Điều này thể hiệntrên các mặt sau đây: Hệ thống văn bản pháp luật quy định điều chỉnh lĩnh vực nàytuy đã có tương đối đầy đủ, nhưng tính răn đe chưa cao và chưa phù hợp với tìnhhình thực
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LƯƠNG HUY HOÀNG
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ -
QUA THỰC TIỄN TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LƯƠNG HUY HOÀNG
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ -
QUA THỰC TIỄN TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Lý luận Nhà nước và Pháp luật
Mã số: 60380101
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ
Lương Huy Hoàng
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
STT123456789
Trang 5Bảng 2.7: Thống kê số lượng nhà dân, công trình dịch vụ xăng dầu mở đường
ngang đấu nối vào quốc lộ trên địa bàn tỉnh Nghệ An 51
Bảng 2.8: Thống kê số lượng phương tiện giao đường bộ được quản lý trên địa bàntỉnh Nghệ An (giai đoạn 2011-2016) 58
Trang 6MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 6
1 1 Khái niệm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 6
1.1.1 Pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 6
1.1.2 Khaí niệm Áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 10
1.2 Đặc điểm, vai trò của áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 11
1.2.1 Đặc điểm của áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 11
1.2.2 Vai trò của áp dụng pháp luật trong xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 16
1.3 Các yếu tố tác động đến áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 19
1.3.1.Hệ thống pháp luật 19
1.3.2.Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước 20
1.3.3.Văn hóa, ý thức chấp hành pháp luật 20
1.3.4.Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ 21
Kết luận chương 1 23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TẠI NGHỆ AN 24
2.1 Khái quát về hệ thống giao thông đường bộ tại tỉnh Nghệ An 24
2.1.1 Đặc điểm vị trí địa lý và dân cư tỉnh Nghệ An 24
Trang 72.1.2 Hệ thống giao thông tỉnh Nghệ An 262.1.3 Hệ thống giao thông đường bộ tỉnh Nghệ An 282.1.4 Cơ cấu quản lý hệ thống giao thông đường bộ tỉnh Nghệ An 33
2.2 Thực trạng vi phạm pháp luật giao thông đường bộ và áp dụng pháp luật trong
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ tại tỉnh Nghệ An 362.2.1 Thưcc̣ trạng vi phạm pháp luật giao thông đường bô c̣tại tỉnh Nghệ An 36
2.2.2 Thưcc̣ trạng áp dụng pháp luật trong xử lý vi phạm hành chính về an toàn giaothông đường bô c̣tại tỉnh Nghệ An 39
2.3 Thực trạng vi phạm hành lang an toàn giao thông đường bộ và công tác xử lý viphạm hành lang ATGTĐB tại tỉnh Nghệ An 502.3.1 Thực trạng vi phạm hành lang an toàn đường bộ trên địa bàn tỉnh Nghệ An 50
2.3.2.Thưcc̣ tr ạng áp dụng pháp luật trong xử lý vi phạm hành lang an toàn giaothông đường bô c̣tại tỉnh Nghệ An 52
2.4 Đánh giá nguyên nhân vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ và công tác
LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ Ở NGHỆ AN 69
3.1 Quan điểm nâng cao hiệu quả trong hoạt động áp dụng pháp luật xử lý vi phạmhành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 69
3.1.1 Áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường
bộ phải bảo đảm trật tự, kỷ cương, tôn trọng pháp luật 69
3.1.2 Áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường
bộ phải đảm bảo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân,
do dân và vì dân 70
3.1.3 Áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường
bộ phải bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội của địa phương 71
Trang 83.2 Giải pháp chung nhằm nâng cao hiệu quả công tác áp dụng pháp luật trong xử
lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 71
3.2.1 Xây dựng và hoàn thiện pháp luật giao thông đường bộ và pháp luật trong các lĩnh vực khác có liên quan 711
3.2.2 Quán triệt quan điểm, nâng cao nhận thức về công tác xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ………. … 713
3.2.3 Đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật giao thông đường bộ……… 74
3.2.4 Xây dựng cơ sở hạ tầng và tăng cường công tác bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và hành lang an toàn đường bộ 75
3.3 Giải pháp riêng nhằm nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Nghệ An 79
3.2.1 Tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm minh, triệt để, kịp thời mọi hành vi vi phạm pháp luật giao thông đường bộ 79
3.3.2 Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 81
3.3.3 Tăng cường đầu tư trang thiết bị kỹ thuật phục vụ công tác phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm hành chính 82
3.3.4 Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cho lực lượng có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 84
Kết luận chương 3……… ………….85
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã nhận thức được mối hiểm họacủa tai nạn giao thông (TNGT) Quả thực, giao thông đường bộ (GTĐB) luôn chứađựng “nguồn nguy hiểm cao độ” hay phát sinh những rủi ro bất lợi cho xã hội như
ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, dễ xảy ra tai nạn GTĐB So với các nướctrên thế giới và khu vực, GTĐB ở nước ta luôn xảy ra tình trạng lộn xộn, mất trật tựkết cấu hạ tầng giao thông yếu kém, sự gia tăng các phương tiện GTĐB,
ý thức chấp hành pháp luật GTĐB của người tham GTĐB còn hạn chế
Tình trạng vi phạm pháp luật GTĐB xảy ra khá phổ biến, việc xử lý vi phạmpháp luật GTĐB chưa nghiêm minh, triệt để, chưa kịp thời Hơn nữa, sự phân cấpquản lý nhà nước (QLNN) trong lĩnh vực GTĐB chưa rõ ràng; thiếu chiến lược pháttriển GTĐB lâu dài, bền vững; bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức đảm nhiệmchức năng QLNN trong lĩnh vực GTĐB còn nhiều hạn chế, bất cập Đặc biệt phápluật GTĐB chưa thực sự tỏ rõ là công cụ hữu hiệu để quản lý nhà nước trong lĩnhvực GTĐB Pháp luật GTĐB nước ta chắc chắn còn phải tiếp tục hoàn thiện để theokịp những thay đổi và phát triển của GTĐB Việc áp dụng PL trong xử lý vi phạmhành chính (VPHC) trong lĩnh vực GTĐB cũng còn rất nhiều bất cập, nhất là việctriển khai thực hiện luật chưa quyết liệt, chậm phát hiện vi phạm, xử phạt chưanghiêm túc và thiếu tính răn đe Nghê c̣An làtinhh̉ có di ện tích lớn (16.489,97 km2);dân số đông (3.037.440 người); có đa dạng địa hình miền núi, trung du, đồng bằng,ven biển, là cầu nối giao thông quan trọng giữa hai miền Nam - Bắc Tính đến ngày01/7/2016, trên địa bàn toàn tỉnh có 14 tuyến Quốc lộ với chiều dài 1.646 km; 23tuyến đường tỉnh với chiều dài 487,8 km; 3.782,4 km đường huyện; 11.882,5 kmđường xã; 633,1 km đường đô thị và 372 km đường chuyên dùng Sốlươngc̣ phươngtiện giao thông cơ giới đường bộ trên điạ bàn tinhh̉ tăng nhanh trong các năm Trongnhững năm qua, tỉnh đã huy động toàn bộ sức mạnh hệ thống chính trị vào cuộc đểtriển khai và thực hiện tốt các luật của Quốc hội, nghị định của Chính phủ về đảm
Trang 10Nghị định số 46/2016/NĐ-CP Quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTĐB vàđường sắt Sau hơn 08 năm triển khai thực hiện Luật GTĐB, bước đầu đã thu đượcnhững kết quả nhất định, tình hình trật tự an toàn giao thông (TTATGT) phần nàođược cải thiện và đã hạn chế tới mức thấp nhất số vụ, số người chết do TNGT Tuynhiên, hoạt động GTĐB vẫn còn nhiều bất cập, TNGT tuy có giảm về số vụ và sốngười chết nhưng chưa bền vững, đặc biệt là tình hình vi phạm pháp luật về bảođảm TTATGT có xu hướng ngày càng tăng Nguyên nhân cơ bản là tình trạng tôntrọng pháp chế trong lĩnh vực GTĐB còn nhiều điểm hạn chế Điều này thể hiệntrên các mặt sau đây: Hệ thống văn bản pháp luật quy định điều chỉnh lĩnh vực nàytuy đã có tương đối đầy đủ, nhưng tính răn đe chưa cao và chưa phù hợp với tìnhhình thực tế nên khó triển khai thực hiện dẫn đến hiệu quả điều chỉnh của pháp luậtcòn hạn chế; cơ sở hạ tầng GTĐB trong thời gian dài chưa được quan tâm đầu tưđúng mức và tương xứng với tốc đ ộ c̣phát triển của phương ti ện giao thông cơ giớiđường bô; c̣trình độ hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật về giao thông của một sốngười khi tham gia giao thông vẫn còn thấp hoặc xem nhẹ; công tác quản lý nhànước trên lĩnh vực GTĐB chưa thật sự hiệu quả; các vi phạm xảy ra nhưng khôngđược phát hiện và ngăn chặn kịp thời Hậu quả đã dẫn đến TNGT xảy ra làm chếtngười và thiệt hại về tài sản của nhân dân.
