1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chức năng thực hành quyền công tố của viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự việt nam

117 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy vậy, viêc ̣ thi hành hoạt động tố tụng trong thời gian qua cho thấy,quy định của Bộ luật Tốtung ̣ hình sự về chức năng thưc ̣ hành quyền công tốcủa Viện kiểm sát trong tố tụng hình

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUÂṬ HOC̣

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUÂṬ HOC̣

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄ

N VĂN TUÂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyêñ ChíCông

Trang 4

sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 9

1.1.1 Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 9

1.1.2 Vai trò của Viêṇ kiểm sát trong giai đo ạn xét xử sơ thẩm vụ án

hình sự 12

1.2 Chức năng thƣc ̣ hành quyền công tốc ủa Viện kiểm sát trong

giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 14

1.2.1 Quyền công tố và thực hành quyền công tố 14

1.2.2 Khái niệm chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát

trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 20

1.3 Khái quát lịch sử pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về chức

năng thƣc ̣ hành quyền côn g tốc ủa Viện kiểm sát trong giai

đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 23

1.3.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự từ năm 1945 đến năm

1988 về chức năng thưc ̣ hành quyền công tốc ủa Viện kiểm sáttrong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 23

1.3.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự từ năm 1988 đến năm

2003 về chức năng thưc ̣ hành quyền công tốc ủa Viện kiểm sáttrong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 29

Trang 5

Chương 2: QUY ĐINḤ CỦA BÔ ̣LUÂṬ TỐ

TUNG̣ HÌNH SƯ ̣ 2003

VÊ ̀

CHỨC NĂNG THỰC HÀNH QUYÊ ̀ N CÔNG TÔ ́

CỦA

VIÊṆ KIÊM SAT Ơ GIAI ĐOAṆ XET XƯ SƠ THÂM VU ̣AN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

PHÚ THỌ TỪ 2011 ĐẾN 2016 33

2.1 Quy định của Bô ̣luâṭTốtung ̣ hinh̀ sư ̣năm 2003 về chức năng thưc ̣ hành quyền công tốc ủa Viêṇ Kiểm sát trong giai đoaṇ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 33

2.1.1 Giai đoạn chuẩn bị xét xử 33

2.1.2 Tại phiên tòa sơ thẩm 38

2.2 Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật tốtung ̣ hinh̀ sư ̣v ề chức năng thưc ̣ hành quyền công tốc ủa Viêṇ Kiểm sát trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ năm 2011 đến năm 2016 49

2.2.1 Những kết quả đạt được 49

2.2.2 Những hạn chế, tồn tại 57

2.2.3 Những nguyên nhân của hạn chế, tồn tại 62

Chương 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HÀNH ̀̀ ́ ̉ ̉ ́ ́ ́ QUYÊN CÔNG TÔ CUA VIÊṆ KIÊM SAT CAC CÂP TRÊN ̀̀ ̉ ́ ́ ̉ ̉ ́ ĐIẠ BAN TINH PHU THO ̣TRONG XET XƯ SƠ THÂM VU ̣AN HÌNH SỰ 68

3.1 Những giải pháp chung về pháp luật 68

3.1.1 Những điểm mới của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về chức năng thực hành quyền công tố của Viêṇ kiểm sát trong xét x ử sơ thẩm vụ án hình sự 68

3.1.2 Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện pháp luâṭtố tụng hình sự về chức năng thực hành quyền công tố của Viêṇ kiểm sát trong xét x ử sơ thẩm vụ án hình sự 77

3.2 Những giải pháp khác 81

3.2.1 Đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng cán bộ ngành Kiểm sát 81

Trang 6

3.2.2 Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo điều hành trong ngành

Kiểm sát 87

3.2.3 Tiếp tục đổi mới và thực hiện tốt công tác phối hợp giữa Viện

kiểm sát và các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự 91

3.2.4 Tăng cường trang thiết bị, cơ sở vật chất và bảo đảm ch ế độ đãi

ngộ đối với Kiểm sát viên 96

́

T LUÂṆ 101 TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 7

DANH MUC̣ CÁC TƢ̀ VIẾ

T TẮT

BLHS : Bô ̣luâṭHinh sư ̣

̀i

BLTTHS : Bô ̣luâṭTốtung ̣ hinh sư ̣̀̀iCHXHCN : Công ̣ hoa xa hôịchu nghiài ̀k ̀l ̀kCQĐT : Cơ quan điều tra

TAND : Tòa án nhân dân

TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao

THQCT : Thưc ̣ hanh quyền công tố

̀mVKSTC : Viêṇ Kiểm sat tối cao

̀m

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

XXST : Xét xử sơ thẩm

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Thống kê sốvu ̣an /bị cáo bị truy tố được đưa ra xét xử

̀m

sơ thẩm vàsốlương ̣ bi ̣đình ch ỉ, tạm đình chỉ, điều tra

Bảng 2.2: Thống kê sốvu ̣an/bị cáo VKS đưa ra xét xử sơ thẩm đã

Trang 9

MỞ ĐẦ

U

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trước nhiệm vụ phát triển, bảo vệ đất nước và yêu cầu xây dựng Nhànước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới, cùng vớicải cách nền hành chính, Đảng ta chủ trương ban hành và thực hiện Chiếnlược cải cách tư pháp đến năm 2020, lấy Tòa án làm trung tâm, xét xử làmtrọng tâm và lấy tranh tụng làm khâu đột phá; trọng tâm của Cải cách tư pháp

là bảo đảm cho nguyên tắc Tòa án độc lập có hiệu lực trên thực tế Muốn làmđược điều này phải tổ chức và phân định rạch ròi nhiệm vụ của các cơ quantiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng một cách khoa học, hợp lý dựa trênnhững tiêu chí về chức năng của tố tụng hình sự trong Nhà nước Pháp quyền,

đó là chức năng buộc tội, chức năng gỡ tội và chức năng xét xử Ở nước tatrong những năm gần đây, hệ thống các cơ quan tư pháp được củng cố vàchức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp bước đầu đã được cải thiện, tuynhiên vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế đặt ra trong tình hình mới Nghịquyết số 49/NQ ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tưpháp đến năm 2020 đã nhận định:

Công tác tư pháp còn bộc lộ nhiều hạn chế Chính sách hình

sự, chế định pháp luật dân sự và pháp luật về tổ chức tố tụng tưpháp còn nhiều bất cập, chậm được sửa đổi, bổ sung Tổ chức bộmáy, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của các cơ quan tưpháp còn bất hợp lý và đề ra Chiến lược cải cách là: Xác định rõchức năng nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các

cơ quan tư pháp [6]

Viện kiểm sát nhân dân là một thành tố quan trọng trong hệ thống các

cơ quan tư pháp Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ

Trang 10

nghĩa Việt Nam cũng như Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã xác định:

Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sáthoạt động tư pháp; Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệHiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân,bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền

và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm phápluật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Do vậy, đảm bảo vai trò của Viện kiểm sát là mục tiêu quan trọng nhằmnâng cao hiệu quả, chất lượng xét xử, bảo đảm tự do, dân chủ cho công dângóp phần bảo vệ pháp chế XHCN và đấu tranh có hiệu quả với các loại tộiphạm, chống bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

Tuy vậy, viêc ̣ thi hành hoạt động tố tụng trong thời gian qua cho thấy,quy định của Bộ luật Tốtung ̣ hình sự về chức năng thưc ̣ hành quyền công tốcủa Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự, đặc biệt là giai đoaṇ xét xử sơ thẩm

đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, chưa tạo điều kiện cho Viện kiểm sát thựchiện được đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của Hiến pháp

và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Thực tiễn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

từ năm 2011 đến năm 2016 cho thấy viêc ̣ áp dung ̣ các quy đ ịnh của pháp luật

tố tụng hình sự vềchức năng thực hành quyền công tốc ủa Viện Kiểm sát tronghoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự vẫn còn nhiều tồn tại, thểhiêṇ ở nhiềukhía cạnh như chất lượng xét hỏi của KSV còn hạn chế, KSV chưa làm tốtcông tác chuẩn bị cho hoạt động xét xử, chất lượng tranh tụng trong nhiềuphiên tòa còn hạn chế, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

Trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam hiêṇ nay, trình độ dân trí còn hạnchế, người dân còn gặp nhiều khó khăn trong việc tự chứng minh để bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án, chưa có điều kiện mời Luật

