1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của bộ luật dân sự

123 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 102,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với kết quả nghiên cứu của đề tài: "Các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự" sẽ giúp các cơ quan lập pháp ban hành các văn bản dưới luật để hoàn thiện nhữn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN HỒNG NAM

CÁC ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI

CHÚC THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2005

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN HỒNG NAM

CÁC ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI

CHÚC THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ

Chuyên ngành : Luật dân sự

Mã số

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Phùng Trung Tập

HÀ NỘI - 2005

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DI CHÚC

1.1 Vài nét về thừa kế và quyền thừa kế1.2 Di chúc và đặc điểm của di chúc1.3 Tiến trình phát triển của những quy định pháp luật về thừa kếnói chung và các điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng ởViệt Nam

Chương 2: CÁC ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC

2.1 Người lập di chúc2.2 Ý chí của người lập di chúc2.3 Về nội dung của di chúc2.4 Về hình thức của di chúc

Chương 3: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT NHỮNG TRANH CHẤP VỀ

TÍNH HỢP PHÁP CỦA DI CHÚC VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TÍNH HỢP PHÁP CỦA DI CHÚC

3.1 Thực trạng giải quyết những tranh chấp về tính hợp pháp của

di chúc tại Tòa án nhân dân3.2 Một số loại tranh chấp về thừa kế theo di chúc cụ thể3.3 Hướng hoàn thiện những quy định pháp luật về các điều kiện cóhiệu lực của di chúc

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Thừa kế là một quan hệ pháp luật phổ biến trong đời sống xã hội Tronggiai đoạn hiện nay, khi số lượng và giá trị tài sản của cá nhân ngày càng đa dạng,phong phú thì vấn đề thừa kế di sản cũng nảy sinh nhiều dạng tranh chấp Bộ luậtdân sự của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1995 quy định các điềukiện có hiệu lực của di chúc, nhưng việc hiểu và áp dụng những quy định đótrong việc giải quyết phân chia di sản thừa kế theo di chúc trên thực tế còn nhiềubất cập Những khó khăn thường được thể hiện trong việc xác định phải cónhững điều kiện gì thì di chúc mới được coi là hợp pháp, điều kiện của người lập

di chúc, ý chí của người lập di chúc, nội dung của di chúc và hình thức của dichúc Trong thực tiễn thì các quy định của pháp luật về các điều kiện có hiệu lựccủa di chúc còn có những cách hiểu khác nhau, dẫn tới việc nhận định và quyếtđịnh không giống nhau của một số bản án giải quyết cùng một vụ án tranh chấp

về các điều kiện có hiệu lực của di chúc Do vậy, việc nghiên cứu nhằm làm rõnhững quy định của pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quyđịnh của Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005 là đáp ứng kịpthời những đòi hỏi của lý luận và thực tiễn Qua nghiên cứu đề tài, tác giả cũngmuốn xác định ý nghĩa của chế định về quyền thừa kế nói chung và thừa kế theo

di chúc nói riêng Với việc nghiên cứu đề tài, tác giả muốn hoàn thiện hơn nữanhững quy định pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc, nhằm mụcđích nâng cao hơn nữa hiệu quả điều chỉnh của những quy định này trong Bộ luậtdân sự

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cũng như thừa kế theo pháp luật, thừa kế theo di chúc nói chung vàcác điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng đã được hầu hết các luật gia,

Trang 5

các nhà lập pháp của các nước trên thế giới nghiên cứu Có thể dễ dàngnhận thấy rằng, Bộ luật dân sự của các nước đều quy định về quyền địnhđoạt bằng di chúc của chủ sở hữu tài sản nhằm chuyển dịch tài sản củamình cho người khác Quyền định đoạt bằng di chúc là quyền dân sự đượcNhà nước bảo hộ, được ghi nhận trong Hiến pháp của Nhà nước ta và củacác nước khác trên thế giới.

