[25].Để chấn chỉnh hoạt động CBTT trên TTCK, khung pháp lý điều chỉnh hoạtđộng CBTT luôn được chú trọng hoàn thiện, trong đó quan trọng nhất phải kểđến Luật Chứng khoán số 60/QH11 được Q
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -o0o -
PHẠM THỊ HẰNG NGA
C¤NG Bè TH¤NG TIN CñA C¤NG TY §¹I CHóNG TR£N THÞ TR¦êNG CHøNG KHO¸N THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Thị Quỳnh Chi
Hà Nội – 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Thị Hằng Nga
Trang 3MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY ĐẠI CHÚNG VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY ĐẠI CHÚNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 7
1.1 Công ty đại chúng và công bố thông tin của công ty đại chúng trên thịtrường chứng khoán 7
1.1.1 Khái quát chung về công ty đại chúng 7 1.1.2 Khái quát chung về hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán 12
1.2 Khái quát chung về pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin củacông ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam 22
1.2.1 Khái niệm pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán 22 1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin của công
ty đại chúng trên thị trường chứng khoán 25 1.2.3 Vai trò của pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán 35 1.2.4 Cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 42 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY ĐẠI CHÚNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 43
2.1 Pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúngtrên thị trường chứng khoán Việt Nam 43
2.1.1 Công ty đại chúng và phân loại công ty đại chúng theo pháp luật chứng khoán chứng khoán Việt Nam 43
Trang 42.1.2 Nội dung các thông tin của công ty đại chúng phải công bố trên thị
trường chứng khoán Việt Nam 43
2.1.3 Phương tiện và trình tự, thủ tục CBTT của công ty đại chúng 69
2.1.4 Xử lý hành vi vi phạm pháp luật về công bố thông tin của công ty đại chúng trên TTCK 70
2.2 Thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán 73
2.2.1 Kết quả đạt được trong hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán 73
2.2.2 Những bất cập và tồn tại trong hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 89
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY ĐẠI CHÚNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 90
3.1 Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên TTCK 90
3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về công bố thông tin trước yêu cầu phát triển thị trường chứng khoán và hội nhập quốc tế 90
3.1.2 Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng để khắc phục những vướng mắc, bất cập hiện hành 91
3.2 Các giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán 97
3.2.1 Xây dựng bộ chỉ số minh bạch thông tin đối với công ty niêm yết 97
3.2.2 Hoàn thiện cơ chế công bố thông tin của công ty đại chúng 98
3.2.3 Hoàn thiện phương tiện công bố thông tin 100
3.2.4 Các giải pháp khác 101
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 105
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam chính thức được vận hành vàotháng 7 năm 2000 với mục tiêu nhằm tái cấu trúc và nâng cao tính hiệu quả củathị trường tài chính Ban đầu, TTCK chỉ có 2 doanh nghiệp niêm yết với 2 loại
cổ phiếu (REE và SAM) với vốn hóa chỉ đạt 270 tỷ đồng Tính đến tháng6/2014, mức vốn hóa toàn thị trường đã đạt khoảng 1.100 nghìn tỷ đồng với 660công ty niêm yết và đạt khoảng 1,3 triệu tài khoản của nhà đầu tư (trong đó cókhoảng 15,6 nghìn tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài) Có thể thấy, qua 14năm vận hành, TTCK đã chứng tỏ vai trò là kênh huy động vốn trung và dài hạnquan trọng cho nền kinh tế, với những bước phát triển mạnh mẽ, thu hút sự quantâm không chỉ của nhà đầu tư trong nước mà cả các nhà đầu tư nước ngoài Tuynhiên, nếu so sánh với TTCK các nước phát triển cũng như các nước trong khuvực, TTCK Việt Nam vẫn còn hạn chế về quy mô và tồn tại nhiều bất cập, đặcbiệt về tính công khai, minh bạch Nâng cao tính công khai, minh bạch thông tinđược xem là mục tiêu trọng tâm trong phát triển TTCK giai đoạn hiện nay
Trên TTCK, thông tin được ví như mạch máu, nguồn năng lượng nuôi sốngthị trường và là cơ sở để nhà đầu tư xác định chiến lược đầu tư cũng như quyếtđịnh mức độ thành công của việc đầu tư, do đó công khai, minh bạch thông tinđược coi là một trong những nhân tố quan trọng nhất giúp TTCK phát triển cũngnhư bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư Tại những TTCK mới nổi, trong đó có ViệtNam, tham gia thị trường chủ yếu là nhà đầu tư cá nhân và tâm lý đầu tư thườngdiễn ra theo số đông thì mức độ ảnh hưởng của thông tin càng lớn Tuy nhiên,theo đánh giá của Hiệp hội các Uỷ ban chứng khoán (IOSCO), mức độ minhbạch thông tin của TTCK Việt Nam còn thấp và các doanh nghiệp vẫn chưa ýthức được tầm quan trọng của việc công bố thông tin (CBTT) Theo thống kê,chỉ có khoảng 5% các công ty niêm yết đảm bảo tốt việc CBTT cho nhà đầu tư
Trang 7[25].Để chấn chỉnh hoạt động CBTT trên TTCK, khung pháp lý điều chỉnh hoạtđộng CBTT luôn được chú trọng hoàn thiện, trong đó quan trọng nhất phải kểđến Luật Chứng khoán số 60/QH11 được Quốc Hội khóa XI thông qua ngày 29
tháng 6 năm 2006 (sau đây gọi là Luật Chứng khoán năm 2006) và tiếp đó là
Luật Chứng khoán số 62/2010/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
chứng khoán được thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2010 (sau đây gọi là Luật sửa đổi, bổ sung Luật Chứng khoán) với những quy định nền tảng cơ bản về chế
định công bố thông tin trên TTCK Để cụ thể hóa những quy định tại Luật Chứngkhoán, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 38/2007/TT-BTC ngày 18/7/2007,tiếp đó là Thông tư số 09/2010/TT-BTC ngày 15/01/2010 về việc hướng dẫn
công bố thông tin trên TTCK (thay thế Thông tư số 38/2007/TT-BTC)
và hiện tại, việc công bố thông tin trên TTCK được thực hiện theo Thông tư số52/2012/TT-BTC ngày 5/4/2012 của Bộ Tài chính Các quy định này là hànhlang pháp lý quan trọng, đảm bảo tính công khai, minh bạch của TTCK, đáp ứngyêu cầu ngày càng cao về thông tin cho nhà đầu tư tham gia thị trường
Theo quy định hiện hành, nhiều chủ thể tham gia TTCK có nghĩa vụ côngkhai thông tin như các Sở Giao dịch Chứng khoán (SGDCK), Trung tâm Lưu kýchứng khoán (TTLKCK), công ty đại chúng, các tổ chức kinh doanh chứngkhoán, các quỹ đầu tư chứng khoán, cổ đông lớn, cổ đông nội bộ…, song có thểthấy nguồn thông tin phong phú và đa dạng nhất là thông tin từ công ty đạichúng Thông thường, các công ty đại chúng phải công bố các thông tin liênquan đến tình hình tài chính và hoạt động của doanh nghiệp, thông tin về quản trịcông ty Các thông tin này biểu thị cho chất lượng “hàng hóa” trên TTCK Nó là
cơ sở để nhà đầu tư xây dựng cơ cấu danh mục đầu tư và qua đó giúp hình thànhgiá chứng khoán Chế định pháp luật về công bố thông tin trên TTCK vì thế cũngđặc biệt chú trọng đến việc xác định nghĩa vụ CBTT của các công ty đại chúng.Tuy nhiên, qua nghiên cứu Thông tư số 52/2012/TT-BTC cho thấy mặc dùThông tư này mới có hiệu lực từ ngày 01/6/2012 nhưng nhiều quy định
2
Trang 8điều chỉnh hoạt động CBTT của các công ty đại chúng đã bộc lộ nhiều bất cập,
cần sửa đổi Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán theo pháp luật Việt Nam”, trong đó tập
trung làm rõ các quy định hiện hành về công bố thông tin của công ty đại chúngtrên TTCK Việt Nam, có so sánh sự khác biệt của quy định hiện hành (cụ thể làThông tư 52/2012/TT-BTC) so với quy định tại Thông tư 09/2010/TT-BTC trướcđây, đồng thời đánh giá mức tương thích giữa quy định pháp luật Việt Nam vớipháp luật quốc tế và đưa ra những định hướng hoàn thiện là rất cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, đã có một số đề tài nghiên cứu về vấn đề công bố thông tin trênthị trường chứng khoán Cụ thể như sau:
- Đề tài luận án tiến sĩ kinh tế “Minh bạch hóa thông tin trên TTCK Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”, Nguyễn Thúy Anh, Đại học Ngoại thương, 2012 Luận án làm rõ những tiêu chí đánh giá mức độ minh bạch
thông tin trên TTCK dưới góc độ kinh tế nói chung trước yêu cầu hội nhập
- Đề tài nghiên cứu khoa học “Hoàn thiện hệ thống công bố thông tin của công ty đại chúng trên TTCK Việt Nam”, TS Tạ Thanh Bình,Ủy ban chứng khoán Nhà nước, 2011 Đề tài này làm rõ các thông tin phải công bố của công ty
đại chúng trên TTCK và đưa ra giải pháp hoàn thiện hệ thống công bố thông tincủa công ty đại chúng nói chung
-Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Minh bạch trong công bố thông tin của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam”, GS-TS Đinh Văn Sơn Tác
giả đã phân tích khá đầy đủ về hoạt động công bố thông tin của các công ty niêmyết trên TTCK
