tổ chức bộ máy nhà nước là đã quy định khá cụ thể quyền hạn và trách nhiệm củacác cơ quan nhà nước, từng bước thể hiện sự phân cấp trong quản lý giữa Trungương và địa phương; các văn bản
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM XUÂN SƠN
C¶I C¸CH THñ TôC HµNH CHÝNH QUA
THùC TIÔN CñA THñ §¤ Hµ NéI
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số: 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS PHẠM HỒNG THÁI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực.
Trong quá trình thực hiện Luận văn, tôi đã được sự quan tâm hướng dẫn tận tình, chi tiết của GS.TS Phạm Hồng Thái Luận văn được hoàn thành theo đúng quy trình, quy định và hướng dẫn về nghiên cứu khoa học.
Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và thanh toán đầy đủ các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tôi viết Lời cam đoan, đề nghị Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội cho phép tôi được bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người thực hiện luận văn
Phạm Xuân Sơn
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VÀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 11
1.1 QUAN NIỆM VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 11
1.1.1 Khái niệm thủ tục hành chính 11
1.1.2 Phân loại và đặc điểm các thủ tục hành chính 14
1.2 CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 18
1.2.1 Ý nghĩa, vai trò của cải cách thủ tục hành chính 20
1.2.2 Yêu cầu cải cách thủ tục hành chính 22
1.3 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TRỰC TIẾP ĐẾN CẢI CÁCH TTHC VÀ CÁCH ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CẢI CÁCH TTHC 23
1.4 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ TRONG NƯỚC VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH VÀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 26
Chương 2: THỰC TRẠNG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI 38
2.1 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG THỂ CHẾ VÀ KẾ HOẠCH CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI 38
2.1.1 Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch 38
2.1.2 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phục vụ cải cách thủ tục hành chính 41
2.2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI 42
Trang 42.2.1 Tuyên truyền, phổ biến về cải cách thủ tục hành chính 42
2.2.2 Bố trí các nguồn lực, ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ thông tin phục vụ công tác cải cách TTHC 45
2.2.3 Tập hợp, thống kê, rà soát đơn giản hóa TTHC trước khi thực hiện Đề án 30 53 2.2.4 Cơ chế một cửa trong giải quyết thủ tục hành chính 59
2.2.5 Cơ chế một cửa liên thông trong thực hiện TTHC 62
2.2.6 Thực trạng quy định trách nhiệm của người thực hiện TTHC 64
2.3 THỰC TRẠNG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO ĐỀ ÁN 30 CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI 70
2.3.1 Giai đoạn 1 Đề án 30: Thống kê thủ tục hành chính của Thành phố 70
2.3.2 Giai đoạn 2 Đề án 30: Thực hiện rà soát, kiến nghị đơn giản hoá thủ tục hành chính của Thành phố 71
2.3.3 Giai đoạn 3: Thực thi đơn giản hoá thủ tục hành chính của Thành phố 72
2.3.4 Giai đoạn kiểm soát thủ tục hành chính 72
2.4 THỰC TRẠNG CẢI CÁCH TTHC ĐỐI VỚI MỘT SỐ LĨNH VỰC QUẢN LÝ CỤ THỂ 75
2.4.1 Một số vấn đề chung về quá trình hình thành TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của Thủ đô 75
2.4.2 Quá trình hình thành các TTHC lĩnh vực đất đai; nhà ở, xây dựng nhà ở; thuế 76
2.5 NHỮNG KẾT QUẢ VÀ HẠN CHẾ CỦA CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 84
2.5.1 Những kết quả chung 84
2.5.2 Những mặt còn hạn chế, tồn tại 86
2.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại 87
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC THỰC HIỆN CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI 90
3.1 BỐI CẢNH VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG CHỦ YẾU TỚI CÔNG TÁC CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI 90
Trang 53.2 MỤC TIÊU 92
3.3 CÁC GIẢI PHÁP TIẾP TỤC CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI 93
3.3.1 Về tổ chức thực hiện 93
3.3.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức 96
3.3.3 Tiếp tục hoàn thiện thể chế tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho cải cách thủ tục hành chính 98
3.3.4 Đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa công sở đảm bảo và nâng cao điều kiện thực hiện cải cách thủ tục hành chính 99
3.3.5 Nâng cao chất lượng thông tin, cải thiện quan hệ giữa cá nhân, tổ chức với các cơ quan hành chính 100
3.3.6 Kiểm soát thủ tục hành chính 102
3.4 KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 104
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC
Trang 6Cơ quan hành chính
Cơ quan thuếHội đồng nhân dân
Hồ sơ hành chínhNgười nộp thuếChỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấptỉnh Việt Nam
Bộ chỉ số theo dõi đánh giá CCHCQuyền sử dụng
Quyền sử dụng đấtQuyền sở hữu nhà
Bộ chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của ngườidân và tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quanhành chính
Thành phốThủ tục hành chính
Ủy ban nhân dânChương trình Phát triển Liên Hợp QuốcNgân hàng Thế giới
Tổ chức Thương mại thế giớiXây dựng cơ bản
Xã hội chủ nghĩa
Trang 7MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đẩy mạnh cải cách nền hành chính ở Việt Nam, cải cách thủ tụchành chính luôn được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu; Thủ tướng Chính phủ
đã giao nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hoá thủ tục hành chính trêncác lĩnh vực quản lý nhà nước là nhiệm vụ quan trọng, ưu tiên hàng đầu Cải cáchthủ tục hành chính cũng là 1 trong 2 khâu đột phá trong chiến lược phát triển củaThủ đô trong giai đoạn 2010-2015[30]
Cải cách thủ tục hành chính đang là vấn đề bức xúc, nóng bỏng, được nhiềutầng lớp nhân dân quan tâm, trên cả bình diện lý luận và thực tiễn đang đặt ra rấtnhiều vấn đề cấp bách cần giải quyết
Ngày nay, cải cách hành chính là vấn đề mang tính toàn cầu Các nước trênthế giới đều tiến hành cải cách nền hành chính và nâng cao chất lượng dịch vụ công,đều là mục tiêu ưu tiên trong phát triển của các quốc gia Cả các nước đang pháttriển và các nước phát triển đều xem cải cách hành chính như một động lực mạnh
mẽ để thúc đẩy tăng trường kinh tế, phát triển dân chủ và các mặt khác của đời sống
xã hội[32]
1986, tính đến nay đã gần 3 thập niên Trong khoảng thời gian này, đồng thời vớiviệc đổi mới về kinh tế thì cải cách hành chính cũng được tiến hành Cuộc cải cáchhành chính được thực hiện từng bước thận trọng và đã thu được nhiều kết quả rấtđáng khích lệ Cải cách hành chính đang thể hiện rõ vai trò quan trọng của mìnhtrong việc đẩy nhanh sự phát triển đất nước Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩugạo đứng hàng đầu trên thế giới, công nghiệp và dịch vụ phát triển, đầu tư nước
ngoài xu hướng chung là tăng, nhiều vấn đề xã hội đang được quan tâm giải quyết
Tuy nhiên, Ở Việt Nam đang còn rất nhiều vấn đề kinh tế
-xã hội đã tồn tại từ lâu và mới nảy sinh cần phải được giải quyết tích cực và có hiệu quả Bên cạnh đó, bối cảnh toàn cầu hoá đang đặt ra trước Việt Nam những
Trang 8thách thức và cơ hội mới đòi hỏi phải có những cố gắng cao độ Điều đó cũng cónghĩa là quá trình cải cách hành chính ở Việt Nam còn rất nhiều vấn đề đặt ra cầnđược tiếp tục giải quyết Cái khó trong cải cách hành chính ở Việt Nam là phải tiến
hành một cuộc cải cách hành chính có tính chất cách mạng từ quản lý lập trung
quan liêu, bao cấp sang quản lý trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng dânchủ Điều này là chưa từng có tiền lệ
cách, đơn giản hoá tục hành chính (Đề án 30) là một trong 10 sự kiện nổi bật ViệtNam 2009, các ngành các cấp đã khẩn trương thực hiện việc đơn giản hoá thủ tụctheo hướng dẫn của Tổ công tác chuyên trách Thủ tướng Chính phủ[34]
Lịch sử đã chỉ ra rằng bất kỳ một cuộc cải cách nào cũng đều có mục tiêu,mục đích xã hội của nó Mục tiêu cải cách hành chính ở Việt Nam là: xây dựng mộtnền hành chính trong sạch, vững mạnh, tiết kiệm, chuyên nghiệp, phục vụ nhân dânngày một tốt hơn
Cải cách hành chính ở Việt nam được tiến hành nhiều năm nay với nhữngbước đi, lộ trình khác nhau từ thấp tới cao Bắt đầu là việc cải cách một bước thủ tụchành chính trong việc giải quyết các công việc của cá nhân, tổ chức, đến cải cáchnền hành chính nhà nước với 03 nội dung là: cải cách thể chế hành chính[14]; cảicách bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cải cáchhành chính đã chuyển sang một bước mới với 04 nội dung: cải cách thể chế hànhchính; cải cách bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức;cải cách tài chính công[18] Giai đoạn hiện nay với 06 nội dung: (1) Cải cách thểchế, (2) Cải cách thủ tục hành chính, (3) Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhànước, (4) Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, (5) Cải cáchtài chính công, và (6) Hiện đại hoá hành chính[15]
Trong những năm qua cải cách hành chính ở Việt Nam đã làm được những gì
để góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền đó là:
văn bản dưới luật về tổ chức bộ máy nhà nước; Điều quan trọng là: các văn bản về
Trang 9tổ chức bộ máy nhà nước là đã quy định khá cụ thể quyền hạn và trách nhiệm củacác cơ quan nhà nước, từng bước thể hiện sự phân cấp trong quản lý giữa Trungương và địa phương; các văn bản pháp luật về công vụ, cán bộ, công chức đã quyđịnh khá cụ thể các quyền, nghĩa vụ của các cán bộ, công chức và đã bước đầu đitheo hướng chuyên biệt hoá các đối tượng những người phục vụ trong cơ quan, tổchức nhà nước.
