Vì vậy,sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật nuôi con nuôi khi nó đáp ứngđược các yếu tố sau: các điều kiện về chủ thể của việc nuôi con nuôi; sự thểhiện ý chí của người nhận n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI THỊ THANH LÊ
CÁC ĐIỀU KIỆN NUÔI CON NUÔI THEO LUẬT NUÔI CON NUÔI NĂM 2010
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN PHƯƠNG LAN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Bùi Thị Thanh Lê
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NUÔI CON NUÔI VÀ ĐIỀU KIỆN NUÔI CON NUÔI 6
1.1 Khái niệm nuôi con nuôi và ý nghĩa của việc nuôi con nuôi 6
1.1.1 Khái niệm nuôi con nuôi 6
1.1.2 Ý nghĩa của việc nuôi con nuôi 9
1.2 Khái niệm về điều kiện nuôi con nuôi 11
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc quy định điều kiện nuôi con nuôi 12 1.4 Sự cần thiết quy định điều kiện nuôi con nuôi 15
Chương 2: CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ VIỆC NUÔI CON NUÔI CÓ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ THEO LUẬT NUÔI CON NUÔI NĂM 2010 19
2.1 Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi 19
2.2 Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi 24
2.3 Điều kiện về ý chí của các bên chủ thể 37
2.3.1 Sự thể hiện ý chí của người nhận nuôi con nuôi 37
2.3.2 Sự thể hiện ý chí của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của người được cho làm con nuôi 38
2.3.3 Sự thể hiện ý chí của người được nhận làm con nuôi 42
Trang 42.4 Đăng ký việc nuôi con nuôi 43
2.4.1 Đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước 44
2.4.2 Đăng ký việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 49
2.4.3 Vấn đề nuôi con nuôi thực tế và đăng ký nuôi con nuôi thực tế 59
Chương 3 : THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CÁC ĐIỀU KIỆN NUÔI CON NUÔI VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ VẤN ĐỀ NÀY 64 3.1 Thực trạng thực hiện pháp luật về điều kiện nuôi con nuôi 64
3.2 Thực tiễn thực hiện vấn đề đăng ký nuôi con nuôi thực tế 71
3.3 Một số vấn đề còn tồn tại trong việc áp dụng điều kiện nuôi con nuôi 76 3.3.1 Những khó khăn, vướng mắc 76
3.3.2 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trên 82
3.4 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về điều kiện nuôi con nuôi 83 3.4.1 Kiến nghị hoàn thiện thể chế pháp luật về điều kiện nuôi con nuôi 83
3.4.2 Giải pháp về tổ chức, thực hiện 85
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Công ước LaHay 1993:
Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em:
Luật HN&GĐ năm 2000:
Luật Nuôi con nuôi:
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000Luật Nuôi con nuôi năm 2010
Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày
27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký vàquản lý hộ tịch
Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Nuôi con nuôiNghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày
10/7/2002 của Chính phủ về việc quy địnhchi tiết thi hành một số điều của Luật Hônnhân và gia đình về quan hệ hôn nhân vàgia đình có yếu tố nước ngoài
Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CPngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quyđịnh chi tiết thi hành một số điều của LuậtHôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân vàgia đình có yếu tố nước ngoài
Sở Lao động thương binh xã hội
Ủy ban nhân dân
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: So sánh số lượng trẻ em được cho làm con nuôi
trong nước và số lượng trẻ em được cho làm con
Biểu đồ 3.2: Thể hiện kết quả đăng ký nuôi con nuôi thực tế 72
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em là một nhóm xã hội non nớt, dễ bị tổn thương nhất, được toànthể cộng đồng quốc tế quan tâm và bảo vệ Một trong những quyền cơ bản củatrẻ em được pháp luật quy định, bảo vệ là quyền được sống, được chăm sóc,nuôi dưỡng trong môi trường gia đình Tuy nhiên không phải tất cả trẻ emsinh ra đều có cha mẹ và đều may mắn được sống trong môi trường gia đình.Trong xã hội còn nhiều trẻ em bị bỏ rơi, mồ côi, khuyết tật, sống trong các giađình nghèo không có điều kiện nuôi dưỡng, cần một mái ấm gia đình thay thế.Một trong những biện pháp bảo đảm cho trẻ em một gia đình thay thế là chotrẻ làm con nuôi Cho trẻ em làm con nuôi được xem là một giải pháp bảo vệtrẻ em, không để trẻ em phải sống lang thang, thiếu điều kiện phát triển Theobáo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, hiện nay cả nước cókhoảng 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cần được chăm sóc, giúp đỡbằng nhiều biện pháp khác nhau trong đó có việc tìm gia đình thay thế cho trẻ
em ở trong nước và ở nước ngoài Sự ra đời của Luật Nuôi con nuôi năm 2010nói chung và việc quy định các điều kiện nuôi con nuôi nói riêng đã tạo điềukiện cho các cá nhân, gia đình có nhu cầu muốn nhận nuôi con nuôi, đồngthời cũng tạo cho các em có hoàn cảnh đặc biệt được sống trong gia đìnhgiống như môi trường gia đình gốc của mình Việc quy định các điều kiệnnuôi con nuôi là cần thiết để đảm bảo cho trẻ em được nhận nuôi được sốngtrong môi trường gia đình an toàn, lành mạnh, được yêu thương chăm sóc.Đây cũng chính là một biện pháp nhằm ngăn ngừa các hành
vi lợi dụng việc cho – nhận con nuôi vào mục đích khác như: hành vi trục lợi từ việc nuôi con nuôi, buôn bán trẻ em…
Tuy nhiên, việc hiểu và áp dụng các điều kiện nuôi con nuôi vào thực tế
Trang 8còn gặp những vướng mắc, bất cập như: việc xác nhận các điều kiện nuôi connuôi, lập hồ sơ đăng ký nuôi con nuôi, khó khăn trong việc theo dõi và quản
lý báo cáo tình hình phát triển của con nuôi, vướng mắc phát sinh trong việcđăng ký nuôi con nuôi hay giải quyết tình trạng nuôi con nuôi thực tế Vìvậy, để đảm bảo được mục đích và ý nghĩa của việc nuôi con nuôi thì các điềukiện của người nhận nuôi và trẻ em được nhận làm con nuôi cần được quyđịnh chặt chẽ, được nghiên cứu và hoàn thiện để giải quyết những khó khăn,vướng mắc phát sinh khi áp dụng các quy định này vào thực tế Đây là lý do
tôi chọn đề tài: “Các điều kiện nuôi con nuôi theo Luật nuôi con nuôi năm 2010” là đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích làm rõ những vấn đề lý luận
về điều kiện nuôi con nuôi, các điều kiện của việc nuôi con nuôi theo Luậtnuôi con nuôi năm 2010, thực tiễn áp dụng các điều kiện nuôi con nuôi tronggiải quyết việc cho nhận con nuôi, qua đó đánh giá mặt tích cực và hạn chếcủa các quy định về điệu kiện nuôi con nuôi, đề xuất những giải pháp hoànthiện quy định pháp luật về các điều kiện nuôi con nuôi ở Việt Nam hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, cần thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Tìm hiểu những vấn đề lý luận cơ bản về nuôi con nuôi và các điều kiện của việcnuôi con nuôi, sự cần thiết phải quy định điều kiện nuôi con nuôi
- Phân tích các điều kiện nuôi con nuôi theo Luật nuôi con nuôi năm 2010, có
sự so sánh với các quy định của pháp luật trước đây, đồng thời đánh giá mặttích cực và hạn chế của các quy định này
- Tìm hiểu một số nét về thực trạng áp dụng các điều kiện nuôi con nuôi tại ViệtNam hiện nay, trên cơ sở đó phát hiện những vướng mắc bất cập và đề xuất
Trang 93 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số vấn đề lý luận về nuôi connuôi và điều kiện nuôi con theo Luật nuôi con nuôi năm 2010, thực trạng ápdụng điều kiện nuôi con nuôi trong thực tế
Luận văn tập trung phân tích các điều kiện nuôi con nuôi theo quy địnhtrong Luật nuôi con nuôi năm 2010, bao gồm các điều kiện đối với các chủthể có liên quan trong việc cho nhận con nuôi (điều kiện nội dung) và thủ tục,trình tự, thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi (điều kiện hình thức) để đảmbảo cho việc nuôi con nuôi có giá trị pháp lý làm phát sinh quan hệ cha mẹ vàcon giữa hai bên Khi phân tích, có sự so sánh với Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 2000 quy định về vấn đề này
4 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề nuôi con nuôi đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của rấtnhiều nhà nghiên cứu luật học Có rất nhiều những bài viết về vấn đề nuôi con
nuôi và bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi như: bài viết "Về
