1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Địa vị pháp lý của thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ở việt nam hiện nay

103 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 140,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối quan hệ tố tụng giữa Thẩm phán và những chủ thể 24 khác của các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Quan hệ giữa Thẩm phán với những ng-ời th

Trang 1

Mục lục

Trang

Chương 1: một số vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của Thẩm phán 7

trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

1.1 Quan niệm về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng 7

dân sự

1.1.1 Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng 7 1.1.2 Khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán trong khoa học 9

luật tố tụng dân sự

1.2 Các yếu tố quy định và chi phối việc xác định địa vị pháp lý 11

của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân

sự

1.2.4 Tính chất của xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 21 1.3 Mối quan hệ tố tụng giữa Thẩm phán và những chủ thể 24

khác của các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự trong giai

đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Quan hệ giữa Thẩm phán với những ng-ời tham gia tố

Trang 2

1.4 Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong các mô hình tố tụng 30

dân sự trên thế giới

Chương 2: địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ 35

thẩm vụ án dân sự theo các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành

2.1 Khái quát các quy định pháp luật Việt Nam về địa vị pháp 35

lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân

sự tr-ớc khi ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2004

2.2 Các quy định pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý của 37

Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 2.2.1 Địa vị pháp lý của Thẩm phán thể hiện qua các nguyên tắc 37

cơ bản của luật tố tụng dân sự

2.2.1.1 Các nguyên tắc có tính chất liên ngành 38 2.2.1.2 Các nguyên tắc đặc tr-ng của luật tố tụng dân sự 43 2.2.2 Địa vị pháp lý của Thẩm phán thể hiện ở nhiệm vụ, quyền 46

hạn của Thẩm phán và những ng-ời tiến hành tố tụng

khác

2.2.3 Địa vị pháp lý của Thẩm phán thể hiện ở các quy định về 51

chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và hòa giải vụ án dân

sự tr-ớc phiên tòa sơ thẩm

2.2.3.1 Các quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 51 2.2.3.2 Các quy định về hòa giải vụ dân sự tr-ớc phiên tòa sơ thẩm 55 2.2.4 Địa vị pháp lý của Thẩm phán thể hiện ở các quy định về 56

phiên tòa sơ thẩm dân sự

Chương 3: Thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về địa vị 63

pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

vụ án dân sự và một số kiến nghị

3.1 Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về địa vị pháp lý 63

Trang 3

2

Trang 4

3.1.2 Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán tr-ớc 68

phiên tòa sơ thẩm

3.1.3 Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán tại phiên 73

tòa sơ thẩm

3.1.4 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong việc thực 75

hiện các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm

phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về địa 79

vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

vụ án dân sự

3.2.1 Cải cách t- pháp và vấn đề hoàn thiện các quy định pháp 79

luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán

3.2.2.1 Sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự 81 3.2.2.2 Sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 84 3.2.3 Kiến nghị về các biện pháp bảo đảm thực hiện đầy đủ 87

quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán

Trang 5

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến l-ợccải cách t- pháp đến năm 2020 đã xác định xét xử là trọng tâm của hoạt động t-pháp và Tòa án có vị trí trung tâm trong hệ thống t- pháp Theo tinh thần và nộidung của nghị quyết nói trên, trọng tâm của cải cách t- pháp là cải cách hệ thốngTòa án, và do đó, nói đến cải cách t- pháp không thể không đề cập đến việc đổimới hoạt động của Thẩm phán, tr-ớc hết là hoàn thiện các quy định pháp luật vềđịa vị pháp lý của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng nói chung và trong từng lĩnhvực tố tụng nói riêng, để Thẩm phán thực hiện tốt hơn nhiệm vụ xét xử của mình.Nghị quyết số 49-NQ/TW đã đặt ra yêu cầu:

Xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của

ng-ời tiến hành tố tụng và ng-ng-ời tham gia tố tụng theo h-ớng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh ;

Tăng quyền hạn, trách nhiệm tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán để họ chủ động thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trong hoạt động tố tụng [5].

Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật

về địa vị pháp lý của Thẩm phán có ý nghĩa cấp thiết trong công cuộc cải cách t-pháp ở n-ớc ta hiện nay.

Cho đến nay, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độkhác nhau liên quan đến vấn đề địa vị pháp lý của Thẩm phán trong hoạt động

tố tụng (cả trong lĩnh vực tố tụng hình sự và tố tụng dân sự), nh-ng ch-a cócông trình nào ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu sâu và toàn diện

về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự, nhất là đi sâu về địa vịpháp lý của Thẩm phán trong một giai đoạn của tố tụng dân sự

Trang 6

Trong khi đó, thực tiễn hoạt động tố tụng dân sự hiện nay, đặc biệt là ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, lại đặt ra nhiều vấn đề

về địa vị pháp lý của Thẩm phán nh-: tính độc lập của Thẩm phán khi xét

xử ch-a đ-ợc bảo đảm, sự bất cập trong áp dụng nguyên tắc xét xử tập thể và nguyên tắc xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia, khiếm khuyết trong các quy định pháp luật về tranh tụng trong tố tụng dân sự và tính hình thức trong việc thực hiện tranh tụng trên thực tế v.v…

Thực tiễn đòi hỏi phải làm sáng tỏ hơn về mặt lý luận địa vị pháp lý củaThẩm phán trong tố tụng dân sự và nhất là trong giai đoạn xét xử sơ thẩm -giai đoạn cú vị trí rất quan trọng trong toàn bộ quá trình tố tụng và thể hiện tậptrung các quyền và nghĩa vụ tố tụng của Thẩm phán; đồng thời thực tiễn cũngđặt ra yêu cầu phải có sự phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành

về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

và thực trạng áp dụng các quy định này, từ đó đ-a ra đ-ợc giải pháp khắc phụcnhững bất cập, thiếu sót và tiếp tục hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý củaThẩm phán trong tố tụng dân sự

Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ở Việt Nam hiện nay"

có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nếu nh- trong khoa học luật tố tụng hình sự đã có một số công trình nghiên cứu sâu về vai trò, địa vị pháp lý của Thẩm phán, thì trong khoa học luật tố tụng dân sự có rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề này, nhất là nghiên cứu về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong một giai đoạn tố tụng nh- giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Có thể nói, đến nay, ở Việt Nam, ch-a có công trình nghiên cứu chuyênsâu về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.Tuy nhiên, cũng đã có những công trình liên quan đến đề tài luận văn ở các

Trang 7

mức độ khác nhau Có thể kể đến các công trình nghiên cứu về cải cách pháp nh-: Đề tài KX04.06 thuộc Chương trình khoa học xã hội cấp nhà n-ớc

t-KX.04 giai đoạn 2001-2005 "Cải cách các cơ quan t- pháp, hoàn thiện hệ

thống các thủ tục t- pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Tòa án trong Nhà n-ớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân" do

TS Uông Chu L-u làm Chủ nhiệm đề tài (nghiệm thu năm 2006); sách chuyên khảo "Cải cách t- pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà n-

ớc pháp quyền" do PGS.TSKH Lê Cảm và TS Nguyễn Ngọc Chí đồng chủ

biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội (2004); sách chuyên khảo "Thể chế

t-pháp trong nhà n-ớc t-pháp quyền" do PGS.TS Nguyễn Đăng Dung chủ

biên, Nxb T- pháp, Hà Nội (2004) và một số công trình khác.

Trong các công trình nghiên cứu chuyên khảo về luật tố tụng dân sự,cũng có một số công trình đề cập đến vai trò, địa vị pháp lý của Thẩm phán Đó

là: sách chuyên khảo "Xây dựng Bộ luật Tố tụng dân sự – những vấn đề lý luận và thực tiễn" của TS Phan Hữu Th-, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội (2001); Đề tài khoa học cấp Bộ "Những quan điểm cơ bản về Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam" do PGS.TS Hà Thị Mai Hiên chủ trì (2001); sách chuyên khảo "Bình luận khoa học một số vấn đề của pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng" của TS Lê Thu Hà, Nxb T- pháp, Hà Nội (2006)

Ngoài ra, có một số bài viết đăng trên các tạp chí khoa học pháp lý chuyên ngành nghiên cứu một số khía cạnh về vai trò, nhiệm

vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng dân sự, nh-: "Vai trò của Thẩm phán đối với việc mở rộng tranh tụng trong các vụ án dân sự" của tác giả T-ởng Duy L-ợng đăng trên Thông tin khoa học pháp lý, số 2/2004, "Cơ quan tiến hành tố tụng và ng-ời tiến hành tố tụng" của ThS Bùi Thị Huyền đăng trên Tạp chí Luật học, số 4/2004.

Trong điều kiện xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhất làkhi thực hiện Chiến l-ợc cải cách t- pháp đến năm 2020, vấn đề địa vị pháp lý củaThẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự cần đ-ợc

Trang 8

làm sáng tỏ hơn về mặt lý luận và thực tiễn, làm cơ sở cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự, đáp ứng yêu cầu của cải cách t- pháp đối với việc nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích

Làm rõ một số vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự; góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân

sự, đáp ứng yêu cầu cải cách t- pháp.

- Đ-a ra một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật

về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự tr-ớc yêu cầu cải cách t- pháp ở Việt Nam hiện nay.

4 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu địa vị pháp lý của Thẩm phán trong một giai đoạn của tố tụng dân sự - giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ

án dân sự ở Việt Nam hiện nay.

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài đ-ợc nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách t- pháp.

Trang 9

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể đ-ợc sử dụng trong luận văn là phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp lịch sử - cụ thể, phương pháp luật học so sánh.

6 Điểm mới của luận văn

- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu sâu về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong một giai đoạn của tố tụng dân sự - giai đoạn xét xử

sơ thẩm vụ án dân sự.