- Đề tài luận văn thạc sĩ: “Pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, Viên Thế Giang, 2008, do TS Phạm Thị Giang Thu
Trang 9hướng dẫn Đề tài khái quát những vấn đề chung về công bố thông tin trên
TTCK Việt Nam, đưa ra thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện
Các đề tài nêu trên đã đóng góp những kết luận khoa học quan trọng trongquá trình nghiên cứu pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin trênTTCK Tuy nhiên, các đề tài đều được làm trước khi Thông tư số 52/2012/TT-BTC được Bộ Tài chính ban hành ngày 5/4/2012, do đó tính đến thời điểm hiệntại, chưa có đề tài luận văn nào khai thác những điểm mới tại Thông tư
52/2012/TT-BTC về nghĩa vụ công bố thông tin của công ty đại chúng (kể cả công ty đại chúng niêm yết và công ty đại chúng chưa niêm yết) Do đó, những
vướng mắc khi công ty đại chúng thực thi các quy định pháp luật và cơ chế công
bố thông tin theo quy định mới chưa được đề cập Bên cạnh đó, việc nghiên cứukinh nghiệm pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin của công ty đạichúng tại một số quốc gia có TTCK phát triển như Mỹ, Australia, Hàn Quốc…nhằm đánh giá sự tương thích của pháp luật Việt Nam so với pháp luật quốc tế;đồng thời đưa ra một số phương hướng, giải pháp hoàn thiện phù hợp với thực tếViệt Nam hiện nay là vấn đề cần được xem xét toàn diện và có tầm quan trọngkhông chỉ đối với công ty đại chúng mà còn đối với cả nhà đầu tư và cơ quanquản lý Có thể nói, đây là một vấn đề mới, có tính ứng dụng cao và đòi hỏi cónhững nghiên cứu toàn diện
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở làm rõ các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động công bốthông tin của công ty đại chúng trên TTCK và đánh giá thực trạng công bố thôngtin của các công ty đại chúng hiện nay, luận văn đưa ra phương hướng và cácgiải pháp hoàn thiện pháp luật cùng những giải pháp khác nhằm tăng cường tínhcông khai, minh bạch trong hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng
Nhiệm vụ nghiên cứu:
4
Trang 10- Nghiên cứu những vấn đề chung về công bố thông tin của công ty đạichúng trên TTCK và kinh nghiệm của một số nước nhằm rút ra bài học kinhnghiệm đối với Việt Nam;
- Phân tích quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên TTCK;
- Đánh giá thực trạng công bố thông tin của công ty đại chúng tại Việt Namhiện nay, từ đó tìm ra những khó khăn, bất cập cả về khía cạnh pháp lý lẫn thựcthi nghĩa vụ công bố thông tin của công ty đại chúng;
- Đưa ra một số phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên TTCK
4 Tính mới và những đóng góp của đề tài
- Những vấn đề cơ bản về công bố thông tin của công ty đại chúng trên TTCK;
- Quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên TTCK;
- Những vướng mắc, bất cập của pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên TTCK;
- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về công bố thông tin của công ty đạichúng tại một số quốc gia có thị trường chứng khoán phát triển như Mỹ,Australia, Hàn Quốc và đánh giá sự tương thích của pháp luật Việt Nam so vớipháp luật quốc tế;
- Đưa ra một số phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnhhoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng phù hợp với thực tế TTCKViệt Nam hiện nay
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu các khía cạnh về công bố thông tin đối với công ty đại chúng theo pháp luật Việt Nam Các nghĩa vụ công khai thông tin khác không
Trang 11được quy định theo pháp luật chứng khoán và thị trường chứng khoán không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chủ yếu làm rõ quy định pháp luật và thực tế tuân thủ nghĩa vụ công
bố thông tin của công ty đại chúng trên TTCK trong thời gian từ năm 2010 đếnnay thông qua sự so sánh những điểm mới và tác động sau khi ban hành Thông
tư số 52/2012/TT-BTC so với Thông tư 09/2010/TT-BTC trước đây Việc nghiêncứu thực tiễn tuân thủ nghĩa vụ công bố thông tin của công ty đại chúng hiện naychủ yếu đối với các công ty niêm yết trên hai Sở giao dịch chứng khoán(SGDCK Hà Nội và SGDCK thành phố Hồ Chí Minh)
6 Phương pháp nghiên cứu
- Điều tra và thu thập tài liệu để tổng hợp và phân tích theo phương pháp luận logic;
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về công bố thông tin của công ty đại
chúng và pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúngtrên thị trường chứng khoán Việt Nam
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin
của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Chương 3: Phương hướng, giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều
chỉnh hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứngkhoán Việt Nam
6
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY ĐẠI CHÚNG VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY ĐẠI CHÚNG TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
1.1 Công ty đại chúng và công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán
1.1.1 Khái quát chung về công ty đại chúng
1.1.1.1 Khái niệm công ty đại chúng
Thuật ngữ “công ty đại chúng” (CTĐC) có nguồn gốc từ triết lý pháp luậtphương Tây, họ lấy cá nhân (người) làm chủ thể pháp luật trong các giao dịch đểquy nạp mọi tổ chức kinh doanh dưới tiêu chí “pháp nhân” Tùy theo pháp luậttừng quốc gia mà các tổ chức kinh doanh được định hình thành ba loại chính: (i)công ty, (ii) hợp danh, (iii) cá nhân kinh doanh Tiếp đó, các học giả phương Tây
tiếp tục chia công ty thành hai hình thức công ty nội bộ (private company hay privately held corporation) và công ty đại chúng (public limited company) [25].
Công ty nội bộ thường là dạng công ty quy mô nhỏ, có địa bàn, phạm vi hoạtđộng hẹp, được sở hữu bởi một số ít người (thường có dưới 50 người), không
được huy động vốn rộng rãi, chịu sự giám sát và có yêu cầu minh bạch (về sổ sách, báo cáo) không cao, ít có khả năng bị thâu tóm và một số đặc điểm khác
tùy theo pháp luật mỗi nước Hình thức công ty nội bộ cũng được xem là giai
đoạn tích lũy để chuẩn bị trở thành công ty đại chúng (thông qua phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng – Intial Public Offering hay gọi tắt là IPO)
khi doanh nghiệp có nhu cầu mở rộng để phát triển lớn mạnh Ngược lại với hìnhthức công ty nội bộ, công ty đại chúng thường có địa bàn, phạm vi hoạt độngrộng, có số cổ đông và quy mô vốn lớn Thuật ngữ “công ty đại chúng” có thể
Trang 13được quy định tại Luật Công ty (như Anh, Mỹ, Úc ) hoặc tại Luật Chứng khoán(như Ba Lan, Hungary…) trên cơ sở phân biệt với loại hình công ty nội bộ.
Ở Anh và nhiều nước theo hệ luật của Anh, công ty nội bộ được phân biệt
với công ty đại chúng trên phương diện vốn Luật công ty 2006 của Anh (the Companies Act 2006) quy định công ty nội bộ hay gọi là công ty trách nhiệm hữu hạn theo cổ phần (private company limited by share) được tổ chức theo dạng
cổ phần, có vốn thành lập nhỏ (chỉ cần một bảng Anh vốn cổ phần ban đầu là
đủ) Còn công ty đại chúng (public limited company, viết tắt là Plc và bắt buộc phải ghi sau tên công ty) cần số vốn tối thiểu 50.000 bảng Anh, được huy động
vốn và giao dịch cổ phần không hạn chế, số cổ đông tham gia không giới hạn và
có tối thiểu hai thành viên quản trị thường trực
Theo pháp luật Mỹ hay Úc, công ty đại chúng và công ty nội bộ được phân
biệt chủ yếu trên số lượng cổ đông Theo Luật Công ty 2001 của Úc (the Corporations Act 2001), công ty nội bộ (proprietary limited company, viết tắt
sau đuôi tên công ty là Pty ltd và phân biệt với đuôi Ltd (không có Pty) của công
ty đại chúng) là công ty có số cổ đông tối đa là 50 và các cổ đông phải là ngườingoài, không làm việc cho công ty Ngoài ra Điều 112 Luật Công ty Úc quy địnhcác công ty đại chúng phải có ít nhất ba giám đốc và ít nhất một thư ký công ty,chỉ có công ty đại chúng mới có quyền huy động vốn bằng việc phát hành cổphiếu ra công chúng Còn tại Mỹ, công ty đại chúng có tên gọi C Corporation(công ty cổ phần có trên 100 cổ đông) nhằm phân biệt với S Corporation - hìnhthức công ty chỉ được phát hành một loại cổ phần duy nhất, có số cổ đông khôngvượt quá 100 và cổ đông phải là cá nhân mang quốc tịch Mỹ
Ngoài cách phân biệt dựa trên yếu tố vốn hay quy mô cổ đông, nhiều quốcgia định nghĩa công ty đại chúng theo hoạt động phát hành chứng khoán ra công
chúng như tại khoản 9 Điều 4 Luật Chứng khoán Ba Lan,“Công ty đại chúng là công ty có cổ phiếu của ít nhất một lần phát hành được chấp thuận cho giao dịch ra công chúng” hoặc theo quy định tại Điều 110 Luật Chứng khoán Bungari
thì
8
Trang 14“Công ty đại chúng là công ty đã phát hành ra công chúng lần đầu hoặc đăng
ký với Ủy ban Chứng khoán về việc phát hành với mục đích tham gia giao dịch tại thị trường chứng khoán được quản lý”.