chế định nuôi con nuôi trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000" của Ngô
Thị Hường, Tạp chí Luật học số 3 năm 2001; bài viết "Tăng cường bảo đảm
quyền trẻ em được sống trong gia đình", của Hà Đình Bốn, Dân chủ và pháp
luật 2009 (Số chuyên đề pháp luật về nuôi con nuôi); “Một số vấn đề về điều
kiện nuôi con nuôi” của TS Nguyễn Phương Lan, Tạp chí Luật học số tháng 3
năm 2009 Đây là những bài viết nói lên sự cần thiết phải bảo vệ quyền trẻ
em, quyền được sống trong môi trường gia đình Theo đó, việc hoàn thiện cácđiều kiện nuôi con nuôi trong việc cho – nhận con nuôi là một yêu cầu cầnthiết để đảm bảo mục đích này
Mặt khác còn có các công trình nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực nuôi
con nuôi như: Luận án tiến sĩ về “Cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định
pháp lý về nuôi con nuôi ở Việt Nam” của Nguyễn Phương Lan năm 2007 –
Trang 10Trường Đại học Luật Hà Nội; Luận văn thạc sĩ “Nuôi con nuôi theo pháp luật
Việt Nam”, của Bùi Thị Hương năm 2011 – Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà
Nội Những luận văn, luận án trên đã tiếp tục nêu lên tầm quan trọng củaviệc nghiên cứu và hoàn thiện các quy định về pháp luật nuôi con nuôi và cácđiều kiện nuôi con nuôi đảm bảo cho trẻ em được nuôi dưỡng, chăm sóc trongmôi trường gia đình
Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện pháp luật nuôi con nuôi nóichung và các điều kiện nuôi con nuôi nói riêng vẫn thực sự cần thiết Việcnghiên cứu sẽ chỉ ra những mặt tích cực, mặt hạn chế khi áp dụng điều kiệnnuôi con nuôi vào thực tế, vừa đề ra được những giải pháp hoàn thiện phápluật về các điều kiện nuôi con nuôi góp phần bảo vệ tốt hơn quyền lợi trẻ emđược nhận làm con nuôi, cũng như mục đích, ý nghĩa của việc nuôi con nuôi
5 Tính mới và những đóng góp của luận văn
- Luận văn là công trình nghiên cứu có tính chất chuyên sâu và toàn diện về điều kiện nuôi con nuôi theo Luật Nuôi con nuôi năm 2010
- Trên cơ sở nghiên cứu các điều kiện nuôi con nuôi, luận văn đã có sự đánhgiá, phân tích một số nét về thực trạng thực hiện pháp luật về điều kiện nuôicon nuôi từ sau khi Luật Nuôi con nuôi có hiệu lực cho đến nay, chỉ ra nhữngmặt tích cực và hạn chế của các quy định này, đồng thời đóng góp những kiếnnghị hoàn thiện pháp luật về các điều kiện nuôi con nuôi
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về quyền trẻ em và bảo vệtrẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi
Về phương pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng các phương pháp nhưphương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp phân tích, so
Trang 117 Kết cấu cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luậnvăn kết cấu gồm ba chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về nuôi con nuôi và điều kiện nuôi
con nuôi
Chương 2: Các điều kiện để việc nuôi con nuôi có giá trị pháp lý theo
Luật nuôi con nuôi năm 2010
Chương 3: Thực trạng thực hiện điều kiện nuôi con nuôi
và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Trang 12Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NUÔI CON NUÔI
VÀ ĐIỀU KIỆN NUÔI CON NUÔI
1.1 Khái niệm nuôi con nuôi và ý nghĩa của việc nuôi con nuôi
1.1.1 Khái niệm nuôi con nuôi
Nuôi con nuôi là hiện tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội và xuấthiện từ rất lâu trong lịch sử nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người,thể hiện mối quan hệ gắn bó của con người với nhau
Khái niệm nuôi con nuôi có thể được xem xét dưới hai góc độ: góc độ
và người được nhận nuôi, thể hiện sự yêu thương, muốn giúp đỡ cưu mang trẻ
em mồ côi, trẻ em bất hạnh; mặt khác nó còn thể hiện lòng nhân ái, sự hướngthiện của con người với những giá trị đạo đức tốt đẹp Mặc dù đã hình thànhquan hệ cha mẹ và con trên thực tế, các bên đều thực hiện đầy đủ các quyền
và nghĩa vụ cha mẹ và con đối với nhau nhưng do các bên không đăng ký tại
cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên quan hệ nuôi con nuôi không được côngnhận có giá trị pháp lý
Việc hình thành những quan hệ như trên đã tạo ra các hình thức nuôicon nuôi như: nuôi con nuôi theo phong tục tập quán, nuôi con nuôi lập tự,
Trang 13nuôi con nuôi trên danh nghĩa, nuôi con nuôi lấy phúc… Trên thực tế, quan hệnuôi con nuôi này mặc dù không có sự công nhận của cơ quan nhà nước cóthẩm quyền nhưng vẫn tồn tại mối quan hệ cha mẹ con giữa người nhận nuôi
và người được nhận nuôi
Như vậy, dưới góc độ xã hội thì nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệcha mẹ và con trên thực tế giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôinhằm đáp ứng những nhu cầu về tình cảm và lợi ích giữa người nhận nuôi vàngười được nhận nuôi mà không có sự công nhận của cơ quan nhà nước cóthẩm quyền
* Dưới góc độ pháp lý
Dưới góc độ pháp lý, nuôi con nuôi có thể được hiểu: là sự kiện pháp lýhoặc là quan hệ pháp luật Trong phạm vi luận văn này, nuôi con nuôi đượchiểu dưới góc độ là sự kiện pháp lý Việc nuôi con nuôi bao gồm tập hợp các
sự kiện pháp lý Chỉ khi nào hội tụ đủ các sự kiện này quan hệ nuôi con nuôimới phát sinh hiệu lực pháp lý Cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ có thểcông nhận việc nuôi con nuôi khi các bên đương sự thể hiện rõ ràng ý chí củamình đồng thời đáp ứng đầy đủ các điều kiện cần thiết của việc nuôi con nuôi.Nói cách khác, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ có thể công nhận việcnuôi con nuôi khi các sự kiện cấu thành đã hội tụ đầy đủ và được liên kết lạivới nhau tại thời điểm phát sinh quan hệ pháp luật về nuôi con nuôi Vì vậy cóthể nói dưới góc độ pháp lý nuôi con nuôi là sự kiện pháp lý, là một cấu thành
sự kiện
Về lý luận, sự kiện pháp lý là những sự kiện xảy ra trong thực tế đượcpháp luật quy định rõ các quyền và nghĩa vụ Có nghĩa là những hoàn cảnh,tình huống điều kiện của đời sống thực tế được pháp luật ghi nhận trong cácquy phạm pháp luật gắn liền với việc làm phát sinh, thay đổi và chấm dứtquyền và nghĩa vụ của các chủ thể cụ thể khi chúng xảy ra
Trang 14Với tư cách là một sự kiện pháp lý, điều kiện nuôi con nuôi bao gồmcác điều kiện về nội dung và điều kiện về hình thức Hai điều kiện này có mốiquan hệ với nhau và tạo ra hiệu lực pháp lý của quan hệ nuôi con nuôi Vì vậy,
sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật nuôi con nuôi khi nó đáp ứngđược các yếu tố sau: các điều kiện về chủ thể của việc nuôi con nuôi; sự thểhiện ý chí của người nhận nuôi con nuôi, ý chí của cha mẹ đẻ hoặc ngườigiám hộ của trẻ em được cho làm con nuôi, ý chí của bản thân người con nuôi(điều kiện nội dung) và ý chí của nhà nước công nhận việc xác lập quan hệnuôi con nuôi (điều kiện hình thức)
- Về chủ thể: người nhận nuôi, người được nhận nuôi, cha mẹ đẻ phảiđáp ứng được các điều kiện của việc nuôi con nuôi Các điều kiện này đượcpháp luật quy định và bắt buộc các chủ thể phải đáp ứng khi mong muốn xáclập quan hệ nuôi con nuôi Việc đáp ứng đầy đủ các điều kiện nuôi con nuôi
do pháp luật quy định chính là một điều kiện để các bên tham gia vào sự kiệnpháp lý phát sinh quan hệ nuôi con nuôi
- Về sự thể hiện ý chí của các bên liên quan: các chủ thể ngoài việc đáp ứngđược các điều kiện của việc nuôi con nuôi thì cần phải thể hiện ý chí củamình trong việc cho – nhận con nuôi
+ Sự thể hiện ý chí của người nhận nuôi con nuôi Người nhận nuôi con nuôiphải thể hiện ý chí của mình về việc mong muốn nhận nuôi đứa trẻ và
thiết lập quan hệ cha mẹ và con với đứa trẻ đó
+ Sự thể hiện ý chí của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em đượccho làm con nuôi Ý chí của những người này trong việc cho trẻ em làm con nuôi phải tự nguyện, không có bất cứ sự tác động, dụ dỗ, ép buộc nào
+ Sự thể hiện ý chí của bản thân người được nhận làm con nuôi Phápluật quy định khi trẻ em đạt đến một độ tuổi nhất định (từ 9 tuổi trở lên), trẻ
em có quyền thể hiện ý chí độc lập, quyết định vấn đề có liên quan đến cuộc
Trang 15sống của mình Sự đồng ý làm con nuôi của trẻ trong trường hợp này là điềukiện bắt buộc để việc nuôi con nuôi có giá trị pháp lý Quy định này thể hiệnquyền cơ bản của trẻ em trong việc bày tỏ ý kiến của mình.
