1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

An toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ trong pháp luật lao động việt nam

172 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 172
Dung lượng 242,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ Ở VIỆT NAM 1.1 Khái quát chung về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động 1.1.1 Khái niệm pháp luật an t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT -

LÊ THỊ PHƯƠNG THÚY

AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ

TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT KINH TẾ

Hà Nội – 2009

1

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT -

LÊ THỊ PHƯƠNG THÚY

AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ

TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số: 60.38.50

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS Phạm Công Trứ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của TÔI Những kết luận của luận văn đưa ra là kết quả nghiên cứu của tôi sau quá trình nghiên cứu và tham khảo các tài liệu cần thiết.

Tất cả nguồn tài liệu sử dụng của các công trình nghiên cứu khác tôi đều có trích dẫn cụ thể và chính xác.

Học viên

Lê Thị Phương Thuý

3

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Thay lời mở đầu của luận văn, em xin cảm ơn các thầy cô, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ em trong toàn bộ khoá học.

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phạm Công Trứ

đã tận tâm giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.

Học viên

Lê Thị Phương Thuý

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài ………

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ………

3 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu ………

3.1 Mục đích nghiên cứu ………

3.2 Nhiệm vụ của nghiên cứu ………

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ………

5 Phương pháp nghiên cứu ………

6 Bố cục của luận văn ………

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ Ở VIỆT NAM 1.1 Khái quát chung về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động ………

1.1.1 Khái niệm pháp luật an toàn, vệ sinh lao động ………

1.1.2 Đặc điểm cơ bản của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động 1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật an toàn, vệ sinh lao động 1.2 Một số vấn đề cơ bản về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ ở Việt Nam ………

1.2.1 Đặc điểm của lao động nữ………

1.2.2 Sự cần thiết khách quan phải có các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ………

1.2.3 Lược sử pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ ở Việt Nam ……….

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM 2.1 Các quy định hiện hành về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ ………

2.1.1 Các quy định chung về bảo đảm an toàn,vệ sinh lao động đối với lao động nữ ……….

2.1.2 Các quy định về an toàn nghề nghiệp và bảo vệ sức khoẻ của lao động nữ

5

Trang 6

……… 33 2.1.3 Các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi hợp lý để bảo vệ sức

2.1.4 Các quy định về chế độ thai sản đối với lao động nữ ……… 40 2.1.5 Giải quyết quyền lợi cho lao động nữ bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề

2.1.6 Quy định về thanh tra và xử lý các trường hợp vi phạm quy định về an toàn,

2.2 Thực trạng thực hiện các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ ở

2.2.5.Tình hình thanh tra và xử lý vi phạm đối với các doanh nghiệp không đảm bảo

quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động

nữ 73 2.3 Đánh giá khái quát về thực trạng pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động

nữ 74

2.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân 77

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI

VỚI LAO ĐỘNG NỮ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM

3.1 Sự cần thiết khác quan của việc hoàn thiện pháp luật về về an toàn, vệ sinh lao động

đối với lao động nữ 84 3.2 Những yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối

với lao động nữ 89 3.1.1 Về mặt chủ quan 92 3.1.2 Về mặt khách quan 93 3.3 Sửa đổi, bổ sung một số quy định an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động

nữ 93

Trang 7

3.4 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật an toàn, vệ sinh lao động

đối với lao động nữ 95 KẾT LUẬN 102 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

7

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đã mở ra một giai đoạn mớicho sự phát triển kinh tế của Việt Nam Đường lối đổi mới đúng đắn củaĐảng thể hiện trước hết ở sự quan tâm tới nhân tố con người với chủ trươngcoi nguồn nhân lực luôn là trung tâm của quá trình sản xuất và là tài sản quí giánhất của quốc gia Vì vậy, việc tạo ra một môi trường làm việc tốt cho người laođộng là yêu cầu ngày càng cấp thiết của xã hội

Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, vấn đề đảm bảo an toàn,

vệ sinh lao động (ATVSLĐ) ngày càng liên quan chặt chẽ đến sự thành đạt củamỗi doanh nghiệp, góp phần quyết định đến sự phát triển kinh tế bền vững củamỗi quốc gia Xây dựng một nền sản xuất an toàn với những sản phẩm có tínhcạnh tranh cao gắn liền với việc bảo vệ sức khỏe người lao động là yêu cầu tấtyếu của sự phát triển kinh tế bền vững vµ đủ sức cạnh tranh trong nền kinh tếtoàn cầu hóa

Cùng với những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, thời gian quacông tác ATVSLĐ ở nước ta đã có những chuyển biến đáng kể về hệ thống văn

bản pháp luật và bộ máy tổ chức Chỉ thị số 132CT/TƯ của Ban Bí thư Trung

ương Đảng nhấn mạnh: Ở đâu, khi nào có hoạt động lao động sản xuất, thì ở đó,

khi đó phải tổ chức công tác bảo hộ lao động theo đúng phương châm: Bảo đảm

an toàn để sản xuất - Sản xuất phải bảo đảm an toàn lao động [27]

Thể chế hoá đường lối của Đảng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của

Bé Luật Lao động n¨m 2002 đã dành chương IX quy định về ATVSLĐ Trênthực tế, rất nhiều ngành, nhiều địa phương, doanh nghiệp và người sử dụng laođộng đã có những biện pháp, sáng kiến cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm antoàn vệ sinh lao động và môi trường sản xuất kinh doanh

Trang 9

Tuy vậy, công tác BHLĐ nói chung và công tác ATVSLĐ nãi riªng

ở nước ta còn quá nhiều khó khăn và tồn tại cần giải quyết Nhiều doanh nghiệp,

đặc biệt các doanh nghiệp khu vực phi chính thức mới chỉ quan tâm đầu tư pháttriển sản xuất, thu lợi nhuận, thiếu sự đầu tư tương xứng để cải thiện điều kiệnlàm việc an toàn cho người lao động Vì vậy, Việt Nam đã xảy ra nhiều vụ tainạn lao động làm chết và bị thương nhiều người, thiệt hại tài sản của Nhà nước

và doanh nghiệp Theo Cục An toàn lao động (Bộ Lao động - Thương binh và

Xã hội), trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2004, mặc dù chỉ có 10% tổng sốdoanh nghiệp thực hiện báo cáo về tai nạn lao động nhưng đã cho thấy nhữngcon số đáng bình quân mỗi năm xảy ra 4.245 vụ, làm gần 500 người chết, hơn4.000 người bị thương; có người bị tàn phế suốt đời Hiện tại, cả nước có gần

22 nghìn lao động mắc bệnh nghề nghiệp Số vụ tai nạn lao động hằng năm tăng17,38% Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2005, số vụ tai nạn lao động có ngườichết tăng 5,5% Theo báo cáo của 63 Sở Lao động-Thương binh và Xã hội, trongnăm 2008 đã xảy ra 5836 vụ tai nạn lao động (TNLĐ) làm 6.047 người bị nạn,

có 508 vụ TNLĐ chết người làm 573 người chết, 1.262 người bị thương nặng

Có 129 vụ có từ 2 người bị nạn trở lên, đặc biệt là vụ nổ khí metan tại mỏ thanKhe Chàm ngày 08/12/2008 làm 11 người chết và 22 người bị thương nặng, vụsập giàn cẩu tại Cảng Cái Lân ngày 15/07/2008 làm 7 người chết, 1 người bịthương nặng [95; 4/3/2009] Điều đáng lưu tâm là số vụ tai nạn lao động đượcthống kê kể trên còn thấp hơn rất nhiều so với số vụ xảy ra trong thực tế

Nguyên nhân chính trong các vụ tai nạn lao động do chủ sử dụng lao độngthiếu quan tâm cải thiện điều kiện làm việc an toàn, mặt khác do ý thức tự giác chấphành nội quy, quy chế làm việc bảo đảm an toàn lao động của người lao động chưacao, thiếu sự kiểm tra, giám sát thường xuyên của cơ quan thanh tra Nhà nước về

an toàn lao động Hậu quả của thực tế trên không chỉ gây thiệt hại về tính mạng vàsức khỏe của người lao động, làm thiệt hại tài sản của nhà nước mà còn ảnh hưởngkhông tốt đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước

9

Trang 10

Ở nước ta, 50,86% dân số là nữ, tương ứng với hơn 50% lao động

nữ đã,

đang và ngày càng có đóng góp quan trọng vào nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên,

do những đặc điểm về tâm sinh lý, giới tính, lao động nữ thường gặp khó khăn hơn so với lao động nam trong quan hệ lao động Cùng với quan niệm sai lệch về Giới, những khó khăn này đã làm cho lao động nữ trở thành đối tượng dễ bị tổn thương hơn trong quan hệ lao động, đặc biệt là đối tượng lao động nữ đang chiếm

số đông trong lực lượng lao động trong các doanh nghiệp các loại - nơi mà việc ápdụng pháp luật ATVSLĐ còn nhiều bất cập và tồn tại