Trang 11

sư bảo vệ quyền lợi cho mình và đội ngũ Luật sư hiện nay cũng chưa đáp ứngđược yêu cầu tham gia tất cả các phiên tòa, hệ thống pháp luật còn bất cập,thiếu ổn định, quản lý hành chính nhà nước còn nhiều sơ hở, hoạt động bổ trợ

tư pháp chưa đáp ứng yêu cầu thực tế; năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ

tư pháp cần bất cập so với yêu cầu cải cách tư pháp Thực tế, có nhiều vụviệc giải quyết chưa bảo đảm tính khách quan, gây khiếu kiện bức xúc, kéodài, khiếu kiện đông người làm mất ổn định trật tự xã hội nhưng Viện kiểmsát không kịp thời phát hiện để kháng nghị

Những thực tế trên đòi hỏi phải nghiên cứu một cách có hệ thống vềchức năng thưc ̣ hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong hệ thống phápluật hiện nay cũng như đánh giá thực trạng thưc ̣ hành quyền công tốcủa Việnkiểm sát nhân dân trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong thựctiễn để tìm ra những ưu điểm, khuyết điểm và hạn chế cũng như nguyên nhândẫn đến hạn chế Trên cơ sở đó, đưa ra các giải pháp hoàn thiện các quy địnhpháp luật về mô hình tố tụng, tổ chức bộ máy của cơ quan Viện kiểm sátnhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng xét xử, bảo đảm tự do, dân chủ cho côngdân góp phần bảo vệ pháp chế XHCN và đấu tranh có hiệu quả với các loạitội phạm, chống bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Đây là việc làmcần thiết có ý nghĩa cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn, do đó, việc nghiên

cứu đề tài “Chức năng thưc ̣ hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong

(trên cơ sởthưc ̣ tiễn điạ bàn tỉnh Phú Tho)̣” là rất cần thiết.

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Nhằm hiện thực hóa chủ trương về cải cách tư pháp, trong đó chú trọngviệc nâng cao hiệu quả thực hiện các chức năng của Viện kiểm sát trong giaiđoạn xét xử các vụ án hình sự , những năm qua đã có khá nhiều công trìnhnghiên cứu khoa học đề cập đến vấn đề này Trong đó, các công trình nghiên

Trang 12

- Nhóm nghiên cứu thứ nhất là các luận văn, luận án, các đề tài nghiên cứu khoa học và sách chuyên khảo về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân.

Bàn về chức năng của và vị trí của Viện kiểm sát trong hoạt động tố

tụng, đa kcómôṭsốnghiên cứu điển hinhi như : Một số vấn đề về quyền công tố của viện kiểm sát nhân dân của tác giả Nguy ễn Thái Phúc (đề tài cấp Bộ :

“Những vấn đề lí luận và thực tiễn cấp bách của tố tụng hình sự Việt Nam”,

1995, tr.127 - 151); Về thực hiện quyền công tố của viện kiểm sát trong tố tụng hình sự, thực tiễn và kiến nghị của tác giả Vũ Mộc (đề tài cấp Bộ:

“Những vấn đề lí luận và thực tiễn cấp bách của tố tụng hình sự Việt Nam",

Hà Nội, 1995); Luâṇ văn thac ̣ si kluâṭhoc ̣: Chức năng của Viện kiểm sát trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của tác giả Nguyễn Hữu Khoa (2009)

Bàn vềtổchức vàhoaṭđông ̣ c ủa Viện kiểm sát , đa kcómôṭsốnghiên cứu

như: Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của tác giả Lê Minh Thông (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001); Quyền công tố ở Việt Nam của tác giả Lê Thị

Tuyết Hoa (Luận án tiến sỹ luật học, Hà Nội, 2002)

Bên canḥ đó, cũng đã có một số nghiên cứu bàn về giải pháp thúc đẩy

hoạt động của Viện kiểm sát , như: Đề tài khoa học cấp bộ mang tên: Hoàn thiện

các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 để đảm bảo phù hợp với việc tổ chức hệ thống các cơ quan tư pháp theo tinh thần nghị quyết số 49 - NQ/

TW của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của tác giả

Nguyễn Xuân Hà, Phạm Hoàng Diệu Linh (Hà Nội, 2009); Nâng cao chất lượng

kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố với vấn đề thông khâu

và chuyên khâu trong các công tác kiểm sát hình sự của Tác giả Ngô Văn Đọn

(Đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội, 2004); Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ

chức Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam của

tác giả Hoàng Thế Anh (Luâṇ văn Thac ̣ si kluâṭhoc ̣, Hà Nội, 2006)

Trang 13

Nhìn chung các nghiên cứu trên đã đề cập một số nội dung liên quan đến lĩnh vực của đề tài, tuy nhiên, các tác giả mới ch ỉ dừng lại ở việc nghiên cứu làm rõ địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nói chung hoặc ở một góc độ nhấtđịnh như đi sâu phân tích thế nào là quyền công tố, vai trò của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, vụ án dân sự nhưng chưa nghiêncứu cụ thể, toàn diện về chức năng thưc ̣ hành quyền công tốc ủa Viện kiểm

sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vu ̣án hinhi sự; chưa đánh giá một cách

có hệ thống những điểm còn hạn chế trong thực tiễn đảm bảo quyền công tố trong xét xử các vụ án hình sự, chưa phân tích đầy đủnguyên nhân và các giải pháp khắc phục

- Nhóm nghiên cứu thứ hai về chức năng của Viện kiểm sát được đăng trên các tạp chí chuyên ngành:

Nhóm nghiên cứu này bao gồm các bài vi ết liên quan đến chức năng

của Viện kiểm sát trong hê ̣thống pháp luâṭViêṭNam như bài viết: Một số vấn

đề lý luận cơ bản về quyền công tố của tác giả Lê Cảm (Tạp chí Tòa án nhân dân, Số6, Hà Nội, 2000); Một số vấn đề về quyền công tố của tác giả Tr ần Văn Độ (Tạp chí Luật học, Số3/2001, Hà Nội); Những chủ trương của Đảng

và Nhà nước ta về cải cách tư pháp và tổ chức hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thời kỳ đổi mới của tác giả Khuất Văn Nga (Tạp chí Kiểm sát, Số15, Hà Nội, 2005); Bàn về tổ chức quyền tư pháp - nội dung cơ bản của chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của tác giả Lê Cảm (Tạp chí Kiểm sát, Số23, Hà Nội, 2005); Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan thực hiện chức năng thực hành quyền công tố đáp ứng yêu cầu cải cách

tư pháp của tác giả Phạm Hồng Hải (Tạp chí Luật học, Số14, Hà Nội, 2006);

Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay

của tác giả Đỗ Văn Đương (Tạp chí Nghiên cứu Lâp ̣ pháp , Số79, Hà Nội,2006); Viện kiểm sát hay Viện công tố của tác giả Nguyễn Thái Phúc (Tạp chíKhoa học Pháp luật, Số2 (39), TP HồChimMinh, 2007)

Trang 14

Măc ̣ du đa lam sang to môṭsốkhia canḥ ly luâṇ vềch ức năng cua Viêṇ

Thực tế trên cho thấy, chức năng thưc ̣ hành quyền công tố c ủa Viện

kiểm sát trong giai đoan xét xử sơ thẩm vu ̣án hinhi sư ̣là v ấn đề tồn tại cầnđược tiếp tục làm rõnh ất là trong bối cảnh chúng ta đang nghiên cứu, thựchiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, chuẩn bị thực thi hai bộ luậtquan trọng là Bô ̣luâṭHinhi sư ̣số 100/2015/QH13 và Bộ luật Tố tụng Hình sựsố101/2015/QH13; làm sáng tỏ vấn đền này cả về mặt lý luận cũng như thựctiễn tạo cơ sở cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về việc nâng caohiệu quả thực hiện các chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơthẩm các vu ̣án hinhi sư ̣đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp, góp phần nângcao chất lượng, hiệu quả xét xử của Tòa án đồng thời đảm bảo chất lượngtranh tụng tại tòa, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, chống làm oanngười vô tội và chống bỏ lọt tội phạm cũng như bảo vệ pháp chế XHCN Dovâỵ, việc thực hiện một đề tài nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu về chức

năng thưc ̣ hành quyền công tốcủa Vi ện kiểm sát trong hoạt động xét xử sơthẩm vu ̣án hinhi sư ̣hiện nay là rất cần thiết