- Ý chí của nhà nước được thể hiện qua việc công nhận hay không công nhậnviệc nuôi con nuôi thông qua thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi
hay từ chối việc đăng ký nuôi con nuôi Việc nuôi con nuôi được công nhậntại cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm phát sinh hiệu lực pháp lý của việcnuôi con nuôi
Như vậy, dưới góc độ là một sự kiện pháp lý, nuôi con nuôi được hiểu
là việc một người hoặc hai người là vợ chồng nhận nuôi một người kháckhông do họ sinh ra, nhằm xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhậnnuôi và người được nhận nuôi trên cơ sở phù hợp với các quy định của phápluật
1.1.2 Ý nghĩa của việc nuôi con nuôi
Việc ban hành Luật Nuôi con nuôi cũng như quy định mục đích củaviệc nuôi con nuôi đã thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tình yêuthương, tinh thần trách nhiệm, mối quan hệ tương thân tương ái giúp đỡ lẫnnhau giữa con người với con người Đặc biệt trong hoàn cảnh đất nước cònchịu những di chứng nặng nề của chiến tranh, điều kiện kinh tế - xã hội cònkhó khăn, mức thu nhập của người dân còn thấp, nhiều trẻ em có hoàn cảnhđặc biệt cần có mái ấm gia đình, thì vấn đề nuôi con nuôi càng trở lên cấpthiết trong đời sống xã hội, đảm bảo cho trẻ em được lớn lên trong môi trườnggia đình, trong bầu không khí hạnh phúc để trở thành người có ích cho xã hội.Trong thời gian qua, có rất nhiều trẻ em bị bỏ rơi khi vừa mới sinh ra, rấtnhiều trẻ em bị dị tật bẩm sinh hoặc bị di chứng do ảnh hưởng của chiến tranh
để lại, trẻ em là con của các gia đình nghèo mà cha mẹ để không có đủ điềukiện để chăm sóc con cái Các em phải sớm lăn lộn với
Trang 16đời, tự bươn chải làm đủ các nghề để kiếm sống như bán vé số, đánh giầy, ănxin Với môi trường đó các em dễ bị các phần tử xấu dụ dỗ, không ít nhữngđứa trẻ đã kiếm sống bằng nghề móc túi, cướp giật, trộm cắp và các em sẽtrở thành gánh nặng của xã hội Vì vậy, việc các em được nhận làm con nuôi
có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ riêng với cuộc đời của các em mà còn có
ý nghĩa đối với toàn xã hội Việc nuôi con nuôi không chỉ là biện pháp tốtnhất, phù hợp và có lợi nhất đối với trẻ em mà còn là cách thực hiện hợp phápquyền làm cha mẹ của cá nhân
Việc nhận nuôi con nuôi góp phần làm giảm gánh nặng của nhà nướctrước tình trạng trẻ em lang thang, không nơi nương tựa, không nguồn nuôidưỡng, hạn chế trẻ em có thể có hành vi vi phạm pháp luật hay mắc các tệ nạn
xã hội do thiếu sự quan tâm, giáo dục… Đây là cơ sở để đảm bảo sự ổn định,phát triển của đất nước đồng thời cũng giảm đi gánh nặng đối với ngân sáchnhà nước vì không phải đưa các em vào cơ sở bảo trợ xã hội mà vẫn đảm bảođược lợi ích tốt nhất cho trẻ em
Mặt khác, việc nhận nuôi con nuôi đem lại cho đứa trẻ một gia đình, ở
đó đứa trẻ được hưởng sự yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng như những đứatrẻ khác Chúng sẽ không bị mặc cảm về hoàn cảnh của mình, có điều kiện tốtnhất để phát triển nhân cách, trí tuệ của bản thân Đây cũng là một biện phápđảm bảo quyền cơ bản của trẻ em – quyền được sống trong môi trường giađình Còn đối với người nhận nuôi, việc nuôi con nuôi đem lại cho họ mộtđứa con phù hợp với nguyện vọng của họ Đặc biệt đối với những cặp vợchồng vô sinh, việc nhận con nuôi giúp họ thực hiện quyền làm cha mẹ củamình, họ được chăm lo, được thể hiện tình cảm của của những người làm cha
mẹ với đứa con
Việc nuôi con nuôi sẽ đáp ứng một cách hài hòa lợi ích của cả hai bênngười nhận nuôi và người được nhận nuôi Người nhận nuôi thỏa mãn được
Trang 17nhu cầu tình cảm, tinh thần một cách đầy đủ, trọn vẹn của một người làm cha,làm mẹ Đối với trẻ em được nhận làm con nuôi là việc được chăm sóc, đượcnuôi dưỡng được sống trong tình yêu thương trong một gia đình, nơi có vaitrò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách mỗi con người.Nếu nhân cách của con người bao gồm hai mặt đức và tài, thì gia đình là nơinuôi dưỡng đạo đức và gieo mầm tài năng Vì vậy việc nuôi con nuôi sẽ tạocho trẻ em được sống dưới mái ấm gia đình, góp phần vào việc xây dựng vàươm mầm tài năng cho đất nước.
1.2 Khái niệm về điều kiện nuôi con nuôi
Pháp luật là sự thể hiện ý chí của nhà nước nhằm điều chỉnh những nhucầu của cá nhân phát sinh từ đời sống thực tế Ở mỗi giai đoạn lịch sử khácnhau sự điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi khác nhau Khi chưa có nhà nước
và pháp luật thì việc nuôi con nuôi diễn ra tự nhiên, dựa vào nhu cầu tình cảmcủa cá nhân mà không bị chi phối bởi các điều kiện nuôi con nuôi Khi xã hộihình thành giai cấp, xuất hiện nhà nước và pháp luật, lúc này việc nuôi connuôi được gắn với lợi ích của trẻ em, của gia đình và lợi ích của giai cấpthống trị Vì vậy, pháp luật sẽ quan tâm điều chỉnh bằng việc quy định cácđiều kiện nuôi con nuôi để đảm bảo lợi ích của các bên liên quan và duy trìtrật tự công cộng của xã hội
Mặt khác, việc nuôi con nuôi được xác lập trên cơ sở ý chí, tình cảmcủa các bên mà không gắn với quan hệ tự nhiên thuần túy về mặt sinh họchuyết thống nên việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi phải gắn liền với các điềukiện cụ thể để tạo môi trường sống lành mạnh, an toàn cho trẻ Các điều kiệnnày được quy định bởi các quy phạm pháp luật mà người nhận nuôi con nuôi
và con nuôi phải đáp ứng Các điều kiện này gắn với nhân thân, hoàncảnh của các chủ thể để đảm bảo quan hệ nuôi con nuôi xác lập phù hợp với
ý chí, nguyện vọng của các bên Nếu chủ thể của quan hệ nuôi
Trang 18con nuôi không đáp ứng được các điều kiện đó thì quan hệ nuôi con nuôikhông có giá trị pháp lý.
Dưới góc độ pháp lý, điều kiện nuôi con nuôi là sự thể hiện ý chí của nhà nước thông qua các quy phạm pháp luật quy định các điều kiện cần có đối với các chủ thể có liên quan trong việc cho - nhận con nuôi phù hợp với mục đích của việc nuôi con nuôi và trên cơ sở đó việc nuôi con nuôi được công nhận là hợp pháp.
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc quy định điều kiện nuôi con nuôi
- Điều kiện kinh tế, xã hội trong một giai đoạn nhất định ảnh hưởng trực tiếpđến việc quy định các điều kiện nuôi con nuôi Tuy nuôi con nuôi là
một chế định có lịch sử lâu đời, nhưng bản chất của việc nuôi con nuôi đã cónhững thay đổi lớn qua từng thời kì Thời kỳ đầu, nuôi con nuôi chủ yếu làbiện pháp đảm bảo cho các cặp vợ chồng hiếm muộn không có con có ngườinối dõi tông đường, thờ cúng tổ tiên Việc nuôi con nuôi lúc đó vì lợi ích củagia đình người nhận nuôi mà chưa xuất phát từ lợi ích của trẻ em được nhậnnuôi Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền của trẻ em năm 1989 ra đời đãđánh dấu cuộc cách mạng tư tưởng về quyền trẻ em Công ước khẳng định trẻ
em phải được coi là trung tâm bảo vệ đã góp phần làm thay đổi mục đích củaviệc nuôi con nuôi từ chỗ “đem lại cho gia đình một trẻ em” đã chuyển thành
“đem lại cho trẻ em một gia đình” Vì vậy, khung pháp luật về nuôi con nuôicũng như quy định về các điều kiện nuôi con nuôi được xây dựng và có ýnghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của trẻ em
- Quy định điều kiện nuôi con nuôi xuất phát từ ý chí của Nhà nước trong việcđiều chỉnh quan hệ gia đình nói chung và quan hệ nuôi con nuôi nói riêng.Việc nuôi con nuôi có ảnh hưởng sâu sắc không chỉ đối với các bên
chủ thể mà còn làm hình thành một gia đình mới – một cấu trúc cơ bản của xãhội, nên nó ảnh hưởng tới sự ổn định và phát triển của một đất nước Đặt ra
Trang 19các điều kiện đối với các bên chủ thể trong việc xác lập quan hệ nuôi con nuôinhằm định hướng, tạo ra khung pháp lý cơ bản cho việc nuôi con nuôi, để việcnuôi con nuôi được thực hiện với mục đích nhân đạo, bảo vệ các quyền cơbản của con người đặc biệt là của trẻ em, phù hợp với các chuẩn mực đạo đứccủa xã hội và lợi ích chung của đất nước.