Từ các cách định nghĩa về công ty đại chúng trên cho thấy “công ty đạichúng” là doanh nghiệp đạt đến quy mô vốn và cách thức quản trị nhất định.Công ty có thể tổ chức dưới hình thức CTĐC ngay từ khi mới thành lập hoặcthông qua “bước chuyển” trong hoạt động thị trường chứng khoán - thủ tục pháthành chứng khoán lần đầu ra công chúng (IPO) Để xác định một công ty làCTĐC, các quốc gia thường căn cứ vào những tiêu chí nhất định như sau:
(1) Là tổ chức thực hiện việc chào bán chứng khoán ra công chúng;(2) Là tổ chức có quy mô vốn lớn;
(3) Là tổ chức có số lượng lớn người sở hữu chứng khoán;
(4) Là tổ chức có chứng khoán giao dịch tại thị trường có quản lý (hay
những công ty có chứng khoán niêm yết tại SGDCK)
1.1.2.2 Phân loại công ty đại chúng (dưới góc độ công bố thông tin)
Dưới góc độ công bố thông tin, tùy từng quốc gia sẽ phân loại công ty đại chúng theo tiêu chí niêm yết hoặc theo tiêu chí quy mô Cụ thể như sau:
Nếu xét theo quy mô công ty, công ty đại chúng được phân loại gồm:
(i) Công ty đại chúng thông thường là công ty đáp ứng được các yêu cầu
về tính đại chúng như có số lượng người sở hữu chứng khoán hoặc có quy môvốn hoặc tổng giá trị các khoản nợ cao hơn các doanh nghiệp thông thường khác.(ii) Công ty đại chúng quy mô lớn là các công ty đáp ứng được các tiêu chí
về quy mô vốn, giá trị các khoản nợ hoặc quy mô cổ đông cao hơn so với cáccông ty đại chúng thông thường Do đó, các công ty đại chúng quy mô lớn cótrách nhiệm minh bạch thông tin cao hơn so với các công ty đại chúng khác
Nếu phân loại theo tiêu chí niêm yết chứng khoán, công ty đại chúng gồm:
(i) Công ty đại chúng niêm yết là các công ty có chứng khoán (cổ phiếu
Trang 159
Trang 16(ii) Công ty đại chúng không niêm yết là công ty đáp ứng tiêu chí về tính đại
chúng nhưng không có chứng khoán niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán.Theo cách thức phân loại này, các công ty niêm yết phải chịu nghĩa vụ côngkhai thông tin nghiêm ngặt hơn các công ty đại chúng không niêm yết
Kinh nghiệm quốc tế về phân loại công ty đại chúng:
Tùy từng quốc gia mà công ty đại chúng được phân loại theo tiêu chí quy
mô công ty hoặc theo tiêu chí niêm yết, từ đó đặt ra các yêu cầu về CBTT phùhợp cho mỗi loại hình công ty
Tại Mỹ - TTCK được coi là phát triển bậc nhất hiện nay, công ty đại chúngđược phân loại theo quy mô, bao gồm: công ty công bố thông tin quy mô nhỏ
(smaller reporting companies) và công ty đại chúng quy mô lớn (larger public company) Theo đó, công ty CBTT quy mô nhỏ là công ty có giá trị cổ phiếu lưu hành trong công chúng (public equity float) dưới 75 triệu USD hoặc công ty có mức doanh thu hàng năm dưới 50 triệu USD trong năm tài khóa gần nhất Còn
công ty đại chúng quy mô lớn là công ty có giá trị cổ phiếu lưu hành trong côngchúng vượt quá 75 triệu USD hoặc doanh thu hàng năm vượt quá 50 triệu USDtrong bất cứ năm tài khóa nào Mức 75-50 triệu USD này được đánh giá lại 5năm một lần tùy theo điều kiện lạm phát Các công ty đại chúng quy mô lớn phảithực hiện nghĩa vụ CBTT nghiêm ngặt hơn các công ty có quy mô nhỏ Còncông ty quy mô nhỏ có thể lựa chọn việc tuân thủ nghĩa vụ CBTT dành cho cáccông ty CBTT quy mô nhỏ hoặc các công ty quy mô lớn
Tại Nhật Bản, Luật doanh nghiệp (Company Act) năm 2005 thay thế một phần Luật Thương mại (Commercial Code) quy định các loại hình doanh nghiệp,
trong đó công ty cổ phần là đối tượng chủ yếu chịu sự điều chỉnh của các quyđịnh liên quan tới CBTT Các công ty cổ phần bao gồm các công ty lớn và các
công ty thông thường Các công ty lớn (large company) được định nghĩa tại điểm
vi Điều 2 Luật doanh nghiệp, là công ty thỏa mãn một trong hai điều kiện sau: (i)
công ty có vốn hóa từ 500 triệu Yên trở lên (capitalized at ¥500 million
Trang 17or more) hoặc (ii) có nợ từ 20 tỷ Yên trở lên vào thời điểm cuối năm tài chính (liabilities is at ¥20.000 million or more) Điểm khác biệt là các nhà lập pháp
Nhật Bản coi tổng giá trị các khoản nợ cũng là căn cứ xác định quy mô công ty,nhằm đảm bảo quyền lợi cho các chủ nợ và các cá nhân, tổ chức có liên quan.Còn tại Hàn Quốc - một trong mười TTCK phát triển nhất thế giới, công tyđại chúng được phân loại dựa trên yếu tố niêm yết, bao gồm công ty đại chúngniêm yết và công ty đại chúng không niêm yết Các công ty niêm yết trên
SGDCK Hàn Quốc (Korea Stock Exchange - KSE) chịu trách nhiệm CBTT chặt
chẽ hơn so với các công ty đại chúng khác không niêm yết Tuy nhiên, nghĩa vụCBTT của các công ty niêm yết trên KSE lại được phân biệt trên cơ sở quy môcủa chính công ty đó Với vai trò là một sàn giao dịch có tổ chức duy nhất ở HànQuốc, KSE được tổ chức thành ba (03) khu vực: Khu vực giao dịch cổ phiếu, tráiphiếu và các chứng khoán phái sinh Khu vực cho cổ phiếu được chia thành haikhu vực: Khu vực thứ nhất (KOSPI) dành cho các công ty có quy mô lớn, khuvực thứ hai (KOSDAQ) là dành cho các cổ phiếu mới được niêm yết hoặc chocác công ty có quy mô vừa và nhỏ được giao dịch Quy định về CBTT cũng dựatrên cơ sở Bảng niêm yết, trong đó các công ty niêm yết tại Bảng niêm yết chính
KOSPI (gồm các công ty có vốn cổ phần từ 10 tỷ won trở lên) có nghĩa vụ CBTT cao hơn so với các công ty niêm yết trên Bảng KOSDAQ (gồm các công ty có vốn cổ phần từ 3 tỷ won trở lên) Ngoài ra, các quy định liên quan tới CBTT đặc biệt nhấn mạnh sự khác biệt đối với các công ty có quy mô lớn (large-sized corporation - các công ty có tổng tài sản trên 2 nghìn tỷ won), theo đó các công
ty này phải chịu nghĩa vụ CBTT với mức độ nghiêm ngặt hơn các công ty khác.Như vậy, các quốc gia có thể phân loại công ty đại chúng theo tiêu chí quy
mô (như Mỹ, Nhật Bản…) hoặc tiêu chí niêm yết (như Hàn Quốc), tuy nhiênngày nay cách phân loại công ty đại chúng theo tiêu chí niêm yết không đượcnhiều thị trường áp dụng bởi cách thức này tạo ra một khoảng cách khá lớn vềtrách nhiệm công khai thông tin giữa các công ty niêm yết và các công ty không
11
Trang 18niêm yết, khiến cho nhiều công ty đại chúng “ngại” đưa chứng khoán lên niêmyết tập trung nhằm “né tránh” nghĩa vụ CBTT Vì vậy, việc phân loại công ty đạichúng theo yếu tố quy mô được coi là xu hướng của đa số các quốc gia hiện nay.Thông thường, để xác định một công ty đại chúng có “quy mô lớn”, các quốc giathường căn cứ trên các tiêu chí như vốn điều lệ hoặc tổng giá trị tài sản của công
ty hoặc tổng giá trị chứng khoán chào bán ra công chúng hay đôi khi còn có thểcăn cứ trên tổng giá trị các khoản nợ của chính công ty đó
1.1.2 Khái quát chung về hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán
1.1.2.1 Khái niệm và vai trò của thông tin trên thị trường chứng khoán
Khái niệm thông tin trên thị trường chứng khoán:
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về thông tin Theo từ điển Báchkhoa Việt Nam thì thông tin được hiểu là các điều hiểu biết, tri thức thu được quanghiên cứu, khảo sát hoặc trao đổi giữa các đối tượng với nhau Dưới góc độnhận thức luận, thông tin là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan, đượcbiểu hiện bằng các hệ thống ngôn ngữ, ký hiệu, hình ảnh… Còn dưới góc độthống kê, thông tin là hệ thống các tin báo, dữ liệu, giúp người nhận loại trừtrạng thái không chắc chắn Như vậy, dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau vềthông tin, song nó đều có ý nghĩa đem đến sự hiểu biết, nhận thức cho người tiếpnhận thông qua sự phân tích các dữ liệu, chỉ số, ký hiệu, bảng biểu, sơ đồ… vàthường được truyền tải thông qua các hình thức như báo chí, truyền thanh, truyềnhình, dữ liệu điện tử…
Trên TTCK, thông tin rất đa dạng và có thể xuất phát từ nhiều nguồn khácnhau như từ công ty đại chúng, tổ chức kinh doanh chứng khoán, từ cơ quanquản lý thị trường hay từ nhà đầu tư… Đó có thể là thông tin liên quan đến cáclệnh mua, bán chứng khoán, thông tin về tổ chức phát hành, thông tin về biếnđộng giá chứng khoán hay các thông tin khác có ảnh hưởng đến TTCK Dướigóc độ kinh tế có thể hiểu, thông tin trên TTCK là tập hợp các số liệu, tin báo,
Trang 19những chỉ tiêu, tư liệu liên quan đến chứng khoán và TTCK, phản ánh tình hìnhTTCK giúp cho đối tượng tiếp nhận thông tin qua đó đạt được mục đích mongmuốn Dưới góc độ pháp lý, thông tin trên TTCK là hệ thống tư liệu phản ánhmức độ tuân thủ pháp luật của các chủ thể tham gia thị trường, phản ánh mốiquan hệ pháp luật giữa nội bộ doanh nghiệp như quan hệ giữa cổ đông và thànhviên Hội đồng quản trị, thành viên Ban Kiểm soát, Ban giám đốc thông qua việcthực hiện các quy định về CBTT Như vậy, có thể hiểu thông tin trên TTCK là hệthống các chỉ số, thông số, tin tức, nhận định liên quan đến chứng khoán vàTTCK và đều trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến giá chứng khoán.