quan quản lý nhà nước đã giảm xuống đáng kể, thủ tục hành chính được cải cáchtheo hướng "một cửa", mẫu hóa các văn bản hành chính, giấy tờ, công khai các thủtục hành chính Chính việc cải cách thủ tục hành chính này đã góp phần hạn chế sựsách nhiễu, phiến hà, tham nhũng của các công chức hành chính trong khi giải quyếtcác công việc của công dân Đây là điểm căn bản nhất của cải cách hành chính gópphần xây dựng nhà nước pháp quyền
Công cuộc cải cách hành chính ở Việt Nam trong những năm qua và trongtương lai đi theo hướng làm cho bộ máy hành chính hoàn bị hơn, hoạt động có hiệuquả hơn, phục vụ nhân dân ngày một đúng pháp luật, tốt hơn và tiết kiệm nhất, dầntừng bước chuyển nền hành chính từ cơ quan cai quản thành các cơ quan phục vụdân, làm các dịch vụ hành chính đối với dân, công dân là khách hàng của nền hànhchính, là người đánh giá khách quan nhất về mọi hoạt động của bộ máy nhà nước,
bộ máy hành chính
Tất cả những mục tiêu của cải cách hành chính cũng là nhằm góp phần xâydựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với bản chất của nhân dân, do nhândân, vì nhân dân
(PCI) trong đó đặt ra cấp bách gắn kết quả thực hiện cải cách thủ tục hành chính vớiphát triển dịch vụ công[9] Hiện tổng số thủ tục hành chính ở cả 3 cấp chính quyềncủa Thành phố là 2379 thủ tục hành chính[27]
Cơ quan kiểm soát TTHC có trách nhiệm rà soát, đình chỉ các thủ tục bất hợppháp; sửa đổi, bổ sung các thủ tục còn thiếu hoặc bất hợp lý; Trước khi có
Trang 10Tổ công tác 30 (Tổ công tác của Thủ tướng về cải cách thủ tục hành chính), những
ví dụ về tình trạng các thủ tục hành chính rườm rà và thói cửa quyền, nhũng nhiễu,
"bệnh hành dân" trong cơ quan công quyền thì nhiều vô kể, có thể tìm thấy ở bất kỳnơi nào[21] Một số nguyên nhân cơ bản sau:
Một là, có quá nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành các thủ tục hành
chính Cho đến trước thời điểm triển khai Đề án 30 (2008), chưa có cơ quan, tổchức nào thống kê xem ở Việt Nam, những cơ quan nào được ban hành thủ tục hànhchính Các thủ tục hành chính chồng chéo, mâu thuẫn không có cơ chế để lựachọn áp dụng thủ tục nào (việc cấp bìa đỏ, giấy hồng, giấy xanh vừa qua là một ví
dụ điển hình)
Sự tuỳ tiện trong việc ban hành thủ tục hành chính đã dẫn đến tình trạngkhông thể kiểm soát nổi Không ai có thể thống kê được hiện nay ở nước ta đangtồn tại những thủ tục hành chính nào
Hai là, các thủ tục hành chính thường xuất phát từ nhu cầu quản lý của cơ
quan công quyền chứ không tính đến quyền lợi của các tổ chức, cá nhân khác cóliên quan Do đó, hầu hết các thủ tục hành chính đều tìm cách tạo thuận lợi cho cơquan có thẩm quyền, đẩy khó khăn về phía người dân
Ba là, hầu hết các thủ tục hành chính đều không có quy định rõ ràng và dứt
khoát các loại giấy tờ, tài liệu cần phải có khi làm thủ tục hành chính Thậm chí, cónhiều thủ tục hành chính sau khi liệt kê một loạt các loại giấy tờ còn quy định thêm
"các giấy tờ, tài liệu khác " Lợi dụng kẽ hở này, người có thẩm quyền yêu cầuđương sự nộp thêm các loại giấy tờ khác, nhiều khi hết sức vô lý
Bốn là, thời gian hoàn tất thủ tục hành chính thường là quá dài và không có
thời điểm cuối cùng, không có cơ chế chịu trách nhiệm nếu để quá thời gian quyđịnh Tình trạng người dân nộp giấy tờ, xin hàng tá các loại con dấu, chữ ký rồi mỏi cổ chờ đợi là phổ biến
Năm là, các biện pháp bảo đảm cho người dân có đủ điều kiện để khiếu nại,
tố cáo, khởi kiện không cụ thể, không rõ ràng Các quy định ràng buộc trách nhiệmthường rất chung chung, thậm chí rất nhiều thủ tục không quy định trách nhiệm của
Trang 11cơ quan, người có thẩm quyền Khi quyền và lợi ích của họ bị xâm hại, họ không cócăn cứ nên không thể làm gì được để buộc cơ quan công quyền chịu trách nhiệm.
Sáu là, việc giáo dục đạo đức, ý thức của công chức liên quan đến thủ tục
hành chính chưa được quan tâm đúng mức Cùng với chế độ tiền lương còn bất cậphiện nay cũng là những nguyên nhân dẫn đến tình trạng các thủ tục hành chínhrườm rà và thói cửa quyền, nhũng nhiễu, "bệnh hành dân" đang rất phổ biến trongcác cơ quan công quyền
Các nghiên cứu về thủ tục hành chính chủ yếu nặng về lý luận, chưa cụ thểnêu được các vấn đề sau:
hành thủ tục hành chính
trên quyền lợi của cơ quan có thẩm quyền tiến hành thủ tục hành chính, lấy phục vụnhân dân làm thước đo
đương sự cần phải có khi làm thủ tục Ngoài các loại giấy tờ đã liệt kê, cơ quan cóthẩm quyền không được yêu cầu đương sự nộp thêm bất kỳ loại giấy tờ tài liệu nàokhác
tục hành chính (theo hướng càng rút ngắn càng tốt) Trường hợp vượt quá thời giankhông có lý do chính đáng thì người có lỗi phải chịu trách nhiệm kỷ luật, xử phạthành chính Nếu gây thiệt hại vật chất phải bồi thường
phải tiếp nhận và trong mọi trường hợp bắt buộc phải trả lời bằng văn bản (phiếutiếp dân) với các nội dung sau: Có thuộc thẩm quyền hay không, kể cả không thuộcthẩm quyền vẫn phải ghi rõ trong văn bản (phiếu tiếp dân); Nếu thuộc thẩm quyềnphải ghi rõ đã đủ giấy tờ tài liệu theo yêu cầu hay chưa? Nếu thiếu thì thiếu loại gì?
Lệ phí và nơi nộp lệ phí; Ghi rõ thời gian thụ lý, thời gian trả hồ sơ; Phiếu tiếp dân
là tài liệu quan trọng, là căn cứ pháp lý để người dân thực hiện quyền khiếu nại, tốcáo hay khởi kiện cơ quan (người) có thẩm quyền ra Toà án hành chính
Trang 12Đã đến lúc không thể cứ tiếp tục tiêu tốn hàng đống tiền bạc của Nhà nước(mà thực chất là của nhân dân) cho việc cải cách hành chính để rồi kết quả là thủ tụchành chính vẫn "chậm như rùa" Các nhà đầu tư nản lòng, nhân dân mất lòng tin vàoĐảng và Nhà nước và điều quan trọng hơn là chúng ta để tuột mất cơ hội phát triển.
Xuất phát từ những vấn đề trên, chọn đề tài “Cải cách thủ tục hành chính qua
thực tiễn của Thủ đô Hà Nội” để nghiên cứu là đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra.
để chống cửa quyền, nhũng nhiễu cũng chưa được đề cập nhiều
Nam: Thực trạng và giải pháp Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, Trung ươngMặt trận Tổ quốc Việt Nam và Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển hỗ trợ cộngđồng Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, Việt Nam, 445 trang
Cuốn sách "Cải cách cải cách nền hành chính Việt Nam: Thực trạng và giảipháp" đưa đến độc giả những bình luận chi tiết về sự phát triển nền hành chính ởViệt Nam trong hơn một thập kỷ đổi mới, cũng như đề xuất những giải pháp nhằmđẩy nhanh quá trình cải cách hành chính Cuốn sách, gồm phần giới thiệu chung vàsáu (06) chương, đưa ra những cách nhìn nhận sâu sắc về sáu lĩnh vực chính vàmang tính đan xen nhau trong cải cách hành chính công ở Việt Nam, bao gồm: (i)cải cách thể chế quản lý hành chính, (ii) cơ cấu tổ chức của chính phủ và bộ máynhà nước, (iii) phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực công vụ, (iv) quản lý tàichính công, (v) phát triển kinh tế và cải cách hành chính công, và (vi) chống thamnhũng, phát triển và cải cách hành chính Cuốn sách là sản phẩm chung của 18
Trang 13chuyên gia nghiên cứu cao cấp và trung cấp của Việt Nam và quốc tế, những người
đã tham gia vào công trình nghiên cứu do Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc(UNDP) tại Việt Nam chủ trì và Cố vấn chính sách về cải cách hành chính công vàchống tham nhũng của UNDP làm trưởng nhóm và chủ biên, được tiến hành từ cuốinăm 2008 và đầu năm 2009 Cuốn sách cũng có sự tham gia của hơn 100 ngườiđược phỏng vấn là những chuyên gia trong lĩnh vực hành chính công ở Việt Nam vàđang phục vụ hoặc đã từng phục vụ trong các tổ chức chính trị, nhà nước, các tổchức xã hội, các viện nghiên cứu ở Việt Nam Cuốn sách có thể thu hút sự quan tâmđặc biệt của các nhà hoạch định chính sách Việt Nam, các trường đại học, các nhànghiên cứu thực tiễn và các đối tác phát triển trực tiếp tham gia vào các nỗ lực cảicách hành chính công ở Việt Nam[1]
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002
Cuốn sách nghiên cứu khá công phu về thủ tục hành chính đi từ khái niệm, phânloại, ý nghĩa, đặc điểm đến thực tiễn việc cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam và có
đi phân tích cải cách thủ tục hành chính ở một số lĩnh vực Đây là cuốn sách cung cấpnhiều tài liệu, luận cứ rất tốt để là cơ sở nghiên cứu đối với Luận văn [26]
vụ công ở Việt Nam, Nxb Thống kê 2006
Cuốn sách đã nêu đầy đủ về khái niệm dịch vụ công, đánh giá được sự cungcứng dịch vụ công (có cả phần về thủ tục hành chính), và các giải pháp đẩy mạnh xãhội hóa cung ứng các dịch vụ công ở Việt Nam Đặc biệt cuốn sách có nêu các giảipháp đơn giản hóa các TTHC thành lập các đơn vị cung ứng dịch vụ công [2]
Bên cạnh những tài liệu trên, còn có các tài liệu quan trọng khác như:
Trang 14XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước – Đề tài KX-04-02 [4];
học Quốc gia Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2010 [31];
của các nhà khoa học” – Học Viện hành chính quốc gia 2010 [12];
Các công trình nghiên cứu nói trên tuy không trực tiếp nghiên cứu về cảicách TTHC của Thủ đô Hà Nội nhưng cũng gợi mở những vấn đề có ý nghĩa, bổ íchcho chúng tôi tiếp thu trong quá trình nghiên cứu làm Luận văn Tiếp tục đẩy mạnhcải cách TTHC như thế nào để thực hiện tốt mục tiêu xã hội, phù hợp với điều kiệnhiện có và đúng quy luật vận động của xã hội là vấn đề cần có sự đầu tư nghiên cứusâu sắc hơn nữa cả về lý luận và thực tiễn