Ở nước ta, việc nghiên cứu về thừa kế theo di chúc nói chung vànghiên cứu về các điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng đã có từ xaxưa Chúng ta có thể kể đến nhiều bộ luật như: Bộ luật Hồng Đức, Bộ luậtGia Long, Dân luật Bắc kỳ, Dân luật Trung Kỳ

Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, các điều kiện cóhiệu lực của di chúc cũng đã được các nhà lập pháp nghiên cứu, nhưngnhững quy định đó còn đơn giản và chưa đầy đủ Trong số các loại văn bảnnày, đáng chú ý là Thông tư số 81-TATC ngày 24-7-1981 của Tòa án nhândân tối cao hướng dẫn giải quyết tranh chấp thừa kế (đúc kết từ thực tiễnxét xử của ngành Tòa án nhân dân) và Pháp lệnh Thừa kế ngày 10-9-1990.Chỉ khi Bộ luật dân sự năm 1995 được ban hành thì vấn đề các điều kiện cóhiệu lực của di chúc mới được quy định rõ ràng hơn Tuy nhiên, trong quátrình thực hiện Bộ luật này, cũng còn nhiều vấn đề cần phải trao đổi

Về kết quả nghiên cứu của các luật gia: Tính đến thời điểm hiện nay cũng

đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về thừa kế, nhưng chỉ có một số ítcông trình nghiên cứu về thừa kế theo di chúc Đáng chú ý trong các công trình

nghiên cứu này, phải kể đến đề tài: "Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt

Nam từ năm 1945 đến nay" của tiến sĩ Phùng Trung Tập; đề tài: "Thừa kế theo di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam " của tiến sĩ Phạm Văn Tuyết;

cuốn sách: "Một số suy nghĩ về thừa kế trong luật dân sự Việt Nam" của tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện Tuy nhiên, những công trình trên không nghiên cứu riêng

và có tính hệ thống về các điều kiện có hiệu

Trang 6

lực của

di chúc

Nhận thức được vấn đề này, tác giả luận văn đã nghiên cứu trong mộtdiện hẹp về các điều kiện có hiệu lực của di chúc để nhằm làm sáng tỏ việc xácđịnh các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự năm

1995 và Bộ luật dân sự năm 2005 Với kết quả nghiên cứu của đề tài: "Các điều

kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự" sẽ giúp các cơ

quan lập pháp ban hành các văn bản dưới luật để hoàn thiện những quy định vềđiều kiện có hiệu lực của di chúc, đồng thời giúp các cơ quan áp dụng pháp luậttrong việc nhận thức đúng đắn và toàn diện khi giải quyết những tranh chấp vềcác điều kiện có hiệu lực của di chúc

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Nội dung của luận văn không nghiên cứu toàn diện những quy định củapháp luật về thừa kế nói chung và thừa kế theo di chúc nói riêng, mà chỉ tậptrung nghiên cứu về các điều kiện có hiệu lực của di chúc được quy định trong

Bộ luật dân sự của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1995 và có sự đốichiếu với những quy định tương ứng trong Bộ luật dân sự của Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam năm 2005 (có hiệu lực kể từ ngày 1-1-2006) Qua đó, tác giả

so sánh, đối chiếu với những quy định pháp luật trước khi Bộ luật dân sự đượcban hành để làm nổi bật tính hiện đại của những quy định về các điều kiện cóhiệu lực của di chúc trong Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005.Mặt khác, đề tài cũng có sự so sánh (ở diện hẹp) về các điều kiện có hiệu lực của

di chúc ở các nước như Nhật Bản, Cộng hòa Pháp với Việt Nam để làm nổi bậtnhững nét đặc thù và tính hiện đại của pháp luật Việt Nam quy định về các điềukiện có hiệu lực của di chúc

Trong quá trình nghiên cứu, một số các quy định của pháp luật có liên quan đến nội dung của đề tài cũng được tìm hiểu như: Năng lực pháp luật dân

Trang 7

sự, năng lực hành vi dân sự, giao dịch dân sự theo pháp luật dân sự ViệtNam để có sự so sánh, đối chiếu, với mục đích làm nổi bật những quy địnhcủa pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc.

