẩm phán cùng lúc phải tuân thủ các nguyên tắc hết sức khắtkhe như: "Không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm" hay "xét xửtập thể và tuân theo đa số" nhưng lại phải "độc lập xét xử và chỉ tuân theopháp luật" Thẩm phán chỉ làm tốt những điều này nếu có những điều kiện phùhợp với tính chất của nghề nghiệp mà họ đảm nhiệm

Trang 37

Việc tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, bản lĩnh theo thời gian cũng là mộttrong những điều kiện then chốt đó.

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của TAND trong lĩnh vực tố tụnghình sự được mở rộng và phản ánh tốt hơn bản chất của quyền lực tư pháp.Một số điểm mới liên quan đến chức năng, quyền hạn của thẩm phán đượcLuật Tổ chức TAND năm 2014 thể hiện như sau:

(i)xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định

tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên, luật sư trong quá trìnhđiều tra, truy tố, xét xử;

(ii)xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu

do cơ quan điều tra, điều tra viên, viện kiểm sát, kiểm sát viên thuthập, do luật sư, bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụngkhác cung cấp;

(iii)khi xét thấy cần thiết, trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát điều tra

bổ sung; yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặcTòa án kiểm tra, xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ theo quyđịnh của Bộ luật TTHS;

(iv)yêu cầu điều tra viên, kiểm sát viên và những người khác trình bày về các vấn đề có liên quan đến vụ án tại phiên tòa;

(vi)khởi tố vụ án hình sự nếu phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm [14, Điều 2]

Những điểm mới trên có ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao vai tròcủa tòa án, biến tòa án thành một biểu tượng của QLNN và công lý Các quiđịnh mới này hướng tới sự kiểm soát của tòa án đối với hoạt động điều tra, tuy

tố Quyền lực của cơ quan điều tra, công tố cần được kiểm soát và không ai cóthể kiểm soát tốt hơn so với thẩm phán thông qua thủ tục tố tụng công khai,dân chủ tại phiên tòa, nơi tập trung những người tiến hành và người

31

Trang 38

tham gia tố tụng và nơi mà các thành tố này chỉ được phép tìm tới sự thậtkhách quan của vụ việc bằng công cụ pháp luật Tuy nhiên, để những quiđịnh mới phát huy được tác dụng rất cần đến những giải pháp cụ thể vàtoàn diện, đặc biệt là việc hoàn thiện thủ tục tố tụng tư pháp.

Việc giao cho tòa án xem xét kết luận tính hợp pháp của các hành vi,quyết định tố tụng của kiểm sát viên, điều tra viên, xem xét tính hợp pháp củachứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, truy tố thu thập, luật sư, bị can, bị cáo

và những người khác cung cấp là hết sức đúng đắn TTHS là một chuỗi cáchành động, quyết định của cơ quan điều tra, công tố Muốn mang lại công lýcho người dân, thẩm phán phải trước hết phải chắc chắn việc đưa bị cáo đưa ratrước tòa là kết quả của những hành vi, quyết định tố tụng đúng đắn, phù hợpvới pháp luật Tuy nhiên, Thẩm phán, Tòa án phải thực hiện việc xem xét cáchành vi, quyết định tố tụng tại phiên tòa một cách độc lập, khách quan Vì vậy,cần hoàn thiện pháp luật tố tụng để thẩm phán, HĐXX có thể thực hiện việcnày mà không có sự phối hợp hoặc với cơ quan điều tra, công tố Phối hợp cần

ở các cơ quan nhà nước khác song không nên tồn tại trong hoạt động xét xửcủa Tòa án Vì vậy, luật TTHS cần có những qui định chặt chẽ nhằm loại trừdần những cuộc họp bàn án giữa các cơ quan điều tra, truy tố và tòa án Tương

tự, Thẩm phán phải dựa trên những chứng cứ hợp pháp, có độ tin cậy cao.Việc trao cho Thẩm phán xem xét tính hợp pháp của chứng cứ, tài liệu do cơquan điều tra, truy tố thu thập, do luật sư và bị cáo cung cấp thông qua thủ tục

tố tụng rất phù hợp với yêu cầu của thực tiễn tư pháp ở nước ta Việc giaoquyền đánh giá chứng cứ cho Thẩm phán là điều kiện cần, điều kiện đủ là phảihình thành các quy định để đảm bảo cho việc Thẩm phán hoàn toàn độc lập vàbình đẳng trong việc đánh giá chứng cứ cho dù đó là chứng cứ của cơ quannhà nước hay của luật sư, bị can hay người khác đưa ra