Vai trò của thông tin trên thị trường chứng khoán:
- Đối với nhà đầu tư: TTCK được coi là thị trường đặc biệt nhạy cảm với
thông tin Tại Việt Nam, TTCK đã nhiều lần chứng kiến những tác động lớn củathông tin đến chỉ số VN Index, mà điển hình là sự kiện trong 3 ngày (21-23/8/2012) trước thông tin Nguyễn Đức Kiên (Bầu Kiên), nguyên Chủ tịch Hộiđồng sáng lập, thành viên Hội đồng quản trị ngân hàng Á Châu bị bắt, chỉ sốVN-Index giảm đến hơn 20 điểm, TTCK “bốc hơi” đến 5,6 tỷ USD và một đợt
“xả” cổ phiếu hàng loạt của nhà đầu tư Sau sự kiện này, nhiều nhà đầu tư bị thiệthại đáng kể vì “xả hàng” theo đám đông, ngược lại nhiều nhà đầu tư có mộtkhoản lợi nhuận lớn sau đó khi mua đúng “đáy” Như vậy, một chiến lược đầu tưhiệu quả phải căn cứ vào các thông tin chính xác, kịp thời của thị trường và quantrọng nhất là phải đánh giá đúng khả năng phát triển của doanh nghiệp nhờ phântích các chỉ số về vốn, lợi nhận, chiến lược kinh doanh
Trên TTCK, nhà đầu tư sẽ đối mặt với rủi ro rất lớn khi có được thông tinkhông chính xác, không kịp thời Trong bối cảnh hiện nay, khi mà các giao dịchchứng khoán được phép sử dụng đòn bẩy tài chính (margin) với tỷ lệ đến 50%,nghĩa là khi mua chứng khoán, họ có thể vay tiền từ công ty chứng khoán đến
50% giá trị giao dịch (trên thực tế con số này tại nhiều công ty chứng khoán còn cao hơn) thì thiệt hại cho nhà đầu tư sẽ càng lớn khi thị giá cổ phiếu giảm Tình
13
Trang 20trạng không minh bạch thông tin, về lâu dài sẽ tác động xấu đến niềm tin chungcủa thị trường và hệ quả của nó là tình trạng mất thanh khoản hoặc “giảm điểm”của đa số các cổ phiếu, kể cả đối với các cổ phiếu tốt Hệ quả về việc giảm niềmtin của nhà đầu tư đã được nhìn thấy trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn năm2011-2012 khi thị trường liên tục giảm điểm và sức thanh khoản kém của nhiều
cổ phiếu, kể cả khi có những thông tin tốt từ chính sách vĩ mô hay kết quả kinhdoanh của doanh nghiệp
- Đối với tổ chức kinh doanh chứng khoán (các công ty chứng khoán, công
ty quản lý quỹ): Thông tin có vai trò quan trọng đối với các tổ chức kinh doanh
chứng khoán, là cơ sở để các tổ chức này xây dựng kế hoạch kinh doanh, pháttriển công ty Trên TTCK, tổ chức kinh doanh chứng khoán được coi là nhà đầu
tư chuyên nghiệp (thông qua hoạt động tự doanh hoặc quản lý danh mục đầu tưcho khách hàng), họ có bộ phận phân tích thông tin, phòng ngừa rủi ro riêng vàthường đầu tư với khối lượng rất lớn, do đó nếu phân tích thông tin không chínhxác có thể dẫn đến những thiệt hại không nhỏ cho các tổ chức này Ngoài ra, các
tổ chức kinh doanh chứng khoán còn có vai trò quan trọng trong hoạt động tưvấn đầu tư cũng như nhận ủy thác đầu tư thay cho nhiều khách hàng Nhân viêncủa công ty chứng khoán thường đưa ra các khuyến nghị mua/bán chứng khoáncho khách hàng dựa trên các thông tin mà họ có được Do đó, nếu không nắm bắtđược thông tin một cách chính xác, sẽ ảnh hưởng đến chính các khuyến nghị đầu
tư và từ đó ảnh hưởng đến các nhà đầu tư khác trên thị trường
- Đối với chính công ty thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin: Lợi ích của
việc thực thi nghĩa vụ CBTT không chỉ là những lợi ích ngắn hạn mà nó cònhướng đến các mục tiêu lâu dài hơn, đó chính là sự phát triển bền vững của công
ty Việc CBTT chính xác, minh bạch có ý nghĩa hết sức quan trọng trong tạo lập
và duy trì niềm tin của công chúng đầu tư đối với doanh nghiệp CBTT giúpcông chúng đầu tư nâng cao hiểu biết về cơ cấu và hoạt động của công ty, cácchính sách của công ty liên quan đến các tiêu chuẩn môi trường và đạo đức, quan
Trang 21hệ của công ty với cộng đồng Đây là phương thức quảng bá hình ảnh công tymột cách tốt nhất, nhờ đó cổ phiếu công ty được đánh giá đúng giá trị của nó,góp phần tạo nên tính thanh khoản đối với chứng khoán, làm tăng khả năng huyđộng vốn khi công ty phát hành chứng khoán Mặc dù, giá cổ phiếu công ty cóthể sẽ giảm khi hoạt động kinh doanh không hiệu quả được công ty công bố Tuynhiên, điều này vẫn có mặt tích cực của nó, bởi các thông tin trung thực chính làđộng lực để giúp công ty tìm ra phương án tốt nhất phát triển thương hiệu củamình.
- Đối với cơ quan quản lý: Hệ thống thông tin trên TTCK phản ánh tính ổn
định của thị trường, tính hiệu quả trong công tác quản lý của cơ quan chức
năng và là cơ sở để cơ quan quản lý (Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán) xâydựng, triển khai công tác giám sát, điều hành TTCK, cũng như hoàn thiện cácvăn bản quy phạm pháp luật Ngoài ra, thông qua hệ thống thông tin trên TTCK,
cơ quan quản lý nắm bắt được tình hình, sức khỏe của doanh nghiệp cũng nhưnhà đầu tư, từ đó có những biện pháp đảm bảo sự phát triển ổn định của thịtrường như kịp thời đưa ra các biện pháp xử lý các hành vi vi phạm pháp luật vềchứng khoán và TTCK, có động thái trấn an nhà đầu tư khi TTCK xuất hiện các
“tin đồn”, yêu cầu công ty giải trình khi có các dấu hiệu giao dịch bất thường…
1.1.2.2 Khái niệm thông tin và công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán
Khái niệm thông tin của công ty đại chúng công bố trên TTCK:
Thông tin do công ty đại chúng công bố rất đa dạng, là bộ phận quan trọngcấu thành nên hệ thống thông tin trên TTCK Dưới góc độ xã hội, thông tin docông ty đại chúng công bố là những tư liệu liên quan đến công ty đại chúng,phản ánh tình hình hoạt động, kinh doanh cũng như các vấn đề liên quan đếnquản trị công ty… Các thông tin này có thể do công ty tự nguyện công bố hoặcbắt buộc phải công bố ra công chúng theo quy định của pháp luật Dưới góc độpháp lý, thông tin của công ty đại chúng trên TTCK là các tư liệu mà công ty
15
Trang 22công bố ra công chúng trên cơ sở thực hiện các quy định pháp luật về CBTT trênTTCK Sự kịp thời, đầy đủ, chính xác của thông tin được công bố phản ánh mức
độ tuân thủ pháp luật về CBTT và trách nhiệm xã hội của công ty đại chúng Cácthông tin này cũng chính là tấm gương phản ánh hình ảnh của doanh nghiệp, mặc
dù không phải lúc nào thông tin cũng chính xác, xét cả trên yếu tố khách quan vàchủ quan Để biết được độ chính xác, tin cậy của thông tin, nhà đầu tư phải cónhững hiểu biết nhất định về công ty, khách hàng của công ty, đồng thời có khảnăng phân tích kinh tế và kỹ thuật tốt
Theo thông lệ pháp luật của các nước về CBTT trên TTCK, công ty đạichúng phải công bố các thông tin liên quan đến giá trị nội tại của doanh nghiệpnhư: thông tin về cơ cấu nguồn vốn chủ sở hữu, Báo cáo tài chính, thông tin liênquan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, thông tin về quản trị công ty Tuynhiên cần nhấn mạnh rằng, công ty đại chúng không phải công bố tất cả thông tinliên quan đến hoạt động của mình, nghĩa vụ CBTT có thể miễn trừ nếu nó làmtổn hại vị thế cạnh tranh của họ, trừ phi việc CBTT là cần thiết cho quyết địnhđầu tư hoặc để tránh làm nhà đầu tư hiểu lầm Để xác định thông tin nào cần phảicông bố, một số quốc gia (như Thái Lan, Canada) áp dụng khái niệm “thông tin
có tầm quan trọng” hoặc “thông tin trọng yếu” (Material Information)
- những thông tin liên quan đến sự thay đổi trong hoạt động kinh doanh của công
ty mà có tác động đáng kể đến giá chứng khoán của một tổ chức phát hành.Nhiều quốc gia khác như Việt Nam, Indonesia, Nhật Bản… lại quy định cụ thểcác thông tin mà công ty đại chúng cần công khai rộng rãi ra công chúng đầu tư
Khái niệm công bố thông tin của công ty đại chúng trên TTCK:
Theo từ điển Tiếng Việt, công bố được hiểu là thông báo cho mọi người biếtmột vấn đề hoặc thông tin nào đó Việc CBTT của bất kỳ chủ thể nào phải đảmbảo cho một nhóm đối tượng có thể tiếp cận được Trên TTCK, CBTT được hiểu
là việc làm cho thông tin được công khai một cách tin cậy và đông đảo côngchúng đầu tư đều có thể biết được Hoạt động CBTT có thể thực hiện thông qua
Trang 23các phương tiện như trang thông tin điện tử, báo in, báo hình hoặc các ấn phẩmkhác như tạp chí, bản tin… Nói cách khác, CBTT là việc các chủ thể thông báođến công chúng đầu tư các thông tin liên quan đến tình hình hoạt động của mìnhcũng như các thông tin về tình hình thị trường theo quy định của pháp luật.
