a Tham dự và biểu quyết trong các Đại hội đồng cổ đông và thực hiệnquyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện được ủy quyền; mỗi cổphần phổ thông có một phiếu biểu quyết;b Được n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THÁI HÁN
BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ
TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Trang 2Công trình đƣợc hoàn thành tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Quang
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận văn đƣợc bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2012.
Có thể tìm hiểu luận văn
tại Trung tâm tƣ liệu - Thƣ viện Đại học Quốc gia Hà Nội Trung tâm tƣ liệu - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3MỤC LỤC CỦA LUẬN VĂN
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục
MỞ ĐẦU
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUYỀN CỦA
CỔ ĐÔNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI BẢO VỆ
CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY CỔ
PHẦN
ty cổ phần
Chương 2: CƠ CHẾ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ
TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
VÀ SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT MỘT SỐ
NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
phần hóa
Trang 42.4 Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật của Pháp
Chương 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM XÂY
DỰNG VÀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam
công ty cổ phần
KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, với sự sụp đổ của các công ty cổ phần nhưWorldcom, Enron và gần đây, do sự khủng hoảng của thị trường tài chính dẫnđến phá sản hàng loạt công ty cổ phần lớn trên thế giới như ngân hàng LehmanBrothers, tập đoàn cho vay tài chính Fannie Mae và Freddie Mac, tập đoàn sảnxuất ô tô lớn nhất của Mỹ General Motors, đã làm ảnh hưởng niềm tin của côngchúng vào mô hình công ty cổ phần cũng như thị trường tài chính Dư luận tạo ra
áp lực lớn buộc các chính phủ phải cải tổ luật pháp nhằm mục tiêu bảo vệ cóhiệu quả hơn lợi ích của cổ đông trong công ty cổ phần
Dù chưa có những bài học tầm cỡ như vậy, các vụ việc xâm phạmquyền và lợi ích của nhà đầu tư, cổ đông ở Việt Nam diễn ra một cách phổbiến cũng là điều đáng báo động Những hệ quả tức thời đối với cá nhânngười đầu tư có thể không lớn, nhưng tác động tiêu cực đến sự phát triển củathị trường chứng khoán như làm suy giảm khả năng huy động vốn cổ đông rấtđáng được nhà quản lý kinh tế cũng như các doanh nghiệp lưu tâm
Trong bối cảnh các công ty cổ phần ngày càng phát triển nhanh về sốlượng, thị trường chứng khoán đang trên đà phát triển thì vấn đề thiết lập cácthể chế và thiết chế hữu hiệu để bảo vệ tốt quyền và lợi ích của nhà đầu tưcàng trở nên cấp thiết
Vì vậy, tôi chọn đề tài "Bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ
phần ở Việt Nam" cho luận văn thạc sĩ luật học với mong muốn tiếp cận pháp
luật doanh nghiệp, luật đầu tư, cổ phần hóa, pháp luật chứng khoán… từ góc
độ bảo vệ các quyền và lợi ích của cổ đông thiểu số Trong quá trình tìm hiểucác vấn đề có liên quan, đề tài cũng đưa ra một số giải pháp nhằm tiếp tụchoàn thiện các quy định về bảo vệ cổ đông thiểu số trong pháp luật Việt Nam
Trang 62 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tiếp cận và trình bày các vấn đề chủ yếu sau:
- Các vấn đề cơ bản về công ty cổ phần, cổ đông và bảo vệ cổ đông;
- Quy định pháp luật Việt Nam nhằm bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần hiện nay;
- Cơ chế bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam;
- Bảo vệ cổ đông thiểu số theo pháp luật của một số quốc gia trênthế giới;
- Giải pháp và kiến nghị về bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam
3 Phương pháp nghiên cứu
Để tiếp cận nghiên cứu đề tài này một cách hệ thống và hiệu quả , tácgiả sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phân tích , tổng hợp, suyluận logic, so sánh đối chiếu, thống kê và dùng sự kiện để chứng minh nhậnđịnh dựa trên nền tảng tư duy của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩaduy vật lịch sử theo Chủ nghĩa khoa học Mac - Lê Nin
4 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quyền của cổ đông và sự cần thiết
phải bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần
Chương 2: Cơ chế bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở
Việt Nam và so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới
Trang 77
Trang 8Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm xây dựng và bảo vệ quyền lợi
của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUYỀN CỦA CỔ ĐÔNG
VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG
tổ tiên của công ty cổ phần hiện đại mới ra đời Đó là các công ty được chínhquyền cấp phép để độc quyền buôn bán trên một vùng lãnh thổ, điển hình làCông ty Đông Ấn của Anh (thành lập năm 1600) buôn bán ở Ấn Độ, Công tyMuscovy ở Nga và Hudson’s Bay ở Mỹ [3, tr 35] Các công ty này tiếp tụcthuộc tính trách nhiệm hữu hạn dành cho các thành viên đã được hình thành
từ thời Trung cổ, hơn nữa đã có thể bán cổ phiếu trên thị trường tự do
Giờ đây, hình thức công ty cổ phần được sử dụng rộng rãi khi khởi sựkinh doanh, từ các xí nghiệp nhỏ đến các công ty thuộc sở hữu của hàng chụcngàn cổ đông hoạt động trong những ngành nghề kinh doanh khác nhau trênkhắp các châu lục của thế giới
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của công ty cổ phần
Ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh Mỹ, có hai loại công ty là công
ty đóng và công ty mở hay công ty đại chúng Về cơ bản, loại hình công ty mởtương tự như loại hình công ty cổ phần theo luật của các nước châu Âu lục
Trang 9địa Ở Thái Lan, Xingapo, công ty cổ phần được biết đến với cái tên "Công ty trách nhiệm hữu hạn công cộng" ở Philippin là "Công ty cổ phần thường".
Dù cho tên gọi có khác nhau ở nước này nước kia, công ty cổ phần có những đặc điểm cơ bản sau:
(i)Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân độc lập;
(ii) Người góp vốn vào công ty (cổ đông) chịu trách nhiệm hữu hạn
(iii) Phần vốn góp vào công ty (cổ phần) về cơ bản được tự
do chuyểnnhượng; và
(iv) Công ty được quản lý tập trung
a) Tư cách pháp nhân độc lập
Công ty cổ phần là một thực thể có tư cách pháp nhân độc lập Ở Mỹ,pháp nhân được định nghĩa là "một thực thể, không phải con người tự nhiên,nhưng có thể hoạt động, có thể đi kiện hoặc bị kiện" Luật Việt Nam dùngcụm từ "nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập".Công ty cổ phần tách bạch khỏi những người đã góp vốn thành lập nên nó.Một khi cổ đông đã góp tài sản vào công ty, công ty trở thành chủ sở hữu đốivới tài sản, cổ đông không còn quyền sở hữu đối với tài sản đó nữa
Tư cách pháp nhân độc lập còn thể hiện ở khả năng tồn tại liên tục củacông ty không phụ thuộc vào sự chuyển nhượng vốn của cổ đông Cho nêncông ty cổ phần có thể tồn tại lâu dài, trên thế giới có nhiều công ty đã hoạtđộng hàng trăm năm nay
b) Trách nhiệm hữu hạn của cổ đông
Ý niệm "trách nhiệm hữu hạn" đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử Khi
mà những thương nhân ở Venise, ý gom tiền để kinh doanh vận chuyển hàng
Trang 109
Trang 11chuyển hàng ấy mà thôi, còn tiền để ở nhà thì không hề hấn gì Nhưng phảicần một thời gian rất dài sau đó, khái niệm trách nhiệm hữu hạn mới đượcpháp luật ghi nhận Luật cho phép những người góp vốn vào công ty cổ phầnhưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn tức cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợcủa công ty trong phạm vi số vốn đã góp Họ không phải lấy tài sản khôngđem vào kinh doanh để trả nợ Đó là cách pháp luật khuyến khích người dântham gia kinh doanh để phát triển kinh tế.