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
TTHC của Thủ đô Hà Nội
của Thủ đô Hà Nội
TTHC của Thủ đô Hà Nội
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của Luận văn là hoạt động cải cách thủ tục hànhchính của Thủ đô Hà Nội, tập trung chủ yếu vào cấp Thành phố, trong đó có nghiêncứu cụ thể về cải cách TTHC ở 03 lĩnh vực xây dựng, đất đai và thuế
Trang 155 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ hạn chế của một luận văn thạc sỹ, đề tài chỉ tập trungnghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất về lý luận và thực tiễn cải cách thủ tục hànhchính; bộ thủ tục hành chính nghiên cứu thuộc thẩm quyền quản lý của UBNDThành phố Hà Nội chủ yếu cấp Thành phố Từ đó có sự đánh giá về thực trạng vàmột số giải pháp tiếp tục cải cách hành chính hiện nay và những năm tiếp theo
Về thời gian Luận văn tập trung đánh giá cải cách TTHC Thành phố Hà Nộigiai đoạn 2001 đến nay
6 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt mục tiêu và hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, luận văn đãquán triệt sâu sắc phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ ChíMinh và đường lối chính sách của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCNViệt Nam của dân, do dân, vì dân trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường.Luận văn có sử dụng các phương pháp cụ thể nghiên cứu tài liệu kết hợp với phântích, so sánh, tổng hợp, lịch sử cụ thể…
chuyên gia, tổng hợp và phân tích
7 Điểm mới và ý nghĩa của luận văn
7.1 Điểm mới của luận văn
quan và khách quan trong mối liên hệ với các công tác chỉ đạo xây dựng và pháttriển Thủ đô
thức và chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức
Trang 167.3 Ý nghĩa thực tiễn
Về mặt thực tiễn: Đánh giá một cách tổng quát về công tác cải cách thủ tục
hành chính của Thủ đô Hà Nội, những đòi hỏi khách quan của công tác cải cáchhành chính
Nâng cao sự nhận thức về vai trò to lớn của công tác cải cách thủ tục hànhchính đối với các cán bộ công chức Thủ đô
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, 02 Phụ lục và Danh mục Tài liệu tham khảo,Luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Thủ tục hành chính và cải cách thủ tục hành chính
Chương 2: Thực trạng cải cách thủ tục hành chính của Thủ đô Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính
của Thủ đô Hà Nội
Trang 17Chương 1 THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
VÀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
1.1 QUAN NIỆM VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
1.1.1 Khái niệm thủ tục hành chính
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, thủ tục là "cách thức tiến hành một
công việc với nội dung, trình tự nhất định, theo quy định của nhà nước" [33] Như
vậy, hoạt động quản lý nhà nước nào cũng đều được tiến hành theo những thủ tục
nhất định Mỗi hoạt động quản lý theo cách nói thông thường (ví dụ, hoạt động ban
hành văn bản quy phạm pháp luật, hoạt động cấp giấy phép, hoạt động xử phạt viphạm hành chính…) thực chất là chuỗi những hoạt động diễn ra theo trình tự nhấtđịnh mà mỗi hoạt động cụ thể trong đó có thể được thực hiện bởi những chủ thểkhác nhau, ở những thời điểm khác nhau, với nội dung và nhằm những mục đíchkhác nhau Kết quả của hoạt động quản lý phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó phụthuộc một phần đáng kể vào số lượng, thứ tự các hoạt động cụ thể, mục đích, nộidung, cách thức tiến hành các hoạt động cụ thể trong một chuỗi hoạt động quản lý.Thủ tục đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành bộ máy nhà nước cũng nhưbảo đảm quyền và lợi ích của người dân Chính vì vậy, thủ tục tiến hành các hoạtđộng quản lý nhà nước được quan tâm cả dưới góc độ nghiên cứu khoa học, xâydựng pháp luật và thực hiện thủ tục trên thực tế Bản thân thủ tục không có mụcđích tự thân, thủ tục chỉ biểu hiện cách thức tổ chức thực hiện các hoạt động củanhà nước Vì vậy, thủ tục bị quy định bởi chính các hoạt động quản lý Nói cáchkhác, các hoạt động quản lý khác nhau cần có các thủ tục khác nhau để tiến hành.Tương ứng với ba lĩnh vực hoạt động của nhà nước: lập pháp, hành pháp, tư pháp là
ba nhóm thủ tục: thủ tục lập pháp, thủ tục hành chính, thủ tục tư pháp
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về TTHC như: TTHC là trình tự mà các
cơ quan quản lý nhà nước giải quyết trong lĩnh vực trách nhiệm hành chính và xử lý
Trang 18nào trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước; hay TTHC là trình tự và thời gian
và không gian cần phải có để thực hiện mọi hình thức hoạt động của cơ quan quản
Như vậy có thể hiểu một cách khái quát, thủ tục hành chính là cách thức tổchức thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước theo đó cơ quan, cán bộ,công chức thực hiện nhiệm vụ, cá nhân, tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quyđịnh của pháp luật trong quá trình giải quyết các công việc của quản lý hành chínhnhà nước
Tuy nhiên để hiểu TTHC một cách cá biệt, cụ thể, ta có thể xem cách địnhnghĩa TTHC theo Điều 3 Nghị định 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chínhphủ về Kiểm soát Thủ tục hành chính:
- "Thủ tục hành chính” là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức.
- “Trình tự thực hiện” là thứ tự các bước tiến hành của đối tượng và cơ quan thực hiện thủ tục hành chính trong giải quyết một công việc cụ thể cho
cá nhân, tổ chức.
- “Hồ sơ” là những loại giấy tờ mà đối tượng thực hiện thủ tục hành chính cần phải nộp hoặc xuất trình cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính trước khi cơ quan thực hiện thủ tục hành chính giải quyết một công việc cụ thể cho cá nhân, tổ chức.
- "Yêu cầu, điều kiện" là những đòi hỏi mà đối tượng thực hiện thủ tục hành chính phải đáp ứng hoặc phải làm khi thực hiện một thủ tục hành chính cụ thể [13].
Trang 19Thực chất “thủ tục hành chính” ở đây được hiểu là các quy định hay các quyphạm về thủ tục hành chính và là những yêu cầu đòi hỏi, các điều kiện cần và đủ đểthực hiện thủ tục hành chính giải quyết một vấn đề nào đó thuộc thẩm quyền cơquan nhà nước Thủ tục hành chính ở đây được nêu một cách cá biệt, cụ thể, và làmột cách mô tả thủ tục một cách đơn giản, dễ hiểu để áp dụng trong thực tiễn, tuynhiên các thủ tục hành chính định nghĩa ở đây chỉ giới hạn các đầu việc, nội dung
có liên quan đến người dân, tổ chức mà không tính đến các thủ tục nội bộ cơ quan
nhà nước, như Điều 1 của Nghị định này đã nêu: “Nghị định này không điều chỉnh:
a) Thủ tục hành chính trong nội bộ của từng cơ quan hành chính nhà nước, giữa cơ quan hành chính nhà nước với nhau không liên quan đến việc giải quyết thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức;
b) Thủ tục xử lý vi phạm hành chính; thủ tục thanh tra và thủ tục hành chính có nội dung bí mật nhà nước.”
Cũng theo Điều 8 của Nghị định này việc quy định một thủ tục hành chính
cụ thể chỉ hoàn thành khi đáp ứng đầy đủ các bộ phận tạo thành cơ bản sau đây:
a) Tên thủ tục hành chính;
b) Trình tự thực hiện;
c) Cách thức thực hiện;
d) Hồ sơ;
đ) Thời hạn giải quyết;
e) Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính;
g) Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính;
h) Kết quả thực hiện thủ tục hành chính;
i) Trường hợp thủ tục hành chính phải có mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; mẫu kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, điều kiện; phí, lệ phí thì mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; mẫu kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, điều kiện; phí, lệ phí là bộ phận tạo thành của thủ tục hành chính [13].
Trang 20Từ những vấn đề nêu trên có thể định nghĩa: Thủ tục hành chính là trình tự,
cách thức thực hiện các hoạt động hành chính của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan đó, nhưng chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước.
1.1.2 Phân loại và đặc điểm các thủ tục hành chính
1.1.2.1 Phân loại thủ tục hành chính
Theo tác giả GS.TS Nguyễn Văn Thâm thủ tục hành chính có thể phân loạitheo đối tượng quản lý hành chính, theo công việc cụ thể, theo chức năng cung ứngdịch vụ, và phân loại theo quan hệ công tác[26]
a) Phân loại theo đối tượng quản lý hành chính nhà nước.
Theo cách phân loại này, các thủ tục hành chính được xác định cho từng lĩnhvực quản lý nhà nước và được phân chia theo cơ cấu chức năng của bộ máy quản lýhiện hành Thí dụ: Thủ tục trong xây dựng cơ bản, thủ tục đăng ký kinh doanh, thủtục hải quan
b) Phân loại theo công việc cụ thể của cơ quan Nhà nước.
Theo cách phân loại này, thủ tục hành chính có thể phân ra: Thủ tục thôngqua và ban hành văn bản trong các cơ quan; thủ tục xét duyệt và quyết định về thiđua khen thưởng; thủ tục tuyển dụng cán bộ công chức, thủ tục chuyển ngạch Mỗiloại hình thủ tục hành chính trên lại có thể phân chia thành các loại thủ tục liên quanđến những hoạt động cụ thể hơn Chẳng hạn thủ tục ban hành văn bản có thể phânthành: Các Thủ tục ban hành văn bản pháp luật, quyết định chủ đạo, quyết định quyphạm, quyết định cá biệt
c) Phân loại theo chức năng cung cấp các dịch vụ công trong quản lý Nhà nước.