Với mong muốn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụngpháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ nhằm góp phần bảo vệ sự

an toàn của lao động nữ trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, học viờn chọn đề

tài nghiờn cứu “An toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ trong pháp luật lao động Việt Nam” cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Qua thực tế tìm hiểu, học viên thấy đã xuất hiện một số bài báo, côngtrình nghiên cứu có đề cập tới một số khía cạnh của vấn đề an toàn, vệ sinh laođộng đối với người lao động nói chung, với một số lượng hạn chế

Tuy nhiên, chưa có một công trình khoa học nào trực tiếp đi sâu vào tìmhiểu vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ cũng như để từ đó cónhững kiến nghị xác đáng nhằm nâng cao việc bảo vệ ngày càng tốt hơn quyềnlợi của đối tượng lao động này

Luận văn đi vào tìm hiểu, tổng hợp một vấn đề mới với hi vọng đóng gópmột góc nhìn khái quát hơn cho việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành pháp luậtliên quan tới lao động nữ trong chế định an toàn, vệ sinh lao động

Trang 11

3 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn muốn làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật an toàn,

vệ sinh lao động cũng như sự cần thiết của việc ban hành các quy định về antoàn, vệ sinh đối với lao động nữ Trên cơ sở đó, luận văn đi sâu phân tích cácquy định về an toàn, vệ sinh lao động và thực tế thực hiện đối với lao động nữtrong các doanh nghiệp ở Việt Nam, có tham khảo kinh nghiệm điều chỉnh phápluật quốc tế của các nước trong lĩnh vực này

Dựa vào những kết quả đó, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm hoànthiện pháp luật vệ sinh, an toàn lao động và nâng cao hiệu quả áp dụng, đáp ứngyêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Namtrong giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ của nghiên cứu

Để đạt được các mục đích nghiên cứu trên, luận văn phải làm rõ nhữngnhiệm vụ cụ thể sau:

Thứ nhất: Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật an

toàn, vệ sinh lao động cũng như sự cần thiết của việc ban hành các quy địnhpháp luật về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ

Thứ hai: Phân tích và đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về an

toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ và việc thực thi trên thực tế, đánh giánhững kết quả cũng như sự bất cập, nguyên nhân của sự bất cập, tồn tại

Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật an toàn, vệ sinh lao

động đối với lao động nữ và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về an toàn,

vệ sinh lao động trong thực tiễn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn đặt mục tiêu nghiên cứu hướng vào tìm

hiểu các quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ ở Việt Nam

11

Trang 12

(văn bản và thực tế áp dụng) Bên cạnh đó, trong chừng mực nhất định cũng có

đề cập đến các quy phạm quốc tế có liên quan

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp

luật về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ trong các loại hình doanh nghiệp ởViệt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài đặt ra, đã dựa trên phương pháp luậncủa chủ nghĩa Mác – Lênin với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.Ngoài ra, luận văn sử dung các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác như:phương pháp lịch sử, tổng hợp, so sánh, phân tích số liệu, tài liệu, thống kê,phương pháp chuyên gia, phương pháp liên ngành, …

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội

dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động

đối với lao động nữ ở Việt Nam Chương 2: Pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ và

thực tế thực hiện ở Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật an

toàn, vệ sinh đối với lao động nữ ở Việt Nam.

Trang 13

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ Ở VIỆT NAM

1.1 Khái quát chung về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động

1.1.1 Khái niệm pháp luật an toàn, vệ sinh lao động

An toàn, vệ sinh lao động là tổng hợp các biện pháp được tiến hành nhằm thiết lập điều kiện làm việc tốt nhất cho người lao động, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng bị tai nạn lao động hoặc giảm thiểu tỷ lệ người bị mắc bệnh nghề nghiệp trong môi trường làm việc An toàn, vệ sinh lao động muốn được

triển khai thực hiện có hiệu quả trong thực tiễn cần được thể chế hoá thành cácquy phạm pháp luật Tập hợp các quy phạm pháp luật về an toàn vệ sinh laođộng, có tính chất bắt buộc chung đối với các đơn vị sử dụng lao động, quy địnhcác điều kiện an toàn, vệ sinh lao động trong môi trường làm việc; các biện phápphòng ngừa, ngăn chặn hoặc khắc phục những yếu tố nguy hiểm, độc hại trongmôi trường làm việc nhằm bảo vệ sức khoẻ người lao động; hạn chế các tai nạnlao động và bệnh nghề nghiệp chính là pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động

Các quy định về an toàn, vệ sinh lao động được đề cập trong các văn bảnpháp luật về an toàn, vệ sinh lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền banhành (như Bộ luật lao động, Nghị định và các Thông tư hướng dẫn các quy địnhcủa Bộ luật lao động về an toàn, vệ sinh lao động) Ngoài ra, trong các văn bảnnội bộ của công ty như thoả ước, nội quy lao động hay quy chế an toàn, vệ sinhlao động của công ty, cũng có các quy định về an toàn vệ sinh lao động Thựcchất, các quy định này chính là sự cụ thể hoá các quy định trong các văn bảnpháp luật về an toàn vệ sinh lao động của nhà nước cho phù hợp với điều kiệnsản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp Bên cạnh đó, các công ước của Tổchức lao động quốc tế (ILO) trực tiếp hoặc gián tiếp quy định các tiêu chuẩn laođộng quốc tế về an toàn lao động và bảo vệ tính mạng, sức khoẻ của người lao

13

Trang 14

động tại nơi làm việc nếu được Nhà nước Việt Nam thông qua cũng chính làmột loại nguồn quan trọng bổ sung các quy định cho pháp luật về an toàn, vệsinh lao động ở nước ta.

Với mục đích bảo vệ sức khoẻ người lao động, hạn chế đến mức thấp nhấtcác tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao độngthường bao gồm những nội dung cụ thể sau đây:

1 Các quy định về điều kiện an toàn lao động, vệ sinh lao động chung áp dụng tại nơi làm việc

2 Các quy định nhằm hạn chế ảnh hưởng của các yếu tố nguy hiểm, độc hại đến sức khoẻ của người lao động

3 Các quy định về chế độ bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp

4 Các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với những nhóm lao động đặc thù như lao động nữ, lao động chưa thành niên, lao động là người cao tuổi, lao động là người tàn tật

5 Các quy định quy định về quyền và nghĩa vụ của người lao động, người sử dụng lao động và trách nhiệm của Nhà nước trong công tác

an toàn, vệ sinh lao động.

Xuất phát từ tầm quan trọng đặc biệt trong việc bảo vệ sức khỏe củangười lao động nên việc thực hiện các quy định về an toàn, vệ sinh lao động cótính bắt buộc cao đối với các đơn vị sử dụng lao động, với các chủ thể tham giaquan hệ lao động Ngoài ra, những quy định về an toàn, vệ sinh lao động trongnội bộ công ty như quy định trong nội quy, quy chế an toàn vệ sinh lao động haytrong thoả ước của công ty được đặt ra đều nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn, thông

số kỹ thuật cần thiết được tính toán trên cơ sở khoa học Do đó, việc thực hiệncác quy định này có tính chất bắt buộc chặt chẽ nhằm giảm thiểu đến mức thấpnhất những nguy cơ rủi ro xảy ra, gây ảnh hưởng đến tính mạng và sức khoẻ củangười lao động

Trang 15

Như vậy, có thể thấy pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động là một chế định trong hệ thống pháp luật lao động Với những nội dung và mục tiêu điều

chỉnh như đã đề cập ở trên, chế định này có tầm quan trọng đặc biệt trong việcbảo vệ người lao động và được coi là một bộ phận không thể thiếu trong hệthống pháp luật lao động ở mọi quốc gia

1.1.2 Đặc điểm cơ bản của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động

Trong thực tế, hoạt động an toàn, vệ sinh lao động thực chất là tổng hợpcác biện pháp về khoa học kỹ thuật, y tế học, vệ sinh học, pháp luật, kinh tế họckết hợp với tuyên truyền, vận động nhằm mục đích bảo vệ tốt nhất tính mạng,sức khoẻ người lao động, phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục hậu quả của tainạn lao động, hoặc bệnh nghề nghiệp Vì vậy, pháp luật an toàn, vệ sinh lao độngkhi điều chỉnh hoạt động này cũng có những điểm đặc thù khác với các chế địnhpháp luật khác

1.1.2.1 Các quy định về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất khoa học kỹ thuật rõ nét.

Mọi biện pháp nhằm hạn chế, loại trừ các yếu tố nguy hiểm, có hại đếnsức khoẻ người lao động trong môi trường làm việc đều xuất phát từ cơ sở khoahọc tự nhiên và được thực hiện bằng các giải pháp kỹ thuật Các biện pháp đóbao gồm các hoạt động điều tra khảo sát điều kiện lao động; phân tích, đánh giáảnh hưởng của các yếu tố nguy hiểm, có hại đối với người lao động; giải pháp

xử lý điều kiện môi trường lao động; ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật về antoàn, vệ sinh lao động trên cơ sở từng ngành nghề; cải tiến trang bị, kỹ thuậtcông nghệ sản xuất…

Phần lớn các quy định điều chỉnh hoạt động an toàn, vệ sinh lao độngmang tính chất khoa học kỹ thuật rõ ràng Tính khoa học và tính pháp lý cùngtồn tại trong rất nhiều các quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động Các

15

Trang 16

quy định về tiêu chuẩn ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm không khí, nồng độ bụi tối đatrong môi trường làm việc,… là những quy định thể hiện kết quả cuối cùng củaviệc nghiên cứu các yếu tố khoa học, kỹ thuật, sinh học trong môi trường làmviệc và sự ảnh hưởng của nó đến sức khoẻ của người làm việc trong môi trườngtương ứng.