c) Tự do chuyển nhượng cổ phần
Trừ một số hạn chế luật định, cổ đông được tự do mua bán, chuyểnnhượng cổ phần của mình cho bất kỳ ai vào bất kỳ lúc nào mà không phụthuộc vào sự đồng ý của công ty Bất kỳ lúc nào cổ đông cũng có thể đẩy rủi
ro sang cho người khác mà không lo sợ tiền của mình bị "đóng băng" trongcông ty cho đến khi công ty giải thể, nhờ vậy cổ đông có thể đa dạng hóa việcđầu tư của họ
Đây là một đặc trưng riêng của công ty cổ phần Trong công ty tráchnhiệm hữu hạn, việc chuyển nhượng phần vốn góp cho người ngoài công tykhông được tự do bởi yếu tố nhân thân của các thành viên có vai trò quantrọng hơn vốn góp trong việc thành lập công ty Vì thế nếu công ty tráchnhiệm hữu hạn "đóng" với sự gia nhập của thành viên mới, thì công ty cổphần hoàn toàn "mở" luật không giới hạn số lượng tối đa cổ đông
Khả năng tự do chuyển nhượng cổ phần của cổ đông còn tạo ra mộtsức ép lành mạnh cho bộ máy quản lý, điều hành của công ty phải hoạt độnghiệu quả nếu không muốn bị thay thế
d) Quản lý tập trung và thống nhất
Nếu hàng trăm, nghìn cổ đông cùng có quyền quản lý như thành viêntrong công ty trách nhiệm hữu hạn thì quả là không có hiệu quả về mặt kinh tếcũng như không khả thi Hơn nữa, đa số cổ đông chỉ mong đợi hưởng cổ tức
Trang 12hoặc hưởng lãi vốn (từ việc bán cổ phiếu khi giá tăng) chứ ít quan tâm đếnquản lý kinh doanh và cũng không có khả năng quản lý Vì thế, các cổ đôngcần một đội ngũ chuyên nghiệp để quản lý công ty Đồng thời cũng cần có cơchế để kiểm soát hoạt động của bộ máy đó đi đúng quỹ đạo hướng đến mụctiêu tối đa hóa của cải của cổ đông và công ty.
Công ty cổ phần còn có đặc trưng riêng là có thể phát hành chứngkhoán (cổ phiếu) để huy động vốn Lịch sử hình thành và phát triển của công
ty cổ phần cho ta thấy đây là phương thức huy động vốn cao nhất của loàingười Với các đặc điểm ưu thế kể trên, công ty cổ phần đang và sẽ trở thànhloại hình doanh nghiệp phổ biến nhất trong thế giới hiện đại
1.2 KHÁI QUÁT VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
1.2.1 Khái quát về cổ đông
a) Khái niệm cổ đông, quyền cổ đông
Cổ đông là người đã góp vốn vào công ty cổ phần bằng cách mua cổphần của công ty Khi đã đưa tài sản vào công ty, quyền sở hữu tài sản của cổđông được chuyển sang cho công ty Đổi lại, họ trở thành các đồng sở hữuchủ của công ty Cổ đông có quyền lợi đối với công ty tương ứng với phầnvốn góp của mình
Hiện có một số học thuyết về quyền của cổ đông trong công ty cổphần Thuyết cổ điển cho rằng các quyền của cổ đông có cội nguồn từ khếước Một thuyết khác coi công ty cổ phần là một quốc gia thu nhỏ, do đóquyền của cổ đông có thể đem so với những quyền cơ bản của công dân màNhà nước phải đảm bảo Các quyền cơ bản gồm quyền mang tính "chính trị"(quyền quyết định những vấn đề quan trọng của công ty) và quyền mang tínhtài sản (ví dụ quyền hưởng cổ tức)
Người Mỹ lại quan niệm mối quan hệ giữa công ty và cổ đông là quan
hệ giữa "người thụ thác" và "người hưởng lợi" Quyển cổ đông xuất phát từ
Trang 13quyền thụ hưởng lợi ích từ tài sản đã ký thác vào công ty mà không cần phải nắm quyền sở hữu tài sản [3, tr 376].
b) Các loại cổ đông
Có nhiều cách phân loại cổ đông Sau đây là một số cách phân loạiphổ biến và có nhiều ý nghĩa hơn cả
* Cổ đông phổ thông, cổ đông ưu đãi
Công ty cổ phần có nhiều loại cổ phần khác nhau, mỗi loại cổ phần tạocho người sở hữu nó (cổ đông) các quyền và nghĩa vụ nhất định, kéo theo sựkhác nhau trong cơ chế bảo vệ quyền cổ đông Luật các nước trên thế giớithường phân loại cổ đông thành cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi
Cổ đông phổ thông là loại cổ đông không thể thiếu và cũng là loại phổbiến nhất trong công ty cổ phần Cổ đông phổ thông có đầy đủ các quyền cơbản của chủ sở hữu công ty như: quyền tham dự và biểu quyết tại cuộc họp cổđông, quyền nhận cổ tức, quyền chuyển nhượng cổ phần
So với cổ đông phổ thông, cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi được hưởngmột số ưu đãi (quyền hoặc lợi ích) đồng thời chịu những hạn chế nhất định vềquyền Việc ấn định các quyền lợi cụ thể cho cổ phần ưu đãi thường do cáccông ty tự đề ra, sau được luật ghi nhận Thông thường, gồm có các loại cổphần ưu đãi biểu phiếu, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại Ngoài
ra thỏa thuận thành lập và điều lệ công ty có thể quy định thêm các loại cổphần ưu đãi khác hoặc kết hợp các loại cổ phần ưu đãi với nhau Chẳng hạn
cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết có số phiếu biểu quyết nhiều hơn
cổ đông phổ thông nhưng lại chịu hạn chế là không được chuyển nhượng cổphần cho người khác Cổ đông ưu đãi cổ tức thì được trả cổ tức cao hơn cổđông thường nhưng lại không được quyền biểu quyết Tuy nhiên cổ đông ưuđãi vẫn có quyền biểu quyết trong một số trường hợp nhất định Theo luật
Mỹ, các trường hợp này là: (i) khi có đề nghị giải thể công ty, (ii)
Trang 14khi có đề nghị thay đổi các quyền lợi dành cho cổ phần ưu đãi, khi cổ tức bịtrả chậm [3, tr 181].
* Cổ đông đa số, cổ đông thiểu số
Căn cứ vào lượng cổ phần mà cổ đông sở hữu, sẽ có cổ đông nhiềunắm nhiều, cổ đông nắm ít cổ phần Do nguyên tắc quyết định theo đa sốtrong chế độ hoạt động của Đại hội đồng cổ đông, cổ đông có nhiều cổ phầntrở thành đa số, còn người có ít cổ phần trở thành thiểu số khi biểu quyết Vìvậy, cổ đông đa số có khả năng nhiều ưu thế hơn cổ đông thiểu số trong việctiếp cận thông tin, kiểm soát hoạt động của công ty
* Cổ đông tổ chức, cổ đông cá nhân
Trong một công ty có phát hành chứng khoán trên thị trường, có hailoại cổ đông là cổ đông tổ chức và cổ đông cá nhân Cổ đông có tổ chứcthường là ngân hàng, các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán Khác với
cổ đông cá nhân có xu hướng bán cổ phiếu ngay khi giá lên, việc chuyểnnhượng cổ phần cổ đông tổ chức thường ít xảy ra hơn Chỉ có hai quốc gia làAnh và Mỹ có cấu trúc cổ đông đa phần là cá nhân, còn lại cổ đông có tổ chứcvẫn là cổ đông đa số chi phối các công ty cổ phần ở các nước phát triển cũngnhư đang phát triển
1.2.2 Khái niệm, sự cần thiết của việc bảo vệ cổ đông trong công
ty cổ phần
Một trong các mục tiêu của luật doanh nghiệp là bảo vệ lợi ích của cổđông bằng việc buộc các nhà quản lý phải hành động vì lợi ích tốt nhất cho cổđông, đồng thời ngăn chặn khả năng các cổ đông đa số lợi dụng vị thế tướcđoạt lợi ích hợp pháp của cổ đông thiểu số
Không chỉ là mối quan tâm của các nhà lập pháp, bảo đảm thực thi cácquyền của tất cả cổ đông cũng là mục tiêu hướng tới của quản trị công ty
Trang 15Quản trị công ty được hiểu là hệ thống các quy chế phân định rõ quyền hạn giữacác cơ quan trong công ty, giữa cổ đông, Hội đồng quản trị, ban giám đốc và cácbên có liên quan khác Qua đó, công ty thực hiện được mục tiêu phát triển hiệuquả trong khi vẫn tôn trọng lợi ích của các bên liên quan và xã hội.