4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống về các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của pháp luật ở Việt Nam

- Luận văn tập trung nghiên cứu có hệ thống và toàn diện từng điềukiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 và

Bộ luật dân sự năm 2005, hiệu quả điều chỉnh của những quy định phápluật về các điều kiện đó Luận văn tìm ra những điểm phù hợp với đời sống

xã hội và những điểm cần phải bổ sung các quy định về các điều kiện cóhiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự

- Qua nghiên cứu, tác giả luận văn có những kiến nghị nhằm hoànthiện một bước những quy định của pháp luật về các điều kiện có hiệu lựccủa di chúc, giúp các nhà lập pháp bổ sung những quy định còn thiếu vềcác điều kiện có hiệu lực của di chúc để đáp ứng kịp thời những đòi hỏi của

xã hội trong quan hệ thừa kế nói chung và thừa kế theo di chúc nói riêng

5 Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh về Nhà nước và pháp luật, luận văn sử dụng phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Bên cạnh đó, nhữngphương pháp khoa học khác như: So sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê cũngđược sử dụng để giải quyết những vấn đề mà đề tài đã đặt ra

Một số vụ án giải quyết tranh chấp về các điều kiện có hiệu lực của

di chúc cũng được sử dụng có chọn lọc để bình luận và các số liệu thống kêcủa ngành Tòa án nhân dân cũng được tham khảo để việc nghiên cứu đượctoàn diện và sâu sắc hơn

Trang 8

6 Kết quả đạt đƣợc và những điểm mới của luận văn

- Luận văn phân tích có hệ thống những quy định pháp luật về cácđiều kiện có hiệu lực của di chúc Qua nghiên cứu, luận văn chỉ ra nhữngquy định phù hợp với quan hệ thừa kế theo di chúc và những điểm còn bấtcập về các điều kiện có hiệu lực của di chúc trong Bộ luật dân sự năm

1995, những điểm cần hướng dẫn thực hiện theo Bộ luật dân sự năm 2005

- Kết quả nghiên cứu đề tài, tác giả đã có những điểm mới sau đây:

+ Đây là đề tài khoa học được nghiên cứu lần đầu tiên ở nước ta ở cấp thạc sĩ luật học

+ Luận văn hệ thống hóa được những quy định pháp luật về điềukiện có hiệu lực của di chúc ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, làm cơ sở đểnghiên cứu toàn diện và hệ thống những quy định của pháp luật về các điềukiện có hiệu lực của di chúc được quy định trong Bộ luật dân sự năm 1995

và Bộ luật dân sự năm 2005

+ Luận văn chỉ ra những hạn chế, những vấn đề còn thiếu củanhững quy định pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc trong Bộluật dân sự năm 1995, phân tích những quy định về các điều kiện có hiệulực của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, qua đó cónhững kiến nghị khoa học nhằm hoàn thiện những quy định pháp luật vềcác điều kiện có hiệu lực của di chúc trong Bộ luật dân sự năm 2005

+ Luận văn chỉ ra được những bất cập trong việc hiểu không đúngcác quy định pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc trong việc

áp dụng pháp luật, đồng thời có những kiến nghị để các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền ban hành những văn bản hướng dẫn cần thiết

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 10 mục

Trang 9

Chương 1

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DI CHÚC

1.1 VÀI NÉT VỀ THỪA KẾ VÀ QUYỀN THỪA KẾ

Ngay từ khi nhà nước và pháp luật chưa ra đời thì quan hệ thừa kế

đã tồn tại như một yếu tố khách quan Thừa kế với ý nghĩa là một phạm trùkinh tế có mầm mống và xuất hiện ngay trong thời kỳ sơ khai của xã hộiloài người Thừa kế và để lại thừa kế mặc dù chưa được điều chỉnh bằngcác quy phạm pháp luật, nhưng nó vẫn tồn tại một cách khách quan trong

xã hội Ở thời kỳ này, quan hệ thừa kế dựa trên quan hệ huyết thống và donhững phong tục tập quán riêng của từng bộ lạc, thị tộc quyết định