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài “Chức năng thưc ̣ hành quyền công tố

của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét sở sơ thẩm vu ̣án hình sư ̣theo luâṭ tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sởthưc ̣ tiêñ điạ bàn tỉnh PhúThọ)” là trên cơ

sởnghiên cứu các vấn đề lý luận về chức năng thưc ̣ hành quyền công tốc ủa

Trang 15

6

Trang 16

động xét xử sơ thẩm vu ̣án hinhi sựtrên điạ bàn tinhl PhúTho ̣nói riêng, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tốc ủa

Viện kiểm sát trong hoạt động xét xử sơ thẩm vu ̣án hinhi sự Với muc ̣ đichm

đó, đề tài nghiên cứu sẽ giải quyết những nhiệm vụ sau đây:

- Làm rõ cơ sở lý luận về chức năng thưc ̣ hành quyền công tốc ủa Viện kiểm sát trong hoạt động xét xử vụ án hình sự ở nước ta

- Làm rõ những tồn tại, hạn chế và những nguyên nhân ảnh hưởng đếnviệc thực hanh quyền công tốc ủa Viện kiểm sát trong giai đoaṇ xét x ử sơ

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu : Luâṇ văn tâp ̣ trung nghiên cứu vềc hức năng

thưc ̣ hành quyền công tốcủa Vi ện kiểm sát nhân dân trong hoạt động xét xử

sơ thẩm các vu ̣án hinhi sư.̣

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu chức năng thưc ̣ hành quyền công tố

của Viện kiểm sát trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vu ̣án hinhi sư ̣từ khi BLTTHS 2003 có hiệu lực đến nay Số liệu thực tế được tổng hợp từ kết quả thống kê trên điạ bàn tinhl Phú Thọ từ năm 2011-2016

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở của phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của ĐảngCộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn là:

Trang 17

Phương pháp phân tích - tổng hợp; Phương pháp luật học so sánh; Phươngpháp nghiên cứu trường hợp điển hình , khảo sát thực tiễn; Phương phápchuyên gia (đối thoại với chuyên gia và các nhà hoạt động thực tiễn trong lĩnhvực luật học).

6 Nhƣ̃ng điểm mới của luận văn

Làm rõ môṭsốvấn đềlýluâṇ vàthưc ̣ tiêñ vềchức năng thưc ̣ hành quyền công tốcủa Viêṇ kiểm sát trong hê ̣thống pháp luâṭnước ta từ khi BLTTHS

2003 có hiệu lực thi hành ; phân tichm thưc ̣ trang ̣ thưc ̣ hành quyền

công tốc ủa Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vu ̣án hinhi sự trên điạ bàn tinhl PhúTho ̣từ năm 2011-2016; qua đó, xác định các yếu tố gây ra những haṇ chế ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện quyền công tốc ủa Viện

kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vu ̣án hinhi sư ̣hiện nay vàđềxuất giải pháp khắc phục , nâng cao hiêụ quảthưc ̣ hành quyền công tốcủa Viêṇ kiểm sátcác cấp trên điạ bàn tinhl PhúTho ̣trong giai đoaṇ tới

7 Kết cấu nội dung luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chức năng thưc ̣ hành quyền công

tốcủa Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vu ̣án hinhi sư.̣

Chương 2: Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về chức

năng thưc ̣ hành quyền công tốc ủa Viện Kiểm sát ởgiai đoaṇ xét xử sơ th ẩm

vụ án hình sự và th ực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ năm 2011đến năm 2016

Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hành quyền công

tốcủa Viện Kiểm sát các cấp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong xét xử sơ thẩm

vụ án hình sự

Trang 18

Chương 1 MÔṬ SỐ

́

N ĐỀLÝ LUÂṆ VỀ

CHỨC NĂNG THƯC̣ HÀNH

QUYÊN CÔNG TÔ CUA VIÊṆ KIÊM SAT TRONG GIAI ĐOAṆ XÉT

XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm g iai đoạn xét xử sơ thẩm và vai trò của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

1.1.1 Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Theo Từ điển luâṭhoc ̣ (2006) do Viêṇ Khoa hoc ̣ Pháp lý (Bô ̣Tư pháp)chủ trì xuất bản:

Xét xử là hoạt động xem xét , đánh giábản chất pháp lýcủa vụviệc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất , mức đô ̣pháp lýcủa vụ việc , từ đónhân danh Nhànước đưa ra môṭpháp quyết tương ứng vớibản chất , mức đô ̣trái hay không trái pháp luâṭcủa vu ̣ viêc ̣ (xét xử

vụ án hình sự , dân sự, kinh doanh, thương maị, lao đông ̣ , hành chính ) [37, tr.869]

Xét xử là quá trình áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để kiểmtra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các quyết định mà cơ quan Điềutra và Viện kiểm sát đã thông qua trước khi chuyển vụ án hình sự sang Tòa án,nhằm loại trừ các những hậu quả tiêu cực của các sơ suất, sai lầm hoặc sự lạmdụng đã bị bỏ lọt trong ba giai đoạn tố tụng hình sự trước đó (khởi tố, điều tra

Trang 19

và truy tố), chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, hoặc trả lại hồ sơ để điều tra bổ sunghoặc đình chỉ (hay tạm đình chỉ) vụ án Đây đươc ̣ xem làhoaṭđông ̣ quan trọngđể tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công dân trong cácgiai đoạn xét xử của Tòa án nói riêng và toàn bộ hoạt động tư pháp của Nhànước nói chung Từ đó, cùng với các giai đoạn tố tụng khác góp ph ần có hiệuquả vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong toàn xã hội.

Theo Tôn Thiện Phương (2002), trong hoạt động tố tụng hình sự thì xét

xử được coi là hoạt động trung tâm bởi lẽ [25, tr.5-8]:

Thứ nhất, các hoạt động điều tra thu thập chứng cứ của cơ quan điều tra

nhằm mục đích chứng minh tội phạm và hành vi của người phạm tội phục vụcho việc xét xử Thông qua hồ sơ vụ án của cơ quan điều tra, Tòa án kiểm tratính xác thực của chứng cứ mà cơ quan điều tra thu thập được, để từ đó đưa ranhững phán quyết về tội phạm và người phạm tội Tại phiên tòa, chứng cứđược đưa ra xem xét đánh giá một cách chính thức và chỉ những chứng cứ nàođược đưa ra xem xét tại phiên tòa mới được làm căn cứ chứng minh tội phạm

và là cơ sở để Hội đồng xét xử đưa ra quyết định của mình Vì vậy, hoạt độngđánh giá chứng cứ, nhân danh Nhà nước ra bản án của Hội đồng xét xử đượcxem là hoạt động điều tra chính thức tại phiên tòa

Thứ hai, quyết định truy tố của Vi ện kiểm sát chỉ là cơ sở để Tòa án

quyết định đưa vụ án ra xét xử, còn việc phán quyết về sự việc phạm tội, hành

vi của bị cáo thuộc chức năng của Tòa án “không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Vì vây, có thể nói hoạt động truy tố của Viện kiểm sát hướng tới việc

tạo căn cứ cho hoạt động xét xử

Thứ ba, bản án và các quyết định của Tòa án là căn cứ pháp lý để tiến

hành hoạt động thi hành án, biến việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngườiphạm tội của các cơ quan tiến hành tố tụng phát huy tác dụng trên thực tế

Trang 20

Vì vậy, xét xử hình sự có vai trò rất quan trọng trong tố tụng hình sự.Xét xử thông qua Tòa án vừa là công cụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa,vừa là công cụ bảo vệ quyền con người.