Cách phân loại này giúp các nhà quản lý khi giải quyết công việc chung cóliên quan đến tổ chức hoặc công dân, tìm được các hình thức giải quyết thích hợptheo đúng chức năng quản lý nhà nước của cơ quan
d) Phân loại dựa trên quan hệ công tác.
Theo cách phân loại này, có thể chia thủ tục hành chính thành 3 nhóm: thủ tục nội bộ, thủ tục liên hệ và thủ tục văn thư
Trang 21+ Thủ tục hành chính nội bộ: Là các thủ tục liên quan đến quan hệ trong quátrình thực hiện công việc nội bộ của các cơ quan, công sở trong hệ thống cơ quannhà nước và trong bộ máy nhà nước nói chung.
công việc liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của tổ chức, công dânđối với Nhà nước
Thủ tục liên hệ thực hiện thẩm quyền thường được thể hiện dưới một số dạng như: thủ tục cho phép; thủ tục ngăn cấm hay cưỡng chế; thủ tục trưng thu, trưng dụng
giấy tờ và đưa ra các quyết định dưới dạng văn bản để phục vụ cho việc giải quyếtmột công việc nhất định Loại thủ tục này có liên quan chặt chẽ với hoạt động vănthư và thường xuyên xảy ra trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước
Trong khuôn khổ Luận văn này, hướng tiếp cận phân loại TTHC để đánh giáthực trạng và đề xuất giải pháp chủ yếu phân theo lĩnh vực quản lý nhà nước, cáchphân loại này (chia TTHC theo các bộ TTHC của các sở, ban, ngành) rõ được chủthể có trách nhiệm thực hiện cải cách TTHC, trách nhiệm thống kê, rà soát, kiểmsoát TTHC…
Ngoài các cách phân loại trên từ thực tiễn cải cách TTHC của Thành phố Hà Nội, chúng tôi đề xuất 03 cách phân loại TTHC nữa:
Một là, phân loại TTHC theo các bộ phận tạo thành TTHC, ví dụ căn cứ vào
thời gian thực hiện TTHC có thể phân loại TTHC thành TTHC thực hiện ngay trongngày, thực hiện ngay khi tiếp nhận hoặc TTHC phải chờ đợi thời gian giải quyết
Hai là, phân loại TTHC theo 04 cấp độ thực hiện TTHC trên cổng giao tiếp
điện tử của các cơ quan hành chính Thực tế ở Thành phố Hà Nội có nhiều TTHC đãđược thực hiện ở cấp độ 3, sự phân chia TTHC như thế này sẽ góp phần đẩy nhanhquá trình hình thành chính quyền điện tử và cũng tạo thuận lợi cho người dân khi sửdụng máy vi tính hay điện thoại di động trong thực hiện TTHC
Ba là, phân loại theo mức độ phức tạp của TTHC, có thể phân thành thủ tục
hành chính liên thông dọc và thủ tục hành chính liên thông ngang Liên thông dọc là
Trang 22liên thông qua nhiều cấp hành chính Liên thông ngang là liên thông trong 1 cấphành chính ví dụ như một số thủ tục có liên quan đến trách nhiệm giải quyết củanhiều Phòng trong một UBND cấp quận.
1.1.2.2 Đặc điểm thủ tục hành chính
Mặc dù có nhiều thủ tục hành chính khác nhau nhưng do tính thống nhất củaquản lý hành chính nhà nước nên các thủ tục hành chính có một số đặc điểm chungsau đây:
Thứ nhất, thủ tục hành chính là thủ tục thực hiện các hoạt động quản lý nhà
nước hay thủ tục hành chính được thực hiện bởi các chủ thể quản lý hành chính nhànước
Các hoạt động quản lý diễn ra trong lĩnh vực nào được thực hiện theo thủ tụcpháp luật quy định trong lĩnh vực đó Hoạt động quản lý trong lĩnh vực hành pháp(quản lý hành chính nhà nước) được thực hiện theo thủ tục hành chính Quản lýhành chính nhà nước được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội,
cá nhân được nhà nước trao quyền, trong đó quan trọng nhất phải kể đến các cơquan hành chính, các cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan này Vì cơ quanhành chính có chức năng quản lý hành chính nhà nước nên các chủ thể trong hệthống cơ quan đó không chỉ thực hiện phần lớn các thủ tục hành chính mà còn thựchiện những thủ tục liên quan đến các hoạt động quản lý hành chính quan trọng nhất.Ngoài cơ quan hành chính, các cơ quan nhà nước khác cũng tiến hành các thủ tụchành chính khi thực hiện các hoạt động quản lý hành chính nhà nước như khi các cơquan đó xây dựng, củng cố chế độ công tác nội bộ; các cơ quan, tổ chức, cá nhânthực hiện thủ tục hành chính khi tiến hành các hoạt động quản lý hành chính đượcNhà nước trao quyền trong những trường hợp cụ thể do pháp luật quy định
Thứ hai, thủ tục hành chính do quy phạm pháp luật hành chính quy định
Quy phạm pháp luật hành chính bao gồm quy phạm nội dung và quy phạmthủ tục Quy phạm nội dung trực tiếp quy định những quyền và nghĩa vụ của cácchủ thể quản lý và đối tượng quản lý hành chính nhà nước; quy phạm thủ tục quyđịnh cách thức thực hiện quy phạm nội dung (bao gồm quy phạm nội dung luật
Trang 23hành chính và một số quy phạm nội dung của các ngành luật khác như hôn nhân giađình, đất đai, dân sự….) Sở dĩ thủ tục hành chính phải được quy phạm pháp luậthành chính quy định, vì:
nhất trong hoạt động quản lý tất yếu phải được thể hiện dưới dạng các quy phạmpháp luật có giá trị bắt buộc thi hành
chủ thể quản lý nên cần tránh sự lạm quyền, lộng quyền hay không thực hiện hếtthẩm quyền
quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức nếu không được pháp luật quy định đầy
đủ và chặt chẽ thì sẽ khó khăn trong việc ngăn ngừa xâm hại quyền và lợi ích hợppháp của họ
Thứ ba, thủ tục hành chính có tính mềm dẻo, linh hoạt.
Hoạt động quản lý hành chính nhà nước vốn phong phú, đa dạng Nội dung
và cách thức tiến hành từng hoạt động cụ thể chịu sự tác động của rất nhiều yếu tốkhác nhau như thẩm quyền, năng lực của chủ thể quản lý, đặc điểm của đối tượng,quản lý, điều kiện, hoàn cảnh diễn ra hoạt động quản lý… Mỗi yếu tố đó lại chịu sựtác động đan xen phức tạp của các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội khiếncho hoạt động quản lý hành chính trở nên hết sức sống động Thủ tục hành chínhvới tính chất là cách thức tổ chức thực hiện các hoạt động quản lý đương nhiên phảilinh hoạt mới có thể tạo nên quy trình hợp lý cho từng hoạt động quản lý cụ thể Dovậy, không thể có một thủ tục hành chính duy nhất cho toàn bộ hoạt động quản lýhành chính nhà nước mà có rất nhiều thủ tục hành chính Thậm chí để giải quyếtmột loại công việc nhất định cũng có thể cần các thủ tục hành chính khác nhau Ví
dụ, pháp luật quy định hai thủ tục xử phạt vi phạm hành chính là thủ tục đơn giản vàthủ tục có lập biên bản Việc định ra hai thủ tục để xử phạt vi phạm hành chính vừađơn giản, thuận tiện cho người xử phạt và người bị xử phạt trong trường hợp có thể,
Trang 24vừa đảm bảo tính chặt chẽ, có cơ sở cho hoạt động xử phạt vi phạm hành chính Mặtkhác, so với thủ tục lập pháp và thủ tục tư pháp, nhu cầu bãi bỏ thủ tục hành chính
cũ, đưa ra thủ tục mới, thay đổi các thủ tục đã có đặt ra khá thường xuyên đảm bảothích ứng với sự biến đổi linh hoạt của hoạt động quản lý Khi xây dựng thủ tụchành chính nếu nhận thức đúng đắn về đặc điểm này sẽ tạo ra sự linh hoạt, mềm dẻocho hoạt động quản lý, kìm hãm quá trình phát triển xã hội Sự cường điệu tính linhhoạt của thủ tục một cách không cần thiết hoặc thay đổi thủ tục một cách tùy tiệnlàm cho hoạt động quản lý thiếu ổn định
Đối với các thủ tục hành chính của Thành phố Hà Nội trong quá trình thựchiện còn có thêm các đặc điểm:
cùng loại ở các địa phương khác;
1.2 CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
Cải cách hành chính ở Việt nam được tiến hành nhiều năm nay với nhữngbước đi, lộ trình khác nhau từ thấp tới cao Bắt đầu là việc cải cách một bước thủ tụchành chính trong việc giải quyết các công việc của cá nhân, tổ chức, đến cải cáchmột bước nền hành chính nhà nước với 03 nội dung là: cải cách thể chế hành chính;cải cách bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cảicách hành chính đã chuyển sang một bước mới với 04 nội dung: cải cách thể chếhành chính; cải cách bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, côngchức; cải cách tài chính công Giai đoạn hiện nay với 06 nội dung: (1) Cải cách thểchế, (2) Cải cách thủ tục hành chính, (3) Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhànước, (4) Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, (5) Cải cáchtài chính công, và (6) Hiện đại hoá hành chính
Công cuộc cải cách hành chính được tiến hành từ nhiều năm qua đã đượctiến hành tương đối đồng bộ, trong đó thủ tục hành chính được chọn làm khâu độtphá Sở dĩ Đảng và Nhà nước coi trọng cải cách thủ tục hành chính như vậy là do
Trang 25thủ tục hành chính liên quan trực tiếp tới việc thực hiện thẩm quyền của các chủ thểquản lý cá nhân, tổ chức Đây được coi là nhiệm vụ khó khăn, lâu dài và thườngxuyên Cho đến nay, nhu cầu cải cách thủ tục hành chính vẫn đặt ra một cách cấpthiết vì thủ tục hành chính còn nhiều bất cập như mang đậm dấu ấn của thời baocấp, nặng về cơ chế "xin - cho"; rườm rà, phức tạp, nhiều cấp trung gian, coi trọng
sự thuận lợi cho hoạt động của Nhà nước, ít chú ý đến lợi ích và sự thuận tiện chodân; phân tán, chồng chéo, thiếu thống nhất, thiếu công khai
Những hạn chế của thủ tục hành chính đã gây nhiều trở ngại cho hoạt độngquản lý: Hạn chế việc thực hiện các quyền của cá nhân, tổ chức, tạo ra nền hànhchính quan liêu, trì trệ, tình trạng thiếu trách nhiệm, đùn đẩy trách nhiệm giữa các
cơ quan, các cấp, các cán bộ, công chức còn khá phổ biến Nhiều thủ tục không hợp