Để góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, tìm kiếm những giải pháp nhằm thiết lập lại TTATGT, với mục tiêu bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân và
trên hết là đảm bảo tính pháp chế XHCN trong trong lĩnh vực GTĐB thìcông tác xử lývi ph ạm hành̀chinhh́trong lĩnh v ực GTĐB đóng m ột vai tròhết sức quan trọṇg,vì
vậy tác giả chọn đề tài "Áp dụng pháp luật trong xửlývi ph ạm hành chính trong linh̃vưcc̣ giao thông đường bô c̣ - qua thực tiễn tỉnh Nghệ An" làm đề tài Luận văn Thạc
sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tình hình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn trong công tác xử lý vi phạmhành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ đã được quan tâm và nghiên cứu,tiêu biểu như một số công trình cụ thể:
Trang 11Tác giả Hồ Thanh Hiền với luận văn thạc sĩ “Xử lý vi phạm hành chính tronglĩnh vực giao thông đường bộ qua thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng” bảo vệ tại KhoaLuật Đại Học Quốc Gia Hà Nội năm 2012 Trong luận văn tác giả đã nghiên cứunhững vấn đề lý luận về pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Giaothông đường bộ (GTĐB); Nghiên cứu thực trạng thực thi các quy định pháp luật về
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB tại Đà Nẵng và đề ra các giải pháphoàn thiện các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vựcGTĐB tại Đà Nẵng
Tác giả Nguyễn Quang Huy với đề tài “Thực hiện pháp luật trong lĩnh vựcđảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ (Qua thực tế tỉnh Thái Nguyên)” bảo
vệ tại Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội 2010 đã làm sáng tỏ những vấn đề lýluận của thực hiện pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật tự an toàn giao thôngđường bộ (TTATGTĐB) và gắn liền vào cuộc sống thực tiễn Luận văn đã đánh giáthực trạng thực hiện pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo TTATGTĐB trên địa bàn tỉnhThái Nguyên trong thời gian qua, làm rõ những mặt làm được, những mặt chưa làmđược và nguyên nhân của nó Đóng góp quan trọng của tác giả đó là đề xuất các giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực ATGTĐB trênđịa bàn tỉnh Thái Nguyên
Tác giả Lưu Quang Huy với đề tài “Giải pháp đảm bảo trật tự an toàn giaothông (TTATGT) đường bộ trên địa bàn tỉnh Bình Phước” đã được Hội đồng khoahọc tỉnh Bình Phước nghiệm thu và đánh giá cao, điểm thành công của đề tài thểhiện trong các giải pháp đó là nâng cao ý thức chấp hành Luật GTĐB và kỹ năngđiều khiển phương tiện giao thông; xây dựng, phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầnggiao thông đường bộ và ngành vận tải; nâng cao năng lực và hiệu quả quản lýphương tiện giao thông đường bộ
Tuy nhỉên các công trình kể trên chưa nghiên cứu về áp dụng PL trongXLVPHC trong lĩnh vực GTĐB mà chỉ mới nghiên cứu chung về xử lý VPHC tronglĩnh vực GTĐB dưới góc độ thực hiện PL; hoặc chưa nghiên cứu ADPL vềXLVPHC trên một địa bàn đặc thù như ở Nghệ An
Trang 123. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Mục đích của đề tài là nghiên cứu những vấn đề lý luận về ADPL về xử lýphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB; đánh giá thực trạng ADPL các quyđịnh pháp luật XLVPHC trong lĩnh vực GTĐB qua thực tiễn tại Nghệ An, từ đó tìm
ra những bất cập, vướng mắc ngay trong các quy định và thực tiễn áp dụng, đưa racác giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc ADPL trong xử lý VPHC trong lĩnh vựcGTĐB tại địa bàn tỉnh Nghệ An
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật xử phạt vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực GTĐB và ADPL về xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB
- Nghiên cứu thực trạng ADPL về xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB tại Nghệ An
- Đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả ADPL về xử lý VPHC trong lĩnhvực GTĐB tại Nghệ An
4. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu hướng đến việc phân tích các đối tượng liên quan như quyđịnh pháp luật, yếu tố khách quan và chủ quan về con người, cơ sở hạ tầng tác độngtrực tiếp đến công tác áp dụng pháp luật trong xử lý vi phạm pháp luật GTĐB ởNghệ An
5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thu gọn trong phạm vi tỉnh Nghệ An nhằm làm rõ các yếu
tố đăc thù của địa phương từ đó đề ra các quan điểm cụ thể áp dụng pháp luật xử lý
vi phạm hành chính gio thông đường bộ trong phạm vi địa phương
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứngcủa chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương, chínhsách của Đảng và Nhà nước về ADPL xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB
Trang 13Ngoài ra, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phươngpháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử, phương phápthống kê xã hội học, các phương pháp xã hội học pháp luật
7. Những đóng góp chủ yếu về mặt khoa học của luận văn
Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu về ADPL trong xử phạt VPHCtrong lĩnh vực GTĐB tại Nghệ An, đã tập hợp lại những nghiên cứu tương đối sâu
về hệ thống về lý luận ADPL xử lý VPHC; phân tích khá toàn diện thực trạng ápdụng các quy định pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB tại Nghệ An;đồng thời, luận văn đã đề xuất những giải pháp cơ bản có tính khả thi góp phầnnâng cao hiệu quả ADPL xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB trên địa bàn tỉnh Nghệ
An trong thời gian tới
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về áÁp dụng pháp luật về xử lý vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực giao thông đường bộ
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính tronglĩnh vực giao thông đường bộ tại Nghệ An
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
1 1 Khái niệm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và áp dụng pháp luật về
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
1.1.1 Pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
Pháp luật là hệ thống những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thứa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của Nhà nước và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong xã hội.
* Khái niệm về vi phạm hành chính:
Theo khoản 1, Điều 2, Luật Xử lý VPHC thì “Vi phạm hành chính là hành vi
có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhànước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt viphạm hành chính.”
VPHC trong lĩnh vực GTĐB là một dạng của vi phạm pháp luật Do đó,những vi phạm này cũng có các yếu tố cấu thành pháp lý gồm: mặt khách quan, mặtchủ quan, chủ thể và khách thể Mặt khách quan của VPHC trong lĩnh vực GTĐB làtổng hợp các dấu hiệu bên ngoài, bao gồm: hành vi trái pháp luật, tính nguy hiểmcho xã hội, hậu quả và mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả, các dấu hiệu khác nhưcông cụ, phương tiện, thời gian, địa điểm vi phạm Mặt chủ quan của vi phạm là dấuhiệu bên trong của VPHC và thể hiện ở yếu tố lỗi của người vi phạm, bao gồm lỗi
cố ý và vô ý Ngoài ra, yếu tố động cơ, mục đích vi phạm cũng được tính đến khixem xét để quyết định các hình thức và mức xử phạt cụ thể Chủ thể thực hiện hành
vi VPHC là cá nhân, tổ chức có năng lực chịu trách nhiệm hành chính theo quy địnhcủa pháp luật hành chính Dấu hiệu khách thể để nhận biết về VPHC trong GTĐB làhành vi vi phạm đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vựcGTĐB, bao gồm: Các hành vi vi phạm quy tắc GTĐB, các hành vi vi phạm quyđịnh về kết cấu hạ tầng GTĐB, các hành vi vi phạm quy định về phương tiện tham
Trang 15gia GTĐB, các hành vi vi phạm quy định về người điều khiển phương tiện tham giaGĐB, các hành vi vi phạm quy định về vận tải đường bộ, các hành vi vi phạm khácliên quan đến GTĐB.
* Khái niệm về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB:
Xử lý vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân vi phạm pháp luật
về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm Cụ thể ở đây là viphạm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong lĩnh vực GTĐB
Các đặc điểm của pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB bao gồm:-Về hình thức: Pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB được thể hiệndưới dạng các văn bản pháp luật, bao gồm Luật Xử lý VPHC năm 2012, LuậtGTĐB năm 2008 và Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 về xử phạtVPHC trong lĩnh vực GTĐB và đường sắt
-Về nội dung: Pháp luật XLVPHC trong GTĐB đề cập đến những nội dung
cơ bản như sau:
+ Các nguyên tắc XLVPHC trong GTĐB: Xử phạt VPHC trong lĩnh vựcGTĐB phải tuân thủ theo các nguyên tắc sau: Chỉ bị xử phạt VPHC khi có hành viVPHC do pháp luật quy định; mọi hành vi VPHC trong lĩnh vực GTĐB phải được
xử phạt kịp thời, nhanh chóng, triệt để;một hành vi VPHC chỉ bị xử phạt hành chínhmột lần; mọi hoạt động xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTĐB phải đảm bảo côngminh; chỉ người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật mới được ra quyết định
xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTĐB
+ Hình thức xử phạt: Theo Nghị định số 46/2016/NĐ-CP hình thức xử phạtVPHC bao gồm hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung Với mỗihành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB, cá nhân, tổ chức phải chịu mộttrong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo và phạt tiền Phạt tiền là việc tước bỏcủa cá nhân, tổ chức vi phạm một khoản tiền nhất định để sung quỹ nhà nước Sovới hình thức phạt tiền, cảnh cáo là hình thức xử phạt nhẹ hơn, mang tính chất giáodục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật nhưng vẫn mang tính cưỡng chế nhà nước,gây cho người bị xử phạt những tổn thất nhất định về mặt tinh thần Ngoài hình
Trang 16thức xử phạt chính nêu trên tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức viphạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sauđây: Tước quyền sử d ụng giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức vềphápluâṭGTĐB có th ời haṇ hoặc không thời haṇ; tịch thu tang vật, phương tiện được sửdụng để vi phạm hành chính.
+ Các biện pháp khắc phục hậu quả: Các biện pháp khắc phục hậu quả trong
xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTĐB mang tính chất cưỡng chế nhà nước, được ápdụng nhằm khắc phục triệt để hậu quả do vi phạm gây ra, bảo đảm lợi ích chung củacộng đồng và hoạt động bình thường của xã hội Bao gồm: Buộc khôi phục laịtìnhtrạng ban đ ầu đã bi thaỵ đ ổi do vi phaṃ hành chinhh́ gây ra ho ặc buộc tháo dỡ côngtrình xây dựng trái phép; buộc thực hiêṇ các biện pháp khắc phục tình trangc̣ ô nhiễmmôi trường do VPHC gây ra; buộc đưa ra khỏi lãnh thổ ViêṭNam hoặc buộc tái xuất phương tiêṇ
+ Thẩm quyền xử phạt: Theo quy định tại Nghị định số 46/2016/NĐ-CP,những người có thẩm quyền xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTĐB bao gồm Chủ tịch
Ủy ban nhân dân các cấp; Cảnh sát giao thông; Cảnh sát trật tự, Cảnh sát phản ứngnhanh, Cảnh sát cơ động, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; TrưởngCông an cấp xã; Thanh tra giao thông vận tải, người được giao thực hiện nhiệm vụthanh tra chuyên ngành đường bộ Ngoài ra, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ củamình thì Cảng vụ hàng hải, Cảng vụ hàng không, Cảng vụ đường thủy nội địa,người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành đường sắt, hàng không,hàng hải, đường thủy nội địa; Thanh tra chuyên ngành bảo vệ môi trường, ngườiđược giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành bảo vệ môi trường có thẩmquyền xử phạt VPHC đối với các hành vi VPHC trong lĩnh vực GTĐB theo quyđịnh của pháp luật
+ Thời hiệu xử phạt: Theo quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính vàLuật GTVT là tùy trường hợp nhưng không quá một năm, kể từ ngày hành vi
VPHC được thực hiện; đối với các hành vi VPHC trong lĩnh vực GTĐB liên quan đến xây dựng, môi trường, nhà ở, đất đai thì thời hiệu xử phạt là hai năm; nếu quá
Trang 17các thời hạn nêu trên thì không xử phạt nhưng vẫn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.