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuyển các kết quả này thành các quyđịnh có tính chuẩn mực về an toàn, vệ sinh lao động trong các văn bản pháp luật

có tính chất bắt buộc chung trong phạm vi toàn quốc, hoặc trong phạm vi từngngành Điều đó cho thấy tính khoa học kỹ thuật là một trong những đặc điểmriêng biệt của pháp luật về an toàn vệ sinh lao động so với các chế định pháp luậtlao động khác

Một trong những khía cạnh quan trọng của công tác quản lý Nhà nước

trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động là việc ban hành và quản lý thống nhất

hệ thống quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật về an toàn, vệ sinh lao động Theo quyđịnh hiện hành, các bộ ngành chức năng có trách nhiệm phối hợp ban hành vàquản lý thống nhất hệ thống tiêu chuẩn, quy phạm về an toàn, vệ sinh lao độngcấp ngành

Về hình thức, tiêu chuẩn về an toàn, vệ sinh lao động mang đầy đủ nhữngyếu tố của một quy phạm pháp luật (như có tính chất bắt buộc áp dụng) Về nộidung, nó chứa đựng những yêu cầu mặt kỹ thuật nghiêm ngặt dựa trên cơ sởnghiên cứu khoa học về an toàn, vệ sinh lao động Những quy chuẩn này (gồm

150 loại) có thể được áp dụng ở cấp Nhà nước hoặc cấp ngành nhằm mục đíchhạn chế, ngăn ngừa các tai nạn lao động, sự cố có thể xảy ra đối với con người,môi trường hoặc thiết bị; phòng ngừa các bệnh nghề nghiệp trong quá trình laođộng

Đối tượng quản lý về an toàn, lao động của Bộ LĐ -TB & XH là các loạimáy, thiết bị, vật tư và các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao độngtrong cả nước Trước đây các thiết bị, máy móc trên được quản lý theo tiêu

Trang 17

chuẩn do Nhà nước ban hành, hiện nay những quy phạm an toàn thường mangtên gọi chung là Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) quy định tại Khoản 1 điều 3 Nghịđịnh 06/ CP Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc ban hành các TCVN nhưng

do điều kiện về kinh phí hạn chế (chỉ có từ 3 - 5 triệu đồng/ 1 TCVN), chịu ảnhhưởng của hệ thống tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao đồng của Liên Xô cũ Một

số tiêu chuẩn đã cũ, nội dung đã lạc hậu, không phù hợp so với khu vực và quốc

tế như các quy phạm về an toàn lao động trong hầm lo than, điện lạnh, nồi hơi

và các thiết bị nâng cần được xem xét lại tiêu chuẩn và ban hành tiêu chuẩnmới cho phù hợp

1.1.2.2 Các quy định về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất bắt buộc cao.

Để các giải pháp khoa học kỹ thuật về an toàn, vệ sinh lao động đượcthực hiện, Nhà nước đã thể chế các biện pháp này thành quy định, tiêu chuẩn,yêu cầu cụ thể có tính chất bắt buộc chung đối với các đơn vị sử dụng lao động,các cá nhân người lao động và các chủ thể có liên quan khác trong quá trình ápdụng pháp luật Phần lớn các văn bản pháp luật trong lĩnh vực an toàn, vệ sinhlao động đều chứa đựng các quy định cứng, không thể thoả thuận giữa các chủthể khi vận dụng Ví dụ như các quy định về điều kiện làm việc, trang thiết bịbảo hộ lao động cá nhân, việc khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động

Trong chế định pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động có một số quy định

có tính chất “định khung” khi xác định quyền lợi tối thiểu của người lao độngtrong việc thực hiện chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật, tiền bồi thường cho người

bị tai nạn lao động So sánh với cơ chế điều chỉnh của nhiều chế định pháp luậtkhác của pháp luật lao động, có thể thấy các quy định về an toàn, vệ sinh laođộng mang tính chất “cứng nhắc” hơn, khó có thể có phần linh hoạt để các bênthoả thuận trong hợp đồng lao động hay thoả ước tập thể Đó là nguyên nhânkhách quan khiến các chủ thể khi thoả thuận về điều khoản an toàn, vệ sinh lao

17

Trang 18

động trong hợp đồng lao động hay thoả ước tập thể thường ghi là “theo quy định của pháp luật hiện hành”.

1.1.2.3 Các quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất xã hội

Việc thực hiện các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đòi hỏi sự thamgia của tất cả các chủ thể bao gồm người lao động, người sử dụng lao động, các

cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực lao động, các tổ chức xã hội và cácđoàn thể quần chúng có liên quan

Trong quá trình lao động, việc thực hiện đúng, đủ các quy định, tiêu chuẩn

an toàn, vệ sinh lao động chính là hoạt động đảm bảo an toàn, vệ sinh lao độngcủa mọi chủ thể tham gia quan hệ lao động Họ là người thực hiện, giám sát việcthực hiện các quy định và cũng là người phát hiện các yếu tố nguy hiểm, có hại

từ đó yêu cầu, đề xuất biện pháp giải quyết nhằm góp phần đảm bảo điều kiệnlao động ngày một tốt hơn

Do vậy, công tác an toàn, vệ sinh lao động chỉ có hiệu quả khi mọi ngành,mọi tổ chức, cá nhân tự giác thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn, vệsinh lao động Hiển nhiên, các quy định về an toàn, vệ sinh lao động thườngmang tính xã hội rộng rãi và có liên quan đến nhiều đối tượng trong xã hội

1.1.2.4 Pháp luật về an toàn vệ sinh lao động đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ tính mạng, sức khoẻ của người lao động.

Đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động là yêu cầu tất yếu, khách quan của hoạtđộng sản xuất Hoạt động sản xuất là quá trình tác động tới môi trường xungquanh, đồng thời cũng là quá trình người lao động chịu các tác động ngược trởlại của môi trường lao động Ngay từ thời sơ khai, con người đã biết cải tiếncông cụ, điều kiện lao động để tự bảo vệ mình Do hoạt động sản xuất là mộttrong những nguyên nhân gây tác hại tới môi trường sống, cùng với sự phát triểncủa văn minh nhân loại, những tiến bộ của trình độ, công nghệ sản xuất cũng

Trang 19

tăng lên đóng góp cho sự tiến bộ của xã hội Mặt khác, những yếu tố đó lại làmcho môi trường sống, trong đó có môi trường lao động ngày càng xấu đi donhững tác động ngày càng nhiều với các yếu tố nguy hiểm độc hại như phóng

xạ, tia tử ngoại… Môi trường lao động ngày càng đa dạng, phức tạp, nguy hiểm đòi hỏi công tác an toàn, vệ sinh lao động phải được phát triển tương xứng.

Công tác an toàn, vệ sinh lao động được thực hiện tốt sẽ giảm thiểu cácchi phí về y tế và bảo hiểm xã hội không cần thiết cho đối tượng bị tai nạn laođộng, bệnh nghề nghiệp, cũng như góp phần bảo vệ môi trường sống của conngười Thực hiện hiệu quả công tác này là góp phần giảm tới mức thấp nhất sựtiêu hao lao động và những tổn thất tới vật chất, con người và môi trường

An toàn lao động, vệ sinh lao động là chính sách kinh tế xã hội lớn, có ýnghĩa quan trọng trong việc phát triển bền vững và bảo vệ sức khoẻ người laođộng Đặc biệt trong cơ chế thị trường hiện nay, khi mục tiêu tối đa hoá lợinhuận là mối quan tâm hàng đầu của các chủ doanh nghiệp thì vấn đề đảm bảo

an toàn, vệ sinh lao động càng trở nên bức xúc Chạy theo lợi nhuận, người sửdụng lao động tìm mọi cách để giảm mọi chi phí, bao gồm cả chi phí xây dựngmôi trường lao động an toàn, vệ sinh cho người lao động Do đó, nếu không giảiquyết thoả đáng vấn đề an toàn, vệ sinh lao động thì nền kinh tế không đảmđược sự phát triển bền vững Điều kiện lao động xấu không chỉ ảnh hưởng tớingười lao động trực tiếp mà còn có tác động xấu tới thế hệ lao động tương lai

Vì vậy, đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động là đảm bảo sức khoẻ, tính mạngngười lao động, duy trì nền sản xuất ổn định và tạo tiền đề góp phần cho sự pháttriển kinh tế xã hội bền vững

1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật an toàn, vệ sinh lao động

19

Trang 20

Nguyên tắc cơ bản của pháp luật về an toàn vệ sinh lao động là những tưtưởng chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình xây dựng và áp dụng các quy phạmpháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.