Quan hệ thừa kế là một quan hệ pháp luật xuất hiện đồng thời với quan

hệ sở hữu và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người Khi có tưhữu, nhà nước ra đời, quyền thừa kế được pháp luật quy định, bảo vệ Mỗi nhànước khác nhau có hệ thống những quy phạm pháp luật về thừa kế khác nhau.Pháp luật thừa kế thể hiện rõ bản chất giai cấp Quyền thừa kế với tư cách là mộtchế định pháp luật, luôn gắn liền với một nhà nước nhất định

Trong chế độ phong kiến và tư bản, giai cấp bóc lột chiếm hữu hầuhết tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội Các quy định của pháp luật thừa kếphong kiến và tư bản đảm bảo sự chuyển dịch tài sản từ người bóc lột nàysang người bóc lột khác Qua việc chuyển dịch tài sản bằng hình thức thừa

kế, giai cấp tư sản, giai cấp phong kiến duy trì sự thống trị cả về chính trị

và kinh tế Bằng công cụ pháp luật nói chung và pháp luật về thừa kế nóiriêng, giai cấp bóc lột duy trì sự thống trị xã hội từ thế hệ này sang thế hệkhác qua việc nắm giữ các tư liệu sản xuất, để từ đó nắm giữ thành quả laođộng của xã hội Có thể nhận thấy rằng, bản thân thừa kế không tạo raquyền thống trị cho giai cấp bóc lột mà nó chỉ duy trì quyền lực đó mà thôi

Trang 10

Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, tư liệu sản xuất thuộc về nhân dân laođộng Vì vậy, pháp luật thừa kế trước hết đảm bảo cho công dân yên tâm laođộng, sản xuất, hưởng thành quả lao động của mình và có quyền để lại thành quảlao động đó cho người khác theo di chúc hoặc theo pháp luật khi người đó chết.Pháp luật về thừa kế trong chế độ xã hội chủ nghĩa đã động viên, khuyến khíchđược nhân dân trong việc tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội.

1.2 DI CHÚC VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA DI CHÚC

1.2.1 Di chúc

Theo quy định tại Điều 649 Bộ luật dân sự năm 1995 và Điều 646 Bộluật dân sự năm 2005: "Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tàisản của mình cho người khác sau khi chết" Di chúc chính là phương tiện đểphản ánh ý chí của người có tài sản trong việc định đoạt tài sản của họ cho ngườikhác hưởng sau khi người lập di chúc chết Một người có thể có nhiều bản dichúc định đoạt một loại tài sản và những di chúc này đều thể hiện ý chí tựnguyện của họ, phù hợp với những quy định của pháp luật nhưng không phải tất

cả các di chúc trên đều phát sinh hiệu lực mà di chúc có hiệu lực pháp luật là dichúc thể hiện ý chí sau cùng của người lập di chúc

Di chúc thường được thể hiện thông qua một hình thức nhất định.Theo quy định tại Điều 652 Bộ luật dân sự năm 1995 (Điều 649 Bộ luật dân

sự năm 2005), di chúc được thể hiện dưới hai hình thức: Di chúc bằng vănbản và di chúc miệng Pháp luật chỉ cho phép người lập di chúc miệngtrong những trường hợp đặc biệt theo quy định tại Điều 654 Bộ luật dân sựnăm 1995 (Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2005) Về chữ viết trong di chúccũng được pháp luật quy định: Đối với người dân tộc thiểu số có quyền lập

di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình

Với những quy định trên, pháp luật dân sự nước ta đã có những quyđịnh cụ thể về di chúc Cùng chung sống trên đất nước ta gồm có nhiều dântộc, nên pháp luật dân sự cũng đã tính đến yếu tố lịch sử, nhận thức… tạo

Trang 11

điều kiện cho mọi cá nhân thực hiện quyền lập di chúc, nếu cá nhân đó cónăng lực lập di chúc theo luật định.