+ Thủ tục xử phạt: Theo quy định tại Điều 76, Điều 77, Điều 78 Nghị định46/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định về thủ tục xử phạt VPHC trong lĩnh vựcGTĐB thì thủ tục xử phạt được quy định cụ thể như sau: (1) Trong trường hợp chủphương tiện vi phạm có mặt tại nơi xảy ra vi phạm, thì người có thẩm quyền xử phạtlập biên bản VPHC và ra quyết định xử phạt hành vi VPHC theo các Điểm, Khoảntương ứng của Điều 30;(2) Trong trường hợp chủ phương tiện vi phạm không cómặt tại nơi xảy ra vi phạm, thì người có thẩm quyền xử phạt căn cứ vào hành vi viphạm để lập biên bản VPHC đối với chủ phương tiện và tiến hành xử phạt theo quyđịnh của pháp luật; (3) Đối với những hành vi vi phạm mà cùng được quy định tạicác điều khác nhau của Chương II Nghị định này, trong trường hợp đối tượng viphạm trùng nhau thì áp dụng nguyên tắc xử phạt theo quy định của Nghị định này;(4) Đối với những hành vi vi phạm quy định về tải trọng, khổ giới hạn của phươngtiện, của cầu, đường thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm hoặc đối với hành vi viphạm có mức phạt tiền lớn hơn; (5) Khi xử phạt đối với chủ phương tiện quy địnhtại Khoản 5 Điều này, thời hạn ra quyết định xử phạt có thể được kéo dài để xácminh đối tượng bị xử phạt theo quy định tại Khoản 1 Điều 66 Luật Xử lý VPHCnhưng tối đa không quá 60 ngày; (6) Người có thẩm quyền xử phạt được sử dụngcác thông tin, thông số kỹ thuật của phương tiện được ghi trong Giấy chứng nhậnkiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường ở lần kiểm định gần nhất hoặcđược lưu trữ tại cơ sở dữ liệu của cơ quan đăng kiểm phương tiện để làm căn cứ xácđịnh hành vi vi phạm đối với cá nhân, tổ chức khi thực hiện một trong các hành vi
vi phạm quy định tại Nghị định này; (7) Việc xác minh để phát hiện hành vi
vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 1, Khoản 5 Điều 30 Nghị định này chỉ đượcthực hiện thông qua công tác điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông gây hậu quả
từ mức nghiêm trọng trở lên; qua công tác đăng ký xe
Như vậy có thể nói pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong GTĐB là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận bảo đảm thực hiện
Trang 18nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực GTĐB liên quan đến quy tắc, kết cấu hạ tầng, phương tiện và quản lý nhà nước về GTĐB
1.1.2 Khái niệm Áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
Khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vựcGTĐB, Nhà nước hướng tới sử dụng các quy phạm đó để điều chỉnh các quan hệ xãhội phát sinh do VPHC trong lĩnh vực GTĐB gây nên, nhằm xử lý những đối tượng
vi phạm, giáo dục đối với những đối tượng vi phạm, duy trì trật tự quản lý trong lĩnhvực GTĐB, phục hồi những quan hệ xã hội đã bị hành vi hành chính xâm phạm.Tuy nhiên, để pháp luật thực sự đi vào cuộc sống thì ngoài những yếu tố như sự phùhợp của pháp luật với các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, trình độ phát triển của
xã hội, Nhà nước còn quan tâm đến tổ chức thực hiện pháp luật và ADPL một cáchnghiêm minh Bởi lẽ, cho dù có ban hành ra những văn bản pháp luật hoàn chỉnhđến đâu đi chăng nữa nhưng nếu các quy định của những văn bản đó không đượcthực hiện trên thực tế thì mục đích điều chỉnh pháp luật vẫn chưa đạt được
Theo Từ điển Luật học, ADPL được hiểu là “Hoạt động thực hiện pháp luậtmang tính tổ chức quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi cơ quan nhà nước cóthẩm quyền, nhà chức trách hoặc tổ chức xã hội được Nhà nước trao quyền, nhằm
cá biệt hóa quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể, đối với cá nhân, tổ chức
cụ thể” [34]
Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật của Viện Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đưa ra khái
niệm: ADPL vừa là một hình thức thực hiện pháp luật diễn ra trong hoạt
động thực hiện quyền hành pháp và thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước.
[32] Đây là hoạt động thực hiện pháp luật của cơ quan Nhà nước, được xem
như là đảm bảo đặc thù của Nhà nước cho các quy phạm pháp luật được thực hiện có hiệu quả trong đời sống xã hội Mặc dù có những cách tiếp cận khác nhau về ADPL, song các quan điểm trên đây đều cho rằng, ADPL là
Trang 19hành vi của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật đưa ra các quyết định cụ thể nhằm đưa pháp luật vào thực tiễn cuộc sống.
ADPL xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB là một hình thức ADPL, một loại hoạt động đặc thù trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhằm duy trì, bả o đảm trật tự kỷ cương,
xử lý những hành vi VPHC trong lĩnh vực GTĐB.
Từ những phân tích trên có thể định nghĩa: “ADPL xử lý VPHC trong
lĩnh vực GTĐB mang tính tổ chức, tính quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể VPHC trong lĩnh vực GTĐB”.
1.2 Đặc điểm, vai trò của áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
1.2.1 Đặc điểm của áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
- Luật Xử lý VPHC năm 2012, quy định nguyên tắc áp dụng các biện pháp
xử lý hành chính bao gồm: a) Cá nhân chỉ bị áp dụng biện pháp xử lý hành chínhnếu thuộc một trong các đối tượng theo quy định của Luật Xử lý VPHC; b) Việc ápdụng các biện pháp xử lý hành chính phải được tiến hành theo quy định của Luật
Xử lý VPHC; c) Việc quyết định thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính phảicăn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, nhân thân người vi phạm và tình tiếtgiảm nhẹ, tình tiết tăng nặng; d) Người có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý
Trang 20hành chính có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính Cá nhân bị áp dụngbiện pháp xử lý hành chính có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợppháp chứng minh mình không vi phạm hành chính.
- Luật GTĐB năm 2008, quy định quản lý hoạt động GTĐB được thực hiệnthống nhất trên cơ sở phân công, phân cấp trách nhiệm, quyền hạn cụ thể, đồng thời
có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp Bảođảm TTATGTĐB là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân Người tham giagiao thông phải có ý thức tự giác, nghiêm chỉnh chấp hành quy tắc giao thông, giữgìn an toàn cho mình và cho người khác Chủ phương tiện và người điều khiểnphương tiện phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc bảo đảm an toàn củaphương tiện tham gia GTĐB Mọi hành vi vi phạm pháp luật GTĐB phải được pháthiện, ngăn chặn kịp thời, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật
- Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 về xử phạt VPHC trong lĩnhvực GTĐB và đường sắt Nghị định này quy định về hành vi VPHC; hình thức, mức
xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi VPHC; thẩm quyền lậpbiên bản, thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh đối vớihành vi VPHC trong lĩnh vực GTĐB và đường sắt
* Về chủ thể áp dụng pháp luật:
Hoạt động xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTĐB được tiến hành bởi chủ thể
có thẩm quyền đặc thù, do tính chất, mức độ gây thiệt hại cho xã hội của hành viVPHC về GTĐB nên pháp luật chỉ quy định cho hai loại cơ quan đặc thù có thẩmquyền xử phạt, đó là cơ quan có thẩm quyền chung (Ủy ban nhân dân các cấp) và cơquan có thẩm quyền chuyên biệt, cụ thể là: Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp; Cảnhsát giao thông đường bộ; Cảnh sát trật tự, Cảnh sát phản ứng nhanh, Cảnh sát cơđộng, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng Công an cấp xã (trongmột số trường hợp); Thanh tra đường bộvà Cảnh sát trật tự, Cảnh sát phản ứngnhanh, Cảnh sát cơ động, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội
Đối với lực lượng TTGT, hoạt động ADPL xử lý VPHC trong lĩnh vựcGTĐB do thanh tra chuyên ngành GTVT, các thanh tra viên thực hiện phù hợp với
Trang 21các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thanh tra chuyên ngành, phù hợpvới thẩm quyền của mình, mỗi cơ quan thanh tra chuyên ngành, thanh tra viên chỉ đượcphép tiến hành một số hoạt động ADPL nhất định theo quy định của pháp luật.