Trên TTCK, công ty đại chúng có vai trò là chủ thể cung cấp hàng hóa chothị trường, do đó các công ty này phải tuân thủ chặt chẽ các quy định pháp luật
về công bố thông tin Dưới góc độ xã hội có thể hiểu “CBTT của công ty đạichúng” là việc công ty đại chúng cung cấp rộng rãi các thông tin tài chính hoặcphi tài chính liên quan đến các mặt hoạt động của mình mà công chúng đầu tư cóthể dễ dàng tiếp nhận được thông tin đó Dưới góc độ pháp lý, CBTT của công tyđại chúng là việc công ty tuân thủ các yêu cầu về chế độ báo cáo, công khaithông tin ra công chúng theo quy định pháp luật Nghĩa vụ CBTT của công ty đạichúng có thể phát sinh định kỳ hoặc bất thường, tùy thuộc vào loại thông tin màcông ty phải công bố
1.1.2.3 Phân loại hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán
Theo thời gian thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin của công ty đại chúng
- Công bố thông tin định kỳ của công ty đại chúng:
CBTT định kỳ của công ty đại chúng là việc công ty phải công bố một sốloại thông tin có tính chất lặp đi lặp lại theo từng chu kỳ Đối với những thôngtin này, cả công ty đại chúng, nhà đầu tư và cơ quan quản lý đều chủ động biếtđược khoảng thời gian thông tin sẽ được công khai trên thị trường Do đó, việcgiám sát tính kịp thời của thông tin trong trường hợp này khá dễ dàng Các công
ty thường có thời hạn khá dài để chủ động thực hiện CBTT định kỳ Theo thông
lệ pháp luật về CBTT của nhiều nước, nghĩa vụ CBTT định kỳ của công ty đạichúng thường được áp dụng đối với Báo cáo tài chính (công bố định kỳ hàngquý), Báo cáo quản trị công ty (công bố định kỳ sáu tháng), Báo cáo thường niên(công bố định kỳ hàng năm)
- Công bố thông tin bất thường của công ty đại chúng:
17
Trang 24CBTT bất thường của công ty đại chúng được hiểu là việc công ty phảicông bố một số thông tin phát sinh bất ngờ, có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sảnxuất, kinh doanh hoặc đến giá chứng khoán như thông tin về thay đổi nhân sựquản lý, việc ký kết các hợp đồng có giá trị lớn hoặc thông tin về tổ chức lại, giảithể, phá sản doanh nghiệp… Khác với những thông tin được CTĐC công bốđịnh kỳ, đa số nhà đầu tư cũng như cơ quan quản lý thường khó tiếp cận và chủđộng biết được thời gian các sự kiện “bất thường” xảy ra đối với công ty Mặtkhác, các nhân sự chủ chốt, cổ đông chiến lược của công ty đại chúng luôn có lợithế về thông tin hơn các nhà đầu tư khác trên thị trường, vì thế nhằm bảo vệquyền lợi của số đông nhà đầu tư, đòi hỏi CTĐC khi xảy ra các sự kiện bấtthường phải công bố ra thị trường một cách nhanh chóng, kịp thời Nhiều quốcgia quy định công ty phải CBTT ngay lập tức (công bố trong ngày) đối với cácthông tin bất thường (như Mỹ, Úc, Nhật Bản…).
- Công bố thông tin theo yêu cầu của công ty đại chúng:
CBTT theo yêu cầu của công ty đại chúng được hiểu là khi xuất hiện các tinđồn trên thị trường làm ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán hoặc khi có các giaodịch chứng khoán bất thường…, công ty đại chúng phải giải trình theo yêu cầucủa cơ quan quản lý và công bố giải trình này ra thị trường Đây là động thái canthiệp cần thiết từ cơ quan có thẩm quyền nhằm bảo đảm sự phát triển ổn định củaTTCK, bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư trước các thông tin sai sự thật hoặc cácgiao dịch thao túng, làm giá chứng khoán; đồng thời hạn chế tình trạng thâu tómdoanh nghiệp trong nước Tại Việt Nam, vào quý III/2012 UBCKNN đã yêu cầuNgân hàng Đầu tư và phát triển (BIDV) xác nhận thông tin lãnh đạo ngân hàngnày (ông Trần Xuân Giá) bị bắt khi thông tin này xuất hiện trên thị trường, gâyảnh hưởng lớn đến nhà đầu tư Hay sự việc UBCK Hoa Kỳ (SEC) vào tháng7/2012 yêu cầu Tập đoàn dầu khí quốc gia ngoài khơi Trung Quốc (CNOOC)giải trình về hoạt động của họ do nghi ngờ CNOOC sử dụng thông tin nội gián
để trục lợi đối với cổ phiếu của công ty dầu khí Nexen Inc Canada
Theo tính chất thông tin mà công ty đại chúng phải công bố trên TTCK:
Trang 25Theo tính chất thông tin mà công ty đại chúng phải công bố trên TTCK, có thể phân loại hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng như sau:
- Công bố các thông tin tài chính của công ty đại chúng:
Các thông tin tài chính, mà chủ yếu là thông tin về Báo cáo tài chính củacông ty đại chúng cho thấy tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của doanhnghiệp, là cơ sở quan trọng để xây dựng chiến lược đầu tư của nhà đầu tư trênTTCK và là thông tin được nhà đầu tư quan tâm nhất Do đó, yêu cầu công ty đạichúng công bố Báo cáo tài chính là quy định bắt buộc tại mọi TTCK
- Công bố các thông tin phi tài chính của công ty đại chúng:
Công bố các thông tin có tính chất phi tài chính được hiểu là việc công tyđại chúng phải công bố các thông tin liên quan đến tình hình hoạt động sản xuấtkinh doanh, tình hình quản trị công ty nhưng các thông tin này không mang tínhchất tài chính như thông tin thay đổi nhân sự chủ chốt; thông tin về họp Đại hộiđồng cổ đông; thông tin về thay đổi tên, trụ sở chính của công ty
1.1.2.4 Các nguyên tắc công bố thông tin của công ty đại chúng
Một trong những căn cứ để đánh giá một TTCK phát triển là có hệ thốngCBTT tốt, minh bạch Kinh nghiệm tại các TTCK lớn và năng động cho thấy,CBTT là công cụ hiệu quả để tác động tới hoạt động của công ty và bảo vệ nhàđầu tư, giúp thu hút dòng vốn trong, ngoài nước và duy trì niềm tin của thịtrường Đối với công ty đại chúng, hoạt động CBTT là rất cần thiết, giúp nhà đầu
tư hiểu đầy đủ về công ty và chứng khoán mà họ có thể sở hữu để đi đến quyếtđịnh đầu tư Theo pháp luật chứng khoán Việt Nam cũng như nhiều nước, việcCBTT của công ty đại chúng cần đảm bảo những nguyên tắc sau:
Thông tin phải công bố đầy đủ, chính xác:
Đây là nguyên tắc cơ bản đầu tiên trong thực hiện nghĩa vụ CBTT của công
ty đại chúng vì các thông tin từ công ty đại chúng là căn cứ của hành vi mua bántrên TTCK, là một trong những yếu tố cơ bản đảm bảo sự công bằng trong việchình thành giá chứng khoán Nguyên tắc này có nghĩa là khi thực hiện CBTT,công ty phải tôn trọng tính trung thực vốn có của thông tin, không được xuyên
19
Trang 26tạc, bóp méo hoặc có hành vi cố ý gây hiểu nhầm thông tin Các thông tin có thểđược công bố định kỳ dưới hình thức tài liệu phải được kiểm tra kỹ để đảm bảotính chính xác trước khi công bố như đối với các Báo cáo tài chính, kiểm toánđộc lập là một phần thiết yếu của việc kiểm tra các tài liệu này trước khi công bố.Ngoài ra, những thông tin không thể dự liệu trước nhưng nếu nó ảnh hưởng đếnquyết định của nhà đầu tư và giá chứng khoán thì doanh nghiệp phải có ý thức tựgiác CBTT hoặc phải công bố theo yêu cầu của cơ quan quản lý Về mặt nguyêntắc, công ty đại chúng phải cung cấp cho nhà đầu tư những thông tin quan trọng
về công ty một cách đầy đủ nhất, ngay cả khi thông tin đó gây ra bất lợi cho công
ty và phải chịu trách nhiệm đối với thông tin do mình công bố
Thông tin phải được công bố kịp thời:
Mục tiêu của việc CBTT là nhằm thúc đẩy hoạt động giao dịch chứngkhoán diễn ra trôi chảy và có trật tự, đảm bảo quá trình hình thành giá cả mộtcách công bằng thông qua việc cung cấp những thông tin quan trọng, tức thờitrên hệ thống cung cấp thông tin hiện đại Trên TTCK, việc có được thông tin kịpthời sẽ đem lại lợi ích, đôi khi rất lớn cho nhà đầu tư thông qua quyết định mua,bán chứng khoán đúng thời điểm và ngược lại Nguyên tắc kịp thời trong CBTTthể hiện sự khách quan trong CBTT, đồng thời tránh được những tin đồn làm sailệch sự hình thành giá chứng khoán, giảm bớt các giao dịch nội gián, làm giá Ngày nay, hầu hết các TTCK đều yêu cầu công ty thực hiện CBTT qua trangthông tin điện tử (website) do phương thức này đảm bảo tốt nhất tính kịp thời,nhanh chóng trong cung cấp thông tin đến nhà đầu tư
Bảo đảm công bằng giữa các đối tượng nhận thông tin công bố:
Trên thực tế, các nhân sự quản lý, luật sư, kiểm toán viên, tổ chức tư vấncho công ty đại chúng luôn có lợi thế về thông tin so với những đối tượng kháctrên TTCK, tạo ra sự bất cân xứng về thông tin trên TTCK Mặc dù các nước đềunghiêm cấm các giao dịch nội gián nhưng nhiều đối tượng vẫn sử dụng thông tinnội bộ để thu lợi bất chính Các vụ việc điển hình như: Vào cuối năm 2001,
Trang 27Samuel D Waskal - CEO của công ty dược phẩm ImClone Systems Inc đã bán
cổ phần và vận động gia đình, người thân hỗ trợ khi biết trước thông tin Cụcquản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ loại bỏ một trong những thuốc đượcmong đợi nhất được phát triển bởi công ty này, do e ngại giá cổ phiếu củaImClone Systems Inc sẽ giảm xuống đáng kể Ông này sau đó đã bị kết án 7 năm
tù vì hành vi gian lận và giao dịch nội gián Hay giao dịch nội gián được coi là
có qui mô lớn nhất trong lịch sử TTCK Mỹ được “phanh phui” năm 2012, đó làMathew Martoma - giám đốc quản lý danh mục đầu tư tại SAC Capital Advisors
LP từ mùa hè năm 2006 đến giữa tháng 8/2008, do biết được các thông tin nội bộcủa 2 công ty dược Elan Corporation và Wyet, đã điều hành CR IntrinsicInvestors bán hết số cổ phiếu nắm giữ của hai công ty này và thực hiện bánkhống chứng khoán với dự báo giá sẽ giảm xuống trong tương lai Kết quả là,
CR Intrinsic Investors thu được lợi nhuận và tránh được các khoản lỗ có giá trịlên tới 276 triệu USD và bản thân Martoma cũng nhận được 9 triệu USD tiềnthưởng sau sự kiện này Kết cục, anh này cũng bị buộc tội gian lận và phải chịutối thiểu 20 năm tù Các sự việc trên cho thấy, mọi giao dịch trên TTCK phảicông bằng, việc sử dụng lợi thế thông tin để thu lợi là không được phép Đâycũng là nguyên tắc quan trọng trong thực hiện CBTT của công ty đại chúng.Điều này có nghĩa là công ty không được tạo ra lợi thế về thông tin cho bất kỳchủ thể nào thông qua việc cung cấp thông tin cho một số nhà đầu tư riêng biệthoặc những bên có lợi ích khác trước khi công bố rộng rãi ra công chúng Ngoại