1.1.1.2 Khái niệm xét xử sơ thẩm

Trong khoa hoc ̣ pháp lýhiêṇ nay , khái niệm “xét xử sơ thẩm” có khá

nhiều cách tiếp cận khác nhau Chẳng hạn, theo Từ điển Luật học giải thích:

“xét xử sơ thẩm là lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử tại một Tòa án có thẩm quyền” [37, tr.870] Quan điểm này có tính khái quát chung (bao gồm cả xét

xử sơ thẩm các vụ án dân sự, hình sự ), đã phản ánh đặc trưng của xét xử sơ

thẩm là “lần đầu tiên” đưa vụ án ra xét xử và do “một Tòa án có thẩm quyền xét xử”; nhưng chưa thể hiện các đặc trưng riêng và nội dung của việc xét xử

sơ thẩm vụ án hình sự Các đặc trưng cơ bản của xét xử sơ thẩm vụ án hình sựbao gồm:

Thứ nhất, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự

có tính chất bắt buộc

Thứ hai, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là xét xử lần đầu vụ án, do đó vụ

án được đưa ra giải quyết công khai với sự có mặt đầy đủ các người tham gia

tố tụng

Thứ ba, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có kết quả là một bản án, quyết

định công minh, có căn cứ và đúng pháp luật

Thứ tư, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự góp phần vào việc xử lý triệt để

và dứt điểm vụ án hình sự, qua đó,giảm thiểu tối đa tình trạng giải quyết kéodài vụ án, duy trì công lý, phục hồi lại công bằng trong xã hội, trấn an dư luận

và bảo đảm quyền lợi của công dân

1.1.1.3 Khái niệm giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Từ các quan điểm trên cóthểđưa ra khái niêṃ giai đoaṇ xét xử sơ thẩm

vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự, trong đó Tòa án có thẩm quyền

Trang 21

thay mặt Nhà nước tiến hành việc xét xử lần đầu, toàn diện, tổng thể vụ ánhình sự trên cơ sở bản cáo trạng của Viện kiểm sát, xem xét đánh giá chứng

cứ và dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa làm cơ sở để ra các phán quyếtcông minh, có căn cứ và đúng pháp luật bằng bản án và quyết định của mình

Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi Tòa án nhận được hồ

sơ vụ án hình sự (với quyết định truy tố bị can trước Tòa án kèm theo bản cáotrạng) do Viện kiểm sát chuyển sang và kết thúc bằng một bản án (quyết định)

có hiệu lực pháp luật của Tòa án

Bằng việc xét xử sơ thẩm, thông qua quá trình điều tra trực tiếp tạiphiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai và dân chủ của các bên, Tòa

án với tính chất là cơ quan trọng tài kiểm tra lại và đánh giá một cách toàndiện, khách quan và đầy đủ các chứng cứ, các tình tiết của vụ án hình sự đểgiải quyết về bản chất nó - phán xét về vấn đề tính chất tội phạm (hay không)của hành vi, có tội (hay không) của bị cáo hoặc bằng việc kiểm tra tính hợppháp và của bản án theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm (nếu bản án hayquyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị), nhằm đạt mục đích trongtoàn bộ các giai đoạn tố tụng hình sự là tuyên một bản án (quyết định) có hiệulực pháp luật một cách công minh và đúng pháp luật, có căn cứ và đảm bảosức thuyết phục tránh bỏ lọt tội phạm và kết án oan người vô tội

1.1.2 Vai trò của Viêṇ kiểm sát trong giai đoạn xét xử s ơ thẩm vụ án hình sự

Viêṇ kiểm sát là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng, có tráchnhiệm thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự, quyết định việc truy tốngười phạm tội ra trước Tòa án và kiểm sát hoạt động xét xử của tòa án, nhằmđảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời, việc khởi tố, điềutra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tộiphạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Trong giai đoạn xét xử

Trang 22

Một là, cùng với các cơ quan bảo vệ pháp luật khác, VKS có trách nhiệm đấu tranh, xử lý tội phạm, “bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội” Đồng thời, thông qua các hoạt động nghiệp vụ

của mình, VKS cũng có trách nhiệm kịp thời phát hiện ra các nguyên nhân,điều kiện của tội phạm, qua đó kiến nghị với các cơ quan nhà nước có liênquan triệt tiêu các nguyên nhân, điều kiện của tội phạm Đây cũng chính làmột trong các nội dung của công tác phòng ngừa tội phạm

Hai là, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, thông qua

chức năng kiểm sát hoaṭđông ̣ xét xử , VKS bảo đảm cho việc tuân thủ và ápdụng pháp luật thống nhất; bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúngquy định của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội Việctruy tố của VKS phải dựa trên cơ sở kết quả điều tra của CQĐT trong suốtquá trình điều tra và kết quả điều tra công khai tại phiên tòa của HĐXX Từ

đó, VKS đưa ra sự buộc tội chính thức và cuối cùng đối với người phạm tội

Ba là, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự VKS bảo đảm

quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và những người tham gia tố tụngkhác (đăc ̣ biêṭlàb ảo vệ quyền con người vàcác quy ền hợp pháp của bị can, bịcáo không bị pháp luật tước bỏ) BLTTHS quy định quyền và nghĩa vụ củatừng tư cách tham gia tố tụng, trách nhiệm của VKS là bảo đảm cho cácquyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ

Bốn là, vai tròcủa VKS trong giai đoaṇ xét xử sơ thẩm b ảo đảm cho

việc tranh tụng được bình đẳng, dân chủ, công khai Trách nhiệm của VKS làphải đối đáp lại các ý kiến của những người tham gia tố tụng trong quá trìnhgiải quyết vụ án hình sự công khai tại tòa Khi tranh luận các bên có quyền vànghĩa vụ bình đẳng với nhau Chỉ tranh luận những vấn đề liên quan đến vụ

Trang 23

Năm là, VKS bảo đảm cho các bản án, quyết định của Tòa án được

thực thi đúng quy định pháp luật Nếu các bản án, phán quyết của Tòa ánkhông được đưa ra thi hành thì cũng chỉ là các quyết định giấy Việc thực hiệncác quyết định đó như thế nào, trách nhiệm của từng cá nhân, cơ quan hữuquan đến đâu, phải được đặt dưới sự giám sát của cơ quan VKS

Như vậy, có thể thấy vai trò của VKS trong giai đoạn xét xử hình sự sơthẩm là một trong những công cụ hữu hiệu để bảo vệ pháp luật và pháp chế xãhội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm pháp luật,góp phần bảo vệ công lý cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho

sự phát triển kinh tế cũng như xây dựng, bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN

1.2 Chức năng thƣc ̣ hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

1.2.1 Quyền công tố và thực hành quyền công

tố - Khái niệm quyền công tố

Trong khoa học pháp lý, việc xác định quyền công tố và theo đó là thựchành quyền công tố có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn Giảiquyết được rõ ràng, rành mạch những vấn đề trên giúp cho việc xác địnhchính xác vai trò, vị trí cũng như trách nhiệm của Viện kiểm sát trong cuộcđấu tranh phòng chống tội phạm

Thời gian qua m ặc dù vẫn còn có ý kiến khác nhau, nhưng vấn đề vềquyền công tố cũng đã được quan tâm nghiên cứu trên cả phương diện lý luận và

thực tiễn Thuật ngữ “công tố” là từ ghép Hán – Việt, được hình thành bởi hai từ đơn “công” và “tố” Theo Hoàng Phê (Chủ biên, 2003) thì “công” hàm chứa ý nghĩa “thuộc về Nhà nước, thuộc về tập thể, trái với tư” còn “tố” nghĩa là “nói

về những sai phạm, tội lỗi của người khác một cách công khai trước người có thẩm quyền hoặc trước nhiều người”; “công tố” có nghĩa là “điều tra, truy tố,

Trang 24

Dưới góc độ khoa học luật TTHS, Lê Cảm (2000) đã đưa ra định nghĩa của khái niệm quyền công tố như sau:

Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện cácchức năng do luật TTHS quy định để kiểm sát tính hợp pháp củaviệc điều tra tội phạm, truy tố và buộc tội người đã thực hiện hành

vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm trước Tòa án nhằm gópphần ra được các bản án có căn cứ, công minh và đúng pháp luật,đồng thời bảo vệ các quyền tự do của công dân, cũng như các lợiích hợp pháp của xã hội và của Nhà nước trong hoạt động tư pháphình sự [7, tr.1-12]

Một số tác giả khác như Lê Hữu Thể (2006) cũng cho rằng, quyền công

tố là:

Quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội, hay nóicách khác là quyền nhân danh quyền lực công thực hiện việc truycứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Quyền này làquyền của Nhà nước, Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ởnước ta từ năm 1960 đến nay là cơ quan Viện kiểm sát) Để làmđược điều này, cơ quan công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việcthu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và ngườiphạm tội Trên cơ sở đó quyết định việc truy tố bị can ra trước Tòa

án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa [34, tr.12-15]

Theo quan điểm của tác giả, quyền công tố là quyền nhà nước nhân danh xã hội truy cứu trách nhiệm pháp lý đến cùng đối với những người có hành vi phạm tội hoặc hành vi vi phạm pháp luật, mọi hành động xâm hại đến lợi ích chung, nhằm mục đích duy trì trật tự của cộng đồng, trật tự pháp luật

mà nhà nước đặt ra để duy trì, củng cố và phát triển các quan hệ xã hội.