* Về tính chất áp dụng pháp luật:
ADPL là hoạt động thực hiện pháp luật của cơ quan nhà nước, mang tínhquyền lực nhà nước Tính cưỡng chế và tính quyền lực nhà nước thể hiện ở chỗ hoạtđộng xử phạt hành chính luôn được các cơ quan nhà nước hoặc cán bộ có thẩmquyền thực hiện Chỉ có các cơ quan nhà nước hoặc cán bộ nhà nước nào được Nhànước trao thẩm quyền xử phạt VPHC và được ghi rõ trong các văn bản pháp luật cóquy định về xử phạt VPHC mới có thẩm quyền quyết định xử phạt Xử phạt VPHC
là hoạt động thực hiện pháp luật của Nhà nước trước các hành vi xâm hại quy tắcquản lý nhà nước trong lĩnh vực GTĐB Biểu hiện của phản ứng đó là việc áp dụngcác biện pháp xử phạt VPHC Việc áp dụng các biện pháp xử phạt này có tác dụngtrực tiếp điều chỉnh hành vi xử sự của chủ thể vi phạm; tức là buộc họ phải gánhchịu những hậu quả bất lợi trước Nhà nước và có tác dụng đình chỉ VPHC qua đó
mà bảo vệ và duy trì trật tự quản lý nhà nước
Trong quá trình ADPL, chủ thể có thẩm quyền áp dụng có thể nhân danhquyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực hành chính nhà nước để ban hành ra nhữngmệnh lệnh, quyết định có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện đối với các
tổ chức và cá nhân có liên quan Các mệnh lệnh, quyết định này luôn thể hiện ý chíđơn phương của chủ thể có thẩm quyền áp dụng mà không phụ thuộc vào ý chí củachủ thể là đối tượng áp dụng Về nguyên tắc, ADPL mang tính quyền lực nhà nước,nên một khi văn bản ADPL đã được ban hành là có tính bắt buộc đối với chủ thể bị
áp dụng và các chủ thể có liên quan Khi cần thiết, cơ quan hành chính nhà nướchay nhà chức trách có thẩm quyền có thể cưỡng chế thi hành quyết định khi quyếtđịnh đó phát sinh hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, ý chí đơn phươngcủa chủ thể có thẩm quyền không thể là ý chí cá nhân, tuỳ tiện của người áp dụng
mà phải là ý chí được xây dựng trên cơ sở pháp luật, căn cứ vào pháp luật và phùhợp với pháp luật.[31]
Trang 22* Về thời gian áp dụng pháp luật:
Hoạt động xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTĐB thường diễn ra nhanh chóng,ngay khi có hành vi vi phạm và trình tự, thủ tục áp dụng cũng tương đối gọn nhẹ
Do xuất phát từ thực tế công việc, thường khi xảy ra trường hợp VPHC thuộc thẩmquyền xử phạt, lực lượng chức năng sẽ xem xét, đánh giá, phân tích các khía cạnhcủa vụ việc để đưa ra cách giải quyết phù hợp Đối với những trường hợp tiến hànhthanh tra theo đoàn, việc ADPL trong hoạt động này có thể kéo dài hơn, tuy nhiên,nếu so sánh với các lĩnh vực khác như văn hóa, điện lực, trật tự đô thị thì hoạtđộng này diễn ra tương đối nhanh chóng
Hoạt động xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTĐB thường gắn liền với hành viVPHC cụ thể, mang tính trực tiếp; là những hành vi phương hại đến kết cấu hạ tầnggiao thông, hành vi gây nguy hại cho chính chủ thể vi phạm và những người thamgia giao thông Nó đòi hỏi phải nhanh chóng kịp thời và chính xác, nếu không đượcphòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời sẽ dễ dẫn đến hậu quả là tai nạn và tai nạnnghiêm trọng
* Về phương pháp áp dụng pháp luật:
Hoạt động ADPL xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB của cơ quan hành chínhnhà nước có thẩm quyền phải chủ động, linh hoạt, sáng tạo Khi ADPL để giải quyếtnhững vụ việc phức tạp, đòi hỏi chủ thể ADPL phải có khả năng nhận định, đánh giá
và phân tích đúng nội dung, bản chất vụ việc Từ đó, các chủ thể ADPL đối chiếu,
so sánh lựa chọn loại quy phạm pháp luật nào làm căn cứ pháp lý ra quyết địnhhành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính
Trong thực tiễn, quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực thanh trachuyên ngành giao thông vận tải cũng rất rộng rãi với nhiều quan hệ pháp luật khácnhau và tư cách chủ thể pháp luật cũng khác nhau Trong khi đó hệ thống pháp luậtchưa đồng bộ, hoàn thiện, những quan hệ xã hội luôn vận động, biến đổi và pháttriển Do đó, trong những tình huống pháp lý cụ thể mà pháp luật chưa quy địnhhoặc quy định chưa rõ ràng hay quy định chồng chéo thì chủ thể ADPL phải biếtdựa vào khả năng tư duy và trình độ am hiểu pháp luật để vận dụng một cách linh
Trang 23hoạt, sáng tạo trong việc ADPL Sao cho vừa bảo vệ được lợi ích của Nhà nước, của
xã hội; vừa bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân một cách phùhợp nhưng không được trái các quy định của pháp luật Đây là một yêu cầu khó nên
để đảm bảo tính phù hợp và tránh sự lạm dụng, đòi hỏi chủ thể ADPL phải hết sứccân nhắc, có bản lĩnh và kiến thức pháp luật nhất định để thực hiện tốt chức năngquản lý hành chính nhà nước
* Về quy trình, thủ tục:
Hoạt động xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTĐB được tiến hành trong khuôn khổ pháp luật và phải tuân theo pháp luật về trình tự, thủ tục hành chính Tất cả các cơ quan nhà nước, cán bộ có thẩm quyền xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTĐB khi thực hiện các hành vi xử phạt đều phải tuân theo trình tự, thủ tục hành chính do pháp luật quy định.
Giai đoạn đầu tiên: Phân tích, đánh giá các điều kiện hoàn cảnh, tình tiết thựctếkhách quan của vụ việc
Khi ADPL các cơ quan có thẩm quyền cần xem xét toàn bộ các tình tiết của
sự việc, phân tích, chứng minh những sự kiện có liên quan Đối với các trường hợppháp luật yêu cầu, cần phải sử dụng những biện pháp chuyên môn để xác định độtin cậy của các sự kiện Khi điều tra xem xét cần đảm bảo sự công bằng cho các cánhân có liên quan đến vụ việc Khi xem xét các tình tiết thực tế của vụ việc đòi hỏiphải làm rõ tính chất pháp lý của nó Không thể ADPL đối với những vụ việc không
có đặc trưng pháp lý Do đó, ở giai đoạn này đòi hỏi không chỉ xác định những tìnhtiết, sự kiện của vụ việc mà còn phải đánh giá tầm quan trọng về mặt pháp lý của
nó Đây là giai đoạn đầu của quá trình ADPL, yêu cầu người có thẩm quyền ADPLphải nghiên cứu khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả các tình tiết của vụ việc; xácđịnh đặc trưng pháp lý của vụ việc; tuân thủ tất cả các quy định mang tính thủ tụcgắn với mỗi loại vụ việc
Giai đoạn thứ hai: Lựa chọn quy định pháp luật tương ứng để giải quyết vụ việc.Trên cơ sở làm tốt các công việc của giai đoạn 1 nói trên, cần tìm kiếm các
quy phạm pháp luật tương ứng đem ra áp dụng Đầu tiên là, phải xác định vụ việc
Trang 24này do ngành luật nào điều chỉnh, sau đó lựa chọn quy phạm pháp luật cụ thể thíchứng với vụ việc Khi lựa chọn quy phạm pháp luật phải tính đến những thay đổi củapháp luật Quy phạm được lựa chọn phải là quy phạm đang có hiệu lực Như vậy,giai đoạn 2 của quá trình áp dụng pháp luật yêu cầu phải lựa chọn đúng đắn quyphạm pháp luật được đưa ra áp dụng; xác định quy phạm được lựa chọn là đang cóhiệu lực và không mâu thuẫn với các đạo luật và văn bản quy phạm pháp luật khác;xác định hiệu lực theo thời gian của văn bản quy phạm pháp luật đem ra áp dụng.
Giai đoạn thứ ba: Làm sáng tỏ tư tưởng và nội dung của quy phạm pháp luậtđưa ra áp dụng
Làm sáng tỏ tư tưởng và nội dung quy phạm pháp luật được lựa chọn có mụcđích bảo đảm áp dụng đúng đắn pháp luật Đó là quá trình vận dụng tổng hợp các trithức chính trị, kinh tế xã hội, đặc biệt là các tri thức pháp lý
Giai đoạn bốn: Ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính và thực hiện cácbiện pháp đảm bảo thi hành
Căn cứ các giai đoạn đã nêu, người có thẩm quyền xem xé các yếu tố và raquyêt định xử lý vi phạm hành chính đồng thời đảm bảo các yếu tố nhằm đảm bảocác yếu tố thực hiện việc thực hiện Quyết định hành chính
1.2.2 Vai trò của áp dụng pháp luật trong xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
* Thông qua áp dụng pháp luật có thể phát hiện những “lỗ hổng” pháp luật
về giao thông đường bộ để góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật:
Để hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực GTĐB có hiệu quả, thì việcADPL xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB phải đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý vàphù hợp với nội dung, mục đích của pháp luật Trong quá trình thực hiện nhiệm vụđược giao, các cơ quan có thẩm quyền đã áp dụng các văn bản pháp luật của Nhànước để xử lý những hành vi VPHC trong các lĩnh vực GTĐB Tuy nhiên, thực tếhiện nay hệ thống văn bản pháp luật xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB có nhiều nộidung không còn phù hợp, các chế tài xử phạt không được tổ chức, cá nhân vi phạmthực hiện đầy đủ Để có cơ sở đánh giá, xác định mức độ hoàn thiện của pháp luật
Trang 25về GTĐB, cần phải dựa vào những tiêu chí xác định về mặt lý thuyết để từ đó đốichiếu với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của từng giai đoạn cụ thể, xem xét một cáchkhách quan nhằm rút ra những kết luận, làm rõ những ưu điểm cũng như nhữngvướng mắc, bất cập của pháp luật về GTĐB góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luậtđáp ứng yêu cầu công tác quản lý nhà nước về GTĐB trong nền kinh tế thị trường ởnước ta.