Một hệ thống pháp luật bảo vệ tốt cổ đông trong công ty cổ phần phảiđảm bảo hai yếu tố:
(a) Các quy định của pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của cổ
đông; (b) Cơ chế thực thi hiệu quả các quy định đó
Những quy định bảo đảm quyền của cổ đông không chỉ tồn tại trongluật doanh nghiệp mà còn có thể tìm thấy trong luật lệ về chứng khoán, kiểmtoán… Hơn thế, nếu thiếu sự đảm bảo thực thi hiệu quả từ tòa án, cơ quanđăng ký kinh doanh, ủy ban chứng khoán và các thiết chế trung gian như luật
sư, kiểm toán thì chẳng khác gì "luật trên giấy"
Từ lâu, các nền kinh tế của các nước thuộc Tổ chức hợp tác và pháttriển kinh tế (OECD) đã nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ cổđông Ở các nền kinh tế đang phát triển, bảo vệ cổ đông cũng là một trọngtâm, thậm chí là "gánh nặng" đối với luật công ty, nơi mà hệ thống pháp luậtcũng như cơ chế thực thi luật còn chưa hoàn thiện
Luật pháp phải thiết kế quy tắc và cơ chế bảo vệ cổ đông vì những cănnguyên sau:
(a) Sự lạm quyền của người quản lý công ty
Sự tách bạch giữa sở hữu và quản lý là một dấu hiệu đặc trưng củacông ty cổ phần Các cơ hội kinh doanh có thể bỏ lỡ nếu lúc nào các quyếtđịnh cũng cần sự phê chuẩn của hàng chục ngàn hay hàng triệu con người - cổđông rải rác khắp nơi Do vậy, các cổ đông phải trao quyền lực cho một độingũ quản lý chuyên nghiệp "dùng tiền của mình để kinh doanh", những người
Trang 16này có thể có hoặc không có cổ phần trong công ty Tuy nhiên, không phải lúcnào người quản lý (bao gồm Hội đồng quản trị, ban giám đốc và các chứcdanh quản lý khác) cũng hành động vì mục tiêu tối đa hóa của cải cho các cổđông Các xung đột về lợi ích giữa cổ đông và người quản lý luôn hiện hữu,xuất phát từ mối quan hệ giữa cổ đông và người quản lý.
Người quản lý có thể tiến hành các giao dịch gây phương hại đến lợiích của công ty và cổ đông, thậm chí chiếm đoạt lợi ích của cổ đông Chẳnghạn như: dùng tài sản của công ty để mưu lợi riêng thông qua việc trả lươngquá cao, mua tài sản của công ty với giá hời, vay công ty với lãi suất thấp hơnlãi suất thị trường… Vì lẽ đó, cổ đông cần được trao các công cụ nhằm kiểmsoát người quản lý để đảm bảo họ hành động vì lợi ích của công ty và cổđông Luật pháp các nước, ít hay nhiều, đều thiết lập các nguyên tắc pháp lý,các cơ chế bầu, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, trách nhiệm của Hộiđồng quản trị, giám sát các giao dịch dễ gây rủi ro cho công ty và cổ đông
(b) Sự áp đảo của cổ đông kiểm soát với cổ đông thiểu số
Trong công ty cổ phần, quyền của các cổ đông tương ứng với số vốn
đã góp vào công ty Do vậy, cổ đông góp nhiều vốn (tức có nhiều cổ phần, cụthể là cổ phần có quyền biểu quyết) sẽ có nhiều ưu thế hơn đối với hoạt độngquản lý công ty Với nguyên tắc thông qua các quyết định quản lý thôngthường khi có quá nửa (1/2) số cổ phần biểu quyết tại đại hội cổ đông chấpthuận, cổ đông nắm ít cổ phần có quyền biểu quyết chịu lép vế, nếu khôngmuốn nói là bị loại ra khỏi cuộc sống của Đại hội đồng cổ đông Quyền đốivới hoạt động quản lý công ty thuộc về số ít các cổ đông lớn Một mặt khinhóm nhỏ cổ đông chi phối hoạt động của công ty, họ sẽ có động cơ để tối đahóa giá trị công ty phục vụ lợi ích của chính mình Mặt khác lợi ích từ hoạtđộng kinh doanh của công ty có khả năng bị phân phối không công bằng cho
Trang 17đa số các cổ đông nhỏ, sự lạm quyền của nhóm nhỏ cổ đông chi phối có khảnăng gây hại cho những cổ đông còn lại.
Mặt khác, trong tương quan so sánh với các chủ thể có mối liên hệ vớicông ty như chủ nợ, người lao động, người cung cấp nguyên vật liệu, cổ đôngvới tư cách là người góp vốn kinh doanh luôn chịu rủi ro nhiều hơn Thếnhưng, lợi ích của cổ đông khó có thể được bảo vệ thích đáng chỉ bởi các thỏathuận hợp đồng Điều này luận giải vì sao luật pháp cần quy định cho đốitượng này những quyền nhất định để kiểm soát hoạt động của công ty
Như vậy, trong công ty cổ phần, đối tượng cần được bảo vệ khôngphải là người quản lý công ty vì họ có quyền và thông tin, và có lẽ cũngkhông phải cổ đông lớn có khả năng chi phối hoạt động công ty, mà chính là
cổ đông thiểu số, riêng lẻ
1.2.3 Vai trò của việc bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần
a) Vai trò đối với công ty và nhà đầu tư
Khi pháp luật bảo vệ cổ đông có hiệu quả, các nhà đầu tư có nhiềuđộng lực hơn bỏ vốn vào công ty cổ phần Đối với các công ty thu hút vốn cổphần khả năng huy động vốn sẽ gia tăng một khi nhà đầu tư yên tâm rằngđồng vốn đầu tư của mình được bảo toàn và phát triển, các quyền và lợi íchđược bảo đảm
Quản trị công ty tốt cần đảm bảo các quyền cơ bản của cổ đông cũngnhư đối xử bình đẳng giữa các cổ đông Sự thành công của các công ty có hệthống quản trị nội bộ chú trọng bảo vệ cổ đông như các công ty của Mỹ so vớicác công ty khác của Đức, Nhật trong những thập kỷ gần đây là minh chứngcho lợi ích lâu dài của việc bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần Ngược lại,
sự sụp đổ của Enron, Worldcom là do sự kém công khai, minh bạch về tài
Trang 18chính, kiểm toán chính là ví dụ sinh động cho hậu quả của việc bảo vệ cổ đông kém tác động lên sinh mệnh công ty như thế nào.