Nghiên cứu lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới nói chung và lịch sử

Trang 25

Nhà nước và pháp luật Việt Nam nói riêng đã cho thấy: Quyền công tố gắnliền với sự ra đời của Nhà nước, được phát triển và hoàn thiện cùng với sựphát triển và hoàn thiện của bộ máy Nhà nước Quyền công tố xuất hiện donhu cầu bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền và nhu cầu duy trì an ninhchung của toàn xã hội, chống lại các hành vi tội phạm xâm phạm đến lợi íchchung của cộng đồng Như vậy, có thể nói rằng quyền công tố, đó là một loạiquyền lực Nhà nước dùng để buộc tội, yêu cầu trừng trị tội phạm và ngườiphạm tội một cách công khai bằng hoạt động xét xử của tòa án.

Trong TTHS, phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi có tội phạmxảy ra và kết thúc khi bản án đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị.Để bảo đảm thực hiện quyền công tố trong thực tế đấu tranh chống tội phạm,Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật, trong đó quy định các quyềnnăng pháp lý mà cơ quan có thẩm quyền được áp dụng để truy cứu tráchnhiệm hình sự đối với người phạm tội Cơ quan được giao thẩm quyền đưa vụ

án ra Tòa được gọi là cơ quan thực hành quyền công tố và điều này được thểhiện ở mỗi nước là rất khác nhau, tùy thuộc vào bản chất chế độ chính trị,điều kiện và hoàn cảnh của từng nước

- Khái niệm thực hành quyền công tố:

Ở Việt Nam, căn cứ vào các quy định của pháp luật (từ Hiến pháp

1959, 1981 và 1992 và các Luật tổ chức VKSND 1960, 1981, 1992 và 2002)thì chỉ có Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất thực hành quyền công tố Tuyvậy, việc phát động quyền công tố thì không chỉ có Viện kiểm sát mà cơ quanđiều tra, Tòa án cũng có quyền Nhưng các quyết định khởi tố của cơ quanđiều tra chỉ thực sự có ý nghĩa phát động công tố quyền sau khi được Việnkiểm sát xem xét; nếu quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sựcủa cơ quan điều tra không có căn cứ và trái pháp luật thì Viện kiểm sát có quyền hủy bỏ Tòa án có quyền khởi tố vụ án hình sự, nếu qua việc xét xử

Trang 26

phát hiện có tội phạm bị bỏ lọt, nhưng các quyết định khởi tố vụ án hình sựcủa Tòa án đều phải được gửi cho Viện kiểm sát xem xét, nếu có vi phạmpháp luật thì Viện kiểm sát sẽ kháng nghị Như vậy, về mặt pháp lý chỉ cóViện kiểm sát là cơ quan có quyền độc lập phát động quyền công tố mà khôngchịu sự can thiệp của bất cứ cơ quan nhà nước nào.

Trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra chỉ có quyền đề nghị việc ápdụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, còn việc quyết định là

do Viện kiểm sát; cơ quan điều tra có quyền độc lập thu thập tài liệu chứng

cứ, nhưng việc bảo đảm cho các tài liệu chứng cứ ấy có đủ cơ sở để truy tố bịcan hay không là do Viện kiểm sát chịu trách nhiệm Trong trường hợp không

đủ căn cứ để buộc tội, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu cơ quan điều tra bổsung tài liệu chứng cứ; có quyền đình chỉ vụ án; yêu cầu cơ quan có thẩmquyền xử lý kỷ luật hoặc xử lý hành chính người đã có hành vi vi phạm phápluật Khi có đủ tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội và xét thấy cần

xử lý người đó trước Tòa án thì Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can raTòa BLTTHS nước ta đã quy định thẩm quyền công tố của Viện kiểm sát

trong TTHS rất lớn là “được áp dụng các biện pháp do BLTTHS để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội” (Điều 23 BLTTHS) Như vậy, về thực

hành quyền công tố là chức năng mà không cơ quan nhà nước nào làm thayViện kiểm sát Về vấn đề này, tháng 7 năm 1967, khi ủy ban Thường vụ Quốchội thảo luận Báo cáo của VKSNDTC, Đồng chí Trường Chinh, Chủ tịch ủyban Thường vụ Quốc hội lúc đó đã kết luận:

Không có cơ quan nhà nước nào có thể thay thế ngành kiểmsát để sử dụng quyền công tố Bắt giam, điều tra, tha, truy tố, xét xử

có đúng người, đúng tội hay không, có đúng đường lối chính sáchcủa Đảng và Nhà nước hay không, điều đó chính là Viện kiểm sátphải trông nom bảo đảm làm tốt [17, tr 39]

Trang 27

Như vâỵ, có thể khái niệm t hực hành quyền công tố là việc Viện kiểm sát sử dụng các biện pháp do luật định để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, đưa người phạm tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó.

- Phạm vi thực hành quyền công tố:

Xác định đúng đắn phạm vi thực hành quyền công tố có ý nghĩa quantrọng để nâng cao hiệu quả hoạt động này nhằm chống bỏ lọt tội phạm, khônglàm oan người vô tội

Hiện nay, trong giới luật học khi đề cập đến phạm vi thực hành quyền công tố còn có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng, phạm vi thực hành quyền công tố chỉ là việc truy tố và buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa

sơ thẩm hình sự Có ý kiến thu hẹp phạm vi thực hành quyền công tố chỉ là sựbuộc tội tại phiên tòa sơ thẩm Một số ý kiến khác (như Lê Thi Tuyếṭ Hoa

(2002)) lại cho rằng cần “mở rộng phạm vi thực hành quyền công tố theo hướng được thực hiện từ khi có tội phạm xảy ra cho đến khi người phạm tội thi hành xong bản án” [17, tr.40].

Thưc ̣ tiêñ hoaṭđông ̣ TTHS ởnước ta hiêṇ nay cho thấy , Viện kiểm sátthực hiện quyền công tố ở các giai đoạn tố tụng, bởi vì khi có việc tiến hành

tố tụng thì bao giờ cũng gắn liền với việc buộc tội Do đó, không thể quanniệm việc thực hành quyền công tố chỉ ở giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩmhoặc xét xử phúc thẩm Tại phiên tòa giám đốc thẩm, Viện kiểm sát cũng cóthể bảo vệ quan điểm buộc tội của Viện kiểm sát cấp dưới khi bị cáo khángcáo kêu oan, bảo vệ kháng nghị của Viện kiểm sát theo hướng tăng nặng tráchnhiệm hình sự đối với bị cáo Tuy vậy, cũng không nên mở rộng quá phạm vithực hành quyền công tố đến khi người phạm tội thi hành bản án xong, bởi vì

ở giai đoạn thi hành án không có việc điều tra, thu thập chứng cứ để buộc tội,không có việc áp dụng pháp luật để kết tội, đơn giản chỉ là thi hành bản án

Trang 28

Bên canḥ đó, viêc ̣ xác định phạm vi thực hành quyền công tố không thểkhông xem xét đến phạm vi của quyền công tố và khái niệm về thực hành quyềncông tố đã được đề cập ở các phần trên, về mặt nguyên tắc, khi có tội phạm xảy

ra là xuất hiện quyền công tố, luật TTHS Việt Nam đã thể hiện rõ nguyên tắc nàylà: Mục đích của TTHS nhằm bảo đảm mọi tội phạm xảy ra đều phải được pháthiện và xử lý theo pháp luật Tuy nhiên, trên thực tế không phải mọi tội phạmxảy ra đều được phát hiện và khởi tố nên số vụ án được khởi tố điều tra bao giờcũng nhỏ hơn số vụ phạm tội đã xảy ra Dưới góc độ tội phạm học những vụphạm tội chưa được phát hiện là phần tội phạm ẩn chưa có trong thống kê hình

sự Theo đó giữa phạm vi quyền công tố và phạm vi thực hành quyền công tố cóthể được đo bằng tình trạng tội phạm ẩn, đang có nhu cầu phát hiện, xử lý Dovậy, nếu quan niệm phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi khởi tố vụ án hình sự

là thu hẹp phạm vi quyền này và nhầm lẫn khởi tố vốn là một biện pháp thựchành quyền công tố với quyền công tố Cần nhấn mạnh rằng, phạm vi quyềncông tố bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra (vì lúc đó xuất hiện mối quan hệ giữaNhà nước với người phạm tội) và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật,không bị kháng nghị (quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đã đạt được thông quabản án có hiệu lực pháp luật) Tuy nhiên, trên thực tế không phải trong mọitrường hợp quyền công tố kéo dài đến tận khi bản án có hiệu lực pháp luật mà nó

có thể bị triệt tiêu ở giai đoạn tố tụng sớm hơn theo quy định của luật TTHS.Điều này có nghĩa là, không phải mọi vụ án đều được đưa ra xét xử trước Tòa án,khi chấm dứt quyền công tố thì đồng thời cũng không có việc thực hành quyềncông tố Vì vậy, như quan điểm của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 68 ngày