* Áp dụng pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thôngđường bộ là phương tiện tăng cường trật tự kỷ cương, hình thành trật tự pháp luậttrong lĩnh vực giao thông vận tải nhằm tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi choviệc phát triển về giao thông vận tải của đất nước:
Với tư cách là một yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, ADPL có vai tròquan trọng trong việc đảm bảo sự ổn định và phát triển xã hội ADPL xử lý VPHCtrong lĩnh vực GTĐB là việc áp dụng tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nướcban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý hànhchính về GTĐB, bao gồm các hình thức xử phạt vi phạm và một số biện pháp xử lýhành chính khác trong lĩnh vực GTĐB Như vậy, Nhà nước sử dụng pháp luật xử lýVPHC trong lĩnh vực GTĐB như một phương tiện để thực hiện quyền lực của mìnhtrong quản lý, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động của các đối tượng tham gia giaothông, tham gia hoạt động, sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực GTĐB Nhờ có sựquy định chặt chẽ của pháp luật xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB mà các đốitượng tham gia hoạt động trong lĩnh vực GTĐB phải thực hiện một cách nghiêm túcđường lối, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước; đảm bảo thực hiện tốtcải cách hành chính nhà nước, giảm phiền hà, tiêu cực trong hoạt động GTĐB, đảmbảo TTATXH, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước và hội nhập kinh tế quốc tế
* Áp dụng pháp luật trong xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giaothông đường bộ đảm bảo phát triển bền vững kinh tế - xã hội:
Có thể nhận định rằng phát triển GTĐB và phát triển kinh tế - xã hội là haiquá trình có liên quan chặt chẽ với nhau, là điều kiện và tiền đề cho nhau Xây dựng
Trang 26một mạng lưới GTĐB hoàn thiện chính là tiền đề, điều kiện cho sự phân bố hợp lýlực lượng sản xuất trên từng địa phương, vùng, miền hay các làng nghề, là sự kếtnối giao thương giữa nhân dân các địa phương, và là điều kiện tiên quyết cho sựphát triển của các vùng kinh tế, đặc biệt là đối với một số địa phương ở các huyệnmiền núi.Hiện nay, với nền KT - XH ngày càng phát triển thì vận tải, giao thươnggiữa các vùng, miền, các dân tộc càng gia tăng Do đó, GTVT luôn phát triển là mộtquy luật tất yếu Tốc độ phát triển KT - XH và phát triển GTĐB phải tỷ lệ thuận vớinhau Để GTĐB là động lực, là mũi nhọn cho sự phát triển KT - XH thì phải khôngngừng tăng cường sự quản lý của nhà nước trong lĩnh vực GTĐB, và pháp luậtGTĐB phải là một công cụ trong quản lý nhà nước, trong đó quy định các chế tài xửphạt vi phạm sẽ là cần thiết cho sự phát triển về GTĐB Đồng thời pháp luật GTĐBcần được các cơ quan, đơn vị, ngành triển khai kịp thời, nhanh chóng đến các chủthể khác trong xã hội.
* Áp dụng pháp luật trong xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giaothông đường bộ có tác dụng bảo đảm trật tự an toàn xã hội:
Sử dụng pháp luật GTĐB làm công cụ để thực hiện tác động quản lý lên cáckhách thể, các chủ thể có thẩm quyền trong lĩnh vực GTĐB hướng tới mục tiêu làđảm bảo cho hoạt động GTĐB được trật tự, an toàn, nhanh chóng, tiện lợi, thôngsuốt và bảo vệ môi trường Do vậy, hoạt động tuần tra kiểm soát, thanh tra, kiểm traphát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm pháp luật GTĐB của các lực lượng chứcnăng, các cấp chính quyền phải kịp thời để hạn chế thấp nhất vi phạm, chống được
ùn tắc, kiềm chế TNGT đường bộ, ngăn ngừa thiệt hại do TNGT đường bộ gây ra,đảm bảo TTATGT đường bộ và an toàn xã hội Trật tự an toàn xã hội đảm bảo vữngchắc là cơ sở, điều kiện để giữ TTATGT đường bộ, củng cố phát huy tính pháp chế
xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực GTĐB
* Áp dụng pháp luật trong xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giaothông đường bộ góp phần bảo đảm an ninh quốc phòng:
Sự phát triển về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của mỗi địa phương, tỉnh,thành phố là tiền đề cho việc đảm bảo an ninh quốc phòng Bởi lẽ một hệ thống
Trang 27đường bộ thông suốt, an toàn, trật tự, thuận lợi là mục tiêu nhà nước, đồng thời nócũng là một cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng cho an ninh, quốc phòng GTĐB nốiliền các vùng, miền, các địa phương sẽ giảm bớt chênh lệch về kinh tế, văn hóa xãhội, trình độ giữa các vùng miền, tăng cường giao lưu, đoàn kết giữa các dân tộc,tôn giáo, cộng đồng dân cư, góp phần ổn định chính trị GTĐB đảm bảo cung cấphậu cầu, tăng tính cơ động cho các lực lượng an ninh quốc phòng làm nhiệm vụ giữgìn và bảo vệ chủ quyền, trọn vẹn lãnh thổ, phòng chống mọi hành vi xâm phạm anninh quốc gia, bảo vệ thành quả cách mạng.
1.3 Các yếu tố tác động đến áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
1.3.1 Hệ thống pháp luật
Điều 8 Hiến pháp năm 2013 quy định: Nhà nước được tổ chức và hoạt độngtheo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiệnnguyên tắc tập trung dân chủ Như vậy, pháp luật về xử phạt VPHC là công cụ quantrọng để Nhà nước, xã hội đấu tranh phòng ngừa và chống VPHC, góp phần giữvững an ninh, TTATXH, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của
cá nhân, tổ chức, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu lực quản lýcủa Nhà nước Để thực hiện được mục đích đó, có nhiều yếu tố chi phối, nhưng yếu
tố chất lượng pháp luật về xử phạt VPHC là yếu tố đầu tiên, quan trọng nhất, tạp cơ
sở pháp lý cho toàn bộ quá trình xử phạt VPHC, trong đó có lĩnh vực GTĐB Phápchế vừa là mục đích, vừa là yêu cầu của việc xây dựng và thực hiện pháp luật, theo
đó, đòi hỏi cần sự hiện diện đầy đủ của một hệ thống các quy phạm pháp luật cóchất lượng tốt, và quá trình thực hiện nghiêm minh Một hệ thống pháp luật xử phạtVPHC có chất lượng tốt là cơ sở cho quá trình ADPL xử lý VPHC đạt hiệu lực, hiệuquả trong thực tế
Hiện nay hệ thống pháp luật về GTVT, đặc biệt là pháp luật về xử phạtVPHC trong lĩnh vực này tương đối đầy đủ như: Luật GTĐB, Luật Xử lý VPHC,các Nghị định, các Thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành về xử phạtVPHC về TTATGT đường bộ Song, để tăng cường hiệu quả của xử phạt VPHC
Trang 28góp phần đảm bảo TTATGT nhằm thực hiện mục tiêu kiềm chế và tiến tới giảm tainạn giao thông, ùn tắc giao thông; đồng thời tăng cường hiệu lực quản lý nhà nướctrong lĩnh vực GTĐB thì trong quá trình thực hiện cần có sự điều chỉnh một số nộidung cho phù hợp với diễn biến và xu hướng phát triển KT - XH và thực trạngVPHC trong lĩnh vực GTĐB.
1.3.2 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước
Thực tế chứng tỏ rằng, có một hệ thống pháp luật toàn diện, đầy đủ và chấtlượng cao là vô cùng cần thiết, nhưng nếu các quy phạm này không được thực hiệntốt trong đời sống thì chúng cũng chỉ là pháp luật trên giấy, chứ chưa phải là phápluật trong đời sống Quá trình thực hiện pháp luật là quá trình các cơ quan nhà nước
tổ chức để các thực thể trong xã hội thực hiện các quy tắc xử sự mà pháp luật yêucầu Tại đây, các quy phạm pháp luật được sự tương tác và đảm bảo bằng các nănglực của nhà nước, biến thành yếu tố vật chất tác động vào thực tế đời sống nhằmhướng các hành vi của xã hội theo yêu cầu mà pháp luật đã đề ra
Để việc tổ chức thực hiện pháp luật hiệu quả thì việc hoàn thiện cơ cấu tổchức, bộ máy của các cơ quan được nhà nước giao thẩm quyền xử lý VPHC tronglĩnh vực GTVT nói chung và GTĐB nói riêng là vấn đề có ý nghĩa quan trọng Các
cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực GTVT là chủ thể có thẩm quyền xử phạtVPHC trong lĩnh vực GTĐB Vì vậy, hiệu quả của hoạt động xử lý VPHC trong lĩnhvực GTĐB phụ thuộc rất lớn vào năng lực, trình độ của cán bộ và cơ quan quản lýnhà nước được giao nhiệm vụ xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB
1.3.3 Văn hóa, ý thức chấp hành pháp luật
Ý thức pháp luật là một trong những bộ phận cấu thành của đời sống phápluật bên cạnh lĩnh vực xây dựng và thực hiện pháp luật Không có một hoạt độngnào của con người lại có thể thực hiện ngoài ý thức con người Không có quyết địnhvăn bản pháp luật nào, không có một quan hệ pháp luật nào có thể thực hiện ngoàitâm lý pháp luật và tư tưởng, quan niệm của con người Sự tồn tại và vận động củapháp luật trong xã hội nói chung liên quan chặt chẽ với tư tưởng pháp luật, tâm lýpháp luật, trong đó có xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTĐB
Trang 29Trong lĩnh vực này, ý thức pháp luật của cán bộ, công chức - người tổ chứcthực hiện pháp luật và nhân dân - người thực thi pháp luật là một yếu tố có ý nghĩarất lớn ảnh hưởng tới tình trạng tuân thủ pháp luật Pháp luật chỉ có thể được chấphành nghiêm chỉnh và chính xác nếu như mọi người dân, trong đó có cán bộ, côngchức hiểu và tôn trọng pháp luật Hiểu biết pháp luật là tiền đề cho việc tôn trọng vàthực thi đúng pháp luật[37] Thực tế trong thời gian qua, trong bối cảnh của nềnkinh tế thị trường, có nhiều tổ chức, cá nhân, mặc dù hiểu biết về pháp luật nhưnglại cố tình vi phạm pháp luật hoặc tìm cách để “lách luật” vì mục đích vụ lợi Nguyhiểm hơn nữa nếu tình trạng vi phạm pháp luật này xảy ra trong đội ngũ cán bộ,công chức - người tổ chức thực hiện pháp luật Khi ấy, pháp luật sẽ bị lợi dụng,quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội và công dân sẽ bị ảnh hưởng, gâynên mất trật tự và suy giảm tính nghiêm minh trong quản lý nhà nước Từ đây,những tiêu cực khác sẽ có thể phát sinh như thái độ coi thường Nhà nước, coithường pháp luật của người dân.