lí bị lợi dụng để tham nhũng, sách nhiễu nhân dân Đặc biệt thủ tục hành chính đang
là trở ngại lớn cho các hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế, giảm khả năng thu hútvốn đầu tư nước ngoài
Thể chế hóa đường lối cải cách của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều vănbản pháp luật, trong đó có những văn bản quy định trực tiếp về nhiệm vụ cải cáchthủ tục hành chính như Nghị quyết của Chính phủ số 38/CP ngày 4/5/1994 về cảicách một bước của thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân
và tổ chức, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 136/2001/QĐ-TTg ngày17/9/2001 phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn
2001 – 2010; Nghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính phủ ngày 8 tháng 11 năm 2011ban hành Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020
Để cải cách thủ tục hành chính được thực hiện thuận lợi cũng như kết quả cảicách hành chính được bền vững thì đồng thời phải cải cách thể chế hành chính nóichung; cải cách bộ máy hành chính tinh, gọn, thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng;xây dựng quy chế công chức, công vụ đảm bảo đội ngũ công chức trên thực tế cónăng lực, lương tâm và trách nhiệm
Mặc dù có những tiến bộ, kết quả, nhưng nhìn chung hệ thống hành chínhViệt Nam vẫn còn tụt hậu so với yêu cầu phát triển của đất nước, so với yêu cầu và
Trang 26sự kỳ vọng của người dân, doanh nghiệp Tổ chức bộ máy vẫn cồng kềnh, năng lực
và trình độ của công chức, viên chức còn thấp, đặc biệt nghiêm trọng là một bộphận công chức, viên chức có những biểu hiện tiêu cực như nhũng nhiễu, gây phiền
hà, tham nhũng v.v Đã có sự suy giảm về niềm tin của xã hội về một bộ máy hànhchính chuyên nghiệp, đặt trọng tâm hoạt động vào phục vụ dân, tổ chức
1.2.1 Ý nghĩa, vai trò của cải cách thủ tục hành chính
Với tư cách là một bộ phận của pháp luật hành chính, thủ tục hành chính cóvai trò và ý nghĩa quan trọng trong quản lý nhà nước và đời sống xã hội
Thứ nhất, thủ tục hành chính đảm bảo cho các quyết định hành chính được
thi hành Thủ tục càng có ý nghĩa cơ bản thì ý nghĩa này càng lớn bởi thủ tục cơ bảnthường tác động đến giai đoạn cuối cùng của quá trình thi hành quyết định hànhchính, đến hiệu quả của việc thực hiện chúng
Thứ hai, thủ tục hành chính đảm bảo cho việc thi hành các quyết định được
thống nhất và có thể kiểm tra được tính hợp pháp, hợp lý cũng như hệ quả do việcthực hiện các quyết định hành chính tạo ra
Thứ ba, thủ tục hành chính khi được xây dựng và vận dụng một cách hợp lý
sẽ tạo ra khả năng sáng tạo trong việc thực hiện các quyết định quản lý đã đượcthông qua, đem lại hiệu quả thiết thực cho quản lý nhà nước
Thứ tư, với tư cách là một bộ phận của thể chế hành chính, thủ tục hành
chính có ý nghĩa như một công cụ điều hành cần thiết của tổ chức hành chính,không thể tách rời khỏi hoạt động của các tổ chức hành chính
Thứ năm, thủ tục hành chính trên một phương diện nhất định là sự biểu hiện
trình độ văn hoá giao tiếp, văn hoá điều hành, mức độ văn minh của nền hành chính
Do đó, cải cách thủ tục hành chính không chỉ liên quan đến pháp luật, pháp chế màcòn ảnh hưởng đến sự phát triển chung của đất nước về chính trị, văn hoá, giáo dục
và mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế
Tóm lại, thủ tục hành chính là chiếc cầu nối quan trọng giữa Nhà nước vớinhân dân, làm bền chặt các mối quan hệ của quá trình quản lý, làm cho Nhà nước tathực sự là Nhà nước của dân, do dân và vì dân
Trang 27Cải cách thủ tục hành chính đóng vai trò quan trọng trong cải cách hànhchính vì các lý do sau:
Thứ nhất, thủ tục hành chính có mối quan hệ biện chứng với các yếu tố tổ
chức và nhân sự Muốn tổ chức hợp lý, phải có công chức có đủ khả năng và đúngtiêu chuẩn cũng như thủ tục hành chính đơn giản, rõ ràng Ngược lại, thủ tục rườm
rà dẫn đến tổ chức sẽ phình to, thêm nhiều nấc dẫn đến hiện tượng quan liêu; côngchức có thêm nhiều cơ hội dựa vào quyền uy của Nhà nước để hạch sách, gây khókhăn cho nhân dân, làm giảm uy tín của chính quyền Bộ máy quản lý nhà nước dù
có giỏi đi nữa cũng không đương đầu nổi với những khuyết điểm căn bản của thủtục
Cải cách hành chính phải làm đồng bộ cả 6 nội dung, song nên tập trung vàogiải quyết một số việc trong thời gian trước mắt Cải cách thủ tục hành chính đượccoi là khâu đột phá của cải cách hành chính, đó cũng là cách để khắc phục 5 yếukém căn bản hiện nay:
trong xã hội;
phẩm chất thậm chí hư hỏng
Thứ hai, cải cách thủ tục hành chính nhằm làm cho bộ máy quản lý nhà
nước thực hiện tốt 3 loại vấn đề:
+ Quan hệ căn bản giữa nhân dân và chính quyền trong hoạt động hànhchính Cải cách thủ tục hành chính để tránh gây những khó khăn không cần thiết,phí phạm tiền bạc, thời giờ, để phù hợp với khả năng và trách nhiệm của cơ quanhành chính, đáp ứng được yêu cầu của nhân dân
+ Quyền lợi tương hỗ giữa người dân và chính quyền trong việc phát triểnkinh tế Thủ tục hành chính gọn nhẹ sẽ cởi trói cho nhân dân, giải phóng người dânthoát khỏi một hệ thống hành chính "nhiều giấy tờ, phức tạp", nhờ đó, nền hành
Trang 28chính cũng có điều kiện phát triển hơn Phải làm sao phục vụ dân tốt hơn vì nhân dân chính là tai mắt, là người nuôi dưỡng chính quyền.
chính nhằm giảm bớt các phương thức liên hệ trong quan hệ công tác, quy định rõmối quan hệ giữa các cơ quan, giữa trung ương và địa phương
1.2.2 Yêu cầu cải cách thủ tục hành chính
Trong quá trình xây dựng các TTHC mới, điều chỉnh các TTHC cần tuân thủmột số yêu cầu sau:
Một là, đảm bảo tính thống nhất của hệ thống TTHC: bộ máy các cơ quan
hành chính nhà nước được pháp luật quy định thống nhất từ trung ương đến địaphương để thực hiện chức năng hành pháp thì khi xây dựng các TTHC là cơ sở thựchiện các chức năng này, thì cũng phải đảm bảo tính thống nhất thành một hệ thốngTTHC từ Trung ương đến địa phương
Hai là, bảo đảm sự chặt chẽ của hệ thống TTHC: một trong những nguyên
nhân của sự tùy tiện giải quyết công việc của các cơ quan nhà nước là điều kiện làmcho các tệ quan lieu, cửa quyền… phát triển, làm cho TTHC rườm rà, chậm đi vàothực tế đời sống là do việc xây dựng và thực hiện TTHC thiếu tính chặt chẽ Do đó,quy trình xây dựng và thực hiện TTHC đảm bảo đúng tính chặt chẽ, nghiêm khắcđúng theo pháp luật
Ba là, bảo đảm tính hợp lý của TTHC: tính hợp lý của TTHC biểu hiện ở
nhiều khía cạnh về môi trường chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và phải phù hợpvới điều kiện kinh tế, chính trị xã hội
Bốn là: TTHC phải đảm bảo tính rõ ràng và công khai: TTHC phải được xây
dựng rõ ràng theo trình tự từng bước từ quy trình xây dựng đến quy trình thực hiệnTTHC Cụ thể như phải đảm bảo đầy đủ các yếu tố cấu thành thủ tục hành chínhnhư: tên gọi, thành phần hồ sơ, chủ thể thực hiện, thời gian, địa điểm thực hiện, yêucầu điều kiện, cách thức thực hiện, phí…
Và toàn bộ quy trình, quy định thực hiện TTHC cần phải công khai cho mọingười dân được biết Công khai bằng nhiều hình thức như trên các phương tiện
Trang 29thông tin đại chúng, niêm yết công khai tại cơ quan hành chính nhà nước, trên Cổngthông tin điện tử…
Năm là: TTHC phải dễ hiểu, dễ tiếp cận, đơn giản trong thực hiện…
Sáu là: TTHC khi ban hành phải đảm bảo tính khả thi, phải áp dụng hiệu
quả trong thực tiễn giải quyết nhu cầu của công dân và kiểm soát hoạt động của các
cơ quan nhà nước trong quá trình giải quyết công việc
Bẩy là: Các quy trình TTHC phải đảm bảo tính ổn định, sự ổn định của các
quy trình TTHC thể hiện trách nhiệm của nhà nước đối với nhân dân, thể hiện tínhnghiêm minh của pháp luật
Ngoài những yêu cầu nêu trên thực tế cải cách các TTHC cá biệt, cụ thể phảiđảm bảo các quy định về kiểm soát TTHC theo Nghị định 63/NĐ-CP
Như vậy cải cách thủ tục hành chính luôn là một nhân tố trọng yếu của cảicách hành chính, cải cách thủ tục hành chính nhằm hướng tới tạo điều kiện hiệu quảhoạt động của bộ máy hành chính, đảm bảo đáp ứng mọi yêu cầu đòi hỏi của cánhân, tổ chức một cách đơn giản, nhanh chóng nhất, cải cách thủ tục hành chínhhướng tới phục vụ con người, đảm bảo quyền con người, quyền công dân, cải cáchthủ tục hành chính không vì mục đích tự thân của nó
1.3 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TRỰC TIẾP ĐẾN CẢI CÁCH
TTHC VÀ CÁCH ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CẢI CÁCH TTHC
Việc thực hiện cải cách TTHC là một quá trình trải qua nhiều công đoạn khácnhau, phụ thuộc nhiều yếu tố diễn ra trong không gian và thời gian khác nhau Theocác giáo trình cơ bản, hiệu quả của việc thực hiện phụ thuộc vào: năng lực chủ thể,nội dung quan hệ và khách thể của quan hệ; bao gồm phụ thuộc vào trình độ hiểubiết pháp luật, ý thức pháp luật của công dân, trình độ chuyên môn, ý thức phục vụcủa đội ngũ cán bộ công chức thực hiện thủ tục hành chính, và một phần rất quantrong là các quy định của nhà nước yêu cầu việc thực hiện thủ tục phải tuân thủ cácyếu tố nào, với mức độ và yêu cầu như thế[23]
Về cơ bản các yếu tố sau đóng vai trò quan trọng tác động đến hoạt động cảicách TTHC:
Trang 30- Chất lượng nguồn nhân lực đội ngũ cán bộ công chức.