- Luận văn đã đ-a ra đ-ợc khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dânsự; chỉ ra và phân tích các yếu tố quy định và chi phối việc xác định địa vị pháp lýcủa Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự; nêu bật sự khác biệtgiữa hai mô hình tố tụng thẩm vấn và tố tụng tranh tụng về địa vị pháp lý củaThẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

- Luận văn đã phân tích, làm rõ địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạnxét xử sơ thẩm vụ án dân sự thể hiện trong các quy định pháp luật ViệtNam hiện hành, chỉ ra những điểm tiến bộ so với các quy định tr-ớc đây vànhững điểm còn bất cập Luận văn cũng đ-a ra những đánh giá, nhận địnhkhách quan về thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về địa vị pháp lýcủa Thẩm phán trong thực tiễn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, chỉ rõ nhữnghạn chế, tồn tại và nguyên nhân của chúng

- Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn đ-a ra đ-ợc những kiến nghị cụthể về hoàn thiện địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơthẩm vụ án dân sự đáp ứng yêu cầu cải cách t- pháp, bao gồm các kiếnnghị về hoàn thiện pháp luật cũng nh- về các biện pháp bảo đảm cho Thẩmphán thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình

7. ý nghĩa của luận văn

Luận văn có thể đ-ợc sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu hoàn thiện các quy định pháp luật về Thẩm phán, góp phần nâng cao chất l-ợng xét xử của Tòa án.

Trang 10

Luận văn cũng có thể đ-ợc sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và học tập các môn học nh- Tổ chức hệ thống t- pháp, Luật tố tụng dân sự v.v… tại các cơ sở đào tạo luật.

8 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Chương 2: Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ

thẩm vụ án dân sự theo các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành

Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của

Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và một số kiến nghị

Trang 11

Chương 1

Một số vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai

đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

1.1 Quan niệm về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố

xã hội luôn luôn phát sinh các tranh chấp, các vi phạm pháp luật, xâm phạmquyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà n-ớc, xâmphạm trật tự pháp luật, do vậy cần phải có một phương diện hoạt động thứ bacủa quyền lực nhà n-ớc, đó là t- pháp với chức năng bảo vệ pháp luật

Phương thức đặc thù thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật của pháp là tài phán, tức là đối chiếu các hành vi, các tranh chấp cụ thể với các chuẩn mực pháp luật để đánh giá, phán xét tính hợp pháp, tính đúng đắn của hành vi hoặc bản chất của tranh chấp, từ đó đ-a ra một phán quyết mang tính bắt buộc nhân danh nhà n-ớc Với việc phán quyết đó đ-

t-ợc công bố và thi hành, các chuẩn mực pháp luật đ-t-ợc bảo vệ, quyền và lợi ích bị xâm phạm đ-ợc khôi phục, công lý đ-ợc duy trì.

Trang 12

Trong các xã hội tiền t- bản, quyền lực nhà n-ớc tập trung chủ yếutrong tay nhà vua Vua là chủ thể nắm giữ cả ba quyền lập pháp, hành pháp

và t- pháp; vua đích thân xét xử các tranh chấp trong nhân dân, trực tiếptrừng phạt những hành vi vi phạm pháp luật Cùng với sự phát triển của xãhội, do nhu cầu phân công giải quyết các công việc của nhà n-ớc, vua đãchuyển một phần quyền t- pháp cho quan lại từ trung ương xuống địaphương thực hiện; tuy nhiên, các quan lại đó đồng thời cũng là những quanlại hành chính Nh-vậy, quyền t- pháp ch-a đ-ợc tách khỏi quyền lập pháp vàquyền hành pháp Trong thời kỳ cách mạng t- sản, một số học giả mà tiêubiểu là Môngtexkiơ đã đề ra t- t-ởng phân chia quyền lực, trong đó táchquyền t- pháp ra khỏi quyền lập pháp và quyền hành pháp, thành lập một

hệ thống cơ quan độc lập thực hiện quyền t- pháp - đó là Tòa án Tòa ánkhông chỉ là một cơ quan nhà n-ớc thông th-ờng, mà còn là biểu t-ợng củacông lý, của lẽ phải, đáp ứng đ-ợc nguyện vọng của ng-ời dân

Khi đã có một hệ thống Tòa án chuyên thực hiện chức năng xét xử,thì phải có một đội ngũ những ng-ời chuyên làm nhiệm vụ xét xử, tách biệtvới những ng-ời làm việc trong bộ máy hành chính Đó chính là Thẩm phán

Nh- vậy, Thẩm phán là một nhân viên của nhà n-ớc chuyên làm nhiệm vụ xét xử, hay nói cách khác, xét xử là hoạt động mang tính nghề nghiệp của Thẩm phán.

Trên thực tế, để Tòa án có thể thực hành quyền xét xử, quá trình thựchiện quyền t- pháp phải trải qua rất nhiều khâu đoạn với nhiều loại hoạt động docác cơ quan khác nhau tiến hành đ-ợc gọi chung là hoạt động tố tụng [38, tr 29]

Ví dụ, trong tố tụng hình sự, bên cạnh Tòa án thực hiện chức năng xét xử còn có

cơ quan điều tra, cơ quan công tố thực hiện chức năng buộc tội Nh-ng dù tronglĩnh vực tố tụng nào (tố tụng hình sự, tố tụng dân sự hay tố tụng hành chính), hoạtđộng xét xử cũng là trung tâm của toàn bộ quá trình tố tụng, vì chỉ thông qua hoạtđộng xét xử mới ra đ-ợc phán quyết mang tính quyền lực

Trang 13

nhà n-ớc về tính hợp pháp, đúng đắn của hành vi, hay về bản chất của tranh chấp và trách nhiệm của các bên tranh chấp.

Do xét xử là trung tâm của quá trình tố tụng, nên trong lĩnh vực tố

tụng hình sự, tố tụng dân sự hay tố tụng hành chính, Thẩm phán đều đóng

vai trò là ời tiến hành tố tụng trung tâm (trong tương quan với những

ng-ời tiến hành tố tụng khác) Hoạt động tố tụng của Thẩm phán góp phần

quan trọng vào việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củacác chủ thể và duy trì trật tự pháp luật Mỗi phán quyết của Thẩm phán đều

có thể ảnh h-ởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của các cá nhân, tổ chức, vìvậy ng-ời dân chờ đợi ở Thẩm phán sự công minh, sáng suốt của nhữngng-ời cầm cân nảy mực, đại diện cho công lý, lẽ phải

1.1.2 Khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán trong khoa học luật tố tụng dân sự

Do Thẩm phán là ng-ời tiến hành tố tụng trung tâm, nên khi đặt vấn đề cải cách t- pháp thì không thể không nói đến việc đổi mới chính hoạt động của Thẩm phán, cụ thể là phải xác định rõ địa vị pháp lý của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng nói chung và trong từng loại tố tụng nói riêng, đồng thời xác định một cơ chế tổ chức khoa học, hợp lý để Thẩm phán thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình.

Vậy địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự đ-ợc hiểu nh-thếnào? Tr-ớc hết, cần làm rõ khái niệm địa vị pháp lý Theo quan niệm chung, địa vịpháp lý là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể kháctrên cơ sở các quy định pháp luật; địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật thể hiệnthành một tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lậpcũng nh- giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình Thông quađịa vị pháp lý có thể phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác,đồng thời, cũng có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trongcác mối quan hệ pháp luật [62, tr 244] Nh-

Trang 14

vậy, "địa vị pháp lý" khác với "địa vị xã hội" ở chỗ nó đ-ợc pháp luật quy định và nó biểu hiện ở các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể.

Vận dụng khái niệm trên vào lĩnh vực tố tụng dân sự, thì địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự đ-ợc hiểu là tổng thể các quyền và nghĩa

vụ tố tụng của Thẩm phán phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự

do pháp luật quy định, thể hiện vị trí của Thẩm phán trong mối quan hệ với các chủ thể khác của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Trong đó, các quyền tố

tụng của Thẩm phán là phạm vi những việc mà Thẩm phán đ-ợc quyền quyếtđịnh, thực hiện trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình, còn các nghĩa vụ tốtụng của Thẩm phán đ-ợc hiểu là những việc mà Thẩm phán phải thực hiệntrong thời hạn nhất định, nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án đ-ợc nhanhchóng, chính xác, khách quan Quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán luôn đi liềnvới trách nhiệm Xét xử là hoạt động mang tính quyết định, mỗi phán quyết đềuảnh h-ởng trực tiếp tới quyền lợi của đương sự Do đó, việc xác định tráchnhiệm của Thẩm phán gắn liền với quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong tốtụng dân sự là rất cần thiết

Thẩm phán không chỉ là chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng mà còn làchủ thể của nhiều loại quan hệ pháp luật khác nh- quan hệ pháp luật hành chính(ví dụ: Thẩm phán phải chịu sự quản lý, điều hành về mặt tổ chức của ng-ời đứngđầu cơ quan Tòa án nơi mình công tác và chịu sự quản lý của lãnh đạo ngànhTòa án) Vì vậy, ngoài pháp luật tố tụng, hành vi của Thẩm phán chịu sự điềuchỉnh của nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau Nh-ng nói đến địa vị pháp lý của

Thẩm phán trong tố tụng dân sự là chỉ nói đến các quyền và nghĩa vụ mang tính chất tố tụng của Thẩm phán với t- cách là một ng-ời tiến hành tố tụng dân sự, phát

sinh trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự Các quyền và nghĩa vụ này

tr-ớc hết đ-ợc quy định bởi Hiến pháp, Luật Tổ chức Tòa án, tiếp đó là Bộ luật Tốtụng dân sự, các văn bản h-ớng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự và các vănbản pháp luật có liên quan khác

Trang 15

Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu địa vị pháp lý của Thẩm phán tronggiai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, tức là trong một giai đoạn của tố tụngdân sự Tố tụng dân sự là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn kế tiếp nhau,trong đó, giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là giai đoạn mà vụ án dân sựđ-ợc xem xét, giải quyết lần đầu Giai đoạn này thể hiện tập trung các nguyêntắc cơ bản của tố tụng dân sự và cũng là giai đoạn thể hiện tập trung quyền vànghĩa vụ pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự.

1.2 Các yếu tố quy định và chi phối việc xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Việc xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự nóichung, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự nói riêng chịu sự quy định

và chi phối của nhiều yếu tố khác nhau và ở các cấp độ khác nhau, nh-: quanniệm về quyền t- pháp, đặc thù của hoạt động xét xử, đặc điểm của tố tụngdân sự và tính chất của xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Sự tác động của các yếu tố nói trên dẫn đến sự khác biệt giữa địa vịpháp lý của Thẩm phán với địa vị pháp lý của những ng-ời tiến hành tố tụngkhác; giữa địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng hình sự và tố tụng dân

sự, giữa địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm với cácgiai đoạn tố tụng khác Các yếu tố này cũng tạo nên sự khác biệt về địa vịpháp lý của Thẩm phán ở các quốc gia, các hệ thống pháp luật khác nhau

1.2.1 Quan niệm về quyền t- pháp

Thẩm phán là người thực hiện chức năng xét xử - chức năng cơ bản của Toà án, vỡ vậy địa vị pháp lý của Thẩm phán gắn liền với địa vị pháp lý của Toà án, với vị trí của Toà án trong bộ máy nhà nước, mà vị trí này bị quy định và chi phối bởi cách thức tổ chức quyền lực nhà nước và quan niệm về quyền tư pháp ở mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ khác nhau.