2/3/1963 về công tác kiểm sát: “hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ

khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội” [11, tr.7] là hoàn toàn đúng đắn về phạm vi thực hành

quyền công tố

Trang 29

Những căn cứ dẫn đến triệt tiêu quyền công tố và theo đó chấm dứtviệc thực hành quyền công tố là: Không có sự kiện phạm tội (Điều này đươc ̣xem làhiển nhiên bởi le kkhông có s ự kiện phạm tội có thể là hoàn toàn không

có sự việc phạm pháp xảy ra; sự kiện xảy ra không phải là tội phạm; hành viphạm pháp không cấu thành tội phạm mà chỉ là vi phạm pháp luật khác.Trong trường hợp này không được khởi tố vụ án, nếu đã khởi t ố thì phải raquyết định hủy bỏ Bởi vì không có căn cứ để tiếp tục thực hiện quyền côngtố.); Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực tráchnhiệm hình sự; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổichịu trách nhiệm hình sự; Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản ánhoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; Đã hết thời hiệu truy cứutrách nhiệm hình sự (Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộluật hình sự quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truycứu trách nhiệm hình sự; Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từngày tội phạm được thực hiện Nếu đã qua thời h ạn nói trên mà vì lý do nào

đó cơ quan có thẩm quyền không làm rõ được tội phạm và bỏ qua thì ngườiphạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm đã thực hiện);Tội phạm đã được đại xá; Người phạm tội đã chết, trừ trường hợp cần táithẩm đối với người khác; Miễn trách nhiệm hình sự

Như vâỵ, có thể khái quát rằng , phạm vi thực hành quyền công tố bắtđầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bịkháng nghị hoặc vụ án được đình chỉ khi có một trong những căn cứ do luật tốtụng hình sự quy định

1.2.2 Khái niệm chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát là việc Việnkiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng tố tụng độc lập nhằm truy cứu

Trang 30

trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, không để lọt người, lọt tội, đượcthực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng.

Hiêṇ nay, nhiều quan điểm cho r ằng thực hành quyền công tố là nhữngbiện pháp do luật định mà Viện kiểm sát sử dụng để truy cứu trách nhiệmhình sự đối với người phạm tội Thế nhưng trong lý luận và thực tiễn hiệnnay vẫn chưa làm rõ được nội dung thực hành quyền công tố bao gồm nhữngquyền năng pháp lý cụ thể nào Điều này dẫn tới tình trạng nhầm lẫn giữachức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tưpháp của Viện kiểm sát Những quyền năng pháp lý mà Viện kiểm sát tựquyết định và liên quan đến việc cáo buộc bị can, bị cáo thì đó là những quyềnnăng thuộc nội dung thực hành quyền công tố; những quyền năng pháp lý màViện kiểm sát sử dụng để phát hiện và yêu cầu xử lý vi phạm pháp luật của cơquan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng lànhững quyền năng thuộc chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật Tuyvậy, việc xác định và phân biệt này chỉ mang tính chất tương đối, bởi vì cónhững hành vi tố tụng mà chúng thể hiện sự đan xen giữa thực hành quyềncông tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tư pháp [17, tr.45].Chẳng hạn, quyết định kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát đốivới bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật Vì một quyết địnhkháng nghị có thể bao hàm đổng thời hai nội dung, một là có sự vi phạm trongviệc áp dụng Bộ luật hình sự, hai là vi phạm nghiêm trọng về TTHS; hoặc chỉthể hiện một trong hai nội dung trên nhưng đều làm phát sinh một trình tự xét

xử mới, xét xử phúc thẩm hình sự Chính vì lẽ đó, theo luật định, Viện kiểmsát thực hiện đồng thời hai chức năng, chức năng công tố và kiểm sát các hoạtđộng tư pháp mà không tách ra thành các chương riêng Theo Lê Thi Tuyếṭ

Hoa (2002), “nhiều nước trên thế giới, ngoài chức năng công tố, Viện công tố còn được giao nhiệm vụ trông nom

Trang 31

việc áp dụng pháp luật của các cơ quan tư pháp nhưng cũng không tách bạch giữa hai nhiệm vụ này trong Luật công tố” [17, tr.46] Hiện nay trong lý luận

và thực tiễn cũng còn có một số quan điểm khác nhau về thực hành quyềncông tố và chủ thể thực hành quyền công tố Do đó việc quan niệm nội dungthực hành quyền công tố cũng còn khác nhau Có quan điểm cho rằng, nếu coikhởi tố vụ án hoặc bắt, tạm giam bị cáo là nội dung thực hành quyền công tốthì có nghĩa là cơ quan điều tra và Tòa án cũng là cơ quan thực hành quyềncông tố Chúng tôi cho rằng, ở đây có sự nhầm lẫn giữa quyền năng tố tụngvới quyền của cơ quan công tố Việc sử dụng một số biện pháp để cáo buộc bịcan, bị cáo do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện hoàn toàn không đổngnghĩa với thẩm quyền công tố theo nghĩa đầy đủ của nó là quyền đưa vụ án raTòa và thực hiện việc buộc tội đối với bị cáo trước Tòa án Cũng theo Lê Thị

Tuyết Hoa (2002), “chỉ có cơ quan nào sử dụng tất cả các quyền năng pháp

lý cần thiết để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong cả giai đoạn điều tra tội phạm và giai đoạn xét xử hình sự tại Tòa án thì đó là cơ quan thực hành quyền công tố” [17, tr.46] Ở nước ta chỉ có Viện kiểm sát là

cơ quan duy nhất thực hành quyền công tố Cơ quan điều tra chỉ là người hỗtrợ cho Viện kiểm sát đưa vụ án ra Tòa; Tòa án chỉ xét xử những tội phạm vàngười phạm tội mà Viện kiểm sát đã truy tố

Tổng hơp ̣ các quan điểm này kết hơp ̣ với nôịhàm quyền công tốvà thưc ̣ hành quyền công tốđa klàm rõởphần trên , có thể kết luâṇ rằng:

- Chủ thể THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vu ̣án hinhi sư ̣là VKS, điều này đã được thừa nhận trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật tổ chức VKSND, BLTTHS và rất nhiều các văn

bản luật khác cũng như trong thực tiễn

- Đối tượng THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vu ̣án hinhi sư ̣làtội phạm và người phạm tội

Trang 32

- Nội dung THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vu ̣án hinhi sự :VKS sử dụng các quyền năng (biện pháp) thuộc quyền công tố được phápluật quy định để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và bảo

vệ quan điểm truy tố đó trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vu ̣án hinhi sự, baogồm: Rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố trước phiên tòa hoặc tạiphiên tòa xét xử sơ thẩm; đọc cáo trạng, thực hiện xét hỏi, luận tội, tranh luậnvới luật sư và những người tham gia tố tụng khác

- Phạm vi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vu ̣án hinhi sự: Giaiđoạn xét xử sơ thẩm vu ̣án hinhi sư ̣b ắt đầu khi hồ sơ vụ án cùng quyết địnhtruy tố được chuyển sang Tòa án để thực hiện việc xét xử và kết thúc khi Tòa

án ra bản án sơ thẩm hình sự hoặc chấm dứt việc giải quyết bằng một quyếtđịnh tố tụng Do vậy, phạm vi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ ánhình sự cũng b ắt đầu khi Tòa án thụ lý vụ án để xét xử và chấm dứt khi Hộiđồng xét xử ra bản án sơ thẩm hoặc chấm dứt việc giải quyết bằng một quyếtđịnh tố tụng

Như vâỵ, có thể khái niệm chức năng thực hành quyền công tốc ủa Viện kiểm sát trong giai đoaṇ xét xửsơ thẩm vu ̣án hình sư ̣là v iệc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng tố tụng độc lập do luật định nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự và bảo vệ sự buộc tội đó đối với người phạm tội, không để lọt người, lọt tội trong suốt quá trình xét xửsơ thẩm vu ̣án hình sư.̣

1.3 Khái quát lịch sử pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về chức năng thƣc ̣ hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử

sơ thẩm vụ án hình sự

1.3.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự từ năm 1945 đến năm

1988 về chức năng thưc ̣ hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945, Chủ tịch

Trang 33

Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủCộng hoà- Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á Bản Tuyênngôn độc lập là một văn kiện chính trị, pháp lý, lịch sử quan trọng, đánh dấumột chương mới trong lịch sử dân tộc; đồng thời là cơ sở để sau này hàng loạtcác thiết chế của một Nhà nước mới được hình thành.