Để việc xử phạt VPHC trong lĩnh vực GTĐB đảm bảo nguyên tắc pháp chế
và mục đích giáo dục với người dân, công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật nóichung và pháp luật về GTĐB nói riêng cần được quan tâm Việc nâng cao ý thứcpháp luật cho cán bộ công chức là công tác sâu bền và mang tính tổng thể để phòng
và chống những vi phạm pháp luật
1.3.4 Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
Cơ sở hạ tầng GTĐB là khâu quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ hoạtđộng GTVT nói chung và công tác quản lý nhà nước về GTVT cũng như việcADPL xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB Trong những năm qua, thực hiện chínhsách đổi mới của Đảng và Nhà nước, thực hiện các quy định pháp luật về kết cấu hạtầng giao thông, cơ sở hạ tầng GTĐB đã được tập trung đầu tư mạnh mẽ Hiện nay,
hạ tầng GTĐB ở nước ta đã tương đối đồng bộ, bao gồm hệ thống đường quốc lộ,tỉnh lộ, huyện lộ và đường liên xã, liên thôn; hệ thống đường cao tốc; hệ thốngđường đô thị; hệ thống cầu, hầm đường bộ; hệ thống các bến phà giao thông nộithủy Đây chính là cơ sở để hoạt động GTĐB phát triển, đảm bảo trật tự, an toàn,
Trang 30góp phần tác động tích cực đến hiệu quả quản lý nhà nước trên lĩnh vực GTĐB nóichung và công tác xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB nói riêng.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển KT - XH và xu hướng hội nhập, giao lưukinh tế quốc tế thì hệ thống cơ sở hạ tầng GTVT nói chung và GTĐB nói riêng đã
và đang bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập Đó là tình trạng xuống cấp trầm trọng củanhiều tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ và đường liên xã, liên thôn; còn nhiềutuyến đường chưa đảm bảo tiểu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn giữa cầu và đường chưađồng bộ; việc kết nối các tuyến đường bộ còn nhiều bất cập; hệ thống đường cao tốcchưa được kết nối đồng bộ; hành lang bảo vệ ATGT chưa đảm bảo đúng tiêuchuẩn Những hạn chế, bất cập trên là một trong những nguyên nhân khiến chohoạt động GTĐB còn gặp ách tắc, trở ngại, làm tăng tình trạng VPHC trong lĩnhvực GTĐB, gây khó khăn cho hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước
Trang 31Kết luận chương 1
Lý luận về xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB là vấn đề phức tạp, có liênquan đến nhiều lĩnh vực và ảnh hưởng đến sự phát triển KT - XH Trên cơ sở nghiêncứu, luận văn đã phân tích, trình bày một cách có hệ thống những vấn lý luận chungnhất về ADPL xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB Trong đó, luận văn đã trình bàyđược các khái niệm pháp luật về xử lý VPHC và ADPL xử lý VPHC trong lĩnh vựcGTĐB Luận văn cũng đã phân tích đặc điểm của ADPL về xử lý VPHC trong lĩnhvực GTĐB cũng như chỉ ra được vai trò quan trọng của hoạt động này đối với hoạtđộng GTVT nói riêng và đối với nền KT - XH, an ninh, quốc phòng của đất nướcnói chung Bên cạnh đó, luận văn cũng đã phân tích tương đối khái quát các yếu tốtác động đến ADPL về xử lý VPHC trong lĩnh vực GTĐB
Từ những nghiên cứu, phân tích trên có thể thấy được qua việc Nhà nước sửdụng pháp luật để thực hiện các tác động đến các chủ thể có hành vi vi phạm phápluật GTĐB sẽ góp phần ổn định TTATXH, đảm bảo phát triển bền vững KT - XH,
an ninh, quốc phòng Đồng thời, những nghiên cứu ở chương 1 sẽ là cơ sở lý luận
để luận văn tiếp tục nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động ADPL xử lý VPHCtrong lĩnh vực GTĐB và đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng hoạtđộng này ở các phần tiếp theo
Trang 32CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG
XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ TẠI NGHỆ AN
2.1 Khái quát về hệ thống giao thông đường bộ tại tỉnh Nghệ An
2.1.1 Đặc điểm vị trí địa lý và dân cư tỉnh Nghệ An
2.1.1.1 Đặc điểm vị trí địa lý
Nghệ An là tỉnh đất rộng, người đông, có miền núi, đồng bằng ven biển Diệntích tự nhiên 1.648.729 ha (trong đó miền núi chiếm 3/4 diện tích) Là tỉnh có diệntích tự nhiên đứng thứ 1/63 tỉnh, thành phố trong cả nước (chiếm đến 5% diện tích
Nghệ An nằm trên tuyến giao lưu Bắc - Nam và đường xuyên Á Đông - Tây,cách thủ đô Hà Nội 300 km về phía Nam Theo đường 8, trung tâm tỉnh lỵ cách biêngiới Việt - Lào khoảng 80 km và cách biên giới Lào - Thái Lan gần 300 km Nghệ
An hội nhập đủ các tuyến đường giao thông: đường bộ, đường sắt, đường thuỷ,đường không, đường biển Với chiều dài biên giới 419km và 82 km bờ biển, có sânbay Vinh, cảng Cửa Lò, cơ sở hạ tầng được nâng cấp mở rộng và xây dựng mới đãtạo cho Nghệ An có nhiều thuận lợi trong giao lưu kinh tế - xã hội với cả nước, khuvực và quốc tế
2.1.1.2 Đặc điểm dân cư và nguồn lao động
Dân số tỉnh Nghệ An gần 3 triệu người Tỷ lệ dân số dưới 14 tuổi chiếm40%, từ 15 - 59 tuổi chiếm 54%, trên 60 tuổi chiếm 6% (là tỉnh có tỷ lệ dân số trẻlớn so với các tỉnh trong cả nước) Toàn tỉnh có 7 dân tộc: Kinh, Thái, H’Mông,
Trang 33Tổng số lực lượng lao động của Nghệ An trên 1,5 triệu người, trong đó có32,5% qua đào tạo và 21,2% được đào tạo nghề Sau khi nâng cấp 03 trường trungcấp nghề lên thành trường cao đẳng dạy nghề, xây dựng mới thêm 01 trường trungcấp chuyên nghiệp (trường trung cấp tư thục Kinh tế - Kỹ thuật Công nghệ ViệtAnh), 01 trường cao đẳng (cao đẳng tư thục Hoan Châu), 01 trường đại học (đại học
tư thục Vạn Xuân), đến nay toàn tỉnh có 03 trường đại học với hơn 30.000 sinhviên; 07 trường cao đẳng đào tạo nhiều lĩnh vực với quy mô đào tạo trung bình12.000 sinh viên/năm; 08 trường công nhân kỹ thuật và dạy nghề cùng với hệ thốngcác trung tâm dạy nghề ở các huyện, thành, thị hàng năm đã đào tạo cho khoảng32.000 - 35.000 lao động kỹ thuật
Đào tạo nghề của tỉnh chuyển mạnh theo định hướng gắn với nhu cầu thịtrường lao động; cung cấp lao động có tay nghề, sức khoẻ, kỷ luật, tác phong côngnghiệp, văn hoá cho thị trường trong và ngoài nước Đây là một lợi thế lớn để pháttriển kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An
2.1.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Nghệ An có 21 đơn vị hành chính (huyện, thành, thị) với 469 xã, phường, thịtrấn, trong đó miền núi có 242 xã, thị trấn chiếm 51,5% (trong tổng số xã, thị trấnmiền núi có 115 xã miền núi đặc biệt khó khăn, chiếm 47,5%)
Trong giai đoạn 5 năm 2011- 2015, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ
An cơ bản ổn định, phát triển khá Chỉ số giá tiêu dùng giảm từ 18,13% năm 2011xuống còn 0,6% năm 2015; mặt bằng lãi suất giảm khoảng 50% so với cuối năm2011; dư nợ tín dụng tăng, chất lượng tín dụng từng bước được cải thiện Kim ngạchxuất khẩu tăng khá cao, đạt bình quân 17,5%/năm Thu ngân sách tăng gần 2 lần sovới giai đoạn trước Tổng vốn đầu tư toàn xã hội gấp hơn 1,8 lần so với 5 nămtrước, đạt bình quân 31,7% GDP; vốn FDI thực hiện tăng 35,6%, vốn ODA giảingân tăng 61%; Quy hoạch phát triển được rà soát, điều chỉnh phù hợp hơn với kinh
tế thị trường; Đẩy mạnh dạy nghề, nhất là cho lao động nông thôn; tỉ lệ lao độngqua đào tạo đạt 51,6% Đầu tư xã hội cho khoa học công nghệ tăng nhanh; đầu tư từngân sách nhà nước đạt khoảng 2% tổng chi ngân sách Ứng dụng khoa học
Trang 34công nghệ trong nông nghiệp, thông tin truyền thông, y tế, giao thông, xây dựng có nhiều tiến bộ
Trong năm 2016, Nghệ An có 25/27 chỉ tiêu kinh tế - xã hội hoàn thành, nổibật nhất là toàn tỉnh đã có 149 xã có quyết định công nhận đạt chuẩn và 1 đơn vịcấp huyện hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới - cao hơn mức bìnhquân cả nước Tổng thu ngân sách nhà nước vượt dự toán, ước đạt hơn 10.300 tỷđồng Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực: nông lâm ngư nghiệp chiếm 26,3%;công nghiệp, xây dựng chiếm 32,3% và dịch vụ chiếm 41,4% Kim ngạch xuất khẩuđạt 855 triệu USD GRDP bình quân đầu người (theo phương pháp tính mới) đạt28,54 triệu đồng (quy đổi theo phương pháp tính cũ năm 2015 đạt 31,65 triệu đồng)