Trang 16

Về bản chất, quyền lực nhà nước là một chỉnh thể thống nhất giữa ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng về phương diện tổ chức quyền lực thỡ cú hai phương thức khác nhau: tập quyền và phân quyền Phương thức phân quyền khá phổ biến ở các nhà nước tư sản, dựa trên học thuyết phân chia quyền lực của Môngtexkiơ Theo học thuyết này, tư pháp là một nhánh quyền lực độc lập với quyền lập pháp, quyền hành pháp và đồng nghĩa với quyền xét

xử (tài phán) do Toà án thực hiện Trong khi đó, phương thức tập quyền khá phổ biến ở các nước xó hội chủ nghĩa trước đây; cũn hiện nay theo quan niệm

về tổ chức quyền lực ở các nước này thỡ quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; trong đó quyền tư pháp không chỉ thuộc

về Toà án mà cũn được giao cho một số cơ quan bảo vệ phỏp luật khỏc.

Ở Việt Nam, quan niệm về quyền tư pháp và cơ quan tư pháp có sự thay đổi qua các thời kỳ lịch sử Hiến pháp năm 1946 và các văn bản pháp luật ban hành trong giai đoạn 1946-1959 sử dụng thuật ngữ "cơ quan tư pháp" để chỉ các Toà án Tuy nhiên, trong thời gian này, hoạt động của Toà án không chỉ là hoạt động xét xử (do Thẩm phán xét xử - "Thẩm phán ngồi" thực hiện) mà cũn gồm hoạt động điều tra và hoạt động công tố do công tố viên thuộc Toà

án thực hiện (Thẩm phán buộc tội – "Thẩm phán đứng") Nhưng từ Hiến pháp

1959, cụm từ "cơ quan tư pháp" không cũn được sử dụng trong các văn bản pháp luật của Nhà nước với ý nghĩa là cỏc Toà ỏn Từ năm 1981, ngành Tư pháp được thành lập lại từ trung ương đến các địa phương (Bộ Tư pháp, Sở, Phũng Tư pháp ) nhưng đó là các cơ quan thuộc hệ thống hành pháp làm chức năng quản lý nhà nước về công tác tư pháp.

Thuật ngữ "quyền tư pháp" lần đầu tiên được ghi nhận tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xó hội năm 1991, với việc khẳng định "Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó" Các văn kiện của Đảng tiếp đó như Nghị quyết Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII,

Trang 17

Nghị quyết Trung ương 3 khoá VIII đó từng bước hoàn thiện nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước nói trên, và đến Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) đó khẳng định: "Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp" Nguyên tắc này được thể chế hoá tại Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có văn bản pháp luật nào của Nhà nước xác định rừ cỏc cơ quan thực hiện quyền tư pháp là những cơ quan nào Cũn trong cỏc nghị quyết của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, các cụm từ "cơ quan bảo vệ pháp luật" và "cơ quan tư pháp" dường như có thể được dùng thay thế nhau và cú phạm vi khỏ rộng.

Quyền tư pháp theo quan niệm phổ biến ở nước ta hiện nay được hiểu là lĩnhvực quyền lực nhà nước được thực hiện thông qua hoạt động xét xử của Tũa ỏn vàhoạt động của các cơ quan nhà nước hoặc các tổ chức khác trực tiếp liên quan đếnhoạt động xét xử của Tũa ỏn, nhằm bảo vệ chế độ xó hội chủ nghĩa, phỏp chế, trật tựphỏp luật, quyền và lợi ớch hợp phỏp của cụng dõn, lợi ớch của Nhà nước và xó hội

Vỡ vậy, cơ quan tư pháp bao gồm: Tũa ỏn nhõn dõn, Viện kiểm sỏt nhõn dõn, cỏc cơquan điều tra và các cơ quan, tổ chức tư pháp bổ trợ như: luật sư, công chứng, giámđịnh , trong đó, Toà án là trung tâm của hệ thống t- pháp Quan điểm này đãđ-ợc thể hiện trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chínhtrị về Chiến l-ợc cải cách t- pháp đến năm 2020 Cũng chỉ đến gần đây, quanniệm Toà án là trung tâm trong các cơ quan t- pháp mới chính thức đ-ợcthừa nhận ở Việt Nam Tr-ớc đây, theo nhận thức chung, Toà án đ-ợc coi làmột trong những cơ quan bảo vệ pháp luật, cùng ở vị trí bình đẳng với cácchủ thể tiến hành tố tụng khác nh- cơ quan điều tra, Viện kiểm sát Thậmchí, khi giao cho một cơ quan t-pháp khác kiểm sát hoạt động xét xử củaToà án thì vô hình trung Toà án lại bị đặt vào một vị trí thứ yếu trong số các

cơ quan thuộc hệ thống t- pháp Hơn nữa, khi Toà án bị đặt ngang hàng vớicác cơ quan khác trong quan hệ tố tụng,

Trang 18

các quy định của pháp luật về cơ chế phối hợp đã làm giảm đi vị trí, vai trò của Toà án trong bộ máy nhà n-ớc và giảm cả tính độc lập trong xét xử của Thẩm phán.

Nh- vậy, cách thức tổ chức quyền lực và quan niệm về quyền pháp có tác động rõ rệt đến việc xác định địa vị pháp lý của Thẩm phántrong hoạt động tố tụng Điều này cho thấy việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật

t-về địa vị pháp lý của Thẩm phán không chỉ đơn thuần là sửa đổi, bổ sungmột số điều luật cụ thể, mà nó liên quan đến việc cải cách toàn bộ hệ thốngt- pháp Nếu quan niệm xét xử là trọng tâm của hoạt động t- pháp và Tòa án

là trung tâm của hệ thống t- pháp nh- ở Việt Nam hiện nay thì phải xác địnhđúng và rõ hơn địa vị pháp lý của Thẩm phán với t- cách là ng-ời tiến hành

tố tụng trung tâm trong hoạt động tố tụng

1.2.2 Đặc thù của hoạt động xét xử

Hoạt động xét xử của Tòa án mang tính đặc thù so với hoạt độngcủa các cơ quan nhà n-ớc khác, do đó địa vị pháp lý của Thẩm phán có sựkhác biệt rõ nét với địa vị pháp lý của các cán bộ, công chức nhà n-ớcthông th-ờng và của những ng-ời tiến hành tố tụng không làm nhiệm vụ xét

xử Tính đặc thù của hoạt động xét xử biểu hiện ở những điểm sau đây:

Trang 19

của quy phạm pháp luật nào? Nói một cách khái quát, hoạt động xét

xử tr-ớc hết đó là việc tìm kiếm, xác định và minh định cho sự kiện xảy

ra và trên cơ sở đó Tòa án phải đ-a ra đ-ợc những đánh giá pháp lý cho các sự kiện đó Nh- vậy, xét xử là một hoạt động áp dụng pháp luật nh-ng mang đầy tính sáng tạo, đòi hỏi t- duy ở trình độ cao của Thẩm phán và một "niềm tin nội tâm" có cơ sở khoa học và thực tiễn.

Phương pháp áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử là phươngpháp tranh tụng công khai, bình đẳng giữa các bên liên quan, Tòa án phánquyết trên cơ sở các chứng cứ khách quan [36, tr 27] Đây là điểm khác biệtcăn bản với hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan hành chính nhà n-

ớc (đ-ợc thực hiện theo phương pháp quyền uy- phục tùng, việc ra quyết định

áp dụng pháp luật không phụ thuộc vào ý kiến của đối t-ợng bị áp dụng)

Hoạt động xét xử có thể dẫn đến kết quả là các cá nhân, tổ chức đ-ợc h-ởng các quyền và lợi ích hoặc gánh chịu các nghĩa vụ nhất định Thông qua hoạt động xét xử mà pháp luật tác động đến các quan hệ xã hội Đây không phải là phương tiện duy nhất nh-ng lại là chủ yếu nhất trong việc giải quyết xung đột, tranh chấp trong xã hội nhằm đ-a xã hội vào trạng thái ổn định để phát triển.

- Tính độc lập trong xét xử

Độc lập xét xử là nguyên tắc chủ đạo trong hoạt động nghề nghiệp củaThẩm phán Không có hoạt động nào lại đòi hỏi sự độc lập ở mức độ cao nh-hoạt động xét xử Bởi vì "thiên chức hàng đầu của hệ thống t- pháp, của Tòa

án là áp dụng đúng pháp luật, bảo đảm sự bình đẳng và khách quan Sự độclập của Tòa án khi xét xử chính là điều kiện không thể thiếu đ-ợc của việc thựchiện yêu cầu đó" [60, tr 52] Vì vậy, có thể đồng tình với nhận định rằng: "xétcho cùng thì bản chất đặc tr-ng không thể thiếu đ-ợc của hoạt động xét xử làđộc lập" [29, tr 12] Các quy định pháp luật phải đảm bảo cho Thẩm phán cómột địa vị pháp lý độc lập ở mức tối đa

Trang 20

Độc lập vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của Thẩm phán Khi xét xử,Thẩm phán không bị lệ thuộc vào ý kiến của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhânnào, mà tự mình xem xét, đánh giá các tình tiết của vụ án, các chứng cứ đã đ-

ợc thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào các quy định của pháp luật đểphán quyết Thẩm phán không những độc lập với sự can thiệp của các cánhân, cơ quan, tổ chức bên ngoài Tòa án mà còn độc lập với chính sự canthiệp của cá nhân hay tổ chức trong nội bộ Tòa án Có thể nói Thẩm phán độclập đến mức nào thì phán quyết sẽ đúng đắn đến chừng ấy