Đối với di chúc bằng văn bản, pháp luật quy định có 4 loại di chúc bằngvăn bản: Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng, di chúc bằng văn bản

có người làm chứng, di chúc bằng văn bản có chứng thực của công chứng nhànước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và di chúc bằngvăn bản có giá trị như di chúc được chứng nhận, chứng thực

Quyền của người lập di chúc được pháp luật quy định tại Điều 651

Bộ luật dân sự năm 1995, bao gồm những quyền sau:

- Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

- Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

- Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

- Giao nghĩa vụ cho người thừa kế trong phạm vi di sản;

- Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Trong thực tế thì không phải bất cứ người lập di chúc nào cũng thựchiện đúng các quyền được ghi nhận trên, hoặc là sử dụng một phần, hoặclại sử dụng quá cả phần quyền được pháp luật quy định Về thực hiệnquyền phân định di sản thì người lập di chúc cũng có sự phân định di sảnkhác nhau: Có di chúc chỉ phân định một phần di sản cho người thừa kế,còn một phần di sản di chúc không nhắc đến Trên thực tế cũng có những dichúc định đoạt cả phần tài sản của người khác (thường là định đoạt toàn bộtài sản chung vợ chồng) Trong trường hợp này, di chúc chỉ có hiệu lực mộtphần tương ứng với di sản của người lập di chúc

Theo quy định của Bộ luật dân sự Pháp thì di chúc có nhiều điểm tương tự như pháp luật dân sự nước ta, được thể hiện:

Trang 12

8

Trang 13

Điều 895 quy định: "Di chúc là một chứng thư theo đó người để lại

di chúc định đoạt sau khi chết, một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình,người đó có thể hủy bỏ di chúc" [5]

Điều 967 quy định: "Mọi người đều có thể định đoạt bằng di chúc

để lập thừa kế hoặc để di tặng hoặc được gọi bằng bất cứ tên nào khác đểthể hiện ý chí của mình" [5]

Điều 969 quy định: "Di chúc có thể viết tay, lập công chứng thưhoặc di chúc bí mật" [5]

Còn Bộ luật dân sự Nhật Bản quy định di chúc tuy có những đặctrưng riêng, nhưng về cơ bản các quy định cũng tương tự như Bộ luật dân

sự của Cộng hòa Pháp

Pháp luật dân sự của Cộng hòa Pháp và pháp luật dân sự Nhật Bảncòn có quy định hình thức của di chúc bí mật Bản chất của di chúc bí mậttương tự như di chúc được lập tại công chứng nhà nước ở nước ta, nhưng

có thủ tục chặt chẽ hơn (chúng tôi xin phân tích kỹ hơn ở phần hình thứccủa di chúc)

1.2.2 Đặc điểm của di chúc

Di chúc có những đặc điểm riêng biệt so với các giao dịch dân sự khác ở những điểm sau:

Trước hết, di chúc chính là sự thể hiện ý chí đơn phương của người lập di

chúc Ý chí đơn phương này được thể hiện qua việc người lập di chúc toàn quyềnđịnh đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người khác sau khi chết.Người lập di chúc không phải bàn bạc với bất kỳ ai trong việc định đoạt tài sảnthuộc quyền sở hữu của mình (trường hợp lập di chúc chung vợ chồng thực chấtthì vẫn là phần tài sản của ai thì người đó có quyền định đoạt) Người lập di chúckhông có nghĩa vụ phải trao đổi với những người thừa kế về nội dung di chúc.Người lập di chúc phải tự nguyện, không bị đe dọa, cưỡng ép trong việc lập dichúc Di chúc thể hiện ý chí của người lập di

Trang 14

chúc, không bị sự chi phối nào của người khác Bằng việc lập di chúc, người để lại di sản đã xác lập một giao dịch dân sự về thừa kế theo di chúc.