b) Vai trò đối với nền kinh tế
Bảo vệ cổ đông hiệu quả có tác động tích cực lên toàn bộ nền kinh tế
Thứ nhất, nó thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng quy mô của thị trường chứng khoántrong nền kinh tế có mối liên hệ nhất định với mức độ nhà đầu tư được bảo
vệ Trọng tâm của pháp luật và thể chế cho thị trường chứng khoán, suy chocùng là nhằm bảo vệ có hiệu quả lợi ích của cổ đông thiểu số trước nhữngluồng thông tin bất cân xứng Không phải ngẫu nhiên, hai quốc gia có môhình thị trường chứng khoán phát triển với cổ đông phân tán rộng trong dân
cư là Anh và Hoa Kỳ cũng chính là những quốc gia có hệ thống pháp luậtđược đánh giá là bảo vệ cổ đông ở mức cao
Thứ hai, bảo vệ cổ đông tốt góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh
tế, bởi nó khuyến khích việc chuyển tiết kiệm trong dân cư thành nguồn vốnđầu tư Nguồn vốn được chuyển đến những người sử dụng có hiệu quả, nhờvậy việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực trở nên hiệu quả hơn
Như vậy, các công ty, nhà đầu tư và các nhà hoạch định chính sáchchia sẻ những lợi ích chung trong việc bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần
1.3 QUYỀN CỦA CỔ ĐÔNG
Trong công ty cổ phần các cổ đông sở hữu các loại cổ phiếu khác nhau
sẽ có những quyền năng khác nhau
1 Quyền của cổ đông phổ thông
Trang 19a) Tham dự và biểu quyết trong các Đại hội đồng cổ đông và thực hiệnquyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện được ủy quyền; mỗi cổphần phổ thông có một phiếu biểu quyết;
b) Được nhận cổ tức với mức theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông;
c) Được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong công ty;
d) Được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông khácvà
cho người không phải là cổ đông, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều
84 của Luật doanh nghiệp;
đ) Xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong Danh sách cổ đông
có quyền biểu quyết và yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác;
e) Xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty, sổ biên bản họp Đại hội đồng cổ đông và các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông;
g) Khi công ty giải thể hoặc phá sản, được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với số cổ phần vốn góp vào công ty;
h) Các quyền khác quy định tại Luật này và Điều lệ công ty
2 Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổthông trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơnquy định tại Điều lệ công ty có các quyền sau đây:
a) Đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát (nếu có);
b) Xem xét và trích lục sổ biên bản và các nghị quyết của Hội đồngquản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm theo mẫu của hệ thống kếtoán Việt Nam và các báo cáo của Ban kiểm soát;
Trang 2018
Trang 21d) Yêu cầu Ban kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đếnquản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết Yêu cầu phảibằng văn bản; phải có họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Giấy chứngminh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác đối với cổđông là cá nhân; tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số quyết định thành lậphoặc số đăng ký kinh doanh đối với cổ đông là tổ chức; số lượng cổ phần vàthời điểm đăng ký cổ phần của từng cổ đông, tổng số cổ phần của cả nhóm cổđông và tỷ lệ sở hữu trong tổng số cổ phần của công ty; vấn đề cần kiểm tra,mục đích kiểm tra;
đ) Các quyền khác theo quy định của Luật doanh nghiệp và Điều lệ công ty
3 Cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều này có quyền yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông trong các trường hợp sau đây:
a) Hội đồng quản trị vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, nghĩa
vụ của người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao;
b) Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị đã vượt quá sáu tháng mà Hội đồng quản trị mới chưa được bầu thay thế;
c) Các trường hợp khác theo quy định của Điều lệ công ty
Yêu cầu triệu tập họp Hội đồng cổ đông phải được lập bằng văn bản
và phải có họ, tên, địa chỉ thường trú, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếuhoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác đối với cổ đông là cá nhân; tên, địachỉ thường trú, quốc tịch, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký kinh doanhđối với cổ đông là tổ chức; số cổ phần và thời điểm đăng ký cổ phần của từng
cổ đông, tổng số cổ phần của cả nhóm cổ đông và tỷ lệ sở hữu trong tổng số
cổ phần của công ty, căn cứ và lý do yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổđông Kèm theo yêu cầu phải có các tài liệu, chứng cứ về các vi phạm của Hộiđồng quản trị, mức độ vi phạm hoặc về quyết định vượt quá thẩm quyền
Trang 224 Trong trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác thì việc
đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát quy định tại điểm akhoản 2 Điều này được thực hiện như sau:
a) Các cổ đông phổ thông tự nguyện tập hợp thành nhóm thỏa mãn cácđiều kiện quy định để đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soátphải thông báo về việc họp nhóm cho các cổ đông dự họp biết chậm nhất ngaykhi khai mạc Đại hội đồng cổ đông;
b) Căn cứ số lượng thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, cổđông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều này được quyền đề cửmột hoặc một số người theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông làm ứng cửviên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát Trường hợp số ứng cử viên được cổđông hoặc nhóm cổ đông đề cử thấp hơn số ứng cử viên mà họ được quyền đề
cử theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông thì số ứng cử viên còn lại do Hộiđồng quản trị, Ban kiểm soát và các cổ đông khác đề cử (Điều 79 luật doanhnghiệp)
Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp còn quy định cụ thể các quyền khác như:Mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông (Điều 90); thẩm quyền triệu tậphọp Đại hội đồng cổ đông (Điều 97); quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông(Điều 101); yêu cầu hủy bỏ quyết định của Đại hội đồng cổ đông (Điều 107);công khai các lợi ích liên quan và công khai thông tin về công ty cổ phần(Điều 118, Điều 129)
Cổ đông ưu đãi không được hưởng đầy đủ các quyền trên Cổ đông ưuđãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác(Điều 81) Cổ đông ưu đãi cổ tức và cổ đông ưu đãi hoàn lại đều không có quyền
dự họp Đại hội đồng cổ đông, không có quyền biểu quyết và cũng không cóquyền đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát (Điều 82, Điều 83)
a) Quyền chuyển nhượng cổ phần
Trang 23Như đã phân tích quyền tự do chuyển nhượng cổ phần được xem xét ởhai khía cạnh là có quyền chuyển nhượng cho bất kỳ ai vào bất cứ lúc nào vàkhông cần thủ tục phê chuẩn của công ty.
Luật Doanh nghiệp về cơ bản đã thừa nhận quyền tự do chuyểnnhượng cổ phần của cổ đông tại Điều 79 trừ hai ngoại lệ cổ phần ưu đãi biểuquyết và cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập
Về quyền tự do chuyển nhượng cổ phần, ta xem xét hai ngoại lệ kểtrên Luật Doanh nghiệp cấm người sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết chuyểnnhượng cho người khác Cổ phần ưu đãi biểu quyết là cổ phần có số phiếubiểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông Các công ty thường giành loại
cổ phần này cho những cổ đông đặc biệt, gắn liền với nhân thân nhằm đưa ranhững ý kiến có số phiếu cao hơn khi quyết định các vấn đề của Đại hội đồng
cổ đông
Luật buộc các cổ đông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20%
số cổ phần phổ thông được quyền chào bán Việc chuyển nhượng số cổ phầnnày bị hạn chế về mặt chủ thể và thủ tục: chỉ được chuyển nhượng cho ngườikhông phải cổ đông (tức người ngoài công ty) nếu được Đại hội đồng cổ đôngchấp thuận (Điều 84) Thời hạn của hạn chế này là 3 năm đầu từ ngày công tyđược cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Vai trò của công ty trong việc ghi nhận sự chuyển nhượng cổ phần.Luật Doanh nghiệp quy định: Cổ phần được coi là đã bán khi được thanh toán
đủ và những thông tin về người mua được quy định tại khoản 2 Điều 86 củaluật này được ghi đúng, ghi đủ vào sổ đăng ký cổ đông; kể từ thời điểm đó,người mua cổ phần trở thành cổ đông của công ty
Đối với các cổ phần tự do chuyển nhượng, việc chuyển nhượng đượcthực hiện bằng văn bản theo cách thông thường hoặc bằng cách trao tay cổphiếu Giấy tờ chuyển nhượng phải được bên chuyển nhượng và bên nhận
Trang 24chuyển nhượng hoặc đại diện ủy quyền của họ ký Bên chuyển nhượng vẫn làngười sở hữu cổ phần có liên quan cho đến khi tên của người nhận chuyểnnhượng được đăng ký vào sổ đăng ký cổ đông Trường hợp chỉ chuyểnnhượng một số cổ phần trong cổ phiếu có ghi tên thì cổ phiếu cũ bị hủy bỏ vàcông ty phát hành cổ phiếu mới ghi nhận số cổ phần đã chuyển nhượng và số
cổ phần còn lại (Điều 87)
Công ty chỉ có vai trò chứng nhận việc chuyển nhượng cổ phần và ghivào Sổ đăng ký cổ đông, chứ không phải là phê chuẩn giao dịch chuyểnnhượng Rõ ràng, theo quy định này của Luật, hiệu lực pháp lý của việcchuyển nhượng phụ thuộc vào việc đăng ký các thông tin vào Sổ đăng ký cổđông, chứ dường như chưa phát sinh từ thời điểm các bên hoàn thành việcchuyển giao quyền sở hữu cổ phần một cách hợp pháp
Về nguyên tắc, các thông tin trong Sổ đăng ký cổ đông đóng vai trònhư căn cứ chứng minh quyền sở hữu cổ phần chứ không phải là điều kiệncho việc chuyển nhượng Điều luật này có lẽ đã vô tình "tiếp tay" cho các vụviệc vi phạm quyền cổ đông trên thực tế như: công ty cố tình trì hoãn việcđăng ký người nhận chuyển nhượng, hay hiện tượng chuyển nhượng "chui" vìcông ty từ chối đăng ký
Điểm yếu của Luật chính là ghi nhận quyền chuyển nhượng của cổđông nhưng chưa đặt ra nghĩa vụ của công ty phải đăng ký cổ đông mới mộtcách kịp thời Khiếm khuyết này tạo ra rủi ro cho các bên trong giao dịchchuyển nhượng cổ phần, đặc biệt là bên nhận chuyển nhượng bởi quyền sởhữu cổ phần của người này không được công ty bảo đảm Hậu quả sâu xa hơn
là các nhà đầu tư khó có thể biết chính xác ai là người đang nắm cổ phần, điềunày làm tăng chi phí nhận diện giao dịch mua bán cổ phần
Đối với các cổ đông thiểu số sẽ gặp phải những khó khăn để biết được
ai đang là những cổ đông thực tế trong công ty và đang nắm giữ cổ phần liêntục trong thời gian ít nhất là sáu tháng để cùng nhau tập hợp lại thành những
Trang 25nhóm cổ đông nắm giữ trên 10% vốn điều lệ của công ty với mong muốn cóđược những kiến nghị trong cuộc họp Đại hội đồng cổ đông hay đề cử ngườivào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát để bảo vệ quyền lợi cho mình.