Đội ngũ cán bộ có ý nghĩa quyết định thành bại công cuộc cải cách thủ tụchành chính Thực tế trong giải quyết thủ tục hành chính, công chức có trách nhiệmhướng dẫn cá nhân, tổ chức hoàn thiện hồ sơ hành chính nếu cán bộ công chứctrình độ yếu kém, hoặc thái độ không đúng mực sẽ ảnh hưởng trực tiếp ngay đến kếtquả thực hiện TTHC Trong các cuộc khảo sát mức độ hài lòng của người dân và tổchức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính Thành phố Hà Nội, chất lượng cán
bộ công chức là một chỉ số quan trọng góp phần trong chỉ số hài lòng chung
hoạt động một cửa, một cửa liên thông hay quy trình thực hiện thủ tục: để thực hiệnmột TTHC cụ thể, không chỉ các văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp thuộc TTHC
ấy điều chỉnh mà còn rất nhiều các quy định khác có ảnh hưởng, đặc biệt là các quyđịnh về chế độ hoạt động, thực hiện cơ chế một cửa, liên thông Một ví dụ như quyđịnh nhận hồ sơ ngày thứ 7, chỉ một quy định nhỏ này cũng giúp cho người dân dễ
có nhiều cơ hội tiếp cận và thực hiện TTHC hơn nhất là những người bận rộn trongnhững ngày thường trong tuần
Internet, máy vi tính, máy chủ và các chương trình quản lý hồ sơ công việc, việc áp dụng hệ thống ISO trong quản lý chất lượng công việc, quy chế văn hoá công sở
Nội có vai trò quan trọng, quyết định trực tiếp đến hoạt động thực hiện TTHC Bộthủ tục này đơn giản, dễ hiểu, dễ tiếp cận có biểu mẫu đầy đủ kèm theo hướng dẫnthì việc thực hiện thủ tục sẽ rất dễ dàng
Về đánh giá mức độ hiệu quả của công tác cải cách TTHC, có thể đánh giá thông qua:
- Đánh giá dựa trên trên cơ sở các chỉ số, chỉ tiêu chuyên môn
Các chỉ tiêu chuyên môn như Đề án 30 đã quy định phải đơn giản hóa được30% TTHC, đây là chỉ tiêu yêu cầu các đơn vị phải hoàn thành trong giai đoạn ràsoát, đơn giản hóa TTHC
Trang 31Liên quan đến đánh giá hiệu quả của công tác CCHC và cải cách TTHC, có thể tham khảo cách đánh giá của một số tổ chức quốc tế như:
là kết quả của dự án hợp tác giữa UNDP và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Chỉ số nàychủ yếu đánh giá cảm nhận của người dân theo 06 nội dung lớn, 22 nội dung thànhphần và 92 chỉ số thành phần
(của người dân) và chịu trách nhiệm (của chính quyền) – voice and accountability,
ổn định chính trị (political stability) và pháp quyền (rule of law), chỉ số hiệu quảchính quyền (government efectiveness), chất lượng điều hành (regulatory quality)
và kiểm soát tham nhũng (control of corruption)[24]
Bộ chỉ số theo dõi đánh giá CCHC (PARI):
Xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn, với sự hỗ trợ của Dự án Hỗ trợ cải cách hànhchính của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Bộ Nội vụ đã tiến hànhxây dựng Bộ chỉ số theo dõi, đánh giá cải cách hành chính nhà nước để áp dụngchung trong cả nước
Việc xây dựng Bộ chỉ số theo dõi, đánh giá cải cách hành chính với mục đíchphải trở thành công cụ đánh giá một cách khách quan, chính xác, toàn diện và địnhlượng kết quả thực hiện chương trình cải cách hành chính nhà nước ở các bộ, ngành
và địa phương trong cả nước theo từng năm hoặc từng giai đoạn được xác định[5]
Theo Quyết định, Đề án được phê duyệt với mục tiêu chung là xác định Chỉ
số cải cách hành chính (CCHC) để theo dõi, đánh giá một cách thực chất, kháchquan, công bằng kết quả triển khai CCHC hàng năm của các bộ, cơ quan ngang bộ,UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong quá trình triển khai thựchiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020
Mục tiêu cụ thể của đề án nhằm xác định được các lĩnh vực, tiêu chí, tiêu chíthành phần của Chỉ số CCHC cấp bộ, cấp tỉnh theo đặc điểm, tính chất quản lý nhànước của các bộ, các tỉnh; Xác định được thang điểm, phương pháp đánh giá chocác tiêu chí, tiêu chí thành phần, từ đó xác định được Chỉ số CCHC của
Trang 32từng bộ, từng tỉnh Đồng thời, xây dựng được bộ câu hỏi điều tra xã hội học theotừng nhóm đối tượng điều tra, khảo sát và hàng năm công bố Chỉ số CCHC của các
bộ, các tỉnh
Chỉ số CCHC cấp tỉnh được xác định trên 8 lĩnh vực, 34 tiêu chí và 104 tiêuchí thành phần, cụ thể là: Công tác chỉ đạo điều hành cải cách hành chính gồm 6tiêu chí và 19 tiêu chí thành phần; Xây dựng và tổ chức thực hiện văn bản quy phạmpháp luật tại tỉnh gồm 3 tiêu chí và 12 tiêu chí thành phần; Cải cách thủ tục hànhchính gồm 2 tiêu chí và 8 tiêu chí thành phần; Cải cách tổ chức bộ máy hành chínhnhà nước gồm 5 tiêu chí và 8 tiêu chí thành phần; Xây dựng và nâng cao chất lượngđội ngũ công chức, viên chức gồm 6 tiêu chí và 20 tiêu chí thành phần; Đổi mới cơchế tài chính đối với cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập gồm 5 tiêuchí và 13 tiêu chí thành phần; Hiện đại hóa hành chính gồm 3 tiêu chí và 13 tiêu chíthành phần; Thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông gồm 4 tiêu chí và 13 tiêuchí thành phần
- Đánh giá trên cơ sở mức độ hài lòng của người dân
Bộ chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người dân và tổ chức đối với sự phục
vụ của cơ quan hành chính (SIPAS) mới đây cũng được Bộ Nội vụ hướng dẫn triểnkhai Với mục đích đánh giá khách quan chất lượng cung cấp dịch vụ hành chínhcông của các cơ quan hành chính nhà nước Thành phố, thông qua đó, các cơ quanhành chính nhà nước Thành phố Hà Nội nắm bắt được yêu cầu, mong muốn củangười dân, tổ chức để có những biện pháp cải thiện chất lượng phục vụ và cung cấpdịch vụ của mình nhằm nâng cao sự hài lòng và lợi ích của người dân, tổ chức[20].Mức độ hài lòng 80% là chỉ số mục tiêu Thành phố Hà Nội đặt ra phấn đấu thựchiện cho đến nay 2015 đối với các thủ tục hành chính của Thành phố
1.4 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ TRONG NƯỚC VỀ CẢI CÁCH
HÀNH CHÍNH VÀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
a) Kinh nghiệm quốc tế
Ngày nay, cải cách hành chính là vấn đề mang tính toàn cầu Các nước đangphát triển và các nước phát triển đều xem cải cách hành chính như một
Trang 33động lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trường kinh tế, phát triển dân chủ và các mặtkhác của đời sống xã hội Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước tínhđến nay đã gần 3 thập kỷ Trong khoảng thời gian đó, đồng thời với việc đổi mới vềkinh tế thì cải cách hành chính cũng được tiến hành Cuộc cải cách hành chính đượcthực hiện từng bước thận trọng và đã thu được nhiều kết quả rất đáng khích lệ, càngngày càng thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình trong việc đẩy nhanh sự phát triểnđất nước Tuy nhiên, bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay đang đặt ra cho Việt Namnhững thách thức và cơ hội mới, đòi hỏi những cố gắng cao độ Đây cũng là điềuhợp lý vì ở Việt Nam đang còn rất nhiều vấn đề kinh tế - xã hội, hoặc tồn tại từ lâu,hoặc mới nảy sinh cần phải được giải quyết tích cực và có hiệu quả Và muốn giảiquyết các vấn đề trên thì bên cạnh việc tự tìm tòi thì học hỏi kinh nghiệm cải cáchhành chính ở các nước cũng là một phương pháp hết sức cần thiết, đặc biệt là cácnước Châu Á, qua đó thúc đẩy và có kết quả hơn nữa công cuộc cải cách nền hànhchính nhà nước.