Quyền của Thẩm phán trả hồ sơ yêu cầu Viện Kiểm sát điều tra bổ

Trang 39

sung; yêu cầu Viện Kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc Tòa án kiểm tra,xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ cũng là một điểm gây tranh luận về họcthuật Một số ý kiến cho rằng việc trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung, yêu cầu

bổ sung tài liệu trong quá trình xét xử về bản chất không khác gì sự phối hợpgiữa cơ quan truy tố và Thẩm phán để buộc tội cho bằng được bị cáo Thựctiễn hoạt động xét xử cho thấy không ít trường hợp khi Tòa án yêu cầu điềutra lại, cơ quan công tố, cơ quan điều tra không thực hiện và yêu cầu Tòa án

xử theo những chứng cứ đã có Trong trường hợp này, Thẩm phán phải xửmặc dù thấy chứng cứ không thỏa đáng Thẩm phán cũng chỉ có thể xử theotội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn chứ không được xử theo tội danh nặng hơn

so với truy tố của cáo trạng Trường hợp này thực tiễn còn tồn tại hướng dẫn

là Tòa án phải trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để đề nghị truy tố về tội nặng hơn,nếu Viện kiểm sát không truy tố theo tội danh nặng hơn thì Tòa vẫn xét xửtheo tội danh đã truy tố và báo cáo lên Tòa án cấp trên Quy định này rõ ràng

là không nhất quán nguyên tắc hiến định là “khi xét xử Thẩm phán độc lập vàchỉ tuân theo pháp luật” Việc trả hồ sơ yêu cầu bổ sung thực sự sẽ trở thànhvấn đề nếu trong Bộ luật TTHS sắp tới không có những điều chỉnh thích hợp.Quan điểm cần ủng hộ là Bộ luật TTHS cần qui định việc trả hồ sơ yêu cầu bổsung chỉ trong những trường hợp rất hạn chế và với những điều kiện chặt chẽ.Nhìn chung, cần trao cho Thẩm phán quyền tuyên bố bị cáo vô tội nếu HĐXXthấy chứng cứ không đủ để buộc tội bị cáo Qui định này sẽ buộc cơ quan điềutra, truy tố đặc biệt cẩn trọng khi chuẩn bị hồ sơ, chứng cứ và giúp tránh đượcnhững vụ án oan Đồng thời, quy định này cũng hạn chế được việc Thẩm phánthiếu bản lĩnh, sợ trách nhiệm, không dám phán quyết theo đúng tình trạng hồ

sơ và kết quả tranh tụng, trả hồ sơ cho an toàn, làm kéo dài vụ án, ảnh hưởngquyền lợi của người tham gia tố tụng

Việc qui định cho Tòa án được xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ

33

Trang 40

cũng là điểm mới nhằm nâng cao vai trò của Tòa án trong thực thi quyềnlực tư pháp Tuy nhiên, điểm mới này rất đáng quan ngại về mặt lý luận, vềmặt tổ chức quyền lực tư pháp và tính khả thi trong tương lai Giao cho tòa

án quyền thu thập bổ sung chứng cứ dễ biến tòa án thành cơ quan điều tra

và như vậy xóa mờ ranh giới giữa quyền lực tư pháp và quyền lực hànhpháp, điều mà Hiến pháp 2013 đã xác định rõ ràng hơn Một khía cạnh lýluận nữa Tòa án bổ sung chứng cứ để làm rõ vấn đề cho bên nào? Liệu điềunày có làm mất đi vị thế “trọng tài” giữa cơ quan truy tố và bị cáo haykhông? Ai sẽ tiến hành thu thập, bổ sung chứng cứ? Thành viên của HĐXXhay cán bộ của Tòa án? Liệu việc thu thập chứng cứ này có dẫn tới nhữngmối quan hệ thân hữu hay sự thiếu thiện cảm với bị cáo, luật sư? Nhữngvấn đề nêu trên đặt ra cho Bộ luật TTHS những yêu cầu đối với việc tòa ánthực hiện việc thu thập, bổ sung chứng cứ Bộ luật TTHS cần qui định rõtrong trường hợp nào thì Tòa án có thể thu thập, bổ sung chứng cứ Hơnnữa, việc thu thập, bổ sung chứng cứ được thực hiện như thế nào? Phạm vi,giới hạn và những công cụ pháp lý nào để Tòa án thực thi quyền này

Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của HĐTP TANDTC là quyết địnhcao nhất, không bị kháng nghị là là qui định rất phù hợp với yêu cầu thực tiễnhoạt động xét xử Về mặt lý luận, Tòa án thực hiện quyền tư pháp và chỉ cóbản án của Tòa án mới được coi là nhân danh công lý Nếu bản án của Tòa án

bị bất cứ cơ quan nào xem xét lại thì quyền lực tư pháp không còn ý nghĩa.Điểm mới này của Luật Tổ chức Tòa án sẽ mang lại nhiều giá trị thực tiễn,chấm dứt tình trạng các vụ án vòng đi vòng lại nhiều lần, mất hàng chục nămvẫn chưa có điểm dừng Không một quốc gia nào huy động cả hệ thống tòa án

để xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, sau đó giám đốc thẩm, tái thẩm và đưa trở lạivòng thứ hai, thứ ba đối với vụ án giá trị không lớn Ngay cả những vụ án lớn,cũng cần có điểm dừng trong phạm vi cơ quan tư pháp Việc xử án qua nhiều

Ngày đăng: 04/11/2020, 15:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w