lệ chỉ được áp dụng khi công ty đại chúng cung cấp thông tin cho các nhà tư vấnhoặc công ty định mức tín nhiệm hoặc các bên đối tác và trường hợp này bêntiếp nhận thông tin có trách nhiệm phải bảo mật thông tin
Các thông tin tài chính được công bố cần được lập phù hợp với chuẩn mực kế toán:
Báo cáo tài chính là được xem như “phong vũ biểu” đo lường “trạng thái tàichính” trên mọi khía cạnh của quá trình kinh doanh của công ty đại chúng Báocáo tài chính do công ty đại chúng công bố phải được lập phù hợp với chuẩnmực kế toán là một nguyên tắc không thể thiếu trong việc CBTT Ở nhiều TTCK
21
Trang 28phát triển như Mỹ, Hàn Quốc, Úc… Báo cáo tài chính được lập theo chuẩn mực
kế toán quốc tế Ở một số nước, các công ty đại chúng phải lập Báo cáo tài chínhtheo tiêu chuẩn kế toán trong nước Tuy nhiên, dù theo chuẩn mực nào thì để cácthông tin tài chính khi công bố hữu ích cho người sử dụng, các công ty đại chúngkhi trình bày các thông tin về kế toán cần phải thực hiện các yêu cầu cơ bản củapháp luật kế toán, nghĩa là phải thỏa mãn điều kiện: thông tin phải dễ hiểu, phảiđáng tin cậy và phải đảm bảo có thể so sánh được
1.2 Khái quát chung về pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán
1.2.1 Khái niệm pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán
1.2.1.1 Khái niệm pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Để TTCK phát triển bền vững, thu hút đông đảo nhà đầu tư thì vấn đề minhbạch thông tin được đặt lên hàng đầu Chính vì thế, ngay từ những ngày đầu hìnhthành TTCK, các nhà lập pháp đã quan tâm đến việc xây dựng hành lang pháp lýcho sự vận hành và phát triển TTCK, trong đó chú trọng đến vai trò của sự minhbạch thông tin Có thể nói, pháp luật điều chỉnh hoạt động CBTT trên TTCK làmột bộ phận quan trọng trong hệ thống pháp luật về chứng khoán và TTCK, làtổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động CBTT của các chủ thểtrên TTCK Pháp luật về CBTT trên TTCK quy định những nguyên tắc, địnhhướng cơ bản về hoạt động CBTT và cụ thể nghĩa vụ công khai thông tin, hìnhthức cũng như nội dung, cách thức công bố thông tin của các chủ thể tham gia thịtrường, góp phần tạo lập một TTCK minh bạch, bền vững
Về chủ thể có nghĩa vụ CBTT trên TTCK: Nghĩa vụ CBTT áp dụng với hầuhết các chủ thể tham gia TTCK bao gồm công ty đại chúng, tổ chức phát hànhtrái phiếu, tổ chức kinh doanh chứng khoán (gồm công ty chứng khoán, công tyquản lý quỹ), các quỹ đầu tư chứng khoán, cổ đông lớn, cổ đông nội bộ, Trungtâm Lưu ký chứng khoán (TTLKCK), SGDCK Mỗi chủ thể có nghĩa vụ công bố
Trang 29ra thị trường các loại thông tin khác nhau như SGDCK cung cấp thông tin liênquan đến chức năng tổ chức thị trường; TTLKCK có nghĩa vụ công khai thôngtin liên quan đến chức năng đăng ký, thanh toán, bù trừ chứng khoán; cổ đônglớn, cổ đông nội bộ phải công bố các thông tin về giao dịch chứng khoán Tuynhiên trong cơ cấu các chủ thể tham gia TTCK, yêu cầu minh bạch thông tinluôn được đặt ra đầu tiên đối với công ty đại chúng do những thông tin từ công
ty này tượng trưng cho thông tin về “hàng hóa” trong “Chợ Chứng khoán”, gópphần quan trọng trong hình thành giá cổ phiếu
Việc thực hiện nghĩa vụ CBTT của các chủ thể tham gia TTCK chịu sựquản lý trực tiếp của UBCK Cơ quan này chủ trì xây dựng, soạn thảo các vănbản pháp lý về chứng khoán và TTCK, trong đó có văn bản điều chỉnh hoạt độngCBTT Tuy nhiên, tại Việt Nam, UBCKNN có vị trí là cơ quan trực thuộc Bộ Tài
chính (ngang một Vụ thuộc Bộ) nên thẩm quyền ban hành các văn bản pháp quy
trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK thuộc về Bộ Tài chính, đây là điểm khácbiệt so với nhiều TTCK các nước khi UBCK thường độc lập, có chức năng banhành văn bản pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán, có thẩm quyền điều tra vàchủ động trong quản lý TTCK
Bên cạnh đó, trực thuộc Ủy ban Chứng khoán là SGDCK có quyền banhành các quy định và thực hiện việc giám sát liên quan đến chức năng tổ chức thịtrường giao dịch chứng khoán tập trung Tại một số nước, SGDCK được thànhlập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn được sở hữu bởi thành viên là
các công ty chứng khoán (như mô hình của Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia…)
hoặc nhiều quốc gia lựa chọn mô hình tổ chức SGDCK dưới hình thức công ty
cổ phần (như mô hình của Singapore, Hongkong, London, Paris, Tokyo, New York… và đang là xu hướng của nhiều TTCK hiện nay) nhằm đảm bảo SGDCK
có tính độc lập cao, đảm bảo vai trò giám sát thị trường, theo đó các SGDCK có
quyền ban hành các quy chế để thực hiện chức năng tổ chức thị trường (như quy chế giao dịch, quy chế niêm yết, quy chế CBTT…) Tại Việt Nam, hai Sở giao
23
Trang 30dịch chứng khoán (SGDCK Hà Nội – HNX và SGDCK TP Hồ Chí Minh –HOSE) trực thuộc UBCKNN, được tổ chức theo mô hình công ty trách nhiệmhữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn nhưng hoạt động theo cơchế đặc thù Theo Điều 33 Luật Chứng khoán năm 2006, các SGDCK là nơi tổchức thị trường giao dịch chứng khoán cho chứng khoán của tổ chức niêmyết/đăng ký giao dịch, có quyền ban hành các quy chế như Quy chế niêm yết,Quy chế giao dịch, Quy chế CBTT để hướng dẫn các công ty niêm yết/đăng kýgiao dịch, công ty chứng khoán thành viên cũng như nhà đầu tư thực hiện cácquyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia TTCK có tổ chức, đồng thời có thể đưa
ra hình thức xử lý vi phạm nghĩa vụ CBTT của các đối tượng trên
Ngoài ra, pháp luật về CBTT trên TTCK cũng quy định các nguyên tắcCBTT, trường hợp có thể được tạm hoãn CBTT và nguyên tắc xử lý vi phạmCBTT trên TTCK nhằm tạo sức răn đe đối với các chủ thể tham gia thị trường.UBCKNN, SGDCK cũng có ban hành các quy định cụ thể về trình tự, thủ tụcCBTT trên hệ thống CBTT của UBCKNN, SGDCK
1.2.1.2 Khái niệm pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán
Pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúngtrên TTCK là một bộ phận quan trọng trong hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạtđộng CBTT trên TTCK Nó là tổng hợp những nguyên tắc, định hướng cơ bản vềhoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng, là tổng hợp các quy phạmpháp luật điều chỉnh hoạt động công khai thông tin của các công ty đại chúng,bao gồm các nhóm quy phạm pháp luật sau:
+ Nhóm quy phạm về CBTT định kỳ của công ty đại chúng (bao gồm nhómquy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố các thông tin mang tính chấttài chính hoặc phi tài chính phát sinh định kỳ theo tháng/quý/sáu tháng/năm củacông ty đại chúng như các quy định về CBTT Báo cáo tài chính, Báo cáo thườngniên, Báo cáo quản trị công ty, họp Đại hội đồng cổ đông thường niên);
Trang 31+ Nhóm quy phạm về CBTT bất thường của công ty đại chúng (bao gồmnhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố các thông tin phát sinhbất thường, có ảnh hưởng lớn đến công ty đại chúng hoặc đến giá như khoán, đòihỏi công ty phải công bố tức thời ra thị trường như thông tin về thay đổi nhân sựquản lý, việc ký kết hợp đồng có giá trị lớn, quyết định tổ chức lại hoặc giải thể,phá sản doanh nghiệp…);
+ Nhóm quy phạm về công bố thông tin theo yêu cầu của công ty đại chúng
(bao gồm các quy định liên quan đến nghĩa vụ công bố các thông tin có ảnhhưởng đến giá chứng khoán hay đến quyền lợi của nhà đầu tư mà UBCKNN,SGDCK thấy cần thiết phải yêu cầu công ty đại chúng CBTT)
Các nhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động CBTT của công ty đạichúng như trên tương ứng với các nghĩa vụ CBTT mà công ty đại chúng phảituân thủ Theo đó, công ty đại chúng phải công bố các thông tin mang tính chấttài chính hoặc phi tài chính liên quan đến tình hình hoạt động của công ty nhưcác Báo cáo tài chính, các thông tin về quản trị công ty, thông tin về rủi ro vàchính sách quản lý rủi ro… Việc CBTT của công ty đại chúng có thể diễn ra định
kỳ, bất thường hay theo yêu cầu của UBCKNN, SGDCK
1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán
Pháp luật chứng khoán các nước cũng như pháp luật Việt Nam đều quyđịnh cụ thể nghĩa vụ CBTT của công ty đại chúng trên TTCK Các thông tin docông ty đại chúng công bố rất đa dạng, bao gồm các loại sau:
Thông tin về Báo cáo tài chính (BCTC) của công ty đại chúng:
Thông tin về tài chính, đặc biệt là thông tin về Báo cáo tài chính là thông tinquan trọng nhất, là nguồn thông tin về công ty được sử dụng rộng rãi nhất vàđược nhà đầu tư đặc biệt quan tâm vì nó cho thấy hiệu quả kinh tế và tình hìnhtài chính của công ty Thông thường, công ty đại chúng phải công bố BCTC năm,BCTC bán niên và BCTC quý Theo thông lệ quốc tế, BCTC năm phải
25
Trang 32kèm theo báo cáo kiểm toán của tổ chức kiểm toán được chấp thuận Ngoài ra,các BCTC phải tuân theo các quy định về chuẩn mực kế toán chung được chấp
nhận của quốc gia đó (Generally Accepted Accounting Principles- GAAP) cũng
như phải tuân thủ các yêu cầu pháp lý khác có liên quan hoặc phải tuân thủ
chuẩn mực kế toán quốc tế (International Accounting Standards – IAS) Pháp
luật chứng khoán và TTCK các nước đều có quy định chặt chẽ về việc lập, hoànthành và CBTT Báo cáo tài chính của công ty đại chúng
Theo quy định tại Luật Chứng khoán Úc, công ty niêm yết phải nộp BCTC
quý, bán niên và năm cho Ủy ban chứng khoán và đầu tư Australia (Australian Securities and Investments Commission -ASIC) và Sở giao dịch chứng khoán Australia (Australian Securities Exchange - ASX) Ngoài ra, các công ty đại
chúng hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận cũng phải lập Báo cáo tài chính theochuản mực BCTC quốc tế từ năm 2009 theo đề xuất của Ủy ban các chuẩn mực
kế toán Australia (Statements of Standard Accounting Practice- SSAB).