1.1.3.1 Nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lý về an toàn, vệ sinh lao động

Công tác an toàn, vệ sinh lao động có ý nghĩa vô cùng quan trọng trongviệc bảo vệ an toàn tính mạng, sức khoẻ người lao động, duy trì nền sản xuất tạotiền đề cho sự phát triển bền vững của xã hội Trong nền kinh tế thị trường hiệnnay, an toàn, vệ sinh lao động đang đặt ra nhiều vấn đề ngày càng bức xúc, đòihỏi phải có sự quản lý thống nhất của Nhà nước, tổ chức có đủ quyền năng vàsức mạnh cưỡng chế, với bộ máy từ trung ương đến cơ sở đảm bảo việc tiếnhành hiệu quả các hoạt động quản lý về an toàn, vệ sinh lao động

Nguyên tắc này đã được quy định tại điều 56 Hiến pháp năm 1992 (sửađổi) và được cụ thể tại Bộ luật Lao động sửa đổi:

“Chính phủ lập chương trình quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động, đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và ngân sách Nhà nước đầu tư nghiên cứu khoa học, hỗ trợ phát triển các cơ

sở sản xuất dụng cụ, trang thiết bị an toàn lao động, vệ sinh lao động, phương tiện bảo vệ cá nhân; ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm về an toàn lao động, vệ sinh lao động” (Điều khoản 2 điều 95) [25].

Việc quản lý của nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chấttập trung dân chủ Đây là trách nhiệm của các ngành chức năng và là nghĩa vụcủa những đối tượng tham gia quan hệ lao động Quyền quản lý cao nhất thuộc

về Chính phủ, bên cạnh đó có sự phân công, phân cấp quản lý cụ thể nhằm tạo

cơ chế cho các ngành chức năng được phát huy tính chủ động trong việc thựchiện chức năng quản lý của mình nhằm mang lại hiệu quả quản lý cao nhất

Quản lý Nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động là hoạt động tạo cơ sởpháp lý và thiết lập điều kiện vật chất cho việc thực thi pháp luật an toàn, vệ sinh

Trang 21

lao động trên thực tế Việc thiết lập môi trường lao động phải phụ thuộc vàođiều kiện kinh tế – xã hội cụ thể Nền kinh tế Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiềukhó khăn, thách thức và không đồng đều, do vậy, chúng ta chưa thể tạo dựngđược một môi trường lao động lý tưởng với việc đảm bảo an toàn, vệ sinh laođộng ở mức cao nhất hoặc theo các tiêu chuẩn quốc tế.

Nhà nước đã và đang cố gắng từng bước đảm bảo cho người lao độngđược làm việc trong môi trường lao động an toàn và vệ sinh theo điều kiện hiện

có của đất nước, mục đích quan trọng nhất là đảm bảo an toàn về tính mạng vàsức khoẻ người lao động nhằm xây dựng một nền kinh tế xã hội phát triển, bềnvững

1.1.3.2 Nguyên tắc thực hiện an toàn, vệ sinh lao động là nghĩa vụ bắt buộc đối với các bên trong quan hệ lao động.

Thực hiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động, các bên tham gia quan

hệ lao động bắt buộc phải tuân thủ, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theonhững quy định mà pháp luật đã ban hành Bộ luật Lao động sửa đổi quy định:

“Người sử dụng lao động có trách nhiệm trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động, bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động Người lao động phải tuân thủ các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động và nội quy lao động của doanh nghiệp Mọi tổ chức và cá nhân có liên quan đến lao động, sản xuất phải tuân theo pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường” (Khoản 1 điều 95) [25].

Trong quan hệ lao động, người sử dụng lao động phải có trách nhiệmchính trong công tác an toàn, vệ sinh lao động, họ phải đầu tư kinh phí cho xâydựng, cải tạo nhà xưởng, máy móc, trang bị phương tiện đảm bảo an toàn, vệsinh lao động cho cá nhân và máy móc; thực hiện chế độ bồi dưỡng bằng hiệnvật… cho người lao động theo quy định của pháp luật Việc người sử dụng lao

21

Trang 22

động phải chịu chi phí cải tạo điều kiện lao động đã làm giảm sức cạnh tranh sảnphẩm của họ trên thị trường.

Điều này gây nên xu hướng giảm đến mức thấp nhất các chi phí đầu vàotrong đó bao gồm cả chi phí dành cho công tác an toàn, vệ sinh lao động để hạgiá thành sản phẩm Do đó, pháp luật quy định người sử dụng lao động có nghĩa

vụ bắt buộc trong việc đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động nhằm ràng buộc tráchnhiệm của của họ khi thiết lập quá trình sản xuất kinh doanh

Tuy nhiên, môi trường lao động an toàn, vệ sinh là một trong những yếu

tố dễ thu hút lao động có chất lượng cao Người lao động sẵn sàng phát huy chấtxám và sức lực đem lại hiệu suất lao động cao cho doanh nghiệp, hơn nữa, việcthiết kế môi trường lao động an toàn, vệ sinh sẽ làm giảm các chi phí để giải

quyết các tai nạn lao động có thể xảy ra trong doanh nghiệp Do vậy, thực hiện

an toàn, vệ sinh lao động vừa là nghĩa vụ bắt buộc đối với người sử dụng lao động, vừa mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho họ.

Các quy định về an toàn, vệ sinh lao động có ý nghĩa bắt buộc đối với các

cơ quan nhà nước có liên quan, các tổ chức và người sử dụng lao động, đồngthời, thực hiện nó là trách nhiệm của người lao động Để các quy định của phápluật lao động được thực hiện nghiêm túc và triệt để, bản thân người lao độngphải có nghĩa vụ biết và chấp hành các nội quy đó, có ý thức trong việc tự bảo vệtính mạng, sức khoẻ trong quá trình lao động

Bộ luật lao động sửa đổi quy định: “… Người lao động phải tuân thủ các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động và nội quy lao động của doanh nghiệp” (Khoản 1 điều 95) [25] Các quy định đối với người lao động thường

được quy định trong nội quy doanh nghiệp, thoả ước lao động tập thể (nếu có)

và điều khoản về điều kiện an toàn, vệ sinh lao động trong hợp đồng lao động

Với các quy định này, nếu người lao động không có ý thức trách nhiệmbảo vệ sức khoẻ, tính mạng của bản thân bởi việc không thực hiện hoặc thựchiện không đúng thì dù có được làm việc trong môi trường an toàn, vệ sinh tuyệt

Trang 23

đối thì tai nạn lao động vẫn có thể xảy ra Các quy định về an toàn, vệ sinh laođộng đối với người lao động thường gồm các việc như: giữ gìn và sử dụng đúngquy trình các thiết bị bảo vệ an toàn, vệ sinh chung (thiết bị phòng cháy chữacháy, quạt thông gió…); bảo quản và sử dụng các phương tiện bảo vệ cá nhân,chấp hành các quy định về an toàn, vệ sinh lao động trong nội quy doanhnghiệp…

Việc thực hiện các quy định này phụ thuộc rất lớn vào khả năng nhận thức,

ý thức của bản thân người lao động, công tác tuyên truyền về công tác an toàn,

vệ sinh lao động của các đơn vị, tổ chức có liên quan, đặc biệt là tổ chức Côngđoàn Đồng thời, việc áp dụng nghiêm minh các biện pháp xử lý người lao độngnếu không tuân thủ các quy định về an toàn, vệ sinh lao động là hoạt động đặcbiệt quan trọng Như vậy, việc thực hiện các quy định về an toàn vệ sinh laođộng không chỉ đảm bảo sức khoẻ, tính mạng cho chính bản thân người lao động

mà còn là nghĩa vụ bắt buộc đối với họ

Như vậy, các quy định về an toàn, vệ sinh lao động có ý nghĩa bắt buộc đối với tất cả các bên khi tham gia quan hệ lao động Nguyên tắc này được quán

triệt, xuyên suốt trong quá trình xác lập quan hệ lao động, cũng như quá trìnhthực hiện quy trình lao động, sản xuất Thực hiện tốt nguyên tắc này trên thực tế

sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và hạn chế đến mức thấpnhất các tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp có thể xảy ra

1.1.3.3 Nguyên tắc đảm bảo sự tham gia của tổ chức công đoàn trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động.