Ý chí đơn phương của người lập di chúc còn được thể hiện việc ngườilập di chúc toàn quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình cho bất kỳ ai và

có quyền cho ai bao nhiêu phần trăm số tài sản thuộc quyền sở hữu của mình màkhông phụ thuộc vào việc người được hưởng thừa kế theo di chúc có quan hệhuyết thống, nuôi dưỡng hay thân thích với người lập di chúc Người lập di chúc

có thể cho người này nhiều, người kia ít, hoặc không cho người nào đó trong sốnhững người thuộc diện thừa kế theo pháp luật

Như vậy, nếu như trong tất cả các loại hợp đồng dân sự đều phải thểhiện ý chí của các bên tham gia hợp đồng và các bên đều phải tự nguyệnthỏa thuận, bàn bạc, trao đổi , thì di chúc chỉ thể hiện ý chí của bên lập dichúc Hợp đồng dân sự chỉ phát sinh hiệu lực khi các bên tham gia hợpđồng thống nhất được những điều khoản ghi nhận trong hợp đồng và cùngnhau ký kết hợp đồng, còn trong di chúc thì không có sự thống nhất giữangười lập di chúc và người được thừa kế theo di chúc Thực tế đã có nhiềutrường hợp người được hưởng thừa kế theo di chúc không thể biết mình cóquyền được hưởng di sản theo di chúc vì di chúc chưa được công bố vàđược cất giữ bí mật

Đối với những di chúc do vợ chồng lập chung, trong đó mặc dù thể hiện

ý chí chung của hai người, nhưng thực chất vẫn thể hiện ý chí đơn phươngcủa từng người trong việc định đoạt tài sản chung (ý chí đơn phương củachồng và vợ trùng nhau trong việc định đoạt tài sản chung vợ chồng) Mặtkhác, di chúc chung của vợ chồng vẫn chỉ thể hiện ý chí của một bên - bênchuyển giao tài sản

Ý chí đơn phương này là đặc điểm khác biệt của di chúc với các loạigiao dịch dân sự khác Đây không phải chỉ riêng di chúc theo pháp luật dân sự

Trang 15

Việt Nam mà pháp luật dân sự của hầu hết các nước thì vấn đề này cũngđược quy định rõ như: Bộ luật dân sự của Cộng hòa Pháp, Đức…

Đặc điểm thứ hai: Di chúc thể hiện sự định đoạt tài sản của người lập di chúc nhằm chuyển dịch tài sản cho người khác, sau khi người lập di

chúc chết

Nếu như các loại hợp đồng dân sự đều thể hiện ý chí thỏa thuận củacác chủ thể nhằm chuyển dịch tài sản từ người này sang người khác thì dichúc lại nhằm chuyển dịch tài sản của người đã chết sang cho người cònsống Người thừa kế theo di chúc phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế

Thực tế cho thấy không phải bất cứ ai trước khi chết cũng lập di chúc,

mà có người trước khi chết họ chỉ để lại những lời dặn dò, ví dụ: Dặn dò các conphải thương yêu nhau, phải cố gắng học tập, tránh xa các thói hư, tật xấu

Với khái niệm về di chúc tại Điều 649 Bộ luật dân sự năm 1995(Điều 646 Bộ luật dân sự năm 2005) thì di chúc phải thể hiện việc chuyểndịch tài sản của người lập di chúc cho người khác sau khi người lập di chúcchết Vì vậy, nếu như một tài liệu nào đó của người chết để lại mà khônghàm chứa nội dung chuyển tài sản cho người khác, thì không thể được coi

là di chúc Pháp luật cho phép công dân có quyền định đoạt tài sản, trong

đó có việc để lại di sản thừa kế theo di chúc, nhưng pháp luật cũng chỉ côngnhận khi di chúc của công dân đó thỏa mãn những điều kiện nhất định.Trong thực tiễn đã có không ít những di chúc không tuân theo những quyđịnh của pháp luật về hình thức và nội dung, dẫn tới di chúc không đượccông nhận hoặc chỉ được công nhận một phần

Đặc điểm thứ ba: Di chúc là một loại giao dịch dân sự đặc biệt, chỉ

có hiệu lực khi người lập di chúc chết.