Cải cách hành chính Hàn Quốc: Từ một quốc gia nông nghiệp, kém phát
triển trong thập kỷ 60 của thế kỷ XX, chỉ sau hơn 30 năm, Hàn Quốc đã vươn lêntrở thành một “con hổ châu Á” và là một trong mười nền kinh tế phát triển nhất thếgiới Mặc dù đã phát triển vượt bậc, nhưng trong hàng thập kỷ, một số bất cập mangtính hệ thống đã không được giải quyết triệt để nên các bất cập đã trở thành các tácnhân gây ra khủng hoảng tài chính tiền tệ vào năm 1997 Khủng hoảng năm 1997 đãbuộc Hàn Quốc đối diện với một nhận thức thực tế là: các phương thức cũ trongđiều hành bộ máy nhà nước đã trở nên lạc hậu trong giai đoạn mới và cần có nhữngthay đổi cơ bản để vực lại nền kinh tế của đất nước Hàn Quốc đã khẩn trươngnghiên cứu những bài học kinh nghiệm quốc tế để xây dựng Chương trình cải cáchkhu vực công, nhằm khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, tậptrung trên bốn lĩnh vực chính: hợp tác, tài chính, lao động và khu vực công, trong đóxem việc tăng cường thúc đẩy cơ chế thị trường là nhiệm vụ trọng tâm
Hàn Quốc đã thành lập Uỷ ban đặc trách trực thuộc Tổng thống, chịu tráchnhiệm lập kế hoạch ngân sách, cải cách Chính phủ và đưa vào thử nghiệm nhiều ý
Trang 34tưởng cải cách mới, một trong số đó là chế độ lương, thưởng dựa theo đánh giá chấtlượng hoạt động của từng cá nhân (hoàn toàn trái với cơ chế trả lương dựa theo cấpbậc kiểu truyền thống), tiến hành giảm biên chế, từng bước thực hiện việc thuêkhoán dịch vụ công, mở rộng phạm vi hoạt động của khu vực tư…
Cải cách được tiến hành tại tất cả các đơn vị thuộc khu vực công, với trọngtâm là tái cơ cấu nhằm làm gọn nhẹ bộ máy, áp dụng nguyên tắc cạnh tranh vànguyên tắc chất lượng thực thi công việc, đã xây dựng một hệ thống tiêu chí vàđánh giá cải cách, theo đó các Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, theo định kỳ, phải nộpbáo cáo cải cách hàng quý cho Ủy ban đặc trách Kết quả việc thực hiện nhiệm vụcải cách của từng cơ quan sẽ là cơ sở để tính toán phân bổ ngân sách cho cơ quannày vào năm sau Đồng thời, việc phản hồi thông tin và chế độ thưởng phạt minhbạch đã khuyến khích việc thực hiện sự cam kết đối với cải cách…
Kết quả thu được từ quá trình cải cách rất khả quan Về thể chế, đã sửa đổi cácquy định của nhà nước để bảo đảm sự thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của thịtrường trên nguyên tắc giảm bớt sự can thiệp của nhà nước và giảm chi phí cho ngườidân Các lĩnh vực được cải cách về thể chế là quản lý hành chính, nhân sự, quản lý tàichính; quản lý doanh nghiệp công và quản lý lao động Cải cách tổ chức bộ máy hànhchính, chú trọng phân cấp là vấn đề mấu chốt nhất Về cải cách công vụ và công chức,
đã đưa yếu tố cạnh tranh vào chế độ tuyển dụng theo nguyên tắc minh bạch và côngkhai Ban hành cơ chế đánh giá công chức đi đôi với điều chỉnh chế độ tiền lương Đãxây dựng được mạng lưới hạ tầng thông tin thuộc loại tốt nhất trên thế giới, thiết lậpxong hệ thống xử lý công việc hành chính trong nội bộ các cơ quan hành chính thôngqua mạng điện tử, tiến hành việc cung cấp dịch vụ công thông qua Internet, kể cả việccung cấp dịch vụ hành chính thông qua điện thoại di động, công khai hoá việc xử lý cácvấn đề của dân, của doanh nghiệp trên mạng…
Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định trong CCHC, nhưng Hàn Quốcvẫn tiếp tục tiến trình cải cách để hoàn thiện hơn nền hành chính hiện nay
Cải cách hành chính Singapore: Có diện tích nhỏ, dân số ít, tài nguyên
thiên nhiên không có gì, nhưng quốc đảo này là một hình mẫu phát triển kinh tế đầynăng động trong nhiều năm qua và cũng được coi là “một con hổ” của châu Á Sự
Trang 35thần kỳ trong quản lý và phát triển kinh tế của nước này xuất phát từ việc CCHCđược quan tâm thực hiện từ đầu những năm 70 của thế kỷ XX và có chính sách thuhút nhân tài rõ ràng, đúng đắn Vào những năm 80, giới lãnh đạo Singapore đề raphong trào “hướng tới sự thay đổi” mà trọng tâm là đổi mới cơ chế quản lý để thíchứng với sự thay đổi Đến năm 1991 khởi động chương trình cải cách mang tên “Nềncông vụ thế kỷ 21” nhằm xây dựng nền công vụ có hiệu quả, hiệu lực với lực lượngcông chức liêm chính, tận tuỵ, có năng suất lao động và chất lượng dịch vụ cao.Một số biện pháp đồng bộ đã được áp dụng, đó là:
tiến lề lối làm việc, vừa là công cụ đánh giá hiệu quả, phân loại công chức
hiệu quả làm thước đo
phương án giải quyết các kiến nghị của doanh nghiệp
BMHC với mục tiêu là việc gì cũng phải có cơ quan chịu trách nhiệm
-Thường xuyên rà soát để loại bỏ những quy định lỗi thời không còn phù hợp
giải pháp cơ bản nhất để xây dựng nền công vụ có hiệu quả
Từ năm 1983 đến nay, Singapore đã tập trung phát triển cơ sở hạ tầng kỹthuật cho công nghệ thông tin, tăng cường năng lực cho đội ngũ công chức để ápdụng công nghệ mới, hiện đã cung cấp dịch vụ công thông qua Internet và dự kiếntiến tới giải quyết công việc của dân qua điện thoại di động trong mọi thời điểm.Theo đánh giá của giới chuyên môn, hiện nay Singapore đứng ở nhóm những nướcdẫn đầu về tốc độ phát triển chính phủ điện tử và đang bước sang giai đoạn “pháttriển công dân điện tử”
Nhà nước đã có chính sách cụ thể trong việc trả lương xứng đáng cho cán bộ,công chức, qua đó hạn chế tối đa nạn tham nhũng, minh bạch hóa chính phủ, tạo đàcho cán bộ công chức dành hết tâm sức cho công việc được giao.Có chính sách thu
Trang 36hút và sử dụng nhân tài ngoại quốc rất bài bản, từ hàng chục năm nay, Singapore đãxác định rằng, người tài là yếu tố then chốt quyết định khả năng cạnh tranh và pháttriển của nền kinh tế với bước đột phá là việc sử dụng nhân tài ngoại quốc trong bộmáy nhà nước Một Bộ trưởng của Singapore đã tuyên bố, Singapore tích cực thamgia vào “cuộc chiến toàn cầu để giành giật nhân tài”, còn cựu Thủ tướng Lý QuangDiệu từng khẳng định: “Nhân tài nước ngoài là chìa khoá bước tới tương lai”, chính
vì thế, “các công ty cần các nhân tài hàng đầu để cạnh tranh trên toàn cầu”
Cải cách hành chính Nhật Bản: Là nước không giàu về tài nguyên với dân
số khá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệtrong Thế chiến thứ II, nhưng với các chính sách phù hợp, Nhật Bản đã nhanhchóng phục hồi (1945-1954) và phát triển cao độ (1955-1990) khiến cho thế giới hếtsức kinh ngạc Từ thập kỷ 90 thế kỷ XX đến nay, tuy tốc độ phát triển đã chậm lại,song Nhật Bản tiếp tục là một trong các nền kinh tế lớn hàng đầu thế giới
Cuối năm 1996, Hội đồng CCHC và cải cách cơ cấu được thành lập, tháng6/1998 đã ban hành một đạo luật cơ bản về cải cách cơ cấu Chính phủ trung ương
và lập ra Ban Chỉ đạo cải cách cơ cấu Chính phủ trung ương và được đánh giá làmột cuộc cải cách lớn nhất kể từ thời Minh Trị đến nay CCHC đã được khẩn trươngthực hiện vì sau thời gian dài thành công rực rỡ về phát triển kinh tế, đại bộ phậnngười dân Nhật Bản có tâm lý chung là tự mãn, ngại thay đổi, một bộ phận còn cótính ỷ lại như: cấp dưới chờ đợi cấp trên, thiếu chủ động, không dám tự quyết, nhândân cũng có tâm lý ỷ lại vào nhà nước Mục tiêu cải cách của Nhật Bản là xây dựngmột chính phủ có bộ máy gọn nhẹ, hiệu quả cao nhằm tăng cường vai trò lãnh đạocủa Thủ tướng và nội các Phương pháp thực hiện là tổ chức lại và giảm số lượngcác Bộ, xây dựng hệ thống các CQHC độc lập, quy định rõ phạm vi thẩm quyền vànâng cao hiệu quả việc phối hợp công tác giữa các cơ quan; thiết lập một hệ thốngtiêu chí nhằm đánh giá các chính sách, tách bộ phận hoạch định chính sách khỏi các
cơ quan có chức năng tổ chức, đẩy mạnh tư nhân hóa, thuê khoán bên ngoài mộtloạt dịch vụ…
Kết quả thu được rất đáng khích lệ, bộ máy Chính phủ ở trung ương được
Trang 37thu gọn đáng kể, từ 23 Bộ và một Văn phòng xuống còn 12 Bộ và một Văn phòng;
số lượng các tổ chức bên trong của các cơ quan hành chính giảm đáng kể, từ 128đơn vị cấp vụ, cục và tương đương thuộc các cơ quan hành chính trước đây, nay đãgiảm xuống còn 96 đơn vị; từ 1.600 đơn vị cấp phòng và tương đương thuộc các cơquan, tổ chức, nay giảm xuống còn 995 đơn vị Số lượng công chức làm việc tại các
cơ quan hành chính giảm khoảng 300.000 người và sẽ còn tiếp tục giảm trong thờigian tới; vai trò của Văn phòng Nội các đã được nâng tầm so với các Bộ; tăngcường quyền lực và khả năng kiểm soát của Thủ tướng đối với các Bộ Trước cảicách, đa phần các chính sách được các Bộ đề xuất, sau cải cách thì những chínhsách quan trọng có tầm chiến lược được Thủ tướng chỉ đạo và đề xuất…