Cùng với đó, văn hoá, xã hội có bước phát triển, an sinh xã hội cơ bản đượcbảo đảm, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện Hoàn thành trước thời hạnnhiều Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, nhất là về giảm nghèo Tỷ lệ hộ nghèogiảm từ 14,2% năm 2010 xuống dưới 4,5% năm 2015 (tính theo chuẩn mới thì tỷ lệ
hộ nghèo giảm còn 9,5%); riêng các huyện nghèo giảm từ 58,3% xuống còn 28%
Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt 75% Tuổi thọ trung bình dân số đạt 73,3 tuổi Hoạtđộng xúc tiến và thu hút đầu tư có nhiều đổi mới, hiệu quả Chất lượng các hoạtđộng giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học… có chuyển biến rõ rệt
Tuy nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềmnăng, lợi thế Kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và một số cân đối lớn ổn định chưavững chắc Tăng trưởng GDP thấp hơn so với giai đoạn 2006 - 2011 và chưa đạt chỉtiêu đề ra Phát triển nguồn nhân lực, chất lượng giáo dục, đào tạo chưa đáp ứng yêucầu, thiếu lao động chất lượng cao Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cònnhiều mặt hạn chế, thiếu đồng bộ, chất lượng chưa cao Phát triển văn hóa, thựchiện tiến bộ, công bằng xã hội nhiều mặt còn hạn chế
2.1.2 Hệ thống giao thông tỉnh Nghệ An
Hệ thống giao thông tỉnh Nghệ An hội tụ đầy đủ các tuyến đường bộ, cảnghàng không, đường biển, đường thuỷ nội địa, đường sắt và các cửa khẩu Là đầumối giao thông quan trọng của khu vực Bắc Trung Bộ, giao thương giữa hai miềnBắc Nam cả nước cũng như trong tuyến hành lang kinh tế Đông Tây Cụ thể:
Trang 35- Đường bộ: Có 6 tuyến quốc lộ đi qua địa bàn tỉnh Trong đó, có 3 tuyến dọc
hướng Bắc Nam (QL 1A, QL 15, đường Hồ Chí Minh), 3 tuyến ngang hướng Đông Tâynối với Lào (QL7, QL46, QL48); có tuyến đường xuyên Á từ nước Lào qua cửa khẩuThanh Thủy đến cảng Cửa Lò và cảng Đông Hồi; nhiều tuyến đường giao thông quantrọng khác đã và đang được đầu tư xây dựng, cùng với hệ thống đường cấp tỉnh và cấphuyện tạo ra một mạng lưới giao thông liên hoàn nối các huyện, các vùng kinh tế trongtỉnh với nhau và tỏa ra cả nước cũng như các nước trong khu vực
- Đường biển: có Cảng Cửa Lò (cách TP Vinh 15 km) hiện tại có công suất 3triệu tấn/ năm, có thể đón tàu 10.000 DWT ra vào thuận lợi với 4 bến chính Hiệnnay, Cảng nước sâu Cửa Lò đã quy hoạch và đang được đầu tư xây dựng có thể đóntàu 50.000 DWT- 100.000 DWT, là tiềm năng lớn cho ngành vận tải biển và xuấtnhập khẩu hàng hóa của Nghệ An, cho cả khu vực Bắc Trung Bộ Ngoài ra, tỉnhđang tiếp tục xây dựng Cảng Đông Hồi (thị xã Hoàng Mai) có khả năng tiếp nhậntàu 30.000 - 50.000 DWT vào năm 2015 Hệ thống các cảng biển trên địa bàn tỉnh
đã và đang được đầu tư xây dựng như Cảng Cửa Lò, Cảng The Vissai, Cảng ĐôngHồi, cảng xăng dầu ĐKC… góp phần đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóabằng đường biển
- Đường hàng không: có Sân bay Vinh là sân bay chính của khu vực BắcTrung Bộ Hiện tại, đã có các tuyến bay từ Vinh đi TP Hồ Chí Minh (5 chuyến/ngày), Hà Nội (2 chuyến/ ngày); Vinh - Đà Nẵng - Buôn Ma Thuột (3 chuyến/tuần); Vinh - Buôn Ma Thuột - TP Hồ Chí Minh (5 chuyến tuần) Trong thời giantới, sân bay Vinh sẽ tiếp tục được nâng cấp, tăng thêm các tuyến nội địa, mở thêmmột số tuyến bay đi quốc tế
- Đường sắt: với 94 km đường sắt Bắc - Nam Trong đó, Ga Vinh là ga hạng
I, là ga hành khách và vận chuyển hàng hóa lớn thứ ba của cả nước Ngoài ra, còn
có tuyến đường sắt Cầu Giát - Thái Hòa lên các huyện miền núi phía Tây của tỉnh.Tuy nhiên, hệ thống đường sắt trên địa bàn tỉnh có nhiều đường ngang dân sinh vàcác giao cắt cùng mức, nhiều đoạn bán kính nhỏ dẫn đến bị hạn chế tốc độ chạy tàu
và có nguy cơ mất an toàn giao thông
Trang 36¬- Đường thủy nội địa: Hệ thống đường thủy nội địa phân bố đều toàn tỉnh,tuy nhiên các tuyến sông trên địa bàn có độ dốc dọc lớn, nhiều bãi bồi Do vậy, vậntải chủ yếu các đoạn tuyến gần biển và tại các cửa sông nên giao thông đường thủynội địa không phải là thế mạnh.
- Cửa khẩu: Với 419 km đường biên giới trên bộ với nước CHDCND Lào(dài nhất cả nước), Nghệ An có 4 cửa khẩu đi sang Lào Trong đó, 1 cửa khẩu quốc
tế Nậm Cắn (Kỳ Sơn), 1 cửa khẩu Quốc gia Thanh Thủy (Thanh Chương) hiện đãđược quy hoạch là cửa khẩu quốc tế và 2 cửa khẩu phụ: Thông Thụ (Quế Phong) vàCao Vều (Anh Sơn) là vệ tinh và đầu mối phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu phíaTây Bắc nối liền các tỉnh từ Bắc Bộ đến các tỉnh Trung Bộ của Việt Nam với cáctỉnh Trung, Bắc Lào, Đông Bắc Thái Lan và Myanmar
2.1.3 Hệ thống giao thông đường bộ tỉnh Nghệ An
2.1.3.1 Về hệ thống các tuyến đường bộ
- Hệ thống quốc lộ: toàn tỉnh Nghệ An có 14 tuyến quốc lộ với tổng chiềudài là 1.655,95km Trong đó, 727km đường bê tông nhựa chiếm 44%, 920km
đường láng nhựa chiếm 55% và 19km đường cấp phối chiếm 1%
Thời gian qua đã được sự quan tâm của Chính phủ, Bộ GTVT, hệ thống quốc
lộ trên địa bàn tỉnh đã từng bước được đầu tư nâng cấp, mở rộng như: QL1, QL46Bđoạn tránh TP Vinh, QL15 đoạn qua khu di tích Truông Bồn, QL46 đoạn Cửa Lò đi
TP Vinh, QL48, QL48B đoạn km0-km12,… góp phần tạo điều kiện thuận lợi choviệc thông thương hàng hóa, đi lại của nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hộicủa tỉnh Bên cạnh đó do nguồn vốn khó khăn nên một số đoạn tuyến chưa hoànthành đúng tiến độ hoặc chưa được đầu tư nâng cấp như: QL7 đoạn km0-km36 (tạmdừng), QL15 đoạn Tân Kỳ đi Đô Lương và đoạn Đô Lương đi Nam Đàn, QL48C,QL48E
- Hệ thống tỉnh lộ: Có 16 tuyến với tổng chiều dài 242,82 km, Trong đó114,42km đường bê tông nhựa chiếm 47,12%; 123,04 km đường đá dăm và đá dămláng nhựa chiếm 50,67%; 5,36 km đường Bê tông xi măng chiếm 2,21% Các tuyếnđường cơ bản đáp ứng cơ bản khả năng vận chuyển và kết nối của các phương tiệnvận tải
Trang 37- Các tuyến đường huyện và đường xã có tổng chiều dài 15.664,9 km trong
đó 3.782,4km đường huyện và 11.882,5 km đường xã: Hầu hết đều được đầu tư xây
dựng đã lâu với quy mô nhỏ chủ yếu là cấp V và VI nên khả năng đáp ứng nhu cầu vậntải lớn để kết nối giữa các cụm công nghiệp với các khu công nghiệp là chưa cao
- Hệ thống các tuyến đường đô thị, đường chuyên dụng và các tuyến đườngnội bộ trong các khu kinh tế, khu công nghiệp và các cụm công nghiệp với tổngchiều dài 1.005,1 km Các tuyến đường này đã được quan tâm đầu tư, cơ bản đápứng được nhu cầu vận chuyển, hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư
2.1.3.2 Về hiện trạng các tuyến đường bộ kết nối các vùng kinh tế trọng điểm
Các vùng kinh tế trọng điểm bao gồm: (1) Thành phố Vinh thị xã Cửa Lò các huyện đông nam của tỉnh gắn với vùng Nam Nghệ - Bắc Hà (2)- vùng HoàngMai - Quỳnh Lưu gắn với vùng Nam Thanh - Bắc Nghệ (3)- miền Tây Nghệ An,trọng điểm vùng là vùng Tân Kỳ - Đô Lương - Nghĩa Đàn - Thái Hòa - Quỳ Hợp
Hiện trạng các tuyến đường kết nối vùng kinh tế trọng điểm (1) và (2): Đây
là các tuyến đường mới được đầu tư nâng cấp mở rộng, có lưu lượng tham gia giaothông lớn, hiện nay cơ bản đáp ứng nhu cầu kết nối, vận chuyển, trao đổi hàng hóagiữa các vùng kinh tế trọng điểm (1) và (2) Bao gồm:
+ Quốc lộ 1 (điểm đầu: Khe nước Lạnh, tỉnh Thanh Hóa, điểm cuối: cầu Bến
Thủy): Dài 84km, Bề rộng mặt đường 20-21 m; kết cấu mặt đường thảm bê tông nhựa
+ Tuyến tránh QL1 đoạn qua TP Vinh (điểm đầu: huyện Nghi Lộc, điểmcuối: tại cầu Bến Thủy): dài 25km, Bề rộng mặt đường 9m, kết cấu mặt đường thảm
bê tông nhựa
- Các tuyến đường kết nối vùng kinh tế trọng điểm (1) và (3): Việc kết nốivùng kinh tế trọng điểm (1) với (3) bằng đường bộ có nhiều sự lựa chọn, đặc biệt làcác tuyến đường mới được đầu tư xây dựng như QL46 đoạn tránh TP Vinh, tuyếnN5 kéo dài… tuy nhiên quy mô hiện tại của một số tuyến đường còn hạn chế, nênchưa đáp ứng được nhu vận chuyển hàng hóa với khối lượng lớn, đặc biệt là trongthời gian tới Hệ thống các tuyến đường này bao gồm:
Trang 38+ Đường Hồ Chí Minh (điểm đầu: Làng Tra Thanh Hóa; điểm cuối: PhốChâu, Hà Tĩnh): Dài 132km, Bề rộng mặt đường 7m, kết cấu mặt đường thảm bêtông nhựa.