b) Quyền tiếp cận thông tin
Quyền được nắm bắt những thông tin về công ty một cách đầy đủ là
cơ sở để cổ đông thực hiện các quyền cơ bản khác như quyền biểu quyết tạicuộc họp của Đại hội đồng cổ đông, quyền bầu và miễn nhiệm Hội đồng quảntrị và cả quyền chuyển nhượng cổ phần Luật Doanh nghiệp quy định cổ đôngđược xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong danh sách cổ đông cóquyền biểu quyết và yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác; xem xét,tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty, sổ biên bản Đại hội đồng cổđông và các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông
Đối với cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phầnphần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất sáu tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏhơn quy định tại Điều lệ công ty được xem xét và trích lục sổ biên bản và cácnghị quyết của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hàng năm theomẫu của hệ thống kế toán Việt Nam và các báo cáo của Ban kiểm soát
Các cổ đông chỉ được tiếp cận thông tin ở mức rất "khiêm tốn" Khôngđược xem sổ sách kế toán của công ty, có chăng là một bản báo cáo tài chínhthường niên với nội dung không rõ ràng khác nào "bịt mắt" cổ đông trướcthực trạng tài chính của công ty Khó có thể tưởng tượng cổ đông thực hiệnquyền quyết định các vấn đề tài chính tại Đại hội đồng cổ đông như thế nào,
có lẽ không thể tránh khỏi tình trạng của cổ đông nhỏ "bảo sao nghe vậy"
Một loại tài liệu quá đỗi thông thường là các quyết định của Đại hộiđồng cổ đông cũng chỉ được thông báo cho cổ đông có quyền dự họp Quả là
Trang 26phi lý khi luật không cho phép cổ đông ưu đãi cổ tức và ưu đãi hoàn lại cáiquyền được biết Đại hội đồng cổ đông bàn bạc và quyết định cái gì, liệu cóphải là quyết định giảm mức cổ tức hàng năm mà cổ đông ưu đãi được hưởnghay không Khi đến nội dung của quyết định cũng không được biết thì quyềnkhởi kiện yêu cầu hủy bỏ trong trường hợp vi phạm pháp luật cũng trở nên vônghĩa lý.
Thông tin là sức mạnh, tình trạng thông tin bất cân xứng của cổ đôngViệt Nam so với các nhà quản lý khiến mọi quyền khác của cổ đông trở nênyếu ớt trước khả năng lạm quyền ghê gớm của Hội đồng quản trị và các chứcdanh quản lý khác
c) Quyền dự họp và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổphần, bao gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết Theo Luật Doanh nghiệp
2005, Đại hội đồng cổ đông có quyền quyết định những vấn đề sau (Điều 96,Điều 104, Điều 120)
* Trong lĩnh vực tài chính
Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyềnchào bán; quyết định mức cổ tức hằng năm của từng loại cổ phần, trừ trườnghợp Điều lệ công ty có quy định khác;
Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công tynếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ khác;
Thông qua báo cáo tài chính hằng năm;
Quyết định mua lại trên 10% tổng số cổ phần đã bán của mỗi loại;
Trang 27Hợp đồng, giao dịch giữa công ty với các đối tượng sau đây phải đượcĐại hội đồng cổ đông chấp thuận gồm: Cổ đông, người đại diện ủy quyền của
cổ đông sở hữu trên 35% tổng số cổ phần phổ thông của công ty và nhữngngười có liên quan của họ; Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặcTổng giám đốc; Doanh nghiệp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều
118 của Luật này và người có liên quan của thành viên Hội đồng quản trị,Giám đốc hoặc Tổng giám đốc
* Trong lĩnh vực điều hành
Thông qua định hướng phát triển công ty;
Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát;.
Thông qua báo cáo tài chính hàng năm;
Xem xét và xử lý các vi phạm của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soátgây thiệt hại cho công ty và cổ đông công ty
* Các lĩnh vực khác
Quyết định sửa đổi, bổ sung Điều lệ;
Quyết định tổ chức lại, giải thể công ty
Đại hội đồng cổ đông thực hiện quyền hạn của mình thông qua cáccuộc họp thường niên và bất thường hoặc lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản(không triệu tập cuộc họp) Đây chính là thiết chế nơi cổ đông thực hiệnquyền lực của mình Vì vậy, quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông và biểuquyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông là quyền vôcùng quan trọng của cổ đông
* Quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông
Trang 28Theo quy định của pháp luật thì chỉ có cổ đông phổ thông và cổ đông
có quyền biểu quyết mới có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông Cổ đông ưuđãi cổ tức và cổ đông ưu đãi hoàn lại không có quyền tham dự cuộc họp
Về triệu tập và mời họp, luật quy định Hội đồng quản trị có quyền
triệu tập họp theo quyết định của mình hoặc theo yêu cầu của cổ đông/nhóm
cổ đông sở hữu ít nhất 10% cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất 6tháng Ban kiểm soát có thể thay thế Hội đồng quản trị triệu tập khi Hội đồngquản trị vi phạm nghĩa vụ của người quản lý hoặc vượt quá thẩm quyền đượcgiao Ban kiểm soát không làm thì nhóm cổ đông nói trên có quyền triệu tập(Điều 97)
Người triệu tập phải thực hiện một loạt công việc như (i) lập danhsách cổ đông có quyền dự họp, cung cấp thông tin và giải quyết khiếu nại liênquan đến danh sách đó, (ii) chuẩn bị tài liệu, xác định địa điểm và thời gianhọp, (iii) lập chương trình và nội dung cuộc họp và (iv) gửi giấy mời họp(kèm theo tài liệu) đến từng cổ đông có quyền dự họp (Điều 99, 100)
Danh sách cổ đông có quyền dự họp được lập dựa trên sổ đăng ký cổđông, có những nội dung chủ yếu như: tên, địa chỉ cổ đông, số lượng cổ phầnmỗi loại của từng cổ đông Luật trao cho cổ đông quyền được cung cấp thôngtin trong danh sách cổ đông, nhưng chỉ giới hạn trong phần liên quan đến cổđông đó, và quyền yêu cầu sửa đổi thông tin sai lệch hoặc bổ sung nhữngthông tin về mình trong danh sách (Điều 98) Luật buộc các cổ đông nhỏ,riêng lẻ phải tập hợp lại thành một nhóm nắm 10% tổng số cổ phần phổ thônghoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn mới được quyền triệu tập cuộc họp Thực tế làtrong một công ty cổ phần có số cổ đông hàng nghìn người, một cổ đông sởhữu từ 5 đến 6% đã là lớn chứ không phải 10% nữa Luật quy định như vậynhưng hầu hết các công ty đều ấn định tỷ lệ nắm giữ của cổ đông là 10% đểnhằm hạn chế quyền của cổ đông nhỏ Quy định này tỏ ra bất bình đẳng trong
Trang 29đối xử giữa các cổ đông được coi là thiểu số (nắm dưới 10% cổ phần) và các
cổ đông lớn
Cũng như cổ đông trong công ty cổ phần ở các nước, cổ đông ViệtNam cũng có quyền được thông báo về cuộc họp Đại hội đồng cổ đông LuậtDoanh nghiệp quy định nghĩa vụ của người triệu tập họp là "gửi giấy mời họpđến tất cả cổ đông có quyền dự họp chậm nhất là 7 ngày trước ngày khaimạc", cùng với chương trình họp và các tài liệu thảo luận (Điều 100)
Thời hạn tối thiểu này có lẽ là chưa đủ để các cổ đông nghiên cứu tàiliệu làm cơ sở cho một lá phiếu phù hợp tại Đại hội đồng cổ đông Đối vớinhóm cổ đông thiểu số có quyền kiến nghị vấn đề đưa vào chương trình họp,thời hạn này càng trở nên ngặt nghèo, bởi các kiến nghị phải được gửi đếncông ty chậm nhất là 3 ngày trước ngày khai mạc cuộc họp (Điều 99, khoản2) Giả dụ, đến đúng 1 tuần trước ngày khai mạc họp, công ty mới gửi giấymời họp và tài liệu đến cổ đông, thì cổ đông thiểu số có xấp xỉ 4 ngày đểnghiên cứu tài liệu để kiến nghị vấn đề quan tâm vào chương trình họp Tuyquy định về thời hạn tối thiểu để gửi giấy triệu tập có vẻ chỉ mang tính kỹthuật nhưng nó có khả năng làm giảm hiệu quả thực hiện quyền biểu quyếtcủa cổ đông một cách đáng kể
Về ủy quyền dự họp, Luật dự liệu khả năng cổ đông không thể đích thânđến dự họp Đại hội đồng cổ đông nên cho cổ đông ủy quyền cho người khác dựhọp thay mình Tuy nhiên, cơ chế này vẫn chưa giải quyết được vấn đề phát sinhtrong những công ty cổ phần, có số cổ đông lên đến hàng ngàn người về chuẩn bịcuộc họp (địa điểm hội họp, việc đi lại của cổ đông) Để đối phó, nhiều công tysáng tạo ra giải pháp là quy định trong điều lệ rằng chỉ khi sở hữu một tỷ lệ cổphần nhất định (chẳng hạn 1% lượng cổ phần - 1% có khi trị giá đến hàng trămtriệu đồng), cổ đông mới có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông Như vậy, công
ty đã vi phạm một quyền cơ bản của cổ đông là quyền dự họp
Trang 30Để có biện pháp nhằm hạn chế những sai phạm tương tự đã xảy ra trong một thờigian dài về việc hạn chế quyền tham dự cuộc họp của các cổ đông thiểu số.