Mặt khác, đường lối chủ trương của Nhà nước có ảnh hưởng sâu sắc tớimọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có việc nuôi con nuôi, là cơ sở để quyđịnh các điều kiện nuôi con nuôi Chính sách xã hội có thể tác động theo haihướng: thúc đẩy, khuyến khích việc nhận nuôi con nuôi hoặc hạn chế, kìmhãm việc nhận nuôi con nuôi Các biện pháp, chính sách có ảnh hưởng trựctiếp tới việc nuôi con nuôi như: biện pháp hỗ trợ kinh tế, phúc lợi xã hội chongười nhận con nuôi, kế hoạch dân số và kế hoạch hóa gia đình, khuyến khíchnhận các trẻ em mồ côi, khuyết tật, mắc bệnh hiểm nghèo làm con nuôi Dovậy, tùy theo đường lối chủ trương của nhà nước trong từng thời kỳ có tácđộng tới việc nuôi con nuôi cũng như quy định các điều kiện nuôi con nuôiđối với các chủ thể tham gia vào quan hệ này
- Việc quy định điều kiện nuôi con nuôi bị chi phối bởi các nguyên tắcđiều chỉnh pháp luật đối với việc nuôi con nuôi, trong đó nguyên tắc đảm bảocho trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc là một nguyên tắc cơ bảnchi phối việc quy định các điều kiện nuôi con nuôi Bởi nuôi con nuôi chỉ thực
sự cần thiết và vì lợi ích của trẻ được cho làm con nuôi khi trẻ em đó khôngthể được nuôi dưỡng, chăm sóc trong gia đình ruột thịt của mình vì những lý
do nhất định Chỉ khi đó việc cho – nhận trẻ em làm con nuôi mới phù hợp
với quyền của trẻ em được sống trong gia đình, phù hợp với nguyên tắc: “Trẻ
em không bị buộc cách ly khỏi cha mẹ trái với ý muốn của cha mẹ, trừ trường hợp một sự cách ly như thế là cần thiết cho lợi ích tốt nhất của trẻ em” [24,
Điều 9] Ngay cả trong trường hợp phải cách ly khỏi cha mẹ thì ý
Trang 20muốn của trẻ em cũng phải được quan tâm trước tiên khi trẻ em có khả năngthể hiện ý chí của mình Vì vậy, việc đưa trẻ em ra khỏi gia đình ruột thịt củamình để làm con nuôi người khác chỉ có thể xuất phát từ lợi ích của chính trẻ
em, không phải mọi trẻ em đều được cho làm con nuôi người khác Trẻ em chỉđược cho làm con nuôi khi không có sự chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục củagia đình do bố mẹ đã chết, bị mất tích, không xác định được hoặc đều bị mấtnăng lực hành vi dân sự hoặc khi cha mẹ đẻ của trẻ tuy còn sống nhưng khôngthể có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Lúc này cho trẻ em làm con nuôi làgiải pháp tốt nhất cho lợi ích của trẻ Do đó, quy định về các điều kiện củaviệc cho – nhận con nuôi phải xuất phát từ nguyên tắc cơ bản này
- Phong tục tập quán, truyền thống văn hóa, đạo đức, lối sống cũng ảnhhưởng đến việc quy định các điều kiện của việc nuôi con nuôi Việc nuôi connuôi chịu ảnh hưởng sâu đậm của những truyền thống tốt đẹp của dân tộc tanhư tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách, cưu mang, đùm bọc những trẻ
em lang thang, cơ nhỡ, không nơi nương tựa Tuy nhiên, với ảnh hưởng tiêucực của cơ chế thị trường, những nét truyền thống tốt đẹp của dân tộc đang bị
đe dọa nghiêm trọng Những giá trị nhân văn và giá trị tinh thần có phần bịxem nhẹ và coi thường, dẫn đến sự thay đổi trong hành vi xử sự của conngười theo xu hướng thực dụng, vụ lợi Việc giữ gìn được những truyền thốngvăn hóa có giá trị tốt đẹp của dân tộc như tính cộng đồng, lòng nhân ái cóảnh hưởng tích cực đến việc nuôi con nuôi
Đạo đức, lối sống cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tình trạng nuôi connuôi Trong xã hội phong kiến, quan niệm về chuẩn mực đạo đức rất khắt khe.Ngày nay sự hiểu biết của con người ngày càng mở rộng, chất lượng cuộcsống được cải thiện và nâng cao, quan niệm sống, cách sống của con người cónhiều thay đổi, trở lên phóng khoáng, tự do, cởi mở hơn đặc biệt là giới trẻ
Sự trưởng thành về tình dục của nam nữ thanh niên sớm hơn, nhưng lại không
Trang 21được giáo dục để có sự hiểu biết cần thiết về an toàn tình dục cũng như cácbiện pháp phòng tránh thai và sức khỏe sinh sản Do đó tình trạng trẻ em gáichưa thành niên mang thai là một hiện tượng tương đối phổ biến và đáng longại Những đứa trẻ được sinh ra bởi cha mẹ không có quan hệ hôn nhân,không có điều kiện kinh tế, người mẹ không có hiểu biết và khả năng cần thiếttối thiểu để nuôi dưỡng trẻ sơ sinh, hơn nữa người mẹ trẻ bị áp lực bởi nhữngđịnh kiến xã hội nên dẫn đến việc người mẹ trẻ bỏ rơi con ngay sau khi sinhtại cơ sở y tế, trên đường phố hoặc các trung tâm nuôi dưỡng trẻ Những trẻ
em này là đối tượng có thể được cho làm con nuôi Việc cho trẻ em làm connuôi trong những trường hợp này thường xảy ra do sự bồng bột thiếu suynghĩ, chín chắn Do đó, việc quy định các điều kiện về sự thể hiện ý chí củacha mẹ đẻ trong việc cho con đi làm con nuôi là cần thiết
- Dựa trên các văn bản pháp luật quốc tế về quyền trẻ em, quy định các điềukiện nuôi con nuôi cho phù hợp với pháp luật quốc tế về nuôi con nuôi như:Công ước Lahay 1993 về bảo vệ quyền trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực
nuôi con nuôi quốc tế… Những văn bản này được coi là cơ sở pháp lý quantrọng để quy định các điều kiện nuôi con nuôi theo hướng tiệm cận với phápluật nuôi con nuôi quốc tế
1.4 Sự cần thiết quy định điều kiện nuôi con nuôi
Một trong những quyền cơ bản của trẻ em được pháp luật bảo vệ làquyền được sống, được chăm sóc, nuôi dưỡng trong môi trường gia đình – nơi
có vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách mỗi conngười Nhưng không phải tất cả trẻ em sinh ra đều có cha mẹ và đều có maymắn được sống trong môi trường gia đình Vì vậy, việc tìm một gia đình thaythế cho trẻ thiếu may mắn được xem là biện pháp đảm bảo tốt nhất cho trẻ
Nó vừa thể hiện sự tôn trọng những quyền cơ bản của trẻ, vừa đảm bảo chotrẻ được yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng trong môi trường gia đình Tuy
Trang 22nhiên, mối quan hệ gia đình trong quan hệ nuôi con nuôi xác lập xuất phát từ
ý chí chủ quan của con người, không dựa trên quan hệ huyết thống tự nhiên nênlợi ích của trẻ em được cho làm con nuôi có thể không được đảm bảo hoặcviệc nuôi con nuôi được xác nhằm những mục đích vụ lợi khác, làm biếnđổi bản chất, mục đích tốt đẹp của việc nuôi con nuôi Để bảo vệ tốt cácquyền và lợi ích chính đáng của trẻ em được nhận làm con nuôi cần có cácquy định pháp luật điều chỉnh, trong đó việc quy định các điều kiện của việcnuôi con nuôi là cần thiết bởi những lý do sau:
- Việc cho – nhận con nuôi là một quan hệ ý chí, xuất phát từ ý chí, tình cảmcủa các bên chủ thể mà không phải là một quan hệ tự nhiên thuần túy về mặtsinh học Mục đích của việc nuôi con nuôi là bảo đảm quyền, lợi ích củangười con nuôi và người nhận nuôi, nhưng trên hết là lợi ích của trẻ em đượccho làm con nuôi Về mặt xã hội, việc cho - nhận con nuôi có thể xuất phát từnhiều lý do khác nhau, bị chi phối bởi quan điểm của mỗi cá nhân về lợi ích,đạo đức, niềm tin, giá trị xã hội cùng với tình cảm, hoàn cảnh cụ thể của họ.Song về mặt pháp lý, việc cho – nhận con nuôi được xem xét trên cơ sở lợiích tốt nhất của con nuôi chưa thành niên Vì vậy, việc quy định các điều kiệncủa việc nuôi con nuôi là một yêu cầu khách quan và cần thiết để bảo vệ lợiích của người được nhận nuôi Các điều kiện đối với các bên chủ thể càngchặt chẽ, càng đảm bảo trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng trong điều kiện tốtnhất để mục đích nuôi con nuôi đạt được
- Quy định các điều kiện nuôi con nuôi đặc biệt là quy định các điều kiện củangười nhận nuôi sẽ tạo ra một môi trường gia đình an toàn, lành
mạnh trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ Việc đáp ứng đầy đủ cácđiều kiện nuôi con nuôi của người nhận nuôi đảm bảo người nhận nuôi có đủ
tư cách đạo đức, hiểu biết, kinh tế và thật sự mong muốn được yêu thương,chăm sóc trẻ Người nhận nuôi sẽ ý thức được việc sẽ nhận nuôi một đứa trẻ
Trang 23phù hợp với nguyện vọng của mình để có trách nhiệm trong việc giáo dục trẻ
và xây dựng tình cảm gắn bó chặt chẽ với trẻ trong quan hệ cha mẹ và con
- Việc quy định các điều kiện đối với trẻ em được nhận làm con nuôi về độ tuổi,hoàn cảnh gia đình mới được cho làm con nuôi sẽ đảm bảo quyền trẻ emđược sống trong gia đình gốc ruột thịt của mình Về nguyên tắc, trẻ em phảiđược ưu tiên sống trong gia đình gốc ruột thịt của mình, không phải mọi trẻ
em đều được cho làm con nuôi Trẻ em chỉ được cho làm con nuôi khi không
có sự chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục của gia đình do bố mẹ đã chết, bị mấttích, không xác định được hoặc đều bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc khicha mẹ đẻ của trẻ tuy còn sống nhưng không thể có điều kiện chăm sóc, nuôidưỡng trẻ Trường hợp trẻ em đang được sống trong gia đình với bố mẹ đẻcủa mình, nhận được đầy đủ sự yêu thương, chăm sóc về vật chất lẫn tinh thầnthì vấn đề cho trẻ em đó làm con nuôi không cần đặt ra Việc cho con làm connuôi, dù phù hợp với nguyện vọng của cha mẹ đẻ, vẫn phải xuất phát từ lợiích của con, chứ không phải lợi ích của cha mẹ đẻ Quy định điều kiện đối vớitrẻ được nhận làm con nuôi còn nhằm đảm bảo việc giữ gìn gốc gác dân tộc,văn hóa, ngôn ngữ của trẻ Bởi vì việc cho trẻ làm con nuôi ở nước ngoài chỉđược coi là giải pháp cuối cùng khi không thể tìm một gia đình thích hợp chotrẻ tại nước gốc
- Quy định điều kiện nuôi con nuôi sẽ tạo ra khung pháp lý, một hành lang pháp
lý để bảo vệ đứa trẻ được cho làm con nuôi Bởi trẻ em là người
chưa trưởng thành đầy đủ về thể chất và tinh thần nên cần được chăm sóc,nuôi dưỡng, giáo dục để có thể phát triển bình thường Nếu việc xác lập quan
hệ nuôi con nuôi diễn ra một cách tự do, các bên không đáp ứng các điều kiệnnhất định thì việc cho nhận con nuôi rất dễ bị biến dạng, bị lợi dụng để thựchiện những hành vi bắt cóc, chiếm đoạt, mua bán trẻ em hoặc nhằm nhữngmục đích trục lợi khác, không phù hợp với mục đích của việc nuôi con Ví dụ:
Trang 24cho con làm con nuôi để được xuất cảnh đi nước ngoài, cho làm con nuôi củathương binh, người có công với cách mạng để được hưởng chế độ ưu tiên, đãingộ của nhà nước đối với những người này Thực chất đây là những hành vilợi dụng sơ hở của pháp luật để trục lợi mà không nhằm mục đích xác lậpquan hệ cha mẹ và con giữa hai bên Vì vậy, pháp luật cần quy định nhữngđiều kiện cần thiết của người được nhận làm con nuôi để bảo vệ quyền, lợi íchcủa trẻ, đồng thời ngăn chặn những hiện tượng tiêu cực, lợi dụng việc cho –nhận con nuôi nhằm những mục đích vụ lợi khác.