Công đoàn là tổ chức đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củangười lao động Với quyền hạn, trách nhiệm và cơ chế hoạt động, công đoàn là

tổ chức có nhiều khả năng nhất trong việc bảo vệ quyền của người lao động nóichung và quyền được làm việc trong môi trường an toàn, vệ sinh lao động củangười lao động nói riêng Vì vậy, việc đề cao và đảm bảo quyền hạn, trách

23

Trang 24

nhiệm của tổ chức công đoàn trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động mang tínhtất yếu, khách quan.

Chương XIII, Bộ luật Lao động sửa đổi quy định về quyền hạn và tráchnhiệm của tổ chức công đoàn cụ thể và chi tiết Đây chính là việc đề cao tổ chứccông đoàn Đồng thời, các quy định từ điều 153 đến 156 của Bộ luật và đặc biệttrong Luật Công đoàn năm 1990, Nhà nước đã quy định rất rõ trách nhiệm củangười sử dụng lao động phải tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức công đoàn đượcthành lập và hoạt động Sau sáu tháng kể từ khi doanh nghiệp đi vào hoạt động,

tổ chức công đoàn phải được thành lập và người sử dụng lao động phải thừa

nhận tổ chức đó “Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở việc thành lập và hoạt động công đoàn tại doanh nghiệp” [25] Hơn thế nữa, để tạo điều kiện cho hoạt động

của công đoàn, người sử dụng lao động phải có trách nhiệm đảm bảo cácphương tiện làm việc cần thiết, phải trả lương và tạo điều kiện về thời gian chongười làm công tác công đoàn

Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định rất cụ thể về nội dung hoạt động của công đoàn trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp gồm

các hoạt động củng cố tổ chức, bộ máy bảo hộ lao động, xây dựng kế hoạch bảo

vệ an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động; tự kiểm tra công tác an toàn, vệsinh lao động như rà soát máy móc, kẻ vẽ biển báo hiệu nguy hiểm; mua mới vàsửa chữa máy móc; khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động nhằm sớm pháthiện bệnh nghề nghiệp, đo đạc yếu tố vệ sinh tại nơi làm việc; tổ chức tuyêntruyền vận động về an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động

Ngoài ra, các tổ chức công đoàn còn tham gia các hoạt động lớn của quốcgia về an toàn, vệ sinh lao động của quốc gia như tham gia xây dựng Chươngtrình Quốc gia về an toàn,vệ sinh lao động; Tuần lễ quốc gia về an toàn,vệ sinhlao động và phòng chống cháy nổ hàng năm; và tham gia Mạng thông tin an toàn,

vệ sinh lao động đã nói lên vị trí, vai trò của tổ chức công đoàn trong hoạt động

Trang 25

đảm bảo thực hiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động Bộ luật lao động sửa đổi quy định:

“TLĐ LĐVN tham gia với Chính phủ trong việc xây dựng chương trình quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động, xây dựng chương trình nghiên cứu khoa học, xây dựng pháp luật về bảo

hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động” (Khoản 3 điều 95) [25].

Đối với người lao động, trong hoạt động bảo đảm việc thực hiện phápluật an toàn, vệ sinh lao động cho họ, tổ chức công đoàn có vai trò quan trọng vàcốt yếu trong việc tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức của người laođộng trong việc yêu cầu và thực hiện pháp luật an toàn, vệ sinh lao động; trongviệc yêu cầu người sử dụng lao động xây dựng và đảm bảo điều kiện lao độngđược an toàn, vệ sinh

1.1.3.4 Tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn, vệ sinh lao động trong các Công ước có liên quan đến an toàn, vệ sinh lao động mà Việt Nam đã phê chuẩn.

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã tham gia và phêchuẩn 17 công ước trong đó có nhiều công ước liên quan đến việc bảo đảm antoàn, vệ sinh cho người lao động nói chung, và lao động nữ nói riêng Khi xâydựng khung pháp lý và chính sách về an toàn, vệ sinh lao động, Việt Nam tôntrọng và thể hiện trong luật pháp của mình đối với các công ước mà Việt Nam đãphê chuẩn Với các công ước liên quan đến an toàn, vệ sinh lao động khác củaILO, Việt Nam luôn coi là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng trong quá trìnhxây dựng pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động

Công ước 155 (1981) về an toàn và vệ sinh lao động cuả ILO được coi

như một công ước toàn diện và đầy đủ nhất về hoạt động an toàn, vệ sinh laođộng Theo công ước này, các quốc gia thành viên phải có hệ thống chính sáchquốc gia về an toàn, vệ sinh lao động trong mọi ngành nghề Việt Nam là nước

25

Trang 26

đầu tiên ở Châu Á phê chuẩn công ước này Điều này thể hiện quan điểm củaNhà nước Việt Nam trong hoạt động bảo vệ sức khoẻ người lao động.

Với một số ngành kinh tế đặc thù, tiềm ẩn nguy cơ cao về tai nạn lao động

và bệnh nghề nghiệp, ILO đã thông qua một số công ước và khuyến nghị như

các công ước: Công ước số 62 (1937) và Công ước số 167 (1992) về an toàn của ngành xây dựng; Công ước số 28 (1929) và Công ước số 32 (1932) về an toàn của người làm nghề bốc dỡ trên bến tàu; Công ước 120 (1964) về Vệ sinh trong

thương mại và văn phòng

Nhằm bảo vệ đặc biệt cho những người lao động dễ bị tổn thương, ILO

đặc biệt chú trọng đến 2 nhóm người lao động là phụ nữ và trẻ em thông qua các

công ước Ngay trong 6 công ước quốc tế của ILO được thông qua tại phiên họpđầu tiên của Hội nghị toàn thể lần thứ nhất năm 1919 thì có đến 4 công ước liênquan đến phúc lợi và an toàn của lao động trẻ em, lao động chưa thành niên vàlao động nữ Cụ thể là:

+ Công ước số 3 (1919) về chế độ nghỉ thai sản;

+ Công ước số 4 (1919) về chế độ làm ban đêm;

+ Công ước số 5 (1919) về tuổi lao động tối thiểu của trẻ em trong các ngành công nghiệp

+ Công ước số 6 (1919) về làm việc ban đêm của người lao động chưa thành niên trong công nghiệp

+ Công ước số 45 (1935) về sử dụng phụ nữ vào những công việc dưới

những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất1

Bên cạnh các công ước của ILO, các công ước khác liên quan đến phụ nữcũng ít nhiều đề cập đến việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động cho phụ nữ

Trang 27

26

Trang 28

(CEDAW) 1979, của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc (Việt Nam phê chuẩn ngày 19/3/1982) đã quy định:

“Các nước tham gia phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để xoá

bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong lĩnh vực việc làm nhằm bảo đảm những quyền như nhau trên cơ sở bình đẳng nam nữ, đặc biệt là quyền được bảo vệ sức khoẻ và bảo đảm an toàn lao động, kể cả bảo vệ chức năng sinh đẻ” (Điều 11, khoản 1 phần f) [18].

Có thể nói, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) và Liên hiệp quốcthông qua các công ước trong lĩnh vực bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động đã xâydựng được những khuôn mẫu cho các quốc gia vận dụng trong quá trình xâydựng pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động

1.2 Một số vấn đề cơ bản về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ ở Việt Nam

1.2.1 Đặc điểm của lao động nữ

Trong pháp luật lao động Việt Nam, mặc dù có sử dụng cụm từ “lao độngnữ” nhưng không có khái niệm lao động nữ mà chỉ có khái niệm người lao độngnói chung Trên cơ sở các quy định của pháp luật lao động, chúng ta có thể hiểu,lao động nữ trước hết là người lao động theo quy định của pháp luật nhưng cógiới tính là nữ

Lao động nữ có những đặc điểm riêng biệt so với lao động nam chính từ

sự khác biệt về giới tính mà chúng ta thường đề cập đến tính đặc thù của laođộng nữ Tính đặc thù của lao động nữ thể hiện ở những điểm đặc trưng cơ bảnsau đây:

Thứ nhất: về thể lực và tâm sinh lý của lao động nữ:

Xét theo yếu tố sinh học (giới tính) lao động nữ có những đặc điểm vềsinh lý, tâm lý, chức năng sinh học và thể lực khác hẳn so với lao động nam

Trang 29

Dưới góc độ giới tính, xét về thể lực, lao động nữ thường yếu hơn lao động namnên họ thường tham gia vào các công việc nhẹ nhàng Ngoài ra, lao động nữ cóthời kỳ phát triển thể chất, tinh thần, thời kỳ lão hoá khác biệt so với lao độngnam; nhu cầu ăn uống, nghỉ ngơi, giải trí cũng khác