Ngay sau khi giành độc lập, Chủ tịch nước đã ký sắc lệnh số 13C-SLngày 13/9/1945 Đây là văn bản pháp luật đầu tiên quy định về Toà án quân

sự - cơ quan xét xử duy nhất tại Việt Nam; đồng thời quy định chức năngcông tố (buộc tội) như sau: “Đứng buộc tội là một Uỷ viên quân sự hay một

Uỷ viên của Ban trinh sát” Như vậy, chỉ 11 ngày sau khi ra đời, Nhà nướcViệt Nam dân chủ cộng hoà đã thiết lập cơ quan tư pháp, trong đó phôi thaixuất hiện cơ quan thực hành quyền công tố (cơ quan buộc tội)

Ngày 9/1/1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam đã được Quốchội thông qua Đây là một văn bản pháp lý quan trọng quy định cơ cấu tổchức Nhà nước nói chung và hệ thống các cơ quan tư pháp nói riêng Theođiều 63 của Hiến pháp, cơ quan tư pháp gồm có: Toà án tối cao, các Toà ánphúc thẩm, các Toà án đệ nhị cấp và sơ cấp Tiếp theo, một loạt các văn bảnpháp luật quan trọng được ban hành, quy định về tổ chức và hoạt động củacác cơ quan tư pháp, trong đó có bộ phận thực hành quyền công tố như: sắclệnh số 13 ngày 24/1/1946 quy định tổ chức các Toà án và các ngạch thẩmphán; sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 quy định thẩm quyền các Toà án và sựphân công giữa các nhân viên trong Toà án và nhân viên Công tố viện; sắclệnh số 130 ngày 19/7/1946 quy định thể thức thi hành án; sắc lệnh số 131ngày 20/7/1946 quy định về tổ chức Tư pháp công an; Thông tư số 772/TTgngày 15/5/1956 quy định việc kiện toàn các cơ quan tư pháp

Theo nội dung các văn bản pháp luật nói trên, Toà án, Tư pháp công an

và Tổ chức công tố đuợc quy định như sau:

Trang 34

- Tổ chức Toà án có 3 cấp: Toà án sơ cấp (Toà án ở các quận); Toà án đệ nhị cấp (Toà án ở các tỉnh); Toà thượng thẩm (ở 3 kỳ Bắc, Trung, Nam).

- Tổ chức công tố nằm trong Toà án: Mỗi Toà thượng thẩm có mộtChưởng lý, một hay nhiều Phó trưởng lý, nhiều tham lý Khi xét xử, Chưởng

lý hoặc Phó Chưởng lý hoặc Tham lý ngồi ghế Công tố viên

- Chánh án có quyền điều khiển và kiểm soát tất cả nhân viên khác trong Toà án, trừ các Thẩm phán buộc tội

- Thẩm phán được chia làm 2 loại: Thẩm phán xét xử và Thẩm phánbuộc tội Thẩm phán buộc tội gồm có các Chưởng lý, Phó trưởng lý, Tham lý(ở Toà thượng thẩm), Biện lý (ở Toà đệ nhị cấp); đối với Toà sơ cấp, Thẩmphán xét xử đồng thời thực hiện cả chức năng buộc tội

- Về phương diện Tư pháp công an: Tất cả Tư pháp công an, ủy viên

Tư pháp công an đều đặt dưới quyền kiểm soát của Chưởng lý Toà thượngthẩm Công tố có trách nhiệm phụ trách Tư pháp công an và các cơ quan đượcgiao nhiệm vụ diều tra Việc bổ nhiệm, thăng thưởng và xử phạt hành chínhnhững uỷ viên Tư pháp công an phải trên cơ sở ý kiến đồng ý của Biện lý vàChưởng lý

- Ở Toà sơ cấp, Thẩm phán sơ cấp dưới quyền chỉ huy của ông Biện lýToà án tỉnh Ở Toà đệ nhị cấp, ông Biện lý có hai nhiệm vụ chính là Tư phápcảnh sát và công tố Ở Toà thượng thẩm, Chưởng lý điều hành, phân côngcông việc ; Phó trưởng lý, Tham lý có nhiệm vụ thực hành quyền công tốtrước Toà thượng thẩm Biện lý có quyền đình cứu một vụ việc, đưa xét xử,đưa ra phòng dự thẩm để thẩm cứu và điều tra Biện lý phải có mặt tại phiêntoà hình và hộ; Chưởng lý và các Công tố viên có quyền phát ngôn ở nhữngphiên tòa Hộ và Hình ở Toà thượng thẩm

Như vậy, mặc dù nằm trong Toà án nhưng các Thẩm phán buộc tội làmột bộ phận riêng và hoạt động độc lập với Thẩm phán xét xử Tuỳ theo từng

Trang 35

cấp, Công tố viện phụ trách trực tiếp và có quyền ra chỉ thị, kiểm soát côngviệc của các Uỷ viên Tư pháp công an; Công tố viện đảm nhiệm việc thựchành quyền công tố trước Toà án và đốc thúc việc thi hành án

Năm 1950, qua cuộc tập huấn chính trị, trên cơ sở học tập mô hình tổchức các cơ quan tư pháp của Pháp, đã mở đường cho cải cách tư pháp lần thứnhất (1950-1958) Trong thời gian này, một loạt văn bản pháp luật mới đượcban hành, trong đó có các văn bản quy định về cơ quan tư pháp và hoạt động

tư pháp Nội dung chính thể hiện tư tưởng cải cách tư pháp là:

- Đổi tên Toà án sơ cấp thành Toà án nhân dân huyện, Toà án đệ nhịcấp thành Toà án nhân dân tình, Hội đồng phúc án thành Toà phúc thẩm, Phụthẩm nhân dân thành Hội thẩm nhân dân;

- Việc xử án có Hội thẩm nhân dân tham gia và chiếm đa số;

- Công tố viện có quyền kháng cáo cả việc hộ và việc hình;

- Quyền công tố nhà nước được giao cho các Công tố ủy viên Toà ánnhân dân tỉnh trở lên (Viện trưởng), Phó công tố ủy viên và các Thẩm phán công tố thực hiện

- Khi có vụ việc xảy ra, Thẩm phán huyện phải lập tức báo Công tố ủyviên tỉnh biết

- Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp có quyền điều hành công việccủa Công tố viện;

- Hệ thống Toà án từ thời điểm này chỉ có Toà án nhân dân trực thuộc

Bộ Tư pháp và Toà án binh trực thuộc Bộ Quốc phòng

Trong phiên họp ngày 29/4/1958, trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm trongnước và quốc tế, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ra Nghịquyết thành lập hệ thống Viện công tố và hệ thống Toà án tách khỏi Bộ Tưpháp; đặt Viện Công tố Trung ương trực thuộc Hội đồng Chính phủ, có tráchnhiệm và quyền hạn như một Bộ Đây là một sự kiện vô cùng quan trọng

Trang 36

trong lịch sử phát triển của nền tư pháp Việt Nam, là cơ sở cho việc tiến hànhcải cách tư pháp một cách sâu rộng cho những năm tiếp theo Ngày 01/7/1959Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 256-TTg, quy định nhiệm vụ và

tổ chức của Viện công tố Hệ thống Viện công tố được thành lập bao gồmViện công tố Trung ương, Viện công tố địa phương các cấp và Viện công tốquân sự các cấp Ngày 06/8/1959 Viện trưởng Viện công tố Trung ương đãban hành Thông tư số 601-TCCB, giải thích và hướng dẫn thi hành Nghị định

số 256-TTg của Thủ tướng Chính phủ Ngày 27/8/1959 Thủ tướng Chính phủban hành Nghị định số 321-TTg, thành lập các Viện công tố phúc thẩm vàViện công tố các cấp