- Do quan hệ nuôi con nuôi bị chi phối trước hết bởi ý chí, tình cảm củacác bên chủ thể nên sự điều chỉnh của pháp luật có ý nghĩa quan trọng Cácđiều kiện nuôi con nuôi là cơ sở pháp lý để cơ quan nhà nước có thẩm quyềncông nhận một quan hệ nuôi con nuôi là hợp pháp, vừa là cơ sở để giải quyếtcác tranh chấp phát sinh trong quan hệ nuôi con nuôi Nếu các bên chủ thể viphạm một trong các điều kiện nuôi con nuôi thì việc nuôi con nuôi khôngđược công nhận, không có giá trị pháp lý và không làm phát sinh quyền vànghĩa vụ trong quan hệ cha mẹ - con Vì thế các bên có liên quan phải ý thứchành vi của mình và xác định được những xử sự cần thiết đúng pháp luật khimuốn xác lập quan hệ nuôi con nuôi Mặt khác, các điều kiện nuôi con nuôi là
cơ sở pháp lý để xác định quan hệ nuôi con nuôi là hợp pháp hay khôngkhông hợp pháp Trên cơ sở đó giải quyết các tranh chấp phát sinh từ việcnuôi con nuôi Ví dụ: tranh chấp về nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng; tranhchấp về thừa kế tài sản
Trang 25Chương 2
CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ VIỆC NUÔI CON NUÔI CÓ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ
THEO LUẬT NUÔI CON NUÔI NĂM 2010
2.1 Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi
Theo quy định tại Điều 8 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 thì điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi được quy định như sau:
- Người được nhận làm con nuôi là “trẻ em dưới 16 tuổi” [30, Điều 8, Khoản 1].
Khoản 1 Điều 68 Luật HN & GĐ năm 2000 quy định người được nhận làm con
nuôi là “người từ mười lăm tuổi trở xuống” [26] Việc tăng tuổi của
người người được nhận làm nuôi theo Luật Nuôi con nuôi là phù hợp với mụcđích của việc nuôi con nuôi và phù hợp với các văn bản khác về độ tuổi củatrẻ em Điều này thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, trẻ em dưới 16 tuổi là người chưa có năng lực hành vi dân sự
đầy đủ, chưa nhận thức được đầy đủ hậu quả hành vi của mình Việc thiết lậpquan hệ nuôi con nuôi sẽ đảm bảo cho người con nuôi có được sự chăm sóc,giáo dục của cha mẹ nuôi Việc nhận người trên 16 tuổi hoặc người đã thànhniên làm con nuôi làm cho việc nuôi con nuôi không còn đúng với mục đíchcủa việc nuôi con nuôi Những người trên 16 tuổi đã có thể tự lập kiếm sốngnuôi bản thân và thông thường người nhận con nuôi cũng mong muốn nhậnnuôi những trẻ em dưới 16 tuổi, vừa tạo cho các em một mái ấm gia đình, vừathuận lợi trong việc nuôi dưỡng, phát triển tình cảm gắn bó giữa cha mẹ nuôi
và con nuôi
Thứ hai, theo quy định của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
thì “trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi trở xuống” [30] Trong khi độ
tuổi của trẻ em được nhận làm con nuôi cần phù hợp với quy định về độ tuổicủa trẻ em Do đó, Luật nuôi con nuôi đã quy định tuổi của người được nhận
Trang 26làm con nuôi thành “trẻ em dưới 16 tuổi”, cao hơn so với Luật HN & GĐ
năm 2000 là cần thiết và hợp lý, tạo cơ hội cho những trẻ em từ 15 tuổi đếndưới 16 tuổi được nhận làm con nuôi
Thứ ba, mục đích của việc nuôi con nuôi hướng tới đối tượng chủ yếu
là trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dụctrong môi trường gia đình Quy định người được nhận làm con nuôi là trẻ emdưới 16 tuổi tạo điều kiện cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có cơ hội đượcnhận làm con nuôi, được sống trong môi trường gia đình với sự bảo vệ, chămsóc, nuôi dưỡng của cha mẹ nuôi
So với quy định của các nước về độ tuổi của trẻ được cho làm con nuôi,quy định của Việt Nam về vấn đề này khá tương đồng Theo pháp luật TrungQuốc trẻ em dưới 14 tuổi có thể được nhận làm con nuôi hay pháp luật Cộnghòa Pháp quy định độ tuổi của trẻ em được nhận làm con nuôi là dưới 15 tuổi
Theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Luật nuôi con nuôi, trong trường hợpngười từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể được cho làm con nuôi nếu thuộcmột trong các trường hợp sau:
a) Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi;
b) Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.”
Quy định này đảm bảo việc nuôi con nuôi phù hợp với nguyên tắc trẻ
em được sống trong môi trường gia đình gốc của mình, tạo điều kiện cho trẻ
em được sống trong gia đình có mối quan hệ huyết thống hoặc gia đình cóquan hệ họ hàng với trẻ Luật HN & GĐ năm 2000 quy định trường hợp ngoại
lệ đối với người được nhận làm con nuôi đó là: “Người trên 15 tuổi có thể
được nhận làm con nuôi nếu là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi của người già yếu cô đơn” [26] Ý
tưởng của quy định này là rất tốt đẹp, phù hợp với truyền thống đạo đức củadân tộc, tạo điều kiện cho những người có hoàn cảnh trên được nuôi dưỡng,
Trang 27chăm sóc, có một chỗ dựa về kinh tế Tuy nhiên, điều luật này lại không cótính khả thi cao vì trên thực tế rất ít trường hợp như trên xảy ra Việc đưanhững người này vào các trung tâm bảo trợ xã hội, các tổ chức từ thiện sẽ phùhợp hơn Vì vậy, Luật nuôi con nuôi năm 2010 đã bỏ đi quy định này.
Như vậy, trừ trường hợp ngoại lệ được quy định tại khoản 2 Điều 8Luật Nuôi con nuôi thì đối tượng của việc nuôi con nuôi là trẻ em Quy địnhnày phù hợp với mục đích nuôi con nuôi, bảo đảm tính thống nhất của hệthống pháp luật trong nước, đồng thời vẫn bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnhcam kết quốc tế khi nước ta gia nhập Công ước Lahay 1993 về bảo vệ quyềntrẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế
- Người được nhận làm con nuôi chỉ được cho làm con nuôi trong trường hợp:
“của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng”
(khoản 3 Điều 8 Luật nuôi con nuôi) Như vậy, Luật nuôi con nuôi quy địnhtrẻ em được cho làm con nuôi trong hai trường hợp: làm con nuôi của mộtngười độc thân hoặc làm con nuôi của vợ chồng Trường hợp trẻ em làm connuôi của một người độc thân, người con nuôi sẽ trở thành con riêng của người
đó Người con nuôi sẽ được yêu thương, chăm sóc của người cha hoặc người
mẹ nuôi của mình Trường hợp thứ hai, trẻ em làm con nuôi của vợ chồng,người con nuôi đó sẽ trở thành con chung của cả hai vợ chồng Luật khôngcho phép người đang có vợ hoặc có chồng nhận con nuôi riêng, vợ chồng chỉ
có thể nhận nuôi con nuôi chung và việc nhận con nuôi cần có sự thống nhấtcủa cả hai vợ chồng, do cả hai vợ chồng cùng nhận nuôi Vợ chồng nhận nuôicon nuôi phải có hôn nhân hợp pháp, có nghĩa là hai bên nam, nữ có đầy đủcác điều kiện kết hôn theo quy định và được đăng ký kết hôn tại cơ quan nhànước có thẩm quyền Do đó, trường hợp hai bên nam nữ chung sống với nhaunhư vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn thì không được nhận con nuôi.Việc nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi thì đứa con này sẽ trở
Trang 28thành con chung của cả hai vợ chồng Quy định này nhằm đảm bảo cho trẻđược cho làm con nuôi có một môi trường gia đình trọn vẹn, có sự yêu thươngđầy đủ của tất cả các thành viên trong gia đình, tạo điều kiện cho trẻ em đượcsống trong môi trường gia đình tự nhiên như gia đình gốc của mình, đảm bảocho người con nuôi về nơi ăn chốn ở, về sự hòa hợp và sự ổn định thống nhấttrong cách sống, cách chăm sóc giáo dục con nuôi.