Tuy nhiên, độc lập của Thẩm phán không có nghĩa là thoát ly khỏi cácyếu tố ràng buộc, dẫn đến tùy tiện, mà là độc lập trong khuôn khổ của phápluật, độc lập nh-ng phải tuân theo pháp luật Giữa "độc lập" và "chỉ tuân theopháp luật" có mối quan hệ biện chứng với nhau, "chỉ tuân theo pháp luật" chính

là giới hạn, phạm vi, khuôn khổ của sự độc lập "Độc lập" là điều kiện cần, còn

"chỉ tuân theo pháp luật" là điều kiện đủ, là cái bảo đảm cho Thẩm phán thựchiện đúng đắn, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình C Mác đã từngkhẳng định về tính độc lập của Thẩm phán: "Đối với Thẩm phán thì không cócấp trên nào khác ngoài luật pháp Thẩm phán có trách nhiệm giải thích luậtpháp trong việc vận dụng vào từng tr-ờng hợp cá biệt, đúng nh- ông ta hiểuluật pháp khi xem xét nó một cách có lương tri" [trích theo 38, tr 60] Trong xét

xử, ng-ời Thẩm phán phải biết v-ợt lên trên tất cả sự tác động từ nhiều phía vàv-ợt lên trên cả chính mình để "chỉ tuân theo pháp luật" Trong hoạt động tốtụng có nhiều chủ thể khác nhau, nh-ng chỉ có Thẩm phán là ng-ời đ-ợc phápluật giao nhiệm vụ xét xử một cách chuyên nghiệp, là ng-ời có điều kiện và khảnăng đầy đủ nhất để xác minh, kiểm chứng toàn bộ các chứng cứ, tình tiết của

vụ án và xem xét, đánh giá một cách toàn diện bản chất pháp lý của các sựkiện, hành vi và đ-a ra phán quyết Vì vậy, yêu cầu lớn nhất đặt ra là phải dànhcho Thẩm phán một môi tr-ờng không có bất kỳ sự can thiệp nào ngoài sự chỉđạo của pháp luật và niềm tin nội tâm để đánh giá, phán xét toàn bộ các tìnhtiết của vụ án, vận dụng pháp luật để đi đến một phán quyết nhân danh nhà n-

ớc Tính độc lập vừa là đặc thù, vừa là yêu cầu

Trang 21

của hoạt động xét xử Nếu ng-ời Thẩm phán độc lập và có năng lực thì có thể "sửa chữa" đ-ợc những khiếm khuyết của một đạo luật tồi, nh-ng nếu ng-ời Thẩm phán không có năng lực, trách nhiệm, lương tâm và sự độc lập cần thiết thì một đạo luật dù tốt đến đâu cũng có thể không bảo đảm đ-ợc mục đích ban đầu của nó [29, tr 7].

Địa vị pháp lý độc lập không phải là một đặc quyền của Thẩm phán, vì lợi ích của Thẩm phán mà thực chất đó là công cụ cơ bản để bảo đảm công lý, bảo đảm quyền đ-ợc xét xử công bằng của ng-ời dân Chính hoạt động độc lập, chỉ tuân theo pháp luật của các Thẩm phán nhằm mục đích bảo đảm quyền con ng-ời của mọi công dân, quyền bình đẳng của con ng-ời tr-ớc pháp luật [28, tr 22].

- Tính quyền lực nhà n-ớc và tính hiệu lực tuyệt đối của các bản án, quyết định của Tòa án

Hoạt động xét xử là một dạng hoạt động thực hiện quyền lực nhà

n-ớc do Tòa án nhân danh Nhà n-n-ớc thực hiện theo trình tự tố tụng do Luậtđiều chỉnh [42, tr 44] Đây là sự khác biệt cơ bản giữa hoạt động xét xử củaTòa án và hoạt động giải quyết tranh chấp của trọng tài Giống nh- Tòa án,trọng tài khi giải quyết một tranh chấp giữa các bên trên cơ sở có thỏathuận trọng tài cũng phải áp dụng pháp luật vào từng tr-ờng hợp cụ thể Nh-

ng dấu hiệu đặc tr-ng phân biệt hoạt động xét xử của Tòa án với hoạt độnggiải quyết tranh chấp của trọng tài là dấu hiệu về tính quyền lực của chủ thểthực hiện hoạt động đó Phán quyết của Tòa án nhân danh Nhà n-ớc chứkhông phải là phán quyết của một Tòa án cụ thể nào đó, càng không phải làphán quyết của một cá nhân trong Tòa án Phán quyết này thể hiện trực tiếpthái độ của Nhà n-ớc đối với các vụ án cụ thể Thái độ ấy chỉ căn cứ vàopháp luật, áp dụng phù hợp với từng vụ án cụ thể để xác định trách nhiệmpháp lý, đ-a ra chế tài thích hợp cho từng tr-ờng hợp cụ thể

Trong quá trình xét xử, Thẩm phán có quyền ra các quyết định có tínhchất bắt buộc thi hành đối với những ng-ời tham gia tố tụng, ví dụ: khi xét xử

Trang 22

các vụ án dân sự, Thẩm phán có quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩncấp tạm thời, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, quyếtđịnh tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự… Bản án, quyết địnhcủa Tòa án do Hội đồng xét xử tuyên nhân danh Nhà n-ớc và bản án, quyếtđịnh đó khi đã có hiệu lực pháp luật phải đ-ợc các cơ quan nhà n-ớc, tổ chức

xã hội và mọi công dân tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh Bản án, quyếtđịnh này chỉ bị xem xét lại theo một trình tự tố tụng nghiêm ngặt và chỉ có thể

bị hủy bỏ bởi một bản án khác nhân danh Nhà n-ớc

1.2.3 Đặc điểm của tố tụng dân sự

Quan niệm về quyền t- pháp và đặc thù của hoạt động xét xử là nhữngyếu tố quy định, chi phối việc xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong hoạtđộng tố tụng nói chung, bao gồm cả tố tụng hình sự, tố tụng hành chính và tố tụngdân sự Mỗi loại tố tụng lại có những đặc điểm riêng ảnh h-ởng đến việc xác địnhđịa vị pháp lý của Thẩm phán trong từng loại tố tụng

Tố tụng dân sự có những đặc điểm cơ bản sau đây quy định địa vị pháp lý của Thẩm phán:

Thứ nhất, các đương sự trong tố tụng dân sự có quyền tự định đoạt.

Đây là một điểm đặc tr-ng của tố tụng dân sự, thể hiện sự khác biệt cơbản giữa tố tụng dân sự và tố tụng hình sự Quyền tự định đoạt của các đương sựtrong tố tụng dân sự mang tính khách quan, xuất phát từ quyền tự định đoạt củacác chủ thể trong quan hệ dân sự Các quan hệ dân sự là những quan hệ diễn ratrong đời sống dân sự của xã hội, đ-ợc thiết lập trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện,

tự do thỏa thuận giữa các chủ thể có địa vị pháp lý bình đẳng với nhau Trongquan hệ pháp luật dân sự, các chủ thể có toàn quyền quyết định tham gia haykhông tham gia vào quan hệ; quyết định nội dung của quan hệ (các quyền vànghĩa vụ của các bên); quyết định phương thức thực hiện các quyền và nghĩa vụ

đó Một khi các chủ thể đã có quyền tự do tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự,

tự do xác lập các giao dịch dân sự, thì họ cũng có

Trang 23

toàn quyền quyết định phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từnhững giao dịch đó (quyết định có đ-a tranh chấp ra Tòa án hay không, yêucầu Tòa án giải quyết những vấn đề gì, quyết định thay đổi, bổ sung, rút yêucầu, tự thỏa thuận, hòa giải với nhau v.v ) Nh- vậy, quyền tự định đoạt củacác đương sự trong tố tụng dân sự là sự phản ánh quyền tự định đoạt củacác chủ thể trong các quan hệ pháp luật dân sự [39, tr 38] Tuy nhiên, khácvới quyền tự định đoạt của các bên trong quan hệ pháp luật dân sự, quyền

tự định đoạt của các đương sự trong tố tụng dân sự đ-ợc thực hiện với sựtham gia của Tòa án Tòa án và Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ ándân sự phải có trách nhiệm tôn trọng và bảo đảm cho các đương sự thựchiện đ-ợc quyền tự định đoạt của mình

Trong tố tụng dân sự, các đương sự là ng-ời quyết định diễn biến quátrình tố tụng, họ có thể khởi x-ớng quá trình đó (bằng việc khởi kiện vụ án hoặcyêu cầu giải quyết việc dân sự), cũng có thể thay đổi hoặc làm chấm dứt quátrình đó (hòa giải với nhau, rút đơn khởi kiện ) Mọi hoạt động của Thẩm phántrong tố tụng không đ-ợc xâm phạm đến quyền tự định đoạt của đương sự, vídụ: Thẩm phán chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu của đương sự; không đ-ợc

tự mình điều tra, thu thập chứng cứ hay quyết định áp dụng biện pháp khẩncấp tạm thời trừ những tr-ờng hợp pháp luật quy định; khi tiến hành hòa giảiphải tôn trọng sự tự do thỏa thuận của các đương sự, không đ-ợc áp đặt ý chíchủ quan của mình lên các đương sự v.v…

Thứ hai, các đương sự trong tố tụng dân sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh

Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của các đương sự trong tốtụng dân sự xuất phát từ chính quyền tự định đoạt của họ "Việc dân sự cốt ởhai bên", các đương sự muốn bảo vệ đ-ợc quyền và lợi ích hợp pháp của mìnhthì phải cung cấp đ-ợc chứng cứ và lý lẽ để chứng minh cho yêu cầu của mình

là có căn cứ; hơn nữa, đương sự là ng-ời trong cuộc nên biết rõ nhất về sựviệc Do đó, đương sự có điều kiện và động lực cung cấp chứng cứ và chứngminh

Trang 24

hơn bất cứ chủ thể nào khác Đây là cũng là điểm khác biệt cơ bản giữa tốtụng dân sự và tố tụng hình sự Trong tố tụng hình sự, nghĩa vụ chứng minhtội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, bị can, bị cáo có quyềnnh-ng không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội Còn trong tố tụng dân sự,đương sự nào không chứng minh đ-ợc thì có thể sẽ phải chịu hậu quả bấtlợi Thẩm phán về nguyên tắc không tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ

mà sẽ phán quyết căn cứ vào chứng cứ do các đương sự cung cấp, trừ một

số tr-ờng hợp ngoại lệ do pháp luật quy định Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ

và chứng minh thuộc về các đương sự đã trở thành một trong nhữngnguyên tắc cơ bản, đặc tr-ng của luật tố tụng dân sự

Thứ ba, tố tụng dân sự mang tính đơn chủ thể tiến hành tố tụng.