Theo số liệu được tổng kết trong các đề tài nghiên cứu khoa học về giới,lao động nữ thường có thể lực yếu hơn so với lao động nam Sức chịu đựng củaphụ nữ trong điều kiện lao động nguy hiểm, nặng nhọc, độc hại kém hơn so vớilao động nam Chính vì vậy, các kết quả nghiên cứu về công tác bảo hộ lao độngđều đưa ra những khuyến cáo về việc không nên sử dụng lao động nữ trongnhững điều kiện lao động chứa nhiều yếu tố nguy hiểm, độc hại Sự tồn tại củanhững yếu tố này đương nhiên ảnh hưởng đến sức khoẻ của mọi người lao độnglàm việc trong môi trường đó nói chung Riêng đối với lao động nữ, sự ảnhhưởng không chỉ để lại hậu quả nặng nề đối với sức khoẻ thông thường của laođộng nữ mà còn ảnh hưởng tới sức khoẻ sinh sản của họ Từ đó, gây hậu quảtiếp theo cho những đứa con do lao động nữ sinh ra

Thứ hai, lao động nữ có vị thế kinh tế xã hội kém hơn so với lao động

nam, đặc biệt là ở những quốc gia phương Đông như Ấn Độ, Trung Quốc, Việt

Nam Điều này bởi chi phối sâu sắc bởi ý thức hệ “trọng nam khinh nữ” đã có từngàn đời nay của các quốc gia này

Theo kết quả nghiên cứu của các nhà sử học và xã hội học, khi xã hội loàingười chuyển từ chế độ “mẫu hệ” sang chế độ “phụ hệ”, vai trò của người phụ nữdần dần bị đẩy xuống hàng thứ yếu so với nam giới Trong chế độ mẫu hệ, với cuộcsống bầy đàn dựa vào nguồn sống sẵn có, người phụ nữ có vai trò chính trong hoạtđộng hái lượm và là giới nắm vai trò quyền lực Chuyển sang hình thái xã hội “phụhệ”, bắt đầu với hoạt động săn bắn và trồng trọt, tính chất công việc thay đổi và phụthuộc nhiều vào sức khoẻ lao động nam là chính, quyền lực xã hội chuyển sang giớinam Quyền lực này đã tồn tại dai dẳng và ăn sâu vào tiềm thức của mọi tầng lớpnhân dân trong xã hội cho đến tận ngày nay Với tư

28

Trang 30

tưởng này, đã dần làm cho phụ nữ có vị trí yếu thế, thiệt thòi hơn trong xã hội,

họ mất đi các quyền tham gia, quyền quyết định các vấn đề liên quan đến bảnthân, con cái và gia đình của họ; cơ hội học tập, phát triển và thụ hưởng vật chất

bị hạn chế làm cho phụ nữ thiếu các điều kiện cần thiết để phát triển

Là một nước nằm trong hệ thống nhà nước xã hội chủ nghĩa, ngay sau khigiành được độc lập, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định vị thế của phụ nữ, bắtđầu bằng việc ghi nhận phụ nữ được quyền tham gia bầu cử, ứng cử vào cơ quanquyền lực cao nhất của Nhà nước (Quốc hội) Quyền bình đẳng nam nữ đượcghi nhận trong bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước ta (1946) và từng bướcđược thực hiện trong đời sống kinh tế - xã hội và gia đình

Thứ ba, lao động nữ có ít cơ hội để làm việc và cơ hội thăng tiến của lao

động nữ cũng thấp hơn rất nhiều so với lao động nam:

Do những cản trở về mặt chính trị và thái độ xã hội, lao động nữ luôn thiếucác cơ hội học tập và tiếp cận công nghệ hiện đại, tiến tiến trong lao động, tiếp cậnviệc làm ở khu vực chính thức, không có thu nhập hoặc thu nhập không cao Dovậy, họ luôn phải chịu vị trí thấp, yếu thế hơn trong xã hội, lao động thời gian dàihơn với những công việc giản đơn hơn và thu nhập thấp hơn: Tỷ lệ tham gia lựclượng lao động của lao động nữ hiện nay xấp xỉ 67%, thấp hơn so với lao động namvới 76%; mức lương trung bình theo tháng đối với lao động nữ

ở Việt Nam hiện là 616.000 đồng, chỉ bằng 88,5% mức thu nhập chung của cảlao động nam và lao động nữ [75; tr.11]; nghề nông chiếm 63% việc làm ở ViệtNam, phụ nữ làm nông nghiệp có số giờ làm việc trung bình nhiều hơn nam giớitới 8h/ ngày, do vậy, họ thường bị quá tải, điều này không những ảnh hưởng tớisức khoẻ của họ mà còn làm giảm thời gian nghỉ ngơi, cản trở cơ hội học tập vànắm bắt thông tin thị trường và công nghệ mới

Trong quá trình cải cách doanh nghiệp Nhà nước, lao động nữ chiếm 60%

số người lao động mất việc, 35% lao động nữ ở lại được giao những công việckhông thường xuyên hoặc tạm thời Điều này không chỉ phổ biến trong các

Trang 31

ngành nghề của Việt Nam mà còn là tình trạng chung của các nước Châu Á.Những con số trên đều cho thấy sự bất bình đẳng giữa lao động nam và lao động

nữ Điều này làm cho lao động nữ vốn đã thiệt thòi, hạn chế ngày càng thiệt thòi,hạn chế và kém phát triển hơn

Thứ tư, lao động nữ ngoài công việc mà họ đang tham gia với tư cách là

người lao động thuần tuý còn phải thực hiện những thiên chức của người phụ nữ trong gia đình.

Theo những tài liệu và luận thuyết khoa học đã cho thấy đồng hồ sinh họccủa lao động nữ và lao động nam khác nhau Chính từ sự khác nhau về của cấutạo cơ thể về mặt sinh học mà lao động nữ có thiên chức riêng của mình Phụ nữ

là chủ thể của sự kết hợp giữa hoạt động lao động sản xuất ra của cải vật chất chogia đình và xã hội với hoạt động lao động tái sản xuất sức lao động con người.Bên cạnh chức năng lao động, lao động nữ còn phải đảm nhận thiên chức làm

mẹ, chỉ có người phụ nữ mới có thể mang thai, sinh đẻ và cho con bú sữa mẹ

Thiên chức làm mẹ của người phụ nữ (sinh đẻ và nuôi dưỡng con cái)thường gắn liền với chức năng nội trợ, công việc gia đình, dần dần, xã hội coichức năng này “đương nhiên” thuộc về phụ nữ Với ý thức này, nam giới ngàycàng có nhiều thời gian, cơ hội học tập, nắm bắt thông tin và công nghệ hiện đạihơn, do đó, họ có điều kiện lao động sản xuất tốt hơn, tạo ra nhiều của cải hơn,mang lại thu nhập cho gia đình cao hơn, và đương nhiên, họ có vị trí ngày càngcao hơn trong gia đình và xã hội Tuy nhiên, xã hội dường như lại quên đi côngđóng góp đáng kể của phụ nữ trong giá trị lao động của nam giới Theo báo cáophát triển nhân lực của Liên Hợp Quốc, ước tính công việc không được trảlương hiện nay của phụ nữ trên toàn thế giới (gồm việc nội trợ, chăm sóc trẻem…) theo giá trị thị trường khoảng 11 tỷ đô la Mỹ

1.2.2 Sự cần thiết khách quan phải có các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ

30

Trang 32

Sự cần thiết khách quan phải có các quy định về an toàn, vệ sinh lao độngdành riêng cho lao động nữ trước hết xuất phát từ những điểm khác biệt, đồngthời cũng là đặc trưng riêng của lao động nữ nên không thể đồng thời sử dụngcác quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động cho cả lao động nam và laođộng nữ.