Quy định này cũng phù hợp với pháp luật các nước trên thế giới làkhông được phép làm con nuôi hai lần Nuôi con nuôi hai lần có nghĩa là đứatrẻ làm con nuôi của người này (lần 1), sau đó người này lại cho đứa trẻ làmcon nuôi của một người khác nữa (lần 2) Việc nuôi con nuôi hai lần như vậy
sẽ dẫn đến tình trạng lạm dụng việc nuôi con nuôi để buôn bán trẻ em vàonhững mục đích xấu khác và sẽ không kiểm soát được việc nuôi con nuôi, nếu
có chuyện gì xảy ra sẽ rất khó quy trách nhiệm cho bên nào Tuy nhiên, phápluật các nước cũng như pháp luật Việt Nam chỉ quy định tại thời điểm trẻ emđang được cho làm con nuôi thì không được phép cho làm con nuôi ngườikhác Nhưng nếu quan hệ nuôi con nuôi đó đã chấm dứt và đứa trẻ đó vẫn có
đủ các điều kiện về độ tuổi, hoàn cảnh để được cho làm con nuôi thì vẫn cóthể được nhận làm con nuôi của một người khác
Tại Luật nuôi con nuôi quy định: “Nhà nước khuyến khích việc nhận
trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi” [30, Điều 8, Khoản 4], đã khẳng định tính nhân đạo của việc nuôi con
nuôi Bởi những trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi hoặc có hoàn cảnh đặc biệt rất cầnđược sự quan tâm nuôi dưỡng của cha, mẹ của một gia đình mà bản thânnhững trẻ em đó đã thiếu hoặc chính sách của Nhà nước không thể đảm bảocho các em được hưởng đầy đủ các quyền cơ bản của trẻ em
Tuy nhiên, ngoài những điều kiện trên Luật nuôi con nuôi không có quyđịnh nào khác về điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi Quy
Trang 29định này sẽ dẫn đến cách hiểu là mọi trẻ em dưới 16 tuổi trở xuống đều có thểđược cho làm con nuôi Điều này không đúng với mục đích của việc cho– nhận con nuôi là chỉ cho trẻ làm con nuôi khi trẻ không có sự chăm sóc,nuôi dưỡng, giáo dục của gia đình do bố mẹ đã chết, bị mất tích, không xácđịnh được hoặc đều bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc khi cha mẹ đẻ của trẻtuy còn sống nhưng không thể có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ.
Khi đó việc cho trẻ làm con nuôi mới là biện pháp tốt nhất và vì lợi ích củatrẻ Mặt khác, quy định như trên còn dẫn đến hiện tượng lợi dụng việc cho –nhận con nuôi nhằm mục đích trục lợi khác mà không nhằm xác lập quan hệcha mẹ - con giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi Ví dụ như việccho con làm con nuôi của người thương binh, bệnh binh, có công với cáchmạng, người dân tộc thiểu số để được hưởng chính sách ưu đãi Trường hợpnày mặc dù việc cho con nuôi được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩmquyền nhưng người con nuôi vẫn sống với cha mẹ đẻ, quan hệ nuôi con nuôitrên thực tế không tồn tại Hoặc nguy hiểm hơn, trẻ em cho làm con nuôi còn
bị lợi dụng vào mục đích khác như buôn bán trẻ em ra nước ngoài, để bóc lộtsức lao động hay lạm dụng tình dục đối với trẻ em Vì vậy, pháp luật nuôi connuôi cần quy định điều kiện về hoàn cảnh của trẻ được nhận làm con nuôi, đểviệc nuôi con nuôi không bị biến dạng, không đúng với bản chất và mục đíchnhân đạo của nó
Trước khi luật Nuôi con nuôi có hiệu lực, Luật HN &GĐ năm 2000cũng chỉ quy định về độ tuổi của của người được nhận làm con nuôi, tuynhiên về điều kiện đối với trẻ em cho làm con nuôi nước ngoài lại quy địnhrất cụ thể trong Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 và Nghị định số69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
68/2002/NĐ-CP, đó là: trẻ em được nhận làm con nuôi phải là trẻ em từ mười
lăm tuổi trở xuống Trẻ em từ trên mười lăm tuổi đến dưới 16 tuổi có
Trang 30thể được nhận làm con nuôi nếu là trẻ em tàn tật, trẻ em mất năng lực hành vi dân sự Như vậy, trẻ em được nhận làm con nuôi nước ngoài phải là trẻ em
đang sống tại các cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp hoặc trẻ emđang sống tại các gia đình nếu thuộc trường hợp trẻ em mồ côi; trẻ em khuyếttật, tàn tật; trẻ em mất năng lực hành vi dân sự; trẻ em mắc bệnh hiểm nghèokhác; trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS hoặcnhững trẻ em sống tại gia đình mà có quan hệ họ hàng thân thích với ngườixin nhận con nuôi hoặc có anh chị em ruột đang làm con nuôi của người xinnhận con nuôi cũng thuộc trường hợp được cho làm con nuôi nước ngoài Quyđịnh về diện trẻ em làm con nuôi người nước ngoài hẹp và chặt chẽ hơn.Nhưng với quy định này nhiều trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn sẽkhông thể có điều kiện được nhận làm con nuôi người nước ngoài nếu khôngđược nhận vào các cơ sở nuôi dưỡng hoặc có quan hệ họ hàng thân thích vớingười nhận nuôi
Theo Luật Nuôi con nuôi, người được nhận làm con nuôi ở nước ngoàiđều phải đáp ứng các điều kiện tại Điều 8 Luật Nuôi con nuôi Tuy nhiên,người được nhận nuôi chỉ được cho làm con nuôi ở nước ngoài nếu đã thựchiện tất cả các biện pháp tìm kiếm gia đình nuôi dưỡng trẻ em ở trong nướctheo quy định tại Điều 15 Luật Nuôi con nuôi mà không tìm được khi hết thờihạn luật định, trừ trường hợp trẻ em được xin đích danh (theo Điều 28 LuậtNuôi con nuôi) Quy định này đảm bảo nguyên tắc tôn trọng quyền được sốngtrong môi trường gia đình gốc của trẻ em
2.2 Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi
Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi được quy định tại khoản 1Điều 14 Luật nuôi con nuôi năm 2010, bao gồm các điều kiện sau:
- Người nhận nuôi con nuôi phải “có năng lực hành vi dân sự đầy đủ”
[30, Điều 14, Khoản 1, Điểm 1] Theo quy định tại Bộ luật dân sự năm 2005
Trang 31thì “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng cá nhân bằng hành vi
của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự của mình” [28, Điều 17].
Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là người đáp ứng đủ hai điều kiện:
đủ 18 tuổi trở lên; không phải là người mất năng lực hành vi dân sự (người do
bị tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ đượchành vi của mình và có quyết định của Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vidân sự), và không phải là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (người donghiện rượu hoặc nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản củagia đình, bị Tòa án tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự)
Quy định người nhận con nuôi là người có năng lực hành vi dân sự đầy
đủ là cần thiết, đảm bảo sự thể hiện ý chí tự nguyện của người nhận nuôi,cũng như khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con nuôi của cha mẹ nuôi.Nếu người nhận con nuôi không có năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất nănglực hành vi dân sự thì họ không nhận thức được trách nhiệm làm cha, làm mẹcủa họ, họ không thể hiện ý chí của mình một cách đúng đắn trong quyết địnhnhận con nuôi, và trong quá trình nuôi dưỡng sẽ không thể đảm bảo cho ngườicon nuôi có được cuộc sống bình thường, mục đích của việc nuôi con nuôikhông đạt được Người nhận nuôi con nuôi bị coi là không đủ điều kiện khi
họ là người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thànhniên hoặc đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ
sở chữa bệnh; Người đang chấp hành hình phạt tù; Người chưa được xóa ántích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm,danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng,con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấpngười chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ
em Những người trong trường hợp này đang bị hạn chế năng lực dân sự mộtphần, họ không có quyền quyết định những vấn đề quan trọng liên
Trang 32quan đến quyền tài sản, quyền nhân thân Nên theo quy định những người nàykhông được nhận nuôi con nuôi.