Đây là một điểm khác biệt nữa giữa tố tụng dân sự và tố tụng hình sự Tốtụng hình sự là tổng hợp những hành vi tố tụng do nhiều cơ quan tiến hành tốtụng, nhiều ng-ời tiến hành tố tụng thực hiện trong các giai đoạn khác nhau của tốtụng (tính đa chủ thể tiến hành tố tụng) Đối với thủ tục tố tụng hình sự, Tòa án chỉ

là một trong số các cơ quan tiến hành tố tụng Tòa án chỉ tham gia tố tụng từ khi

hồ sơ đ-ợc chuyển đến cho Tòa án, nghĩa là sau khi đã có kết luận điều tra Việcđiều tra, truy tố là nhiệm vụ của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án chỉ làmnhiệm vụ xét xử và ra quyết định Tr-ớc khi nhận đ-ợc hồ sơ do cơ quan điều trachuyển đến, Thẩm phán không tự mình lập bất cứ một hồ sơ nào về vụ án Vì vậy,trong tố tụng hình sự có nhiều giai đoạn tố tụng độc lập do các cơ quan tố tụngđộc lập với nhau tiến hành nh- giai đoạn khởi tố, điều tra, xét xử, thi hành án, giaiđoạn tr-ớc là tiền đề, là sự chuẩn bị cho giai đoạn sau và giai đoạn sau vừa thừah-ởng vừa giám sát kết quả hoạt động của giai đoạn tr-ớc, mỗi cơ quan tiến hành

tố tụng hình sự đều giữ vai trò chủ chốt ở giai đoạn của mình Còn trong tố tụngdân sự, Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng chủ yếu và Thẩm phán là ng-ời tiếnhành tố tụng chủ yếu, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong giải quyết

vụ việc dân sự Trong tố tụng dân sự cũng hình thành nhiều giai đoạn tố tụng,song các giai

Trang 25

đoạn tố tụng này đều do Tòa án tiến hành và vì vậy tính nhiều giai đoạn trong tố tụng dân sự gắn liền với tính đơn chủ thể và không giống với tính nhiều chủ thể trong tố tụng hình sự [48, tr 88-90].

1.2.4 Tính chất của xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Trong tố tụng dân sự, giữa các giai đoạn không có ranh giới rõ ràng trong tố tụng hình sự, bởi vì hầu hết các giai đoạn này đều do Tòa án tiếnhành Hiện nay ở n-ớc ta có một số quan điểm khác nhau về các giai đoạn của

nh-tố tụng dân sự Có quan điểm cho rằng "nh-tố tụng dân sự là một quá trình baogồm nhiều giai đoạn khác nhau nh- khởi kiện, lập hồ sơ, hòa giải vụ việc dân

sự đến xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ việc dân sự và xét lại bản án, quyết địnhcủa Tòa án đã có hiệu lực pháp luật" [32, tr 21] Quan điểm khác cho rằng

"quá trình giải quyết vụ án dân sự trải qua các giai đoạn tố tụng khác nhau khởi kiện và thụ lý, hòa giải và chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm, xét xử phúcthẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, thi hành án…, trong đó xét xử sơ thẩm tạiphiên tòa là giai đoạn quan trọng nhất của tố tụng dân sự, nơi thể hiện rõ chứcnăng xét xử của Tòa án" [57, tr 84] Nh- vậy, hai quan điểm trên đều tách hòagiải và chuẩn bị xét xử (lập hồ sơ) ra thành một giai đoạn tố tụng riêng và đồngnhất xét xử sơ thẩm với phiên tòa sơ thẩm

nh-Tuy nhiên, nếu hiểu theo nghĩa rộng, chuẩn bị xét xử sơ thẩm hay lập hồ

sơ vụ án thực chất là những hoạt động nhằm phục vụ cho việc xét xử tại phiên tòa

sơ thẩm, vì vậy có thể coi chuẩn bị xét xử cũng nằm trong giai đoạn xét xử sơthẩm vụ án dân sự, giống nh- chuẩn bị xét xử phúc thẩm nằm trong giai đoạn xét

xử phúc thẩm chứ không tách ra thành giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm riêng.Giữa chuẩn bị xét xử và xét xử có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó chuẩn

bị xét xử luôn đ-ợc tiến hành tr-ớc hoạt động xét xử, tạo điều kiện, tiền đề cho việcxét xử đạt kết quả tốt Vì vậy, không cần thiết coi chuẩn bị xét xử sơ thẩm là mộtgiai đoạn tố tụng độc lập mà chỉ nên coi đó là một khâu không tách rời của giaiđoạn xét xử sơ thẩm Còn hòa giải là hoạt động do Tòa án tiến hành nhằm giúpcác đương sự thỏa thuận với nhau về việc

Trang 26

giải quyết vụ án; hòa giải có thể đ-ợc tiến hành trong suốt quá trình giải quyết

vụ án dân sự nên hòa giải không phải là một giai đoạn của tố tụng dân sự

Từ những lập luận ở trên, có thể phân chia tố tụng dân sự ra thành các giaiđoạn sau đây: khởi kiện và thụ lý vụ án, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét lạibản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và thi hành án dân sự Nh-vậy, theo cách phân chia này, giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự bắt đầu từ khithụ lý vụ án và kết thúc bằng bản án hay quyết định sơ thẩm

Trong các giai đoạn của tố tụng dân sự, giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự có ý nghĩa hết sức quan trọng Giai đoạn này có những tính chất sau đây chi phối địa vị pháp lý của Thẩm phán:

Thứ nhất, sơ thẩm là xét xử lần đầu vụ án dân sự, tức là lần đầu tiên

vụ án đ-ợc Tòa án có thẩm quyền đ-a ra xem xét một cách công khai tr-ớc

phiên tòa Thông qua xét xử sơ thẩm, lần đầu tiên thái độ, quan điểm của Nhàn-ớc về vụ án đ-ợc thể hiện một cách chính thức qua các phán quyết của Tòa

án Hiện nay, đa số các n-ớc trên thế giới, trong đó có Việt Nam thực hiệnnguyên tắc hai cấp xét xử, tức là một vụ án đ-ợc xét xử lần thứ nhất (xét xử sơthẩm) có thể đ-ợc xem xét lại một lần nữa theo trình tự phúc thẩm; những saisót (nếu có) ở cấp sơ thẩm sẽ đ-ợc khắc phục ở cấp xét xử thứ hai Nguyêntắc này đ-ợc đặt ra xuất phát từ nhu cầu đảm bảo tính thận trọng trong cácphán quyết của Tòa án, bởi các phán quyết này ảnh h-ởng trực tiếp đến quyền

và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức trong xã hội

Nh- vậy, xét xử sơ thẩm có sự khác biệt cơ bản với xét xử phúc thẩm vàxét xử giám đốc thẩm, tái thẩm Nếu nh- xét xử sơ thẩm là xét xử vụ án lần đầutiên (cấp xét xử thứ nhất), thì xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếpxét xử lại vụ án khi bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm ch-a có hiệu lựcpháp luật bị kháng cáo, kháng nghị (cấp xét xử thứ hai) Còn giám đốc thẩm, táithẩm không phải là một cấp xét xử, mà là thủ tục đặc biệt nhằm xét lại bản án,quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án bị kháng nghị

Trang 27

do phát hiện có sai lầm, vi phạm pháp luật trong việc giải quyết vụ án, hoặc do có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án.

Một điểm cần l-u ý là thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử không cónghĩa là xem nhẹ cấp xét xử sơ thẩm Giai đoạn xét xử sơ thẩm là giai đoạngiải quyết toàn bộ vụ án một cách thực chất; bản án, quyết định của Tòa áncấp sơ thẩm tuy ch-a có hiệu lực pháp luật ngay, nh-ng nếu hết thời hạn phápluật quy định mà không có kháng cáo, kháng nghị thì sẽ có hiệu lực thi hành

Thứ hai, xét xử sơ thẩm là giai đoạn bắt buộc đối với việc giải quyết bất

kỳ một vụ án dân sự nào, còn xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm

có đ-ợc tiến hành hay không là tùy thuộc vào những căn cứ của các khángcáo, kháng nghị theo luật định để xác định cần thiết hay không cần thiết việcTòa án cấp trên mở phiên tòa xem xét lại bản án, quyết định ch-a có hoặc đã

có hiệu lực pháp luật Nếu không có xét xử sơ thẩm cũng đồng nghĩa với việc

vụ án không đ-ợc đ-a ra xét xử và nh- vậy, đương nhiên sẽ không có việc xét

xử phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm

Thứ ba, giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự chịu sự chi phối tập trung

và mạnh mẽ của hầu hết các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự, từ nhữngnguyên tắc có tính chất liên ngành đến những nguyên tắc đặc tr-ng của luật tốtụng dân sự, đặc biệt phải kể đến những nguyên tắc liên quan trực tiếp đến việcxác lập địa vị pháp lý của Thẩm phán nh- nguyên tắc độc lập xét xử, nguyên tắcTòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số, nguyên tắc Hội thẩm nhân dântham gia xét xử, nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự, nguyên tắc cungcấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự, nguyên tắc hòa giải trong tốtụng dân sự Trong số các nguyên tắc này, có những nguyên tắc chi phối toàn bộquá trình tố tụng với mức độ tác động đồng đều ở tất cả các giai đoạn tố tụng (nh-nguyên tắc độc lập xét xử, nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể), có nguyên tắc chỉchi phối giai đoạn xét xử sơ thẩm (nh- nguyên tắc Hội thẩm nhân dân tham gia xétxử), và cũng có những nguyên tắc chi phối toàn bộ quá trình tố tụng nh-ng mức độtác động đến giai đoạn xét xử sơ

Trang 28

thẩm mạnh mẽ hơn, đậm nét hơn so với các giai đoạn khác (nh- nguyên tắcquyền tự định đoạt của đương sự, nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứngminh trong tố tụng dân sự, nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự).

Thứ t-, bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm là kết quả cuối cùng của hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, ng-ời tiến

hành tố tụng và ng-ời tham gia tố tụng từ khi khởi kiện, thụ lý vụ án, đến lập hồ sơ vụ án, cung cấp, thu thập chứng cứ và hòa giải v.v…, đồng thời là cơ sở để tiến hành các hoạt động xét xử ở các giai đoạn tiếp theo.