Giai đoạn này, nhiệm vụ chung của Viện công tố là giám sát việc tuân thủpháp luật Nhà nước, truy tố theo luật hình những kẻ phạm pháp để bảo vệ chế độdân chủ nhân dân, giữ gìn trật tự an ninh Nhiệm vụ cụ thể của Viện công tố là:Điều tra và truy tố trước Toà án những kẻ phạm pháp về hình sự; giám sát việcchấp hành luật pháp trong công tác điều tra của Cơ quan điều tra; giám sát việcchấp hành luật pháp trong việc xét xử của các Toà án; giám sát việc chấp hànhluật pháp trong việc thi hành các bản án về hình sự, dân sự và trong hoạt độngcủa cơ quan giam giữ cải tạo; khởi tố và tham gia tố tụng trong những vụ án dân

sự quan trọng có liên quan đến lọi ích của Nhà nước và của công dân Tổ chứccủa Viện công tố gồm: Viện công tố Trung ương; Viện công tố địa phương cáccấp (cấp tỉnh và cấp huyện); Viện công tố quân sự các cấp

Từ năm 1960, trên cơ sở Hiến pháp 1959, Viện kiểm sát nhân dân rađời Theo đó, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 có hiệu lực đãquy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân.Lần đầu tiên trong lịch sử Bộ máy nhà nước ta, Viện kiểm sát được quy địnhthành một cơ quan phù hợp với Hiến pháp Luật tổ chức Viện kiểm sát nhândân năm 1960 gồm 6 chương, 25 điều, đã cụ thể hoá các quy định của Hiến

Trang 37

pháp về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhândân Theo đó, ngoài chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, Viện kiểmsát nhân dân còn có các nhiệm vụ và quyền hạn sau: Điều tra những việcphạm pháp về hình sự và truy tố trước Toà án nhân dân những người phạmpháp về hình sự

Tháng 2/1967, tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Kiểm sát , đổng chíTrường Chinh, uỷ viên Bộ Chính tri,̣Chủ tịch uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã

nói: “Không có cơ quan nhà nước nào thay thế ngành Kiểm sát để sử dụng

quyền công tố Bắt, giam, điều tra, truy tố, xét xử có đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, có đúng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước hay không, điều đó chính Viện kiểm sát phải trông nom, bảo đảm làm tốt” Cho đến

nay, kết luận này vẫn là định hướng quan trọng cho hoạt động kiểm sát

Hiến pháp năm 1980 ra đời, nước ta được đổi tên thành Nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt nam Lần đầu tiên Hiến pháp quy định thực hành quyềncông tố là chức năng của Viện kiểm sát nhân dân Đây là một sự kiện pháp lýquan trọng để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng của mình Điều

138 Hiến pháp quy định:

Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ và cơ quan khác thuộc Hộiđồng Bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn

vị vũ trang nhân dân, các nhân viên Nhà nước và công dân, thực hành quyềncông tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sựkiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vitrách nhiệm của mình [31, Điều 138]

Theo quy định của Hiến pháp năm 1980 thì Viện kiểm sát nhân dân vừakiểm sát việc tuân theo pháp luật, vừa thực hành quyền công tố Đây là bước

Trang 38

phát triển mới so với Hiến pháp năm 1959 (Hiến pháp năm 1959 không quyđịnh nội dung thực hành quyền công tố).

Năm 1981, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ra đời, quy định nhiềuđiểm mới, tạo điều kiện thuận lợi để phục vụ cho các khâu công tác kiểm sát,đặt nền tảng cho Viện kiểm sát nhân dân trong việc thực hiện chức năng vàtạo cơ sở cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống Viện kiểm sát trong phạm

vi cả nước

1.3.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự từ năm 1988 đến năm

2003 về chức năng thưc ̣ hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Một bước ngoặt lịch sử trong phát triển chế định THQCT và KSĐT làBLTTHS đầu tiên của nước CHXHCN Việt Nam được Quốc hội thông quangày 28/6/1988 Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục tiến hànhcác hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tốtụng; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng và của các cơ quannhà nước, tổ chức xã hội và công dân

Về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát, Bộ luật quy định: Việnkiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố, bảo đảmviệc điều tra được khách quan, toàn diện và đầy đủ; áp dụng mọi biện pháp do

Bộ luật này quy định để mọi hành vi phạm tội đều được điều tra và xử lý kịpthời, không để lọt người phạm tội

Trong giai đoaṇ xét xử sơ thẩm vu ̣án hinhi sự , chức năng thực hànhquyền công tốcủa Viêṇ Kiểm sát đươc ̣ thểhiêṇ xuyên suốt từ viêc ̣ viện dẫntội danh và điều khoản Bộ luật hình sự đối với hành vi của bị cáo trong quyếtđịnh đưa vụ án ra xét xử, trình bày cáo trạng, tham gia viêc ̣ xét hỏi , xem xétvâṭchứng , nhân chứng Sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên toà, kiểm sát

Trang 39

viên trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phầnnội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn; nếu thấy không có căn

cứ để kết tội thì rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xửtuyên bố bị cáo không có tội BLTTHS 1988 cũng quy định K iểm sát viênViện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên toà Đối với vụ án có tính chấtnghiêm trọng, phức tạp thì hai kiểm sát viên có thể cùng tham gia phiên toà.Nếu kiểm sát viên vắng mặt hoặc bị thay đổi thì Hội đồng xét xử hoãn phiêntoà và báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp

Ngày 30/6/1990 Quốc hội thông qua BLTTHS sửa đổi, bổ sung để khắcphục những hạn chế, vướng mắc trong thực hiện BLTTHS năm 1988 Tuyvâỵ, BLTTHS sửa đổi 1990 nhìn chung chỉ tăng cường chứng năng thực hànhquyền công tốcủa Viêṇ Kiểm trát trong các giai đoaṇ điều tra (bổsung quyền

“khởi tố bị can” (điểm a, khoản 1, Điều 141) ) Chức năng thưc ̣ hành quyềncông tốcủa Viêṇ Kiểm sát trong giai đoaṇ xét xử nói chung vàxét xử sơ thẩm

vụ án hình sự nói riêng vẫn được giữ nguyên như BLTTHS năm 1988

Có thể nói thời kì này chế định THQCT của Viện Kiểm sát đã được bổsung cụ thể, chi tiết hơn Đặc biệt, các quyền của VKS gắn liền với tráchnhiệm, gắn với các hoạt động điều tra, xét xử, tạo thuận lợi hơn cho công tácgiải quyết án hình sự của VKSND Tuy nhiên, các quy định của BLTTHS về

chức năng của Viêṇ Kiểm sát trong g iai đoaṇ xét xử sơ thẩm vu ̣án hinhi sư ̣ởgiai đoaṇ này vâñ chưa phân định rành mạch những hoạt động nào của VKS

là THQCT, những hoạt động nào của VKS là KSĐT

Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992quy định: Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luậtcủa các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ thựchành quyền công tố, đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh vàthống nhất Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức và hoạt động theo nguyên

Trang 40

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung uơng khóa IX chỉ rõ: “ cần sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân theo hướng Viện kiểm sát nhân dân chỉ thực hiện quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp ” Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính tri ghi: “Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng ” [4, Mục B, Phần II].

Để thể chế những nội dung quan trọng của các Nghị quyết nêu trên vềcải cách tư pháp, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) đã điều chỉnh một bước vềchức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát Theo đó, Viện kiểm sát thôi khôngthực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hànhchính, kinh tế, xã hội; đổng thời nhấn mạnh việc tăng cường chức năng thựchành quyền công tố và ghi nhận chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp

Về mặt lý luận, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 đã có bướcphát triển tiến bộ, khẳng định rõ hai chức năng của Viện kiểm sát là thực hànhquyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Để tạo điều kiện cho Việnkiểm sát nhân dân chủ động thực hành quyền công tố ngay từ đầu, Luật mới đãquy định trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong việc tiếp nhận tín báo, tốgiác tội phạm và thực hiện việc thống kê tội phạm Công tác thực hành quyềncông tố trong các giai đoạn điều tra, xét xử đã được phân định rạch ròi và đầy đủ,

của Viêṇ Kiểm sát đối với chức năng thực hành quyền công tốtrong suốt quy

Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, Bộ luật tố tụng hình sựnăm 2003 đã thể hiện sâu sắc những tư tưởng mới về cải cách tư pháp hình sự.Đối với Viện kiểm sát, Bộ luật quy định cụ thể như sau: Viện kiểm sát thực hànhquyền công tố trong tố tụng hình sự, quyết định việc truy tố người phạm

Ngày đăng: 04/11/2020, 15:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w