* Quyền biểu quyết
Đại hội đồng cổ đông thông qua các quyết định thuộc thẩm quyềnbằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp hoặc lấy ý kiến bằng văn bản LuậtDoanh nghiệp quy định tỷ lệ 51% số phiếu biểu quyết của cổ đông dự họp là
đủ để một quyết định thông thường (ví dụ: bầu, bãi nhiệm thành viên Hộiđồng quản trị, mua lại cổ phần của cổ đông) được thông qua Với các vấn đềđặc biệt quan trọng, tỷ lệ để thông qua là 65% Dù sao tỷ lệ này mang tính kỹthuật nhiều hơn, nên khó có thể đánh giá là cứ cao hơn thì bảo vệ cổ đôngthiểu số tốt hơn, bởi nó còn phụ thuộc vào cơ cấu vốn của từng công ty cụ thể
Điểm yếu của Luật Doanh nghiệp nằm ở chỗ khác Luật quy địnhtrường hợp cổ đông quyết định dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản, thì chỉcần 51% tổng số phiếu biểu quyết của cổ đông chấp thuận Như vậy luật đã
"đánh đồng" hai loại quyết định thông thường và bất thường, hơn nữa lạikhông quy định trong trường hợp nào Hội đồng quản trị có quyền lấy ý kiến
cổ đông bằng văn bản Hệ quả là Hội đồng quản trị có một "khe hở" tương đốilớn để lạm dụng hình thức lấy ý kiến bằng văn bản nhằm thông qua các vấn
đề đặc biệt quan trọng có ảnh hưởng đến lợi ích của cổ đông trong bối cảnhthông tin được cung cấp "nhỏ giọt" Nó có khả năng trở thành công cụ cho cổđông đa số lấn lướt cổ đông thiểu số
d) Quyền bầu, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có quyền nhân danhcông ty quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công tytrừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông (Điều 108,khoản 1) Mặc dù Luật Doanh nghiệp không ghi nhận một cách rõ ràng quan
hệ ủy quyền giữa cổ đông và Hội đồng quản trị, thực chất Hội đồng quản trị
Trang 31chính là người đại diện cho cổ đông để thực hiện quản lý hoạt động kinhdoanh Quyền bầu ra Hội đồng quản trị là một quyền quan trọng của cổ đông,quyền bầu luôn đi cùng với quyền bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị khingười này vi phạm nghĩa vụ của mình.
* Quyền đề cử thành viên Hội đồng quản trị
Luật Doanh nghiệp trao cho cổ đông/nhóm cổ đông sở hữu 10% cổphần phổ thông trong 6 tháng liên tục quyền đề cử người vào Hội đồng quảntrị (Điều 79, khoản 2) Tuy vậy, không rõ ngoài nhóm cổ đông này ra, còn chủthể nào có quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị nữa không Quy trình đề
cử thành viên Hội đồng quản trị vốn được các bộ quy tắc quản trị rất chútrọng cũng chưa được quy định trong luật
Ở các nước, giám đốc, chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc ủy ban tuyểnchọn của Hội đồng quản trị là chủ thể đưa ra đề nghị về danh sách bầu Hội đồngquản trị Điều lệ mẫu áp dụng cho các công ty cổ phần không niêm yết quy địnhhai loại chủ thể có quyền đề cử là cổ đông sáng lập và nhóm cổ đông nắm giữ ítnhất 10% số cổ phần có quyền biểu quyết Theo nghị định 139/2007/NĐ-CPngày 05/09/2007 của Chính phủ về việc hướng dẫn chi tiết thi hành một số điềucủa luật doanh nghiệp quy định cổ đông thiểu số có quyền dồn phiếu để đề cửngười vào Hội đồng quản trị, số người được đề cử tương ứng với tỷ lệ cổ phần:nắm 10% - dưới 20%: đề cử 1 người, 20% - dưới 30%: 2 người, 30% - dưới40%: 3 người, 40% - dưới 50%: 4 người, 50% - dưới 60%: 5 người, 60% - dưới
70%: 6 người, 70% - dưới 80%: 7 người, 80% - dưới 90%: 8 người
* Quyền bầu thành viên Hội đồng quản trị
Việc bầu cử thành viên Hội đồng quản trị được tiến hành tại cuộc họpcủa Đại hội đồng cổ đông Việc biểu quyết bầu thành viên Hội đồng quản trịthực hiện theo nguyên tắc bầu dồn phiếu, theo đó mỗi cổ đông có tổng sốphiếu biểu quyết tương ứng với tổng số cổ phần sở hữu nhân với số thành
Trang 32viên được bầu của Hội đồng quản trị và cổ đông có quyền dồn hết tổng số phiếubầu của mình cho một hoặc một số ứng cử viên.(Điểm c, khoản 3, Điều 104)
* Quyền bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị
Luật Doanh nghiệp quy định thành viên Hội đồng quản trị bị miễnnhiệm, bãi nhiệm trong các trường hợp sau đây: (i) Không có đủ tiêu chuẩn vàđiều kiện theo quy định tại Điều 110 của Luật doanh nghiệp (ii) Không thamgia các hoạt động của Hội đồng quản trị trong 6 tháng liên tục, trừ trường hợpbất khả kháng,(iii) Có đơn xin từ chức, và các trường hợp khác do điều lệcông ty quy định (Điều 115, khoản 1) Ngoài ra, thành viên Hội đồng quản trị
có thể bị miễn nhiệm bất cứ lúc nào theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông(Điều 115, khoản 2)
e) Quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần
Điều 90 Luật Doanh nghiệp được đánh giá là một trong những điềukhoản tiêu biểu nhằm bảo vệ cổ đông thiểu số Theo điều này, cổ đông cóquyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình theo giá thị trường hoặc giáđược tính theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty Quyền này phát sinhkhi cổ đông phản đối quyết định về (i) việc tổ chức lại công ty, hoặc (ii) việcthay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại điều lệ công ty và thời hạnyêu cầu là 10 ngày kể từ ngày Đại hội đồng cổ đông thông qua quyết định vềcác vấn đề nêu trên
Có ý kiến cho rằng, quy định trên tạo ra nguy cơ là công ty phải dùngmọi khoản tiền hiện có để mua lại cổ phần, có thể dẫn đến phá sản nếu cổđông đồng loạt phản đối công ty theo kiểu này Tuy nhiên, việc yêu cầu công
ty mua lại cổ phần vẫn là một giải pháp an toàn cho các cổ đông khi muốn rútkhỏi công ty Thêm vào đó, Luật Doanh nghiệp đã có "nút chặn" khả năng mất
ổn định về tài chính do việc mua lại Đó là quy định về điều kiện thanh toán
và xử lý các cổ phần được mua lại: công ty chỉ được thanh toán cổ phần
Trang 33đã mua lại cho cổ đông nếu ngay sau khi thanh toán hết số cổ phần được mualại, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sảnkhác (Điều 92, khoản 2)
g) Quyền khởi kiện
Cổ đông trong công ty cổ phần Việt Nam chỉ có quyền khởi kiện Tòa
án yêu cầu hủy bỏ quyết định của Đại hội đồng cổ đông trong hai trường hợp:
(i) trình tự và thủ tục triệu tập cuộc họp không theo đúng quy định của LuậtDoanh nghiệp và Điều lệ công ty (ii) trình tự, thủ tục ra quyết định và nộidung quyết định vi phạm pháp luật hoặc điều lệ công ty (Điều 107)
Luật doanh nghiệp quy định quyền lợi cho các cổ đông khá đầy đủ.Tuy nhiên, khi những quyền này bị vi phạm thì chế tài bảo vệ cho các cổ đônglại chỉ được quy định sơ sài, cổ đông không thể kiện Hội đồng quản trị hayBan lãnh đạo công ty khi họ có hành vi vi phạm ảnh hưởng trực tiếp đếnquyền lợi của các cổ đông
1.4 CÔNG KHAI HÓA CÁC GIAO DỊCH TƢ LỢI VÀ CÁC LỢI ÍCH LIÊN QUAN
Luật Doanh nghiệp quy định hợp đồng, giao dịch giữa công ty với cácđối tượng sau đây phải được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị chấpthuận: (i) Cổ đông, người đại diện ủy quyền của cổ đông sở hữu trên 35% tổng
số cổ phần phổ thông của công ty và những người có liên quan của họ,
(ii) thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, (iii) doanhnghiệp quy định tại điểm a và b khoản 1 Điều 118 luật doanh nghiệp và người
có liên quan của thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc(Điều 120, khoản 1)
Trang 34Tuy nhiên, định nghĩa "người có liên quan" tại Điều 4 khoản 17 cònchưa bao quát hết các trường hợp làm cho những người chưa được quy địnhtrong luật dễ dàng thực hiện, che giấu các giao dịch tư lợi gây thiệt hại cho cổđông thiểu số.
1.5 CÔNG KHAI THÔNG TIN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN
Minh bạch hóa thông tin là một phương tiện hiệu quả để bảo vệ cổđông Thông tin đầy đủ và kịp thời về công ty là yếu tố rất quan trọng giúpnhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư chính xác
Ngay trong giai đoạn thành lập, công ty cổ phần đã được yêu cầu cungcấp thông tin cơ bản cho cơ quan đăng ký kinh doanh, bao gồm: (i) điều lệcông ty, (ii) danh sách các cổ đông sáng lập Trong quá trình hoạt động, công
ty phải công bố các thông tin sau:
Báo cáo tài chính hàng năm đã được Đại hội đồng cổ đông thông quađến cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về kế toán
và pháp luật có liên quan
Tóm tắt nội dung báo cáo tài chính hằng năm phải được thông báo đếntất cả cổ đông
Mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền xem hoặc sao chép báo cáo tàichính hàng năm của công ty cổ phần tại cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩmquyền (Điều 129)
1.6 TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ GIÁM ĐỐC
Luật Doanh nghiệp quy định nghĩa vụ của Hội đồng quản trị và giámđốc trong "nghĩa vụ người quản lý" như sau (Điều 119):
Thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao theo đúng quy định củaluật doanh nghiệp, pháp luật có liên quan, Điều lệ công ty, quyết định của Đạihội đồng cổ đông
Trang 35Thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao một cách trung thực, cẩntrọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa của công ty và cổ đôngcông ty.
Trung thành với lợi ích của công ty và cổ đông của công ty; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty, lạm dụng địa vị, chức vụ và tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác.
Thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho công ty và các doanh nghiệp
mà họ và người có liên quan của họ làm chủ hoặc có phần vốn góp, cổ phần chiphối; thông báo này được niêm yết tại trụ sở chính và chi nhánh của công ty
Ngoài ra, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc khôngđược tăng lương, trả thưởng khi công ty không thanh toán đủ các khoản nợđến hạn Các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật doanh nghiệp và Điều lệcông ty
Có thể thấy Luật chỉ đưa ra được những nghĩa vụ mang tính chungchung Thực tế có thể có những hành vi của Hội đồng quản trị hoặc giám đốcxâm phạm lợi ích của công ty và cổ đông nhưng lại không bị coi là vi phạmnghĩa vụ của người quản lý
1.7 KIỂM SOÁT NỘI BỘ
Kiểm soát nội bộ là cách thức để cổ đông gián tiếp giám sát hoạt độngquản lý được thực hiện bởi Ban kiểm soát
Ban kiểm soát thực hiện giám sát Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặcTổng giám đốc trong việc quản lý và điều hành công ty; chịu trách nhiệmtrước Đại hội đồng cổ đông trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao
Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọngtrong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kếtoán, thống kê và lập báo cáo tài chính
Trang 36Thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính hàng năm
và sáu tháng của công ty, báo cáo đánh giá công tác của Hội đồng quản trị.Trình báo cáo thẩm định báo cáo tài chính, báo cáo tình hình kinh doanh hàngnăm của công ty và báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng quản trịlên Đại hội đồng cổ đông tại cuộc họp thường niên
Xem xét sổ kế toán và các tài liệu khác của công ty, các công việcquản lý, điều hành hoạt động của công ty bất cứ khi nào nếu xét thấy cần thiếthoặc theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông hoặc theo yêu cầu của cổđông hoặc nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 10% cổ phần trong thời gian 6 thángliên tục
Luật Doanh nghiệp về cơ bản đã quy định khá đầy đủ về quyền hạncủa Ban kiểm soát Tuy nhiên, với quy định hiện tại là chỉ cần một thành viên
là kế toán viên hoặc kiểm toán viên thì sẽ khó có thể đánh giá một cách chínhxác về tính hợp pháp, hợp lý của sổ sách kế toán hay kiểm tra các vấn đề cụthể theo yêu cầu của cổ đông
Liên quan đến điều kiện hoạt động, yêu cầu hoạt động của Ban kiểmsoát "không được ảnh hưởng cản trở hoạt động bình thường của Hội đồngquản trị, không gây gián đoạn điều hành" dễ trở thành cái cớ để cơ quan quản
lý từ chối hoạt động của Ban kiểm soát Hơn nữa, quy định buộc Ban kiểmsoát tham khảo ý kiến của Hội đồng quản trị trước khi trình báo cáo, kết luận
và kiến nghị lên Đại hội đồng cổ đông có thể làm ảnh hưởng đến vai trò độclập của Ban kiểm soát
Trang 37phần được xem là có nhiều ưu điểm nhất cho sự phát triển của nền kinh tếtoàn cầu hiện nay.