- Về độ tuổi người nhận nuôi con nuôi phải “hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên”
[30, Điều 14, khoản 1, điểm b]
Luật Nuôi con nuôi đã kế thừa quy định này từ Luật HN & GĐ năm
2000 Đây là điều kiện cần thiết để cha mẹ nuôi có thể đảm đương các nghĩa
vụ đối với con nuôi Giữa người nhận nuôi và con nuôi phải tuân theo nhữngđiều kiện nhất định về độ tuổi để đảm bảo có sự chênh lệch và khoảng cáchcần thiết giữa hai thế hệ Có như vậy việc nuôi con nuôi mới đảm bảo đượcmục đích là: xác lập quan hệ cha mẹ và con, đảm bảo cho người được nhậnlàm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục phù hợp với đạo đức xãhội Hơn nữa, về mặt sinh học, giữa hai thế hệ kế cận luôn có một khoảngcách tuổi tác mới đảm bảo được sự tôn trọng và khả năng nuôi dưỡng giáodục con cái Đồng thời, quy định này cũng nhằm tránh trường hợp người nhậnnuôi con nuôi có mục đích khác như lạm dụng tình dục với người con nuôi.Nếu một người là con nuôi của cả hai vợ chồng thì cả cha nuôi, mẹ nuôi đềuphải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên Tuy nhiên, theo khoản 3 Điều 14 LuậtNuôi con nuôi, trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận conriêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làmcon nuôi thì không áp dụng quy định khoảng cách về độ tuổi Quy định này đãđảm bảo trẻ em được sống trong môi trường gia đình họ hàng thân thích vớicha hoặc mẹ đẻ hoặc cô, dì, chú, bác ruột thịt của mình
Tuy nhiên, Luật Nuôi con nuôi chỉ quy định khoảng cách về độ tuổigiữa con nuôi và cha mẹ nuôi mà không quy định độ tuổi tối thiểu của ngườinhận nuôi con nuôi Việc quy định độ tuổi tối thiểu đối với người nhận nuôicon nuôi là cần thiết bởi bản chất của việc nuôi con nuôi là hình thành quan hệcha mẹ và con hợp pháp giữa hai bên, do đó tuổi của người nuôi phải
Trang 33“tương xứng, phù hợp với tuổi có thể làm cha mẹ về mặt sinh học” Đồng thời,
người nhận nuôi phải đạt tới một độ tuổi tối thiểu nhất định thì mới có đượckinh nghiệm, hiểu biết, điều kiện kinh tế phù hợp và quan trọng nhất là nhậnthức rõ về nhu cầu nhận nuôi con nuôi của mình Mặt khác, việc quy định độtuổi tối đa của người nhận nuôi cũng có ý nghĩ không nhỏ Bởi khi tuổi đãcàng cao thì khả năng chăm sóc, giáo dục con nuôi sẽ giảm dần, điều này ảnhhưởng trực tiếp đến lợi ích của con nuôi Con nuôi sẽ không có được sự chămsóc tốt nhất, hơn nữa sẽ không phù hợp với tự nhiên khi trẻ ở với các cặp vợchồng đã quá tuổi sinh nở [19]
Việc quy định độ tuổi tối thiểu của người được nhận nuôi đã được quyđịnh trong pháp luật nước ta thời kỳ Pháp thuộc Trong Dân luật giản yếuNam Kỳ quy định điều kiện đối với người nuôi phải quá 25 tuổi không kể làđàn ông hay đàn bà, đã lập gia đình hay chưa Trong Dân luật Bắc kỳ và Dânluật Trung kỳ thì người người nuôi phải là người đã thành niên tức là trên 21tuổi (Điều 185 Dân luật Bắc Kỳ) và trên 30 tuổi (Điều 183 Hoàng Việt Trung
kỳ hộ luật) Theo Luật gia đình ngày 2/5/1959 dưới chế độ Ngô Đình Diệm,khi một người đứng nuôi độc thân thì ít nhất phải 25 tuổi Nếu họ đã có giađình thì việc nuôi con nuôi phải được cả hai vợ chồng ưng thuận và một tronghai người ít nhất phải 25 tuổi (Điều 117), không đòi hỏi họ phải không có con
Bộ Dân luật 1972 quy định điều kiện độ tuổi còn khắt khe hơn Theo Bộ Dân
luật 1972: “Đàn ông hay đàn bà trên 35 tuổi mới được lập con nuôi và phải
hơn con nuôi ít nhất 20 tuổi, trừ khi có sự đặc miễn của nguyên thủ quốc gia”
[32, Điều 248] Nếu hai vợ chồng lập con nuôi, thì bắt buộc họ phải có đủ ba
điều kiện: ở với nhau đã 10 năm, không có con và một trong hai người phảithỏa mãn điều kiện về độ tuổi trên 35 tuổi
Hầu hết pháp luật các nước trên thế giới đều quy định về tuổi của ngườinhận con nuôi Chẳng hạn như Hàn Quốc quy định người thành niên có thể
Trang 34nhận nuôi con nuôi; Trung Quốc quy định người từ 30 tuổi trở lên có thể nhậnnuôi con nuôi; Phần Lan quy định người từ 25 tuổi trở lên có thể nhận con nuôi;theo pháp luật Cộng hòa Pháp bất cứ ai trên 28 tuổi đều có thể nhận con nuôi vàngười nhận trẻ em làm con nuôi phải hơn trẻ em từ 15 tuổi trở lên và nếu trẻ em
là con riêng của vợ hoặc chồng thì khoảng cách về độ tuổi có thể cho phép hơncon nuôi từ 10 tuổi… Việc quy định độ tuổi tối thiểu để có thể nhận con nuôi tùythuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau của mỗi nước, vì đến một độ tuổinào đó con người mới có được nhận thức về trách nhiệm làm cha, làm mẹ vàkinh nghiệm tâm lý xã hội, có đủ khả năng tài chính để gánh vác trách nhiệm đó.Ngoài ra, pháp luật các nước còn quy định độ tuổi chênh lệch giữa người nhậnnuôi con nuôi và người được làm con nuôi như Pháp quy định người nuôi connuôi phải nhiều hơn con nuôi 15 tuổi Pháp luật Trung Quốc quy định về điềukiện đối với người nhận con nuôi có phần khắt khe hơn, đó là người nhận nuôiphải không có con, nếu người đàn ông độc thân muốn nhận một bé gái làm connuôi thì phải hơn con nuôi ít nhất là 40 tuổi
Do vậy, Luật nuôi con nuôi của Việt Nam nên có quy định độ tuổi tốithiểu của người nhận nuôi con nuôi kết hợp với quy định về khoảng cách độtuổi giữa hai bên cho phù hợp hơn với thực tế
- Người nhận nuôi con nuôi phải “có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở đảm bảo việc
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi” [30 Điều 14, khoản 1, điểm c].
Điều này có nghĩa là người nhận nuôi con nuôi muốn nhận con nuôi phảichứng minh được mình có đủ điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở ổn định.Đây là một điều kiện có ý nghĩa quan trọng Người nhận nuôi có sức khỏe thìmới có thể chăm sóc tốt cho đứa trẻ được nhận làm con nuôi Nếu người nhậnnuôi không có sức khỏe, bản thân người nhận nuôi không thể tự chăm sóc chobản thân mình thì không thể chăm sóc được cho con nuôi Mặt khác, hầu hếtnhững trẻ đi làm con nuôi của người khác là những trẻ em mồ côi, không nơi
Trang 35nương tựa, bị tàn tật hoặc là những đứa trẻ có gia đình nhưng gia đình quánghèo, gặp nhiều khó khăn về kinh tế, bố mẹ đẻ không thể nuôi dưỡng, dạy dỗcon, nên phải dứt ruột cho đứa con mà mình mang nặng đẻ đau làm con nuôingười khác với hy vọng và mong muốn con mình sẽ được sống trong một giađình ấm no, hạnh phúc, được nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc tốt hơn Nếu giađình nhận nuôi không có điều kiện kinh tế thì cuộc sống của trẻ không đượcđảm bảo, việc nuôi con nuôi cũng không còn ý nghĩa, mục đích của việc nuôicon nuôi không đạt được.
Trường hợp cha dượng, mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làmcon nuôi hoặc cô, dì, chú, bác, cậu ruột nhận cháu làm con nuôi thì điều kiện
về kinh tế, sức khỏe không cần đặt ra Quy định này đã tạo điều kiện cho trẻ
em được sống cùng cha đẻ hoặc mẹ đẻ, hoặc gia đình họ hàng mở rộng, đảmbảo quyền được sống trong gia đình huyết thống của trẻ, điều đó tạo điều kiệnthuận lợi cho trẻ trong môi trường gia đình mới Điều này cũng phù hợp vớiphong tục tập quán, truyền thống đạo đức của dân tộc, vừa phù hợp với cácvăn bản pháp lý quốc tế về nuôi con nuôi
Tuy nhiên, luật không quy định cụ thể thế nào là “có điều kiện kinh tế”
nên trong quá trình thực hiện mỗi nơi lại áp dụng một cách khác nhau Có địaphương chỉ cần đương sự chứng minh mình có việc làm là được Có địaphương lại yêu cầu đương sự phải có thu nhập ở mức nhất định Việc xác địnhchỗ ở như thế nào để bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục connuôi cũng rất khó khăn Chính vì thế, không dễ dàng để xác minh điều kiệnnuôi con nuôi vì người dân thường không trình bày đúng với điều kiện hoàncảnh thực tế của mình Do Luật không quy định rõ nên khó khăn trong việc ápdụng, không có sự thống nhất giữa các địa phương Mặt khác, tại Khoản 3Điều 14 Luật quy định, trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kếnhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, dì, chú, bác, cậu
Trang 36ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định về khoảng cách độtuổi và điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở theo quy định tại điểm b và c tạiKhoản 1 điều này Nhưng Luật lại không quy định rõ vợ của chú, bác, cậuruột hoặc chồng của cô, dì có được áp dụng quy định này không Vì khi cháuđược cô, dì, chú, bác, cậu ruột nhận làm con nuôi có thể có hai khả năng:người đó là người độc thân nhưng có thể họ là người đã có vợ hoặc có chồng.Trong khi đó Luật Nuôi con nuôi chỉ công nhận việc nuôi con nuôi chung của
cả hai vợ chồng mà không cho phép một bên vợ hoặc chồng nhận con nuôiriêng Do đó, trong trường hợp này việc nhận cháu ruột làm con nuôi phảiđược sự đồng ý của người chồng hoặc người vợ của người nhận nuôi và đứatrẻ sẽ trở thành con chung của cả hai vợ chồng cô, dì, chú, bác, cậu ruột đó Vìvậy, người vợ của chú, bác, cậu ruột hoặc người chồng của cô, dì ruột của trẻvẫn phải đáp ứng các điều kiện của người nhận nuôi con nuôi Trong trườnghợp này người vợ của chú, bác, cậu ruột hoặc người chồng của cô, dì ruột củatrẻ sẽ áp dụng quy định về điều kiện của người nhận nuôi theo khoản 1 Điều