Nhận thức được vấn đề này, thế giới đã và đang đề cao vấn đề bình đẳnggiữa giới nam và giới nữ, xác định sự tiến bộ và phát triển của phụ nữ được coinhư sự tiến bộ của một nửa nhân loại Hoạt động này sẽ tạo điều kiện cho phụ

nữ nói chung, và lao động nữ nói riêng, có thêm cơ hội và điều kiện tiến bộ, pháttriển và thụ hưởng bình đẳng với nam giới Chỉ trong điều kiện đó, họ mới cóthể tái sản xuất sức lao động con người tiến bộ hơn, phát triển và hoàn thiện hơn.Với nhận thức con người là của cải, vốn quý của xã hội, Đảng và nhà nước ViệtNam đã rất quan tâm đến vốn quý ấy và đã có những chính sách, quy định đảmbảo quyền bình đẳng của nam nữ, cũng như có những quy định riêng đối với nữgiới

Sự cần thiết phải có quy định riêng đối với lao động nữ, đặc biệt trongviệc đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động còn xuất phát từ xu thế phát triển nềnkinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế Tính đến thời điểm hiện nay, Việt Nam

là một trong số ít quốc gia trên thế giới đi đầu trong việc thể chế hoá và đưa vàocuộc sống nguyên tắc nam nữ bình đẳng trong công ước quốc tế về bình đẳnggiới CEDAW

Việt Nam hiện là quốc gia đầu tiên ở Châu Á ký công ước này và cam kết

về việc triển khai thực hiện công ước này tại Việt Nam Do đó, quyền bình đẳnggiữa lao động nam và lao động nữ trong các lĩnh vực thuộc quá trình lao động,đặc biệt là quyền được làm việc trong điều kiện lao động an toàn, vệ sinh là vấn

đề có tính tất yếu khách quan Đây cũng là một trong những lý do khẳng định sựcần thiết phải có các quy định về an toàn, vệ sinh lao động dành riêng cho laođộng nữ

Trang 33

Ngoài ra, sự cần thiết của các quy định về an toàn, vệ sinh đối với laođộng nữ được lý giải thông qua vai trò thực tế của các quy định này trong việcbảo vệ sức khoẻ, tính mạng, đảm bảo thiên chức của người phụ nữ trong giađình sau khi hết thời gian làm việc.

Cụ thể là, việc có những quy định riêng về an toàn, vệ sinh lao động cholao động nữ đã tạo điều kiện và cơ hội tiếp cận việc làm, tham gia vào quan hệlao động của xã hội của lao động đó Từ đó, một số chị em phụ nữ khi được cânnhắc vào các vị trí nhất định trong quá trình sản xuất đã chứng tỏ được vai tròtrong việc tham gia đóng góp vào việc sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội,đóng góp vào việc tạo ra những lợi nhuận cho người sử dụng lao động, góp phầngiải phòng sức lao động và tăng thu nhập cho lao động nữ và gia đình của họtrong điều kiện phúc lợi xã hội còn hạn chế

Dưới góc độ xã hội, việc ban hành những quy định riêng cho lao động nữnhằm góp phần nâng cao nhận thức và thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam,giúp lao động nữ ngày càng tự tin, hòa mình vào cộng đồng và phát huy hết tàinăng, sức sáng tạo trong lao động, cả thiện vị trí trong gia đình và ngoài xã hộithông qua thu nhập ổn định, giúp an toàn và ổn định xã hội, tạo điều kiện thuậnlợi cho lao động nữ thực hiện tốt cả hai chức năng lao động và chức năng làm

mẹ, chăm sóc và nuôi dạy con cái – lực lượng lao động tương lai

Dưới góc độ pháp lý, những quy định riêng đối với lao động nữ đã gópphần tạo nên tính đầy đủ, toàn diện và thống nhất trong pháp luật Việt Nam nóichung và pháp luật lao động nói riêng Điều này vừa thể hiện sự cam kết cao củanhà nước Việt Nam đối với các công ước về lao động và phụ nữ đã tham gia, vừakhẳng định tính nhân đạo, công bằng của chế độ xã hội mà chúng ta đang xâydựng Đồng thời, tạo điều kiện để đối tượng lao động nữ có cơ hội và điều kiệntham gia, đóng góp có hiệu quả vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội với sốlượng ngày càng đông đảo, có văn hoá và tay nghề đáp ứng nền sản xuất tiếntiến, hiện đại trong thời kỳ hội nhập

32

Trang 34

Như vậy, các quy định ưu tiên cho lao động nữ không phải chỉ vì lợi íchriêng của đối tượng lao động này mà còn vì lợi ích của xã hội, của quốc gia.Trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động, việc xây dựng những quy định riêngcho lao động nữ không chỉ nhằm bảo vệ tương xứng, bảo đảm an toàn tínhmạng, sức khoẻ, tạo lập địa vị bình đẳng cho nhóm đối tượng này mà còn nhằmđảm bảo tính ổn định, bền vững của nền sản xuất, lợi ích và sự ổn định các giađình là tế bào của xã hội và là tiền đề để xây dựng một xã hội tiến bộ, công bằng,dân chủ, văn minh.

1.2.3 Lược sử pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động

nữ ở Việt Nam

Pháp luật về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ ở Việt Nam đã trải quamột quá trình phát triển, ngày càng đầy đủ, hoàn thiện đáp ứng yêu cầu bảo vệquyền lợi chính đáng của lao động nữ và phù hợp với các cam kết quốc tế về laođộng nữ mà Việt Nam tham gia ký kết hoặc phê chuẩn

Ngay từ rất sớm, vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đã được quan tâm đềcập tới trong nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành, đáng chú ý là một số văn bảnnhư:

Sắc lệnh số 29/SL – sắc lệnh lao động đầu tiên của nước ta được ban hành tháng 8 năm 1947, trong đó nêu rõ tại các điều 113 và 140: “Các xí nghiệp phải có đủ phương tiện đảm bảo an toàn và giữ gìn sức khoẻ cho công nhân”,

“những nơi làm việc phải rộng rãi, thoáng khí và ánh sáng mặt trời”[16].

Ngày 18/12/1964, Hội đồng Chính phủ có Nghị định 181/CP ban hành

Điều lệ tạm thời về Bảo hộ lao động Đây là văn bản tương đối toàn diện vàhoàn chỉnh về các quy tắc bảo hộ lao động Điều lệ này được ban hành gồm 6chương, 38 điều và có hiệu lực từ đó đến cuối năm 1991

Tháng 9/1991, Hội đồng Chính phủ đã thông qua và công bố ban hành

Pháp lệnh Bảo hộ lao động Pháp lệnh có hiệu lực từ ngày 01/01/1992.

Trang 35

Ngày 23/6/1994, Bộ luật Lao động đã được Quốc hội thông qua tại kỳ

họp khoá IX, luật có hiệu lực từ ngày 10/01/1995 Ngoài chương IX và chương

X quy định về an toàn lao động và những quy định riêng đối với lao động nữ, bộluật còn hàng chục điều ở các chương khác liên quan đến công tác bảo hộ laođộng Bộ luật Lao động ra đời đánh dấu một giai đoạn phát triển cao hơn trongquá trình xây dựng pháp luật lao động, đặc biệt là các quy định về vấn đề an toàn,

vệ sinh lao động đã được tập hợp lại thành một chế định riêng

Tiếp đó, ngày 31/12/1994, Chính phủ ban hành Nghị định 195/CP quy

định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về thờigian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2006 Bộ

luật lao động sửa đổi đã có những quy định rất cụ thể và chi tiết về an toàn laođộng, vệ sinh lao động Cho đến nay, đây là Bộ luật Lao động hoàn chỉnh nhất,

có những quy định rõ ràng nhất về vấn đề này

Cơ quan quản lý chuyên môn về lao động là Bộ Lao động - Thương binh

và Xã hội cũng đã ban hành theo thẩm quyền và phối hợp với cơ quan có thẩmquyền liên quan ban hành nhiều văn bản chỉ đạo cụ thể như:

Thông tư liên bộ số 03/TT – LB ngày 28/01/1994 giữa Bộ LĐ -TB & XH

và Bộ Y tế đã quy định các điều kiện lao động có hại và các công tác làm việccấm sử dụng lao động vị thành niên

34

Trang 36

Thông tư số 08/LĐTB và XH-TT ngày 11/4/1995 của Bộ LĐ -TB & XH

hướng dẫn công tác huấn luyện về an toàn lao động, vệ sinh lao động

Thông tư số 23/LĐTBXH – TT ngày 18/11/1996 của Bộ LĐ -TB & XH

hướng dẫn chế độ thống kê, báo cáo định kỳ về tai nạn lao động

Thông tư số 13/TT-BYT ngày 2/10/1996 của Bộ Y tế hướng dẫn thực

hiện việc quản lý sức khỏe người lao động và bệnh nghề nghiệp

Thông tư số 20/1997 TT-LĐTBXH ngày 17/12/1998 hướng dẫn về việc

khen thưởng hàng năm về công tác bảo hộ lao động

Thông tư số 10/1998 TT – LĐTBXH ngày 28/5/1998 hướng dẫn thực hiện trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân.