Công ty cổ phần được hình thành nhằm thu hút, kêu gọi vốn từ cácnhà đầu tư, cùng nhau kinh doanh, chia sẻ rủi ro và lợi nhuận Trong công ty
cổ phần có các cổ đông là những nhà đầu tư và hệ thống cơ quan quản lý, hệthống này do các cổ đông bầu ra để dùng tiền của các cổ đông vào hoạt độngsản xuất, kinh doanh và kiểm soát đồng vốn đó sao cho có lợi nhất cho các cổđông là những người sở hữu công ty
Bảo vệ quyền lợi của cổ đông là vấn đề được nhiều quốc gia quan tâm,lợi ích của các cổ đông hay các nhà đầu tư trong nền kinh tế luôn có sự tácđộng trực tiếp đến sự phát triển của từng công ty và có ảnh hưởng đến toàn bộnền kinh tế Cách thức luật pháp các quốc gia khác nhau bảo vệ cổ đông cũngkhác nhau, tùy thuộc vào từng mức độ phát triển của nền kinh tế, thói quentrong kinh doanh Các khía cạnh như trình độ dân trí, văn hóa xã hội cũng cótác động rất lớn đối với việc ban hành và áp dụng pháp luật Lĩnh vực kinhdoanh cũng hết sức đa dạng, lại liên quan trực tiếp đến quyền lợi của từng chủđầu tư Họ bỏ tiền ra để kinh doanh để thu lợi nhuận nên luôn quan tâm xemđồng vốn của mình được luân chuyển ra sao, có đem lại được kết quả nhưmình mong muốn hay không Đảm bảo được điều đó thì các nhà đầu tư mớigóp vốn vào các công ty để làm ăn, các công ty có đủ vốn thì sẽ có nhiều cơhội hơn, khả năng phát triển sẽ tốt hơn và đây là những điều cốt yếu giúp chomột nên kinh tế phát triển mạnh và bền vững Các quốc gia đều xây dựng và
áp dụng pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi cho các nhà đầu tư sao cho có lợinhất để ổn định và phát triển nền kinh tế của mình Nước ta là một nước cónền kinh tế còn non trẻ, mới phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường dưới
sự quản lý của nhà nước Do vậy, chúng ta cần học hỏi kinh nghiệm từ cácnước đã và đang phát triển trên thế giới theo cách thức có chọn lọc để áp dụngvào nền kinh tế nước mình một cách phù hợp nhất Để tìm hiểu về vấn
Trang 38đề này chúng ta cần xem xét những quy định về bảo vệ cổ đông thiểu số trongcông ty cổ phần ở Việt Nam.
Trong công ty cổ phần có nhiều loại cổ phiếu khác nhau, các cổ đôngtrong công ty nắm giữ các cổ phiếu khác nhau sẽ có các quyền năng khácnhau Tuy nhiên các cổ đông này vẫn phải tuân theo một luật chơi chung đó làcác văn bản pháp luật và Điều lệ công ty Điều lệ công ty là một bản thỏathuận giữa các cổ đông với một tiêu chí chung là cùng nhau góp vốn để trựctiếp hoặc gián tiếp tham gia quản lý, điều hành công ty nhằm mang lại sự pháttriển và lợi nhuận
Luật Doanh nghiệp 2005 đánh dấu một bước tiến trong việc bảo vệquyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần so với Luật doanh nghiệp năm
2000 thông qua việc quy định các quyền năng của các cổ đông trong công ty,đồng thời quy định những nghĩa vụ của bản quản lý, giám sát công ty thể hiệnthông qua Hội đồng quản trị, Ban giám đốc và Ban kiểm soát Việc quy địnhquyền cho các cổ đông, mà ở đây là những cổ đông nhỏ vì thông thường các
cổ đông lớn thường có mặt trong Hội đồng quản trị hay Ban giám đốc nhằmtránh sự tư lợi của người quản lý, hay nhằm ngăn chặn sự chèn ép từ phía các
cổ đông lớn đối với các cổ đông nhỏ
Tuy vậy, các quyền của cổ đông được quy định trong Luật doanhnghiệp năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành còn chưa đầy đủ và cơchế thực thi, bảo vệ còn yếu Cơ chế giám sát của cổ đông, trực tiếp hoặc giántiếp thông qua thể chế kiểm toán, kiểm soát nội bộ còn kém hiệu lực; chế độcông khai thông tin cho cổ đông cũng yếu kém Các khiếm khuyết đã và đanghạn chế không nhỏ sự phát triển bền vững của từng công ty cổ phần nói riêng
và sự phát triển của thị trường vốn cũng như nền kinh tế nói chung
Để tìm hiểu rõ vấn đề này chúng ta có thể xem xét Cơ chế bảo vệ cổđông thiểu số trong công ty cổ phần ở Việt Nam trên thực tế
Trang 39Chương 2
CƠ CHẾ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM VÀ SO SÁNH VỚI PHÁP
LUẬT MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
2.1 THỰC TRẠNG BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
2.1.1 Tình trạng vi phạm các quyền cơ bản của cổ đông
Luật Doanh nghiệp đã quy định các quyền cơ bản của cổ đông trongcông ty cổ phần một cách rõ ràng, nhưng trong thực tế tình trạng vi phạmquyền của cổ đông vẫn diễn ra thường xuyên
* Quyền tham dự và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông bị hạn chế
Luật Doanh nghiệp đã quy định rất rõ ràng rằng tất cả các cổ đông phổthông đều có quyền tham dự và biểu quyết mọi vấn đề thuộc thẩm quyền củaĐại hội đồng cổ đông Mỗi một cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết,như vậy về nguyên tắc, đã là cổ đông nắm giữ cổ phần của công ty thì dù íthay nhiều đều có quyền ngang nhau trong việc tham dự và biểu quyết tại cuộchọp Đại hội đồng cổ đông
Trên thực tế, hầu hết các công ty cổ phần đều không thực hiện triệt đểnguyên tắc này Lý do mà các công ty đưa ra đều không dựa trên cơ sở pháp
lý cụ thể mà chỉ là ý chí của từng công ty để biện minh cho sự vi phạm củamình như: Do địa điểm tổ chức chật hẹp, không đủ diện tích cho tất cả các cổđông trong công ty tham dự ngồi họp Cổ đông hoặc nhóm cổ đông phải nắmgiữ một tỷ lệ vốn tối thiểu như 100 triệu, 500 triệu hay 1% vốn điều lệ mớiđược tham dự cuộc họp Như vậy, các cổ đông nhỏ, cổ đông thiểu số phải tậphợp nhau lại để đạt một tỷ lệ tối thiểu và ủy quyền cho một người đại diện đi
Trang 40họp Nếu như các cổ đông thiểu số do không có thông tin nên không thể tậphợp nhau lại trong một thời gian ngắn hoặc không có cùng quan điểm thì sẽkhông thể có tiếng nói trong cuộc họp Đại hội đồng cổ đông đành phải đứngngoài cuộc để cho các cổ đông lớn quyết định mọi vấn đề liên quan đến lợiích của chính mình.
Vấn đề phân biệt đối xử giữa cổ đông "giàu" với cổ đông "nghèo" đãlàm nhiều cổ đông hết sức bất mãn Điều lệ một công ty quy định "Những cổđông chiếm giữ ít nhất 1% vốn điều lệ là đại biểu đương nhiên của đại hội.Các cổ đông khác không đủ 1% vốn điều lệ thì đơn vị có trách nhiệm nhómhọp: chỉ định người thay mặt đi dự họp
Vượt qua các điều kiện trên, cổ đông có tên trong danh sách cổ đôngnhiều khi cũng không có thông tin đầy đủ về cuộc họp vì không được gửi giấymời họp Khá hơn, giấy mời họp đến muộn so với thời hạn 7 ngày quy địnhtrong luật hoặc cổ đông không được nhận trước các tài liệu phục vụ cuộc họp
Vì thế, họ không có sự chuẩn bị thích đáng trước khi dự họp, càng khó có thểđưa ra quyết định đúng đắn cho các vấn đề được đưa ra biểu quyết
* Quyền thông tin của cổ đông
Phần lớn các cổ đông không được tiếp cận các thông tin trọng yếu củacông ty hoặc không đầy đủ, hoặc thiếu chính xác và trung thực Các cổ đôngthiểu số hầu như không nhận được thông báo về quyết định của Đại hội đồng
cổ đông, tóm tắt báo cáo tài chính, thông báo về việc trả cổ tức
2.1.2 Sự lạm quyền của cổ đông nhà nước trong các công ty cổ phần hóa
Khi còn là doanh nghiệp Nhà nước, cách hành xử của chủ sở hữu Nhànước khác xa với cách sử dụng quyền sở hữu của Nhà nước với tư cách cổđông trong công ty cổ phần sau quá trình chuyển đổi Trong doanh nghiệpNhà nước mà Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ (Luật Doanh nghiệp Nhà