Thứ năm, chất l-ợng của xét xử sơ thẩm có ảnh h-ởng đến toàn bộ quá

trình tố tụng Nếu xét xử sơ thẩm, đặc biệt là phiên tòa sơ thẩm diễn ra đúngpháp luật, dân chủ, công bằng, phán quyết của Tòa án đã thấu tình, đạt lý thì

sẽ góp phần hạn chế kháng cáo, kháng nghị, giải quyết đ-ợc dứt điểm tranhchấp giữa các đương sự, giảm bớt đ-ợc tình trạng quá tải ở cấp phúc thẩm,giám đốc thẩm, vì vậy góp phần ổn định giao l-u dân sự, nâng cao ý thức phápluật và niềm tin vào công lý ở ng-ời dân Còn ng-ợc lại, nếu chất l-ợng xét xử

sơ thẩm không đảm bảo, bản án, quyết định của Tòa án không đúng pháp luật,không đạt yêu cầu, thì không những sẽ làm phát sinh các hoạt động xét xử tiếptheo, gây lãng phí và tốn kém cho cả Nhà n-ớc và nhân dân, mà còn tạo chong-ời dân tâm lý không tin t-ởng vào Tòa án

1.3 Mối quan hệ tố tụng giữa Thẩm phán và những chủ thể khác của các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Nh- đã nêu ở mục 1.1.2, địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân

sự nói chung và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự nói riêng thể hiện vịtrí của Thẩm phán trong mối quan hệ với những chủ thể khác của các quan hệpháp luật tố tụng dân sự Chủ thể của các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự rất đadạng, nh-ng để làm rõ địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơthẩm vụ án dân sự, luận văn chỉ đi sâu vào hai nhóm quan hệ tố

Trang 29

tụng: quan hệ giữa Thẩm phán với những ng-ời tiến hành tố tụng khác

và quan hệ giữa Thẩm phán với những ng-ời tham gia tố tụng.

1.3.1 Quan hệ giữa Thẩm phán với những ng-ời tiến hành tố tụng khác

Hiện nay, ở Việt Nam có một số quan điểm khác nhau về khái niệm, phạm

vi những ng-ời tiến hành tố tụng Có quan điểm cho rằng ng-ời tiến hành tố tụngphải là ng-ời đ-ợc thực hiện những hành vi tố tụng mang tính quyền lực nhà n-ớc

có ý nghĩa thúc đẩy tiến trình giải quyết vụ án, và do vậy, chỉ bao gồm Thẩm phán

và Hội thẩm nhân dân [31, tr 167] Quan điểm khác cho rằng ng-ời tiến hành tốtụng dân sự là ng-ời thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong việc giải quyết vụ việcdân sự, thi hành án dân sự hoặc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụngdân sự, bao gồm: Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Th- ký Tòa

án, Viện tr-ởng Viện kiểm sát, kiểm sát viên, thủ tr-ởng cơ quan thi hành án vàchấp hành viên [20, tr 89-90] Còn theo quan điểm thứ ba (quan điểm đ-ợc thểhiện trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004), những ng-ời tiến hành tố tụng chỉbao gồm: Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Th- ký Tòa án, Việntr-ởng Viện kiểm sát, kiểm sát viên Dù là theo quan điểm nào thì Thẩm phán vẫn

là ng-ời tiến hành tố tụng không thể thiếu và đóng vai trò trung tâm trong tươngquan với những ng-ời tiến hành tố tụng khác Luận văn đi sâu phân tích các quan

hệ tố tụng giữa Thẩm phán với Hội thẩm nhân dân, Chánh án Tòa án cùng cấp,Th- ký Tòa án và Kiểm sát viên

1.3.1.1 Quan hệ giữa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân (hay bồi thẩm) đều là những ng-ờitiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ xét xử các vụ án, nh-ng địa vị pháp lý của

họ có nhiều điểm khác nhau Nếu nh- Thẩm phán là cán bộ của Tòa án chuyênlàm nhiệm vụ xét xử thì Hội thẩm là đại diện của nhân dân tham gia xét xử, họkhông phải là ng-ời xét xử chuyên nghiệp Tùy theo pháp luật mỗi n-ớc mà đạidiện nhân dân đóng vai trò khác nhau trong việc phán quyết các vụ án dân sự

ở các n-ớc thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, thông th-ờng

Trang 30

Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ngồi cùng một bàn và họ ngang quyền với nhaukhi xét xử cũng nh- khi đ-a ra phán quyết Còn ở các n-ớc thuộc hệ thống phápluật Anh - Mỹ, bồi thẩm đoàn ngồi ở vị trí khác với Thẩm phán Chủ tọa và khôngngang quyền với Thẩm phán Chẳng hạn, ở Mỹ, Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa sẽh-ớng dẫn bồi thẩm đoàn về luật áp dụng trong vụ kiện (law), còn các bồi thẩmviên sẽ quyết định sự thật của vụ kiện (facts) là nh- thế nào và áp dụng nhữngkiến thức pháp luật do Thẩm phán h-ớng dẫn và ra quyết định về vụ kiện Nếuquan điểm của bồi thẩm đoàn trái ng-ợc với quan điểm của Thẩm phán (khôngđúng với sự thật của vụ kiện) thì Thẩm phán không thể nghe theo quyết định củabồi thẩm đoàn để đ-a ra một phán quyết trái ng-ợc với sự thật của vụ kiện Trongtr-ờng hợp này Thẩm phán phải giải thích trong phán quyết của mình lý do đã bác

bỏ phán quyết của bồi thẩm đoàn [51, tr 12]

1.3.1.2 Quan hệ giữa Thẩm phán và Chánh án Tòa án cùng cấp

Giữa Thẩm phán và Chánh án trong nội bộ Tòa án tồn tại hai mối quanhệ: một là quan hệ hành chính giữa Chánh án (với vị trí là Thủ tr-ởng cơ quan)

và Thẩm phán (với vị trí là nhân viên), do vậy Thẩm phán làm nhiệm vụ theo sựphân công của Chánh án; hai là quan hệ tố tụng giữa Chánh án và Thẩm phán

do pháp luật tố tụng điều chỉnh Hai mối quan hệ này phải đ-ợc phân định rõràng, tránh hiện t-ợng "hành chính hóa" quan hệ tố tụng giữa Chánh án vàThẩm phán Đây chính là một bảo đảm cho tính độc lập của Thẩm phán khi xét

xử Chánh án khi hành động với t- cách là công chức lãnh đạo thực hiện nhiệm

vụ quản lý về mặt hành chính trong một cơ quan nhà n-ớc phải có trách nhiệmphân công hợp lý công việc xét xử và tạo điều kiện thuận lợi cho các Thẩmphán độc lập thực hiện và tự chịu trách nhiệm về việc xét xử từng vụ án cụ thể

đã đ-ợc phân công Chánh án không đ-ợc dùng quyền thủ tr-ởng để can thiệp,chỉ đạo Thẩm phán về nội dung, đ-ờng lối xét xử, áp dụng pháp luật của từng

vụ án cụ thể mà mình đã phân công cho Thẩm phán chịu trách nhiệm xét xử.Chánh án khi hành động với t- cách là một Thẩm phán cũng có các quyền vànghĩa vụ bình đẳng nh- mọi thành viên Hội đồng xét xử

Trang 31

1.3.1.3 Quan hệ giữa Thẩm phán và Th- ký Tòa án

Th- ký Tòa án là ng-ời tiến hành tố tụng dân sự với chức năng hỗ trợcho hoạt động xét xử của Tòa án Th- ký giúp Thẩm phán trong quá trình lập

hồ sơ và chuẩn bị xét xử, chuẩn bị các công tác nghiệp vụ cần thiết tr-ớc khi

mở phiên tòa, ghi biên bản phiên tòa Có quan điểm cho rằng chức năng tốtụng của Th- ký Tòa án không thể giới hạn ở hỗ trợ có tính kỹ thuật, vì nhiệm

vụ chính của Th- ký Tòa án là ghi biên bản phiên tòa một cách kịp thời, phảnánh đầy đủ, trung thực diễn biến của phiên tòa Tính có căn cứ và hợp phápcủa bản án trong chừng mực nhất định phụ thuộc vào chất l-ợng của biên bảnphiên tòa Tòa án cấp trên kiểm tra hoạt động xét xử của Tòa án cấp d-ới quanhiều kênh, trong đó có kênh kiểm tra biên bản phiên tòa Th- ký Tòa án là ng-

ời ký vào biên bản phiên tòa, không có chữ ký đó thì biên bản không có giá trị[42, tr 48] Tuy nhiên, dù biên bản phiên tòa có tầm quan trọng đến đâu thìthực chất hoạt động tố tụng của Th- ký Tòa án cũng chỉ là hỗ trợ Thẩm phán vàghi chép trung thực, đầy đủ diễn biến phiên tòa, tạo điều kiện cho Tòa án thựchiện chức năng xét xử Vì vậy, một yêu cầu cần đ-ợc thực hiện nghiêm túctrong mối quan hệ tố tụng giữa Thẩm phán và Th- ký Tòa án là Th- ký khôngthể làm thay Thẩm phán những công việc mà pháp luật quy định bắt buộc phải

do Thẩm phán thực hiện

1.3.1.4 Quan hệ giữa Thẩm phán và Kiểm sát viên

Trên thế giới, phần lớn các quốc gia đều quan niệm rằng vị trí, vai trò củaViện kiểm sát hay Viện công tố trong tố tụng dân sự hạn chế hơn nhiều so vớitrong tố tụng hình sự Viện Công tố chỉ can thiệp vào quan hệ dân sự khi một bên

bị mất năng lực hành vi, hoặc khi mà quyền tự định đoạt của các bên xâm phạmđến lợi ích công hay trật tự pháp luật nhằm bảo vệ những lợi ích và trật tự đó màthôi [26, tr 494] Khi tham gia tố tụng dân sự, Viện Công tố có địa vị pháp lý giốngnh- đương sự và quan hệ giữa Thẩm phán và công tố viên (hay kiểm sát viên)tương tự nh- quan hệ giữa Thẩm phán và đương sự Ví dụ, theo Bộ luật Tố tụngdân sự Liên bang Nga năm 2002, Kiểm sát viên có quyền

Trang 32

khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của côngdân trong tr-ờng hợp công dân đó không thể tự mình khởi kiện vì lý do sứckhỏe, tuổi tác, không có năng lực hành vi hoặc vì những lý do chính đáng khác

và khi khởi kiện, Kiểm sát viên có quyền và nghĩa vụ tố tụng nh- nguyên đơn,trừ quyền hòa giải và nghĩa vụ trả lệ phí (Điều 45) Còn ở các n-ớc thuộc hệthống pháp luật Anh - Mỹ, Viện Công tố hầu nh- không tham gia vào tố tụngdân sự, không có vai trò gì trong tố tụng dân sự, và do đó cũng không đặt ravấn đề mối quan hệ tố tụng giữa Thẩm phán và công tố viên

Còn ở Việt Nam, trong tố tụng dân sự, Viện kiểm sát mà đại diện

là kiểm sát viên có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, nhằm phát hiện ra những sai phạm trong quá trình tố tụng, trong đó có những sai sót trong việc xét xử của Thẩm phán để kịp thời yêu cầu sửa chữa, khắc phục Nh- vậy, quan hệ tố tụng giữa Thẩm phán

và kiểm sát viên theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam có sự khác biệt

cơ bản so với pháp luật tố tụng dân sự các n-ớc.