Tại Hàn Quốc, theo Điều 160 Luật Thị trường vốn và dịch vụ tài chính,công ty niêm yết phải gửi BCTC năm, bán niên và quý cho Ủy ban Dịch vụ Tài
chính (Financial Service Commission – FSC) và SGDCK Hàn Quốc (Korean Stock Exchange - KSE) Thời gian nộp BCTC năm là 90 ngày sau khi kết thúc
năm tài chính, đối với BCTC bán niên và quý thời hạn là 45 ngày sau khi kết
thúc kỳ kế toán Công ty phải nộp thêm BCTC hợp nhất (consolidated financial statements) khi sở hữu từ 50% trở lên cổ phần của một công ty khác hoặc khi sở
hữu từ 30% trở lên cổ phần của một công ty khác đồng thời đóng vai trò là cổđông kiểm soát Ngoài ra, BCTC của công ty niêm yết phải được kiểm toán bởi
tổ chức kiểm toán độc lập hàng năm theo tiêu chuẩn chuyên nghiệp
Tại Nhật Bản, theo Điều 436 Luật Doanh nghiệp 2005 tất cả công ty cổ
phần đều phải công bố Báo cáo kinh doanh và BCTC (gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo thu nhập, Báo cáo thay đổi tài sản ròng, Báo cáo tài chính phi hợp nhất, thuyết minh Báo cáo tài chính) Đối với công ty đại chúng phải có
Trang 33BCTC và kế hoạch phụ trợ được kiểm toán không chỉ bởi các kiểm toán viên nội
bộ của công ty hoặc Hội đồng kiểm toán nội bộ của công ty mà còn bởi các kiểm
toán viên có chứng chỉ hành nghề CPA (Certified Practising Accoutant) hoặc
công ty kiểm toán độc lập BCTC được chứng nhận bởi các kiểm toán viên công
ty, Hội đồng kiểm toán và kiểm toán viên có chứng chỉ hành nghề CPA hay công
ty kiểm toán độc lập không cần phải có sự chấp thuận của Hội đồng cổ đôngthường niên nếu như Ban Giám đốc đã chấp thuận Ngoài ra, theo Điều 435(2)Luật này, các công ty đại chúng phải gửi Báo cáo kinh doanh và BCTC cho Cơquan dịch vụ tài chính và phải công bố BCTC trong Báo cáo thường niên
Tại Indonesia, theo quy định số XK.2 về nộp BCTC định kỳ của Cơ quan
giám sát thị trường tài chính Bapepam (Rule number XK.2 obligation to submit periodic financial statements) thì công ty đại chúng phải trình bày Bảng cân đối
kế toán, Báo cáo lỗ/lãi, Báo cáo khác theo quy định ít nhất trên 2 tờ báo có phạm
vi lưu thông cả nước và công bố tại trụ sở của công ty (đối với công ty vừa và nhỏ chỉ cần công bố trên 1 tờ báo có phạm vi lưu thông trên cả nước)
Có thể thấy, yêu cầu công ty đại chúng phải CBTT Báo cáo tài chính là quyđịnh bắt buộc tại TTCK các nước Tại nhiều quốc gia có TTCK phát triển như
Mỹ, Úc, Nhật Bản…, Báo cáo tài chính phải được lập theo tiêu chuẩn quốc tế vàđược kiểm toán bởi các kiểm toán viên có chứng chỉ hành nghề CPA
Công bố thông tin liên quan đến tình hình hoạt động, kết quả sản xuất, kinh doanh của công ty đại chúng:
Các thông tin về tình hình hoạt động và kết quả sản xuất, kinh doanh củacông ty đại chúng có ý nghĩa quan trọng đối với nhà đầu tư, được thể hiện tậptrung tại Báo cáo thường niên và yêu cầu các công ty này phải CBTT Báo cáothường niên là quy định bắt buộc tại nhiều nước hiện nay Đây là tài liệu cungcấp cho nhà đầu tư cái nhìn tổng thể về tình hình hoạt động, tình hình tài chínhcủa công ty, những đánh giá của Ban giám đốc, Hội đồng quản trị về hoạt độngcủa công ty trong cả năm so với các mục tiêu đề ra; các phương hướng, chiến
27
Trang 34lược kinh doanh mà công ty đã, đang và sẽ thực hiện Hiện nay, nhiều công ty cổ
phần đã sử dụng Báo cáo thường niên như là khẩu hiệu (slogan) quảng cáo về
công ty, giúp các cổ đông nhận thức được mục tiêu và sứ mệnh của doanh nghiệp
mà họ đang tham gia đầu tư
Bên cạnh Báo cáo thường niên, công ty đại chúng còn phải CBTT bấtthường khi xảy ra các sự kiện có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinhdoanh như việc ký hợp đồng có giá trị lớn hoặc khi có tổn thất lớn về mặt tài sản;tạm ngừng một phần hoạt động kinh doanh; quyết định vay, đầu tư có giá trịlớn… Những thông tin này đều tác động đến giá chứng khoán, đòi hỏi công tyđại chúng phải công bố ngay tức thời Thông thường các nước đều yêu cầu công
ty đại chúng phải CBTT ngay lập tức (CBTT trong ngày) trong các trường hợp
này như Mỹ, Úc, Hàn Quốc… Ở một số nước khác, thời hạn CBTT có thể là 24giờ hoặc một ngày làm việc, cụ thể như sau:
Tại Hàn Quốc, nghĩa vụ CBTT bất thường khi xảy ra sự kiện ảnh hưởng
lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty niêm yết được quy định tạiĐiều 161 Luật Thị trường vốn và các dịch vụ tài chính và được cụ thể tại Quychế CBTT của SGDCK Hàn Quốc Theo Điều 7 Quy chế CBTT trên sàn giao
dịch KOSPI (KOSPI Market Disclosure Regulation), các công ty niêm yết khi
xảy ra các sự kiện ảnh hưởng lớn đến tình hình hoạt động, sản xuất kinh doanh
phải công bố ra thị trường ngay tức thì (CBTT trong ngày) hoặc một số trường
hợp, công ty phải công bố trong vòng hai mươi bốn (24) giờ Cụ thể:
-Công ty phải CBTT tức thì (timely disclosures) khi xảy ra các sự kiện
sau:
+ Các hợp đồng có giá trị từ 10% trở lên doanh số bán hàng (tỷ lệ đối vớicông ty có quy mô lớn là 5%); hoặc khi một phần hoặc tất cả dòng kinh doanhchính bị ngừng trệ hoặc khi giấy phép cho dòng kinh doanh chính bị thu hồi;+ Từ 10% trở lên hoạt động sản xuất (tỷ lệ với công ty quy mô là 5%) bị gián đoạn hoặc khi hoạt động sản xuất bị gián đoạn ổn định trở lại;
Trang 35+ Khi xảy ra tổn thất chiếm từ 5% tổng tài sản (đối với các công ty quy mô lớn tỷ lệ này là 2,5%).
+ Quyết định tăng hoặc giảm vốn cổ phần, quyết định mua lại cổ phiếu…
- Các sự kiện phải được công ty niêm yết công bố trong vòng 1 ngày sau khi xảy ra gồm:
+ Khi ban giám đốc thông qua phương án đầu tư có giá trị từ 20% trở lênvốn cổ phần (tỷ lệ với công ty quy mô lớn là 10%) hoặc khi thông qua phương
án đầu tư trực tiếp nước ngoài, khi có một hợp đồng sáp nhập hoặc chuyểnnhượng tài sản cố định hoặc khi có yêu cầu bồi thường thiệt hại tương đương với10% trở lên vốn cổ phần (tỷ lệ với các công ty quy mô lớn là 5%);
+ Khi có hợp đồng giao dịch hàng hoá phái sinh từ 2% trở lên tổng tài sản của năm tài chính kế trước (hoặc 1% trở lên đối với công ty lớn);
+ Có kế hoạch hoặc được chấp nhận niêm yết tại SGDCK nước ngoài…
Tại Úc, theo Luật Doanh nghiệp 2001 và Quy chế niêm yết của SGDCK
Australia, công ty đại chúng phải công bố ngay lập tức khi xảy ra một trong các
sự kiện có ảnh hưởng lớn đến tình hình hoạt động của công ty như sau:
+ Khi công ty có thay đổi trong dự báo về tình hình tài chính;
+ Một giao dịch mà khoản phải trả hoặc phải thu chiếm một tỷ lệ đáng kể trong giá trị tổng tài sản hợp nhất của công ty (thông thường tỷ lệ là 5%);
+ Đề nghị hoặc tuyên bố về cổ tức hoặc phân phối cổ tức;
+ Bản sao tài liệu có chứa những thông tin (không phải là thông tin mật)
nhạy cảm với thị trường mà công ty phải nộp cho SGDCK nước ngoài hoặc cơquan quản lý khác;
+ Gửi đi hoặc nhận được một thông báo có ý định thâu tóm…
Một số quốc gia khác như Malaysia, Philippines… còn quy định nghĩa vụCBTT cho các doanh nghiệp hoạt động trong một số nhóm ngành đặc thù nhưtheo quy định tại phần 9.36 đến 9.38 phần M Quy chế CBTT của SGDCKMalaysia, các công ty niêm yết khai thác mỏ, trồng rừng còn phải thông báo choSGDCK các số liệu sản xuất hàng tháng chậm nhất vào cuối tháng tiếp theo; còn
Trang 3629
Trang 37các công ty xây dựng dự án cơ sở hạ tầng phải ngay lập tức thông báo choSGDCK sự khác biệt trong thu nhập và dòng tiền có thể tác động tiêu cực đếnthu nhập tiềm năng trong thời gian xây dựng các dự án cơ sở hạ tầng, đồng thờiphải công bố báo cáo tiến độ dự án cơ sở hạ tầng hàng quý chậm nhất 2 thángsau khi kết thúc mỗi quý của năm tài chính.