+ Quốc lộ 7 (điểm đầu: xã Diễn Thành, Diễn Châu; điểm cuối: Cửa khẩuNậm Cắn, huyện Kỳ Sơn): Dài 227km, Bề rộng mặt đường 7m, kết cấu mặt đườngthảm bê tông nhựa Quốc lộ 7B (điểm đầu: tại xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu; điểmcuối xã Thanh Đồng, huyện Thanh Chương: Dài 45km, Bề rộng mặt đường 5,5m,kết cấu mặt đường láng nhựa
+ Quốc lộ 15 (điểm đầu: Làng Tra, Thanh Hoá; điểm cuối: xã Nam Kimhuyện Nam Đàn): dài 135km, bề rộng mặt đường đoạn qua khu di tích Truông Bồnrộng 7 m, mặt đường bê tông nhựa; các đoạn còn lại bề rộng mặt đường rộng 5,5m,kết cấu mặt đường láng nhựa
+ Quốc lộ 46 (điểm đầu thị xã Cửa Lò, điểm cuối cửa khẩu Thanh Thủy,Thanh Chương): dài 82km, đoạn từ Cửa Lò đến Vinh (km0-km11) bề rộng mặtđường 14 m, các đoạn còn lại rộng 7m; kết cấu mặt đường bê tông nhựa
+ Quốc lộ 46B (Điểm đầu tại Quán Bánh, điểm cuối tại Đô Lương), dài 33km: Đoạn tránh thành phố Vinh dài 8km, bề rộng mặt đường 9m, kết cấu mặt
đường thảm bê tông nhựa; đoạn từ thị trấn Thanh Chương đi thị trấn Đô Lương dài25km, bề rộng mặt đường rộng 5,5m; kết cấu mặt đường láng nhựa
+ Quốc lộ 48E (điểm đầu tại Lạch Cờn, điểm cuối nối với QL46 tại Cửa Lò)Đoạn đi qua địa phận các huyện như Quỳ Hợp, Tân Kỳ, Yên Thành và huyện NghiLộc: dài 150 km, bề rộng mặt đường 5,5m, kết cấu mặt đường láng nhựa
+ Đường tỉnh ĐT.533 (Điểm đầu xã Nam Sơn, huyện Đô Lương, điểm cuối
xã Nam Lộc, huyện Nam Đàn): Dài 57,5 km, bề rộng mặt đường 5,5m, kết cấu mặtđường láng nhựa
+ Đường nối từ đường N5, Khu kinh tế Đông Nam đến Hòa Sơn, Đô Lương(điểm đầu nối với đường N5 tại Nghi Lộc; điểm cuối nối QL7 tại Đô Lương): Dài28,5km, bề rộng mặt đường 11m; hiện đang triển khai đẩy nhanh tiến độ thi công phục vụ vận chuyển xi măng (đoạn trong khu kinh tế đã được đầu tư xây dựng)
Trang 39- Các tuyến đường kết nối vùng kinh tế trọng điểm (2) và (3): Thời gian qua,các tuyến đường đã từng bước được đầu tư nâng cấp, mở rộng, góp phần tạo điềukiện thuận lợi trong phát triển kinh tế xã hội và liên kết các vùng Tuy nhiên một sốtuyến do mới được nâng cấp chuyển từ đường tỉnh lên đường quốc lộ nên quy môcòn hạn chế, một số đoạn tuyến đi qua khu vực miền núi, nên việc vận chuyển, traođổi hàng hóa với khối lượng lớn giữa các vùng miền còn bị ảnh hưởng Hệ thốngnày bao gồm:
+ Quốc lộ 48 (Điểm đầu Yên Lý, điểm cuối cửa khẩu Thông Thụ): dài160km Bề rộng mặt đường: đoạn km0-km20 rộng 9m, đoạn km38-km64 rộng 7m,kết cấu mặt đường thảm bê tông nhựa; các đoạn còn lại bề rộng mặt đường 5,5m;kết cấu mặt đường láng nhựa
+ Quốc lộ 48B (điểm đầu: xã Quỳnh Thuận, huyện Quỳnh Lưu; điểm cuối xãQuỳnh Châu, huyện Quỳnh Lưu): dài 25 km, bề rộng mặt đường 5,5 m, kết cấu mặtđường đá dăm láng nhựa
+ Quốc lộ 48C (điểm đầu: Ngã ba Săng Lẻ Quỳ Hợp, điểm cuối Cửa Rào,huyện Tương Dương): dài 123km, bề rộng mặt đường 3,5m, kết cấu mặt đường lángnhựa
+ Quốc lộ 48D (điểm đầu: tại Đông Hồi, điểm cuối: ngã ba Châu Thôn,huyện Quế Phong): dài 165,2km, bề rộng mặt đường đoạn Đông Hồi đi Thái Hòarộng 9m, mặt đường bê tông nhựa; các đoạn còn lại bề rộng mặt đường 5,5m; kếtcấu mặt đường láng nhựa
+ Quốc lộ 48E (điểm đầu tại Lạch Cờn, điểm cuối nối với QL46 tại Cửa Lò)Đoạn đi qua địa phận các huyện như Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn: dài 80 km, Bề rộngmặt đường 5,5m, kết cấu mặt đường láng nhựa
- Các tuyến đường nội vùng kết nối đến các trục chính nối các vùng kinh tếtrọng điểm, bao gồm:
+ Nội vùng (1): Đại lộ Vinh đi Cửa Lò (điểm đầu giao với đường Lê Nin,điểm cuối giao với đường Bình Minh): Hiện tại đang triển khai thi công trên phía đầu tuyến và cuối tuyến Đường tỉnh ĐT.535 (điểm đầu tại Cửa Hội, điểm cuối tại
Trang 40thành phố Vinh): dài 11km, bề rộng mặt đường mặt đường 11m, kết cấu mặt đườngthảm Bê tông nhựa Đường tỉnh ĐT.536 (điểm đầu: tại Cửa Lò, điểm cuối tại NamCấm): dài 8km, bề rộng mặt đường mặt đường 9m, kết cấu mặt đường Bê tôngnhựa Đường tỉnh ĐT.542 (điểm đầu tại Cửa Hội, điểm cuối tại thị trấn Nam Đàn):dài 53,66km bề rộng mặt đường 9m, kết cấu mặt đường Bê tông nhựa Đường Vinh
đi Hưng Tây (điểm đầu nối với QL1, điểm cuối nối với QL1 tránh Vinh): dài 6,2km,hiện triển khai thi công với quy mô đường đô thị Dự kiến hoàn thành Quý III/2017.Đường nối QL46 với đường Ven Sông Lam (điểm đầu nối QL46, điểm cuối nốiđường Ven Sông Lam): dài 8km, hiện đang chuẩn bị triển khai thi công với quy mô
bề rộng mặt đường 7m, kết cấu mặt đường Bê tông nhựa Dự kiến hoàn thành QuýIII/2017
+ Nội vùng (2): Đường tỉnh ĐT.537B (điểm đầu xã Quỳnh Bá, huyện QuỳnhLưu; điểm cuối xã Quỳnh Dị huyện Quỳnh Lưu): dài 13 km, bề rộng mặt đường 3,5 m; kết cấu mặt đường láng nhựa Đường giao thông từ khu công nghiệp Hoàng Mai
2 đến NMXM Tân Thắng (Quỳnh Lưu) dài 7,3km hiện đang triển khai thi công với quy mô mặt đường rộng 9m, kết cấu mặt đường bê tông nhựa
+ Nội vùng (3): Đường tỉnh ĐT.531B (điểm đầu xã Minh Hợp huyện QuỳHợp Điểm cuối xã Minh Hợp huyện Quỳ Hợp): dài 15km, chiều rộng mặt đường3,50m, kết cấu mặt đường láng nhựa Đường tỉnh ĐT.531C (điểm đầu tại xã NghĩaXuân, huyện Quỳ Hợp; điểm cuối xã Hạ Sơn, huyện Quỳ Hợp): dài 7,5km, chiềurộng mặt đường rộng 3,50m, kết cấu mặt đường dăm láng nhựa Đường tỉnh ĐT.532(điểm đầu xã Châu Thành, huyện Quỳ Hợp Điểm cuối xã Châu Hồng, huyện QuỳHợp): dài 11km, chiều rộng mặt đường rộng 5,5-6,5m, kết cấu mặt đường dăm lángnhựa Đường vào nhà máy MDF (điểm đầu nối với QL48D, điểm cuối Nhà máyMDF dài 8 km): Chiều rộng mặt đường 7m, kết cấu mặt đường Bê tông nhựa
2.1.3.3 Đánh giá chung
Như vậy, với 528 km đường quốc lộ chạy qua địa bàn tỉnh Nghệ An (trongđó: QL1A 91km, QL46 90km, QL48 122km, QL7 225 km); 132 km đường Hồ Chí