1.3.2 Quan hệ giữa Thẩm phán với những ng-ời tham gia tố tụng

Những ng-ời tham gia tố tụng tham gia vào hoạt động tố tụng để bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của ng-ời khác hoặc hỗ trợ cho việc giảiquyết vụ án Quan hệ giữa Thẩm phán với những ng-ời tham gia tố tụng thực chất

là quan hệ giữa Tòa án với những ng-ời tham gia tố tụng, trong đó Thẩm phán làng-ời tiến hành tố tụng đại diện cho Tòa án, quyết định và hành

vi tố tụng của Thẩm phán đ-ợc thực hiện nhân danh Tòa án (trừ bản án nhândanh Nhà n-ớc) Những ng-ời tham gia tố tụng rất đa dạng, bao gồm đương

sự, ng-ời đại diện của đương sự, ng-ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củađương sự, ng-ời làm chứng, ng-ời giám định, ng-ời phiên dịch Luận văn đi sâuphân tích quan hệ tố tụng giữa Thẩm phán với hai chủ thể: đương sự và ng-ờibảo vệ quyền và lợi ích của đương sự, bởi hai mối quan hệ này thể hiện rõ nétnhất địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự

Trang 33

Quan hệ giữa Thẩm phán với đương sự:

Khác với quan hệ pháp luật hành chính (mang tính chất mệnh lệnh –phục tùng), quan hệ tố tụng giữa Thẩm phán và đương sự chịu sự chi phốimạnh mẽ của nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự và nguyên tắcđương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh - các nguyên tắcđặc tr-ng của luật tố tụng dân sự Mọi hoạt động tố tụng của Thẩm phán khôngđ-ợc xâm phạm đến quyền tự định đoạt của đương sự Mối quan hệ giữaThẩm phán và đương sự có sự biểu hiện khác nhau trong các hệ thống phápluật khác nhau ở các n-ớc thuộc hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, Thẩm phánđóng vai trò trọng tài, ra quyết định dựa trên chứng cứ của các bên đương sựcung cấp chứ không tự mình tìm ra các chứng cứ để làm rõ vụ án, các đương

sự là những ng-ời chủ động trong toàn bộ quá trình tố tụng; còn ở các n-ớcthuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa thì ng-ợc lại Tuy nhiên, dù ở hệthống pháp luật nào, Thẩm phán đều có quyền ra các quyết định tố tụng vàthực hiện các hành vi tố tụng có tính chất bắt buộc đối với đương sự, đương

sự có nghĩa vụ phải chấp hành nh-ng có quyền khiếu nại các quyết định vàhành

vi đó, ví dụ: quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự…

Quan hệ giữa Thẩm phán với ng-ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự:

Việc tham gia tố tụng của ng-ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa đương sự (chủ yếu là luật s-) không những có ý nghĩa rất lớn đối vớiviệc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự tr-ớc Tòa án mà còn làyếu tố góp phần nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án Khi luật s- của cả haibên đương sự đ-a ra những chứng cứ, lập luận để bảo vệ cho đương sựcủa mình thì Thẩm phán sẽ có nhiều cơ sở để cân nhắc và ra một phánquyết công minh, chính xác hơn so với tr-ờng hợp Thẩm phán quyết định

mà không lắng nghe sự cọ xát, tranh luận giữa các ý kiến khác nhau

Trang 34

Có thể nói trong tố tụng dân sự, vai trò của Thẩm phán và vai trò củaluật s- "tỷ lệ nghịch" với nhau Nếu Thẩm phán càng đóng vai trò chủ độngtrong tố tụng thì vai trò của luật s- càng mờ nhạt, vì khi đó Thẩm phán đã làmthay nhiều công việc của luật s- (nh- xác định các vấn đề cần chứng minh vàcác chứng cứ cần thu thập, tiến hành thu thập chứng cứ, hỏi đương sự, ng-ờilàm chứng tại phiên tòa…) Các n-ớc thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa

có xu h-ớng đề cao vai trò chủ động của Thẩm phán, còn các n-ớc thuộc hệthống pháp luật Anh - Mỹ thì ng-ợc lại Có nhiều công việc trong tố tụng dân sựcủa Mỹ do luật s- hay th- ký tòa án tiến hành thì trong tố tụng dân sự Đức lại

do Thẩm phán thực hiện, ví dụ: cân nhắc lịch làm việc của phiên tòa, bao gồmlệnh xuất trình chứng cứ trực tiếp của các bên và ng-ời làm chứng và xuấttrình tài liệu; lấy lời khai các bên và ng-ời làm chứng, các luật s- chỉ thực hiệnvai trò xen kẽ; đ-a ra những ghi chép về lời khai của ng-ời làm chứng; h-ớngdẫn việc đối chất giữa các bên) [48, tr 112-113] Tuy nhiên, dù là hệ thốngpháp luật nào thì cũng không thể phủ nhận vai trò của luật s- đối với việc tìm ra

sự thật của vụ án và nâng cao chất l-ợng xét xử của Thẩm phán

1.4 Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong các mô hình tố

tụng dân sự trên thế giới

Trên thế giới hiện nay, tương ứng với hai hệ thống pháp luật chủ yếu (hệthống pháp luật châu Âu lục địa và hệ thống pháp luật Anh - Mỹ) là hai mô hình tốtụng: tố tụng thẩm vấn và tố tụng tranh tụng Hai mô hình tố tụng này có nhiềuđiểm khác biệt cơ bản, trong đó có sự khác biệt về vị trí, vai trò, địa vị pháp lý củaThẩm phán Sự phân biệt giữa hai mô hình tố tụng đ-ợc thể hiện rõ trong tố tụnghình sự; còn trong tố tụng dân sự, có thể nói không có sự phân chia thành các mô

hình tố tụng thẩm vấn và tố tụng tranh tụng một cách rõ rệt Tố tụng dân sự trong

bản chất của nó đã chứa đựng yếu tố tranh tụng, bởi tố tụng dân sự là thủ tục giảiquyết tranh chấp, mâu thuẫn về quyền, lợi ích giữa các bên đương sự bình đẳngvới nhau về mặt pháp lý Tuy nhiên, vẫn có thể khẳng định rằng, tố tụng dân sựcủa các n-ớc thuộc hệ thống pháp luật

Trang 35

Anh – Mỹ thiên về khuynh h-ớng tố tụng tranh tụng, còn các n-ớc thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa thiên về khuynh h-ớng tố tụng thẩm vấn Pháp luật tố tụng dân sự của các n-ớc thuộc hai hệ thống này có sự khác biệt rõ nét về vị trí, vai trò của Thẩm phán.

ë các n-ớc thuộc hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, Thẩm phán đóng vai trò

thụ động và có rất ít sự can thiệp vào tiến trình tố tụng dân sự, thể

hiện ở hai điểm cơ bản:

- Thẩm phán không điều tra, thu thập chứng cứ của vụ án, mà ng-ợc lại, luậts- của các bên đương sự có vai trò chủ đạo trong việc xác định các vấn đềcần chứng minh và các chứng cứ phải xuất trình tr-ớc Tòa án Tất cả cáchoạt động tố tụng tập trung tại phiên tòa (có thể gồm nhiều phiên xử liên tục

từ ngày này sang ngày khác), tại đó các bên trực tiếp trình bày miệng các lý

lẽ của mình và xuất trình các chứng cứ Thẩm phán không có trách nhiệmtìm ra sự thật, mà nỗ lực tìm ra sự thật của Thẩm phán chỉ giới hạn ởnhững lý lẽ, chứng cứ mà các bên trình bày tr-ớc họ

- Tại phiên tòa, Thẩm phán hay Hội đồng xét xử chỉ đóng vai trò trọng tài, lắng nghe và đ-a ra phán quyết Thẩm phán không đặt các câu hỏi cho đương sự hoặc ng-ời làm chứng, trừ tr-ờng hợp đặc biệt cần thiết

để làm rõ thêm lời trình bày của họ Thẩm phán không dẫn dắt diễn biến của phiên tòa mà chỉ duy trì trật tự phiên tòa Mỗi bên đương sự

có quyền đặt câu hỏi trực tiếp cho bên kia cũng nh- cho những ng-ời tham gia tố tụng khác; trong nhiều tr-ờng hợp họ có quyền ngắt lời bên kia, phản đối lại các ý kiến mà bên kia vừa đ-a ra.

Còn ở các n-ớc thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, Thẩm

phán đóng vai trò chủ động trong quá trình tố tụng dân sự, thể hiện ở

những điểm sau đây:

- Thẩm phán là ng-ời có vai trò chủ đạo trong việc làm sáng tỏ nội dung vụ án.Tr-ớc khi mở phiên tòa, tất cả các tình tiết, chứng cứ, tài liệu đều

Trang 36

đ-ợc Thẩm phán điều tra, thu thập đầy đủ và phản ánh trong hồ sơ vụ

án Hoạt động tố tụng gồm nhiều giai đoạn kế tiếp nhau chứ không chỉ tập trung tại phiên tòa.