Nhóm thông tin liên quan đến quản trị công ty:
Theo các nguyên tắc quản trị công ty của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh
tế (OECD) thì quản trị công ty được hiểu là mối quan hệ giữa Ban giám đốc, Hộiđồng quản trị, các cổ đông và các bên có liên quan trong doanh nghiệp Quản trịcông ty được đặt trên cơ sở tách bạch giữa quyền quản lý và sở hữu doanhnghiệp, từ đó xác định quyền hạn, nghĩa vụ của các nhóm lợi ích, các thành viênkhác nhau trong công ty (gồm cổ đông, thành viên Hội đồng quản trị, ban điềuhành, ban kiểm soát và các bên có liên quan với công ty như người lao động, bênđối tác…); đồng thời nó lập ra các quy tắc và quy trình ra quyết định trong công
ty, ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực và giảm thiểu các xung đột lợi ích giữa cácbên Một công ty có mô hình quản trị tốt sẽ có hoạt động kinh doanh hiệu quả,giúp công ty có được niềm tin từ công chúng đầu tư, từ đó dễ dàng tiếp cận đượccác nguồn vốn Tại các nước thành viên của OECD như Mỹ, các nước châu Âu,
Úc, Hàn Quốc, Nhật Bản…, công ty đại chúng phải tuân thủ Bộ nguyên tắc quảntrị công ty của OECD với các yêu cầu khắt khe như các tiêu chuẩn đối với thànhviên Hội đồng quản trị, nghĩa vụ công khai thông tin…
Thông thường, công ty đại chúng đều phải CBTT vấn đề quản trị công tynhư công khai thông tin về các nhân sự quản lý; Thông tin về hoạt động của Hội
đồng quản trị, Ban Kiểm soát; Thông tin về thay đổi cổ đông lớn và quyền biểu
quyết của cổ đông; Thông tin về giao dịch giữa công ty đại chúng với các bênliên quan… cụ thể như sau:
(i) Về thông tin liên quan đến nhân sự quản lý của công ty đại
chúng:
30
Trang 38Các nhân sự quản lý (thành viên Ban giám đốc, Hội đồng quản trị, Bankiểm soát, Kế toán trưởng) có vai trò quan trọng trong công ty, họ thay mặt cổđông thực hiện các kế hoạch, giải pháp phát triển công ty Vì thế, nhà đầu tư luônquan tâm đến phẩm chất, năng lực cũng như hiệu quả làm việc, những đóng gópcủa họ đối với công ty Do đó, nghĩa vụ công bố các thông tin về nhân sự quản lýđối với công ty đại chúng đều được pháp luật các nước quy định.
- Thông tin về thay đổi nhân sự quản lý:
Việc thay đổi các vị trí chủ chốt đều ít nhiều ảnh hưởng đến hoạt động củacông ty, do đó pháp luật các nước đều yêu cầu công ty đại chúng phải công bố
ngay tức thì (CBTT trong ngày) trong trường hợp này như quy định tại điểm 14
mục 9.19 phần J Quy chế CBTT của SGDCK Bursa – Malaysia hoặc mục 4.3phần IV Chính sách quốc gia 51-201 về tiêu chuẩn CBTT của Canada
- Thông tin về chính sách thù lao cho nhân sự quản lý:
Tùy thuộc pháp luật từng quốc gia mà công ty đại chúng phải công bốlương thưởng cho toàn bộ đội ngũ lãnh đạo hoặc một số cán bộ quản lý được trảlương cao nhất Theo pháp luật Nhật Bản có phân biệt 04 loại chức danh quản lýtrong công ty gồm: (i) người điều hành, (ii) các giám đốc, (iii) kiểm toán viên và(iv) các giám đốc, kiểm toán viên bên ngoài, theo đó số lượng các chức danh cóhưởng lương và tổng số lương của họ phải được công bố trong Báo cáo chứng
khoán (Securities reports); nếu tổng cộng lương cho một chức danh từ 100 triệu
Yên Nhật trở lên thì phải nêu cụ thể tên và chức danh của người đó Còn tại Hoa
Kỳ, công ty đại chúng phải CBTT về thù lao trong 3 năm đối với công ty quy mônhỏ hoặc 5 năm đối với công ty quy mô lớn chi trả cho ban giám đốc điều hành.Thậm chí tại Hàn Quốc, việc thay đổi lương của các thành viên quản lý cũngphải được công bố một cách tức thì Việc công ty đại chúng CBTT về chính sáchthù lao cho nhân sự quản lý giúp nhà đầu tư có thể đánh giá chi phí và lợi ích của
kế hoạch thù lao vào hiệu quả hoạt động của công ty và đang trở thành xu hướngchung trong chính sách CBTT nhiều TTCK trên thế giới
Trang 39- Thông tin về giao dịch cổ phiếu của các nhân sự quản lý:
Do lợi thế về tiếp cận thông tin mà nhân sự quản lý có được nên các hành
vi mua, bán của họ đôi khi có ý nghĩa định hướng giao dịch của các nhà đầu tưkhác trên thị trường Chính vì vậy, pháp luật nhiều nước quy định các chức danhquản lý của CTĐC phải CBTT trước giao dịch mua, bán cổ phần công ty, đôi khimột số nước còn yêu cầu những người này chỉ được phép giao dịch khi có sựchấp thuận của cơ quan quản lý thị trường (như Ấn Độ) Quy định này nhằmgiảm bớt tình trạng nhân sự quản lý sử dụng đặc quyền của họ để giao dịchchứng khoán nhằm thu lợi cho mình, đồng thời đảm bảo sự công bằng giữa cácnhà đầu tư trên thị trường Mặt khác, nó cũng tránh cho các nhân sự quản lý phảichịu các hình thức xử phạt nghiêm khắc khi giao dịch của họ bị coi là giao dịch
nội gián (Insider Trading).
(ii) Thông tin về hoạt động của Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát:
Hội đồng quản trị (HĐQT) là cơ quan quản lý của công ty đại chúng, có vaitrò quan trọng trong việc điều hành công ty Hoạt động của HĐQT được thể hiệntập trung qua các cuộc họp Một số quốc gia yêu cầu công ty đại chúng phảicông bố ngay tức thì đối với quyết định của HĐQT (như yêu cầu của Canada)hoặc một số nước chỉ yêu cầu công ty đại chúng CBTT đối với một số quyếtđịnh quan trọng của HĐQT Mặt khác, định kỳ (sáu tháng hoặc hàng năm), công
ty đại chúng phải công khai các hoạt động của HĐQT, các tiểu ban giúp việc (sốcuộc họp, nội dung, thành viên dự họp, không dự họp, kết quả cuộc họp, tỷ lệbiểu quyết) tại Báo cáo quản trị công ty
Ngoài ra, trong quản trị công ty cổ phần, Ban kiểm soát (BKS) cũng có vaitrò vô cùng quan trọng trong thực hiện chức năng giám sát, kiểm tra tính hợp lý,hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạtđộng kinh doanh của HĐQT, ban giám đốc cũng như trong tổ chức công tác kếtoán, thống kê và lập Báo cáo tài chính… Do đó, các CTĐC cũng phải công khai
32
Trang 40hoạt động của Ban kiểm soát (về các cuộc họp, nội dung họp, kết quả cuộc họp) cho nhà đầu tư.
(iii) Thông tin liên quan đến cổ đông lớn và quyền biểu quyết của cổ đông:
-Về thông tin liên quan đến cổ đông lớn:
Theo thông lệ pháp luật các nước, cổ đông nắm giữ từ 5% trở lên cổ phiếu
có quyền biểu quyết của công ty đại chúng được coi là cổ đông lớn và các giaodịch của họ đều bắt buộc phải CBTT Pháp luật chứng khoán các nước (Mỹ,Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản…) đều quy định cổ đông lớn khi có sự thayđổi tỷ lệ sở hữu cổ phần qua các ngưỡng 1% phải báo cáo cho tổ chức phát hànhcũng như cơ quan quản lý thị trường Ngoài ra, nhiều quốc gia còn yêu cầu công
ty đại chúng phải công bố tức thì khi có sự thay đổi cổ đông lớn như quy định tạiphần 3 Quy chế niêm yết và CBTT của SGDCK Thái Lan; hoặc khi công ty có
sự thay đổi cổ đông lớn nhất như quy định tại điểm i khoản 3 Điều 7 Quy chếCBTT tại thị trường KOSPI – Hàn Quốc Tại Nhật Bản, ngoài việc phải CBTTkhi có sự thay đổi cổ đông lớn, công ty đại chúng còn phải CBTT về sở hữu chéo
(do phần lớn các công ty tại Nhật Bản sở hữu chéo cổ phiếu của nhau), cụ thể các công ty nắm giữ cổ phiếu với mục đích chiến lược phải công bố số lượng và
mục đích nắm giữ cổ phiếu, còn đối với công ty nắm giữ đơn thuần chỉ để đầu tưthu lãi thì phải công bố số lượng cổ phiếu nắm giữ và cổ tức nhận được
-Về quyền biểu quyết của cổ đông:
Quyền biểu quyết của cổ đông được tập trung tại cuộc họp Đại hội đồng cổđông (ĐHĐCĐ) - nơi cổ đông tham gia với tư cách là chủ sở hữu công ty, quyếtđịnh những vấn đề quan trọng nhất của công ty như thay đổi vốn điều lệ, các hợpđồng có giá trị lớn, quyết định hợp nhất, sáp nhập công ty… Do đó, công ty cổphần nói chung và các công ty đại chúng nói riêng cần công khai thời gian, nộidung họp và gửi tài liệu họp cho cổ đông trong một khoảng thời gian nhất địnhtrước khi tiến hành họp ĐHĐCĐ (theo nguyên tắc quản trị công ty của OECD,