Thông tư liên tịch số 03/1998 TTL- BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN giữa Bộ

LĐ -TB & XH - Bộ Y tế – Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ban hành ngày26/3/1998 hướng dẫn về khai báo, điều tra tai nạn lao động

Ngày 20/4/1998, thông tư liên tịch số 08/1998 TTLT BYT – BLĐTBXH đã

được ban hành nhằm hướng dẫn thực hiện các quy định về bệnh nghề nghiệp

Ngày 31/10/1998, thông tư liên tịch số 14/1998/TTLT TLĐLĐVN hướng dẫn việc tổ chức thực hiện công tác bảo hộ lao động trong

BLĐTBXH-BYT-doanh nghiệp, cơ sở kinh BLĐTBXH-BYT-doanh

Thông tư liên tịch số 10/1999 TTLT-BYT-TLĐLĐVN ngày 17/3/1999

hướng dẫn chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật đối với người lao động làm việc vớicác yếu tố nguy hiểm, độc hại

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa rađường lối chiến lược phát triển kinh tế – xã hội với sự nhấn mạnh đặc biệt: Thựchiện các chính sách xã hội hướng vào phát triển và lành mạnh hoá xã hội, thựchiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất, tăngnăng suất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội Một

trong những vấn đề được đặc biệt quan tâm đó là “chăm lo cải thiện điều kiện

Trang 37

làm việc, bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động, phòng chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp cho người lao động” [19; tr.105].

Như vậy, pháp luật an toàn, vệ sinh lao động là hệ thống các quy phạmmang tính bắt buộc, quy định về điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của các

tổ chức, cá nhân liên quan tới an toàn, vệ sinh lao động khi tham gia vào quan hệlao động, về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nhằm điều chỉnh quan hệ laođộng giữa người sử dụng lao động và người lao động

Trong lực lượng lao động, vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đối với laođộng nữ rất cần được đặc biệt quan tâm Điều này xuất phát từ đặc điểm về thểlực, về tâm sinh lý cũng như về chức năng xã hội của lực lượng lao động đặcbiệt này Có thể nói, phụ nữ là chủ thể của sự kết hợp giữa hoạt động lao độngsản xuất ra của cải vật chất cho gia đình và xã hội với hoạt động lao động tái sảnxuất sức lao động con người Bên cạnh chức năng lao động, lao động nữ cònphải đảm nhận thiên chức làm mẹ, vừa gánh vác công việc xã hội và chăm loviệc gia đình

Trên thực tế, vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ đãđược chú trọng và ngày càng được hoàn thiện với hệ thống các quy định phápluật về lao động Hệ thống pháp luật quy định về an toàn, vệ sinh lao động nóichung và đối với lao động nữ nói riêng đã được xây dựng với nhiều văn bản có

hiệu lực pháp lý và tính khả thi cao, đặc biệt là sự ra đời của Bộ luật Lao động năm 1994 cùng với các Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động năm 2002, năm

2006 và năm 2007 Bên cạnh đó, Nhà nước ta cũng tham gia vào một số côngước quốc tế ghi nhận quyền lợi và bảo vệ phụ nữ, thể hiện rõ hơn sự quan tâmsâu sắc của Nhà nước tới đối tượng lao động đặc biệt này

36

Trang 38

CHƯƠNG 2

PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ VÀ THỰC TIỄN THỰC

HIỆN Ở VIỆT NAM

2.1 Các quy định hiện hành về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ

2.1.1 Các quy định chung về bảo đảm an toàn,vệ sinh lao động đối với lao động nữ

Khả năng làm việc và sức sáng tạo của người lao động nói chung, laođộng nữ nói riêng phụ thuộc khá nhiều vào điều kiện làm việc Điều kiện làmviệc bao gồm tập hợp các yếu tố vệ sinh công nghiệp, sinh lý, tâm lý xã hội vàthẩm mỹ có tác động lên trạng thái, chức năng của cơ thể con người, ảnh hưởngtrực tiếp đến khả năng làm việc, quá trình tái sản xuất sức lao động và hiệu quảlàm việc của lao động nữ khi đang tham gia quá trình lao động và sau khi kếtthúc quá trình lao động

Pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đặt ra các quy định về đảm bảo antoàn, vệ sinh chung đối với lao động nữ trong quá trình làm việc nhằm xác địnhtrách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc thiết lập điều kiện lao độngthuận lợi đối với lao động nữ Từ đó hướng tới mục tiêu đảm bảo tại nơi làmviệc không tồn tại hoặc tồn tại ở mức thấp nhất các yếu tố nguy hiểm, độc hạivượt quá giới hạn chịu đựng của lao động nữ về tâm sinh lý và sức khoẻ Cácquy định chung về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ thường baogồm những vấn đề sau đây:

Thứ nhất, đơn vị sử dụng lao động phải đảm bảo những yêu cầu nghiêm

ngặt về an toàn, vệ sinh đối với nhà xưởng, máy móc, nguyên vật liệu, tổ chứcsản xuất Về vấn đề này, Bộ luật lao động sửa đổi, bổ sung năm 2002 quy định:

“người sử dụng lao động phải đảm bảo nơi làm việc đạt tiêu chuẩn về không

Trang 39

phóng xạ, điện từ trường, nóng, ẩm, ồn, rung, và các yếu tố có hại khác Các yếu

tố đó phải được định kỳ kiểm tra đo lường” (Điều 97) [25].

Các quy định này nhằm thiết lập nơi làm việc hợp lý, bảo vệ tốt nhất sức khoẻ người lao động Cụ thể là:

1 Máy móc, thiết bị bố trí khoa học, đảm bảo khoảng cách an toàn, phù hợp với trình tự gia công, vận chuyển và đi lại trong quá trình sản xuất;

2 Nhà xưởng cao ráo, đủ ánh sáng, không khí, nền nhà bằng

phẳng, sạch sẽ, các chất thải, nước thải được xử lý đúng quy định;

3 Nơi làm việc có nội quy, quy trình làm việc an toàn, hướng dẫn thao

tác điều khiển, sử dụng máy móc đúng quy trình, kỹ thuật an toàn.

Có thể nói, các quy định trên nếu được tổ chức thực hiện tốt sẽ giúp cho

việc thiết lập môi trường lao động thuận lợi, hạn chế đến mức thấp nhất tai nạnlao động có thể xảy ra Tuy nhiên, trong quá triển khai thực hiện các quy địnhtrên, vẫn phát sinh những vấn đề cần tiếp tục xem xét để sửa đổi, bổ sung Ví dụnhư: chưa quy định đến việc phải có quy trình an toàn, vệ sinh lao động cho cảdây truyền sản xuất; thiếu danh mục máy móc, thiết bị và các chất bị cấm nhậpkhẩu và sử dụng do không đảm bảo về an toàn, vệ sinh lao động; pháp luật hiệnhành mới chỉ quan tâm chú trọng hai khâu cấp giấy phép nhập khẩu, việc khaibáo, đăng ký và xin cấp giấy phép sử dụng các máy, thiết bị, thiết bị, vật tư vàcác chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, mà chưa quan tâm đến quátrình thiết kế, vận chuyển, lắp đặt, bảo quản…

Việc quy định chưa đầy đủ, đồng bộ các quy định liên quan đã phần nàohạn chế đến hiệu quả của những quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động

đã được ban hành

Thứ hai, các đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm lập báo cáo khả thi

về an toàn, vệ sinh lao động khi xây dựng, cải tạo môi trường lao động

38

Trang 40

Khi xây dựng mới hoặc mở rộng, cải tạo cơ sở để sản xuất, sử dụng, bảoquản, lưu giữ và tàng trữ các loại máy, thiết bị, vật tư, các chất có yêu cầunghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động, người sử dụng lao động phảilập luận chứng về các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động đốivới nơi làm việc của người lao động và môi trường xung quanh theo quy địnhcủa pháp luật với các nội dung chính như sau:

Địa điểm, quy mô, khoảng cách từ công trình, cơ sở đến khu dân cư

Thứ ba, pháp luật an toàn, vệ sinh lao động cũng đã đưa ra những quy

định về điều kiện lao động khi sử dụng lao động nữ tại Bộ luật lao động như sau:

“Nơi có sử dụng lao động nữ, phải có chỗ thay quần áo, buồng tắm và buồng vệ sinh nữ” (Điều 116) [25] Cụ thể hoá vấn đề này, Thông tư số 79/1997/ TT-BTC

(6/11/1997) Bộ Tài chính đã có những biện pháp rất thiết thực để giúp đỡ cácdoanh nghiệp khi sử dụng nhiều lao động nữ

Tuỳ theo từng mức nguồn vốn và quy mô sử dụng lao động nữ, doanhnghiệp có thể chi những khoản chi phí thích hợp vào mục đích mua sắm trangthiết bị bảo hộ lao động, cải tạo nhà xưởng, xây dựng nhà tắm, nhà vệ sinh nữ,xây dựng, sửa chữa mua sắm tài sản mau hỏng cho nhà trẻ, lớp mẫu giáo (nếucó) của doanh nghiệp để tạo điều kiện cho lao động nữ làm việc tại đây yên tâmlàm việc

Như vậy, do những khác biệt về tâm lý, sức khoẻ và phải thực hiện chứcnăng sinh đẻ, khác với lao động nam, lao động nữ được cách ly hoàn toàn vớinhững công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại có ảnh

Ngày đăng: 04/11/2020, 14:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w