- Tại phiên tòa, Thẩm phán thẩm tra lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của cácchứng cứ, tài liệu này và làm rõ thêm các tình tiết của vụ án bằng việc xét hỏi,h-ớng dẫn cho các bên đương sự tranh luận với nhau Thẩm phán sẽ trực tiếphỏi nếu lời khai của đương sự, ng-ời làm chứng có mâu thuẫn Thẩm phán làng-ời điều khiển phiên tòa, bảo đảm phiên tòa đ-ợc tiến hành theo trình tự vàthủ tục do pháp luật quy định [20, tr 462] Mọi hành vi của những ng-ời tiếnhành tố tụng và những ng-ời tham gia tố tụng đều chịu sự điều khiển của Thẩmphán Chủ tọa phiên tòa, các bên muốn đặt câu hỏi cho bên kia hoặc những ng-

ời tham gia tố tụng khác đều phải thông qua Chủ tọa phiên tòa Đặc biệt, ởĐức, Thẩm phán có vai trò rất tích cực trong tố tụng dân sự, thậm chí là vai trò

"thống trị" Ví dụ: Điều 139 Bộ luật tố tụng dân sự Đức quy định Thẩm phánChủ tọa phải xem xét các bên có khai báo đầy đủ về mọi sự thực và có đ-a racác kiến nghị cụ thể không, đặc biệt là những lời khai không đầy đủ và phứctạp liên quan tới những sự thực đ-ợc viện dẫn và chỉ ra những chứng cứ Vìmục đích này, nếu cần thiết, Thẩm phán sẽ thảo luận với các bên về vụ kiện,

về các vấn đề, các khía cạnh pháp lý và thực tế của chúng Thẩm phán Chủtọa phải l-u ý các bên về những nghi ngờ của Tòa án vì nhiệm vụ của Tòa án

là phải tính toán tới những điểm thực tế trong kiến nghị của mình Ông ta phảicho phép từng thành viên của Tòa án hỏi những câu hỏi mà thành viên đó yêucầu [48, tr 111]

Tuy nhiên, gần đây trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, các môhình tố tụng cũng đang ngày càng xích lại gần nhau, trong mô hình tố tụng này cócác yếu tố của mô hình tố tụng kia và ng-ợc lại Theo các chuyên gia về pháp luật

tố tụng dân sự thì không bao giờ có một hệ thống hoàn toàn đề cao Thẩm phánhay hoàn toàn đề cao các bên đương sự và d-ờng nh- hai hệ thống này đangnhích lại làm một [51, tr 92] Pháp luật tố tụng dân sự Việt

Trang 37

Nam cũng đang phát triển theo xu h-ớng kết hợp cả hai mô hình thẩm vấn vàtranh tụng Có thể nói tố tụng dân sự Việt Nam (nhất là tr-ớc khi ban hành Bộluật Tố tụng dân sự năm 2004) về cơ bản là tố tụng thẩm vấn, trong đó đề caovai trò tích cực, chủ động của Thẩm phán Tuy nhiên, để phù hợp với xu h-ớngchung của thế giới trong điều kiện hội nhập quốc tế và để đáp ứng yêu cầu cảicách t- pháp, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 đã có nhiều quy định thể hiệnviệc mở rộng tranh tụng nh- mở rộng phạm vi quyền tự định đoạt của cácđương sự, quy định đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh,nâng cao vai trò của luật s-, giảm bớt sự can thiệp của Tòa án trong việc thuthập chứng cứ… Xu h-ớng mở rộng tranh tụng trong tố tụng dân sự Việt Namkéo theo những thay đổi về địa vị pháp lý của Thẩm phán, đặc biệt là ở giaiđoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Tóm lại, Thẩm phán là ng-ời tiến hành tố tụng trung tâm trong hoạtđộng tố tụng và chuyên thực hiện nhiệm vụ xét xử Tổng thể các quyền vànghĩa vụ tố tụng của Thẩm phán phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việcdân sự do pháp luật quy định, thể hiện vị trí của Thẩm phán trong mối quan hệvới các chủ thể khác của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự tạo thành địa vịpháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự Việc xác định địa vị pháp lý củaThẩm phán trong tố tụng dân sự nói chung và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

vụ án dân sự nói riêng chịu sự quy định và chi phối của nhiều yếu tố khác nhaunh- quan niệm về quyền t- pháp, đặc thù của hoạt động xét xử, đặc điểm của

tố tụng dân sự và tính chất của xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Với những phân tích, lập luận ở chương 1, có thể thấy rằng, để xácđịnh rõ địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ ándân sự, pháp luật phải thể hiện đ-ợc một cách rõ ràng, đầy đủ và toàn diệncác quyền và nghĩa vụ tố tụng của Thẩm phán cũng nh- các mối quan hệ tốtụng của Thẩm phán trong các nhóm quy định sau đây:

Tr-ớc hết, địa vị pháp lý của Thẩm phán phải đ-ợc thể hiện ở các quy

định về những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự, bao gồm cả những

Trang 38

nguyên tắc mang tính chất liên ngành (nguyên tắc độc lập xét xử, nguyên tắc Hộithẩm nhân dân tham gia xét xử, nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết địnhtheo đa số) và những nguyên tắc đặc tr-ng của luật tố tụng dân sự (nguyên tắcquyền tự định đoạt của đương sự, nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minhtrong tố tụng dân sự, nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự).

Thứ hai, địa vị pháp lý của Thẩm phán phải đ-ợc thể hiện ở các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng dân sự

và ngoài ra thể hiện gián tiếp một phần qua các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của những ng-ời tiến hành tố tụng khác.

Thứ ba, địa vị pháp lý của Thẩm phán còn phải đ-ợc thể hiện thông qua

các quy định về trình tự tiến hành các khâu của giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ ándân sự, bao gồm: (a) chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, (b) hoà giải vụ ándândân sự tr-ớc phiên tòa sơ thẩm và (c) phiên tòa sơ thẩm dân sự

Trang 39

Chương 2

địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ

án dân sự theo các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành

2.1 Khái quát các quy định pháp luật Việt Nam về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự tr-ớc khi ban hành

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004

Từ năm 1945 đến nay, các quy định pháp luật Việt Nam về địa vị pháp

lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự nói chung và trong giai đoạn xét xử sơthẩm nói riêng đã ngày càng đ-ợc hoàn thiện hơn và xác định rõ hơn cácquyền và nghĩa vụ tố tụng của Thẩm phán, ghi nhận nhất quán nguyên tắc độclập của Thẩm phán trong hoạt động xét xử và từng b-ớc hoàn thiện cácnguyên tắc cơ bản khác của luật tố tụng dân sự nh- nguyên tắc Tòa án xét xửtập thể, nguyên tắc Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử, nguyên tắc quyền tựđịnh đoạt của đương sự v.v… Các quy định về quyền và nghĩa vụ của Thẩmphán trong tố tụng dân sự có sự khác biệt trong từng thời kỳ, gắn liền vớinhững thay đổi trong tổ chức hệ thống t- pháp n-ớc ta

Trong thời kỳ 1945 - 1959, địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân

sự đ-ợc xác định trong Hiến pháp năm 1946 và các Sắc lệnh về tổ chức hệ thốngTòa án và luật tố tụng Các văn bản pháp luật đầu tiên của n-ớc Việt Nam Dânchủ Cộng hòa đã ghi nhận nguyên tắc độc lập xét xử "khi xét xử, các viên Thẩmphán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không đ-ợc phép can thiệp" Sắclệnh số 13 ngày 24/1/1946 quy định rõ: "Các Thẩm phán không đ-ợc tự đặt ra luật

lệ mà xử đoán" (Điều 83), "Tại phiên tòa Thẩm phán xét xử một mình" (thời kỳ này

đã có phụ thẩm nhân dân nh-ng chỉ tham gia xét xử các vụ án hình sự) Ngày22/5/1950, Chủ tịch Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 85 về cải cách bộ máy t-pháp và luật tố tụng Theo Sắc lệnh này, Tòa

Trang 40

án sơ cấp đổi tên thành Tòa án nhân dân huyện, Tòa án đệ nhị cấp đổi tên thànhTòa án nhân dân tỉnh, phụ thẩm nhân dân đổi tên thành Hội thẩm nhân dân Sắclệnh số 85 quy định khi xét xử, Hội thẩm nhân dân phải chiếm đa số trong Hộiđồng xét xử; Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử cả dân sự và hình sự và cóquyền biểu quyết bình đẳng với Thẩm phán Hội đồng xét xử ở Tòa án nhân dânhuyện và tỉnh gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân; ở Tòa phúc thẩmgồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân.

Trong thời kỳ 1960 - 1981, Hiến pháp 1959 và Luật Tổ chức Tòa án nhân

dân năm 1960 tiếp tục ghi nhận nguyên tắc độc lập xét xử và quy định Tòa ánnhân dân thực hành chế độ xét xử tập thể và quyết định theo đa số Khi sơ thẩm,Tòa án nhân dân gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân; tr-ờng hợp xửnhững vụ án nhỏ, giản đơn và không quan trọng thì Tòa án nhân dân có thể xửkhông có Hội thẩm nhân dân Tiếp đó, Hiến pháp năm 1980 và Luật tổ chức Tòa

án nhân dân năm 1981 không có thay đổi gì lớn về tổ chức hệ thống Tòa án nhândân cũng nh- về địa vị pháp lý của Thẩm phán

Trong thời kỳ từ 1981 đến tr-ớc năm 2004, cùng với việc thực hiện đ-ờng

lối đổi mới toàn diện đất n-ớc, pháp luật tố tụng dân sự n-ớc ta có sự phát triểnmạnh hơn so với các thời kỳ tr-ớc Các văn bản pháp luật tố tụng có hiệu lực pháp

lý cao lần l-ợt đ-ợc ban hành, quy định tương đối toàn diện về trình tự, thủ tục tốtụng dân sự, kinh tế, lao động, đó là: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân

sự năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháplệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 Các nguyên tắc cơ bảnnh-: nguyên tắc độc lập xét xử, nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết địnhtheo đa số, nguyên tắc Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử tiếp tục đ-ợc khẳngđịnh Những nguyên tắc đặc tr-ng của luật tố tụng dân sự cũng đ-ợc ghi nhận nh-nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự, nguyên tắc nghĩa vụ cung cấp, thuthập chứng cứ của đương sự, nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của Tòa án Tuynhiên, các Pháp lệnh nói trên ch-a có điều luật quy định riêng về nhiệm vụ, quyềnhạn của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng Nhiều

Ngày đăng: 04/11/2020, 15:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w