Tóm lại việc học hỏi kinh nghiệm cải cách các nước là một điều hết sức cầnthiết trong cuộc sống hiện nay, chúng ta nên kế thừa những điểm mới, tiến bộ vàbiến đổi sao cho phù hợp với nền hành chính Việt Nam Và trong tương lai không
xa, bộ máy hành chính Việt Nam sẽ hoàn chỉnh hơn, hoạt động có hiệu quả hơn,phục vụ nhân dân ngày một đúng pháp luật, tốt hơn, dần từng bước chuyển nềnhành chính từ cơ quan cai quản thành các cơ quan phục vụ dân, làm các dịch vụhành chính đối với dân, công dân là khách hàng của nền hành chính, là người đánhgiá khách quan nhất về mọi hoạt động của bộ máy nhà nước, bộ máy hành chính.Tất cả những mục tiêu đó của cải cách hành chính cũng là nhằm góp phần xây dựngnhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với bản chất của nhân dân, do nhân dân, vìnhân dân
Những bài học rút ra:
Bài học 1: Cần có sự quyết tâm chính trị cao từ phía lãnh đạo chính trị cũng
như lãnh đạo hành chính trong việc triển khai cải cách thủ tục hành chính
Bài học 2: Việc cải cách thủ tục hành chính chỉ được triển khai sâu rộng khi có
các quy định liên quan trong Luật và được cụ thể hóa trong các văn bản dưới Luật; cócác cơ quan chuyên môn ở các cấp thực hiện chỉ đạo, giám sát việc thực hiện
Bài học 3: Cần mở rộng các thiết chế xã hội khác nhau (người dân, các tổ
chức xã hội, các tổ chức chuyên môn độc lập) tham gia thực hiện và đánh giá, giámsát việc cải cách thủ tục hành chính
Trang 38Bài học 4: Việc cải cách thủ tục hành chính ở mỗi nước, cũng như mỗi thành
phố không được cứng nhắc mà cần linh hoạt, phù hợp với điều kiện về chính trị, vănhóa, xã hội, lịch sử cụ thể
b) Kinh nghiệm trong nước
Kinh nghiệm TP Hồ Chí Minh
Sau nhiều năm thực hiện CCHC, TP Hồ Chí Minh đã ban hành nhiều vănbản trong các lĩnh vực là “điểm nóng” của hoạt động kinh tế - xã hội như quản lýnhà đất, xây dựng, thu hút đầu tư, từng bước xoá bỏ cơ chế “bao cấp”, “xin - cho”,làm thay đổi nếp nghĩ và thói quen trong quan hệ giữa chính quyền với nhân dân,đưa hoạt động của các cơ quan chính quyền ngày càng gần dân hơn, phục vụ nhândân tốt hơn, góp phần làm thay đổi tư duy CCHC
Nếu chỉ tính riêng từ năm 2001 cho đến cuối năm 2007, Thành phố đã banhành 1.390 văn bản quy phạm pháp luật nhằm tăng cường vai trò quản lý nhà nước
và tạo môi trường thông thoáng cho phát triển kinh tế - xã hội Nhiều thủ tục hànhchính được chuẩn hóa, mẫu hóa, quy trình giải quyết công việc liên quan đến tổchức và công dân rút ngắn được thời gian, giảm phiền hà cho công dân và doanhnghiệp Cơ chế "một cửa" được thực hiện phổ biến, cơ chế "một cửa liên thông" đãhình thành và từng bước mở rộng, tạo sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan hànhchính Kết quả thực hiện thí điểm về khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính;việc ứng dụng công nghệ thông tin; áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêuchuẩn ISO; cơ chế "một cửa" và mô hình "một cửa điện tử" đã được Chính phủđánh giá là thành công và cho mở rộng thực hiện ở một số lĩnh vực trong phạm
Kết quả công tác CCHC đã góp phần trực tiếp làm cho kinh tế TP Hồ ChíMinh tiếp tục giữ vững tốc độ tăng trưởng cao liên tục trong nhiều năm qua Thuhút có hiệu quả đầu tư trong và ngoài nước, tạo môi trường thông thoáng cho mọithành phần kinh tế hoạt động có hiệu quả Đó cũng chính là những giải pháp nhằmphát huy nội lực và sức sáng tạo, năng động của nhân dân thành phố Để tiếp tụcphát huy lợi thế này, UBND thành phố đã quyết định phân công ủy quyền nhiệm vụ
Trang 39cho Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư giải quyết một số thủ tục thuộc chức năngquản lý nhà nước đối với các công ty nhà nước và các dự án đầu tư trên địa bànthành phố Nhờ các giải pháp trên đây đã tiếp tục thu hút mạnh thêm nhiều dự ánđầu tư mới vào thành phố Từ đó tạo cơ sở giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo
và từng bước đẩy lùi các tệ nạn xã hội, góp phần nâng cao đời sống các tầng lớp dân
cư, bộ mặt đô thị ngày càng được đổi mới
Thực tiễn cho thấy, CCHC tại TP Hồ Chí Minh đã đạt được những kết quảtích cực, nhưng cũng gặp không ít khó khăn, trở ngại cần được sớm khắc phục Đãnảy sinh những vướng mắc từ cơ chế, chính sách như chưa phân cấp, phân địnhrành mạch trong mối quan hệ về giải quyết thủ tục hành chính và trên từng lĩnh vựcgiữa các ngành, các cấp; việc rà soát, bãi bỏ nhiều văn bản pháp quy, văn bản hànhchính sai sót dù rất cố gắng, nhưng chưa có quy trình ra văn bản thật đúng chuẩnmực và hiện vẫn còn những quy định bất cập khác; thời gian xử lý thủ tục hànhchính đã tiến bộ nhưng vẫn bị quá hạn, nhiều hồ sơ còn tồn đọng do sự phối, kếthợp giữa các cơ quan, tổ chức nhà nước chưa chặt chẽ Mặt khác, xét cho cùng,muốn CCHC có hiệu quả, phải có một đội ngũ công chức có phẩm chất, năng lựcngang tầm với nhiệm vụ và vấn đề kèm theo là phải có cơ chế quản trị nhân sự khoahọc, chế độ chính sách tuyển dụng, lương thưởng hợp lý, khuyến khích được ngườigiỏi, động viên được mọi nguồn nhân lực
Về những vấn đề trên đây, qua khảo sát, điều tra trực tiếp thực tiễn cũng nhưnghiên cứu, tổng hợp lại từ các nguồn thông tin khác nhau, chúng tôi đã nhận thấyquá trình CCHC trên địa bàn TP Hồ Chí Minh trong những năm vừa qua đã gặp một
số khó khăn, hạn chế, cả khách quan và chủ quan sau đây:
Về khách quan, đó là nhiều văn bản quy phạm pháp luật của cấp Trung ươngchậm ban hành hướng dẫn, hoặc ban hành thiếu đồng bộ, chồng chéo, trong khinhiều luật mới hoặc bổ sung, điều chỉnh, đã được ban hành và có hiệu lực, từ đólàm cho quá trình triển khai thực hiện bị lúng túng hoặc khó khăn Mặt khác, vớiđặc thù của TP Hồ Chí Minh là thành phố lớn, trung tâm kinh tế; văn hóa khoa họccông nghệ và rất năng động với các hoạt động hết sức tập trung, nhưng vẫn còn
Trang 40nhiều quy định quản lý, nguyên tắc tổ chức không tương thích ràng buộc Các chế
độ chính sách, nhất là tiền lương chưa thật sự tạo động lực thúc đẩy cán bộ, côngchức gắn bó với công việc trong thực thi công vụ nói chung và thực hiện chươngtrình CCHC nói riêng Cấp Trung ương chưa có phối hợp đồng bộ trong công tácCCHC, nhất là về thủ tục hành chính giữa các bộ-ngành chưa có sự thống nhất, phốihợp xuyên suốt trong quá trình thực hiện lĩnh vực chuyên môn
Về chủ quan, công tác chỉ đạo thực hiện chương trình CCHC ở một số cơquan đơn vị chưa được quan tâm chỉ đạo sâu sát, chặt chẽ, thường xuyên Lãnh đạomột số sở-ngành, quận-huyện quan tâm chưa thật đúng mức và chỉ đạo quyết liệtđối với công tác CCHC, từ đó thiếu sự kiểm tra, đôn đốc thực hiện theo phân công,thậm chí có đơn vị gần như khoán trắng cho các bộ phận phòng ban trực thuộc.Cũng phải thắng thắn nhận thấy Ban Chỉ đạo và các thành viên Ban Chỉ đạo CCHCcủa các sở-ngành, quận-huyện chưa đầu tư đúng mức về thời gian, công sức, trí tuệcho công tác CCHC theo trách nhiệm được phân công Thêm vào đó, một bộ phậncán bộ, công chức, nhất là người đứng đầu một vài cơ quan, đơn vị chưa nhận thứcđầy đủ, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác CCHC nên tiến độ thực hiện còn hạnchế Kỷ luật, kỷ cương hành chính trong một bộ phận cán bộ công chức ở nhiều cơquan, đơn vị còn lỏng lẻo, yếu kém; một số lĩnh vực công việc thực hiện còn thiếuđồng bộ, kết quả còn hạn chế hoặc vẫn còn tình trạng gây phiền hà cho tổ chức,công dân Cộng với trình độ ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các
cơ quan nhà nước còn hạn chế và chưa ngang tầm với yêu cầu phát triển của thànhphố, một đô thị lớn trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế trong khi đó nhận thức vàchỉ đạo của người đứng đầu ở nhiều cơ quan, đơn vị trong việc ứng dụng công nghệthông tin còn hạn chế càng làm cho việc triển khai CCHC gặp nhiều khó khăn hơn.Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng tuy có nâng lên nhưng vẫn còn nặng về lý thuyết,thiếu quan tâm bồi dưỡng kỹ năng và xử lý tình huống trong quản lý hành chính.Tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức đôi lúc chưa làm hài lòng tổ chức vàcông dân; một số cơ quan đơn vị chưa kiên quyết xử lý kịp thời và nghiêm minhnhững cán bộ, công chức thiếu tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ Tiến độ
rà soát thủ tục hành chính còn chậm, kết quả giải quyết hồ sơ theo nhu cầu của tổ