14 Luật Nuôi con nuôi hay được áp dụng theo khoản 3 Điều 14 như cô, dì,chú, bác, cậu ruột của người cháu đó Luật Nuôi con nuôi nên có quy định cụthể hơn trong trường hợp này
Ngoài ra, Luật Nuôi con nuôi cũng không cấm những người nhận connuôi mắc các bệnh hiểm nghèo có nguy cơ lây nhiễm cao sang người khácnhư: nhiễm HIV/ADIS, các bệnh viêm gan, lao… được nhận nuôi con nuôi.Xét về lợi ích lâu dài của trẻ em được nhận nuôi, pháp luật cần quy địnhnhững người mắc các bệnh trên không được nhận nuôi con nuôi để đảm bảosức khỏe của trẻ em, vì thể chất của trẻ còn non nớt nên không có khả năng để
tự bảo vệ mình, có nhiều nguy cơ bị nhiễm bệnh hơn Việc cấm những ngườinày được nhận con nuôi là cần thiết để bảo đảm sự an toàn về tính mạng, sứckhỏe, bảo đảm trẻ em được cho làm con nuôi được sống trong điều kiện tốt
Trang 37- Người nhận nuôi con nuôi “phải có tư cách đạo đức tốt” (điểm d khoản 1
Điều 14 Luật Nuôi con nuôi) Đây cũng là một điều kiện có ý nghĩa rất quantrọng trong việc nuôi con nuôi Bởi tư cách đạo đức của bố mẹ nuôi có ảnhhưởng trực tiếp đến việc hình thành nhân cách của trẻ, đặc biệt là khi trẻ cònnhỏ tuổi, khả năng nhận thức còn chưa ổn định Việc xác định điều kiện về tưcách đạo đức để tránh những trường hợp cha mẹ nuôi có những hành vi ngượcđãi, phân biệt đối xử với con nuôi, xâm phạm, làm tổn thương đến người connuôi Người nhận nuôi có tư cách đạo đức tốt sẽ đảm bảo cho con nuôi có môitrường an toàn, lành mạnh để trẻ được phát triển tốt về thể chất, trí tuệ vànhân cách
Để đảm bảo tư cách của người nhận nuôi, Khoản 2 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi đã quy định những người không được nhận nuôi con nuôi là:
- Đang bị hạn chế một số quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên;
- Người đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục,
cơ sở chữa bệnh;
- Người đang chấp hành hình phạt tù;
- Người chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tínhmạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ,
ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán,đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em
Đây là quy định kế thừa từ Luật HN & GĐ năm 2000, những người trên
đã có hành vi với những mức độ khác nhau xâm phạm đến sức khỏe, tínhmạng, danh dự, nhân phẩm của người khác trong đó có trẻ em, đang bị hạnchế một số quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên hoặc đang phảichấp hành hình phạt tù Họ thường có lối sống buông thả, nhận thức lệch lạc
về giá trị đạo đức dẫn đến có những hành vi vi phạm đạo đức hoặc nghiện các
Trang 38chất kích thích như thuốc lắc, ma túy… gây hủy hoại sức khỏe, trí tuệ conngười nên đang bị xử lý hành chính tại các cơ sở giáo dưỡng, cơ sở chữabệnh Khi một đứa trẻ chưa có khả năng nhận thức ổn định sống với nhữngngười cha mẹ nuôi đó sẽ dễ bị ảnh hưởng bởi lối sống thiếu lành mạnh, do đóđứa trẻ sau này lớn lên có nguy cơ phạm tội cao hơn Vì vậy, xét về tư cáchđạo đức những người này không đủ điều kiện để nhận nuôi con nuôi.
Điều 13 Luật Nuôi con nuôi cũng quy định rõ cấm ông bà nhận cháulàm con nuôi, hoặc anh chị em ruột nhận nhau làm con nuôi để tránh sự đảolộn ngôi thứ, thứ bậc trong gia đình Việc ông bà nhận cháu làm con nuôi thìngười cháu lại trở thành “con”, ông bà trở thành “bố mẹ” hoặc anh chị emruột với nhau lại trở thành “cha mẹ và con” Cần phân biệt rõ việc nuôi connuôi với việc nuôi dưỡng Việc nuôi con nuôi phải làm phát sinh quan hệ cha
mẹ và con, còn việc nuôi dưỡng chỉ là nghĩa vụ giữa các thành viên trong giađình với nhau Trường hợp cha mẹ bị chết hoặc mất năng lực hành
vi dân sự thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc cháuhoặc anh, chị có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc em – đó là trách
nhiệm nuôi dưỡng giữa các thành viên trong gia đình mà không cần phải xáclập quan hệ nuôi con nuôi mới ràng buộc trách nhiệm của các bên Việc quyđịnh này nhằm ngăn chặn việc nuôi con nuôi vì các mục đích khác không phùhợp với mục đích xác lập quan hệ cha mẹ và con dựa trên sự chăm sóc nuôidưỡng trẻ em Ví dụ việc anh chị xác lập quan hệ nuôi con nuôi với em chỉ đểnhằm mục đích thừa kế tài sản, hoặc lợi dụng danh nghĩa cha mẹ nuôi để quản
lý, định đoạt tài sản của người được nhận nuôi hoặc nhằm mục đích bảo lãnhcho trẻ đi nước ngoài Tuy nhiên, trong thực tế có trường hợp người nhận nuôi
và con nuôi có quan hệ huyết thống trực hệ chẳng hạn người cha hoặc mẹ cócon đẻ ngoài giá thú rồi sau đó nhận đứa con đó làm con nuôi để hợp pháphóa quan hệ cha mẹ và con Việc một người nhận con
Trang 39đẻ ngoài giá thú làm con nuôi có thể do nhiều nguyên nhân, nhưng điều đóxâm phạm đến quyền trẻ em, quyền được biết về nguồn gốc của mình Dovậy, đối với trường hợp khi phát hiện ra con nuôi chính là con đẻ ngoài giáthú của vợ/chồng thì nên giải quyết như thế nào? Theo quan điểm cá nhân,luật nên quy định việc cấm nhận con đẻ ngoài giá thú của vợ hoặc chồng làmcon nuôi để ngăn chặn hiện tượng này.
Các điều kiện đối với người nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài: Trướckhi có Luật Nuôi con nuôi thì các điều kiện nuôi con nuôi trong nước đượcquy định trong Luật HN & GĐ năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành,còn các điều kiện nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài chủ yếu quy định trongNghị định số 68/2002/NĐ-CP và Nghị định số 69/2006/NĐ-CP và các điềukiện này là khác nhau đối với cả người được nhận nuôi và người nhận connuôi Hiện nay, về cơ bản, điều kiện của việc nuôi con nuôi trong nước vàviệc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài không có sự phân biệt Điều kiện củangười nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài phân biệt thành hai trườnghợp (Điều 29 Luật Nuôi con nuôi): đối với người Việt Nam định cư ở nướcngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làmcon nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật nước nơi người
đó thường trú và quy định tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi; đối với công dânViệt Nam nhận người nước ngoài làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theoquy định tại Điều 14 của Luật Nuôi con nuôi và pháp luật của nước nơi ngườiđược nhận làm con nuôi thường trú Như vậy, Luật Nuôi con nuôi đã áp dụng
hệ thuộc luật nơi cư trú của người nhận nuôi là nơi pháp luật có hiệu lực đốivới việc nuôi con nuôi Ví dụ: một người có quốc tịch Pháp nhận trẻ em ViệtNam làm con nuôi, nhưng người đó thường trú ở Đức thì việc xác định cácđiều kiện của người nhận nuôi được áp dụng theo pháp luật Đức Việc ápdụng pháp luật nơi thường trú của người nước ngoài xin nhận con nuôi là
Trang 40hoàn toàn phù hợp, bởi nước nơi cha mẹ nuôi thường trú chính là nơi con nuôisinh sống Pháp luật của nước nơi cha mẹ nuôi thường trú điều chỉnh sẽ đảmbảo được quyền lợi của trẻ được nhận nuôi trong việc theo dõi, giám sát việcnuôi con nuôi Mặt khác, việc áp dụng pháp luật nơi thường trú của ngườinhận nuôi trong Luật Nuôi con nuôi đã giải quyết tình trạng mâu thuẫn giữacác quy định trước đây về vấn đề này.
Luật HN & GĐ năm 2000 quy định người nước ngoài xin nhận trẻ emViệt Nam phải đáp ứng các điều kiện của người nhận nuôi con nuôi theo quyđịnh tại Điều 69 Luật HN & GĐ và pháp luật của nước mà người đó là côngdân (Khoản 1 Điều 105 Luật HN & GĐ) Tức là dựa trên quy định của phápluật nơi người đó mang quốc tịch Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 37 Nghị định68/2002/NĐ-CP thì việc xác định điều kiện của người xin nhận con nuôi lạidựa trên quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nơi người đó thườngtrú Quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật Nuôi con nuôi cũng hoàn toàn phùhợp với quy định áp dụng pháp luật nơi thường trú của cha mẹ nuôi quy địnhtại Điều 2 Công ước Lahay 1993 và các hiệp định song phương Việt Nam đã
ký kết với các nước
Việc một trẻ em được cho làm con nuôi người nước ngoài có ảnhhưởng sâu sắc làm thay đổi cơ bản số phận của đứa trẻ Mặc dù còn có quanniệm cho rằng nuôi con nuôi nước ngoài sẽ tạo cho con nuôi một cuộc sốngvật chất đầy đủ hơn Tuy nhiên, với một môi trường hoàn toàn mới khác biệt
về ngôn ngữ, văn hóa trẻ sẽ phải cần sự hòa nhập tốt hơn Nếu bố mẹ nuôikhông thực sự quan tâm, chăm sóc và hướng dẫn trẻ thích nghi với môitrường mới thì trẻ dễ có cảm giác cô lập, tự ti về bản thân Điều này ảnhhưởng không tốt đến sự phát triển sức khỏe, trí tuệ, nhân cách của trẻ Vì vậy,các điều kiện của cha mẹ nuôi người nước ngoài cần chặt chẽ, phù hợp vớipháp luật Việt Nam và cả pháp luật nơi người đó thường trú để đảm bảo cho