Trang 16

Khoản 1 Điều 670 Bộ luật dân sự năm 1995 (khoản 1 Điều 667 Bộluật dân sự năm 2005) quy định: "Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thờiđiểm mở thừa kế" [6], [7].

Về thời điểm mở thừa kế, Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân

sự năm 2005 quy định thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sảnchết Trong trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết, thì thời điểm

mở thừa kế là ngày được xác định theo quy định của pháp luật

Đây là một đặc điểm thể hiện rõ nét sự khác biệt giữa di chúc với các loạigiao dịch dân sự khác, ví dụ như hợp đồng dân sự có hiệu lực kể từ thời điểmgiao kết trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác,còn thời điểm có hiệu lực của di chúc lại phụ thuộc vào thời điểm mà người lập

di chúc chết hoặc thời điểm mà quyết định của Tòa án tuyên bố người lập di chúcchết có hiệu lực pháp luật Vì vậy, việc xác định đúng thời điểm mở thừa kế (thờiđiểm người lập di chúc chết) có ý nghĩa trong việc xác định thời điểm có hiệu lựccủa di chúc Mặt khác, xác định đúng thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa quantrọng trong việc xác định di chúc nào là di chúc có hiệu lực trong trường hợp mộtngười có nhiều di chúc Di chúc thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc

và người lập di chúc có quyền thay đổi một phần hoặc toàn bộ nội dung di chúchay hủy bỏ di chúc Sự thay đổi hay hủy bỏ di chúc có thể được thể hiện dướihình thức người đó lập di chúc mới ghi nhận về việc thay đổi hay hủy bỏ di chúc,nhưng cũng có thể bằng di chúc mới (mặc dù không nói rằng thay đổi hay hủy bỏ

di chúc) người lập di chúc định đoạt tài sản mà nội dung định đoạt khác với dichúc đã viết trước đó Việc đánh giá hiệu lực của di chúc như vậy dựa theo quyđịnh tại khoản 5 Điều 670 Bộ luật dân sự năm 1995: "Khi một người để lại nhiềubản di chúc đối với một tài sản, thì chỉ có bản di chúc sau cùng mới có hiệu lựcpháp luật" [6]

Tóm lại, khi người lập di chúc còn sống thì di chúc dù có phù hợp vớicác quy định của pháp luật về hình thức và nội dung, thì di chúc cũng chưa

Trang 17

phát sinh hiệu lực Do di chúc chưa phát sinh hiệu lực (khi người lập dichúc chưa chết) nên những người thừa kế theo di chúc chưa có bất kỳ mộtquyền nào đối với tài sản mà họ sẽ được hưởng Quyền đối với tài sản vẫnthuộc về người lập di chúc cho đến khi người lập di chúc chết.

1.3 TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT

VỀ THỪA KẾ NÓI CHUNG VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC NÓI RIÊNG Ở VIỆT NAM

1.3.1 Giai đoạn trước năm 1945

Dưới chế độ phong kiến, đời sống của nhân dân ta vô cùng khổ cực vìchế độ sưu cao, thuế nặng Người nông dân chiếm đại đa số trong xã hội, nhưng

bị trói buộc bởi ruộng đất của địa chủ, phong kiến Giai cấp địa chủ chiếm số íttrong xã hội nhưng lại nắm đa số các tư liệu sản xuất chủ yếu Nhà nước phongkiến dùng pháp luật trong đó có pháp luật về thừa kế để duy trì và củng cố quyền

sở hữu của giai cấp địa chủ đối với ruộng đất từ đời này sang đời khác

Chế độ phong kiến đã tồn tại ở nước ta qua nhiều thế kỷ Trải quanhiều triều đại, mỗi Nhà nước phong kiến đều ban hành các văn bản phápluật để củng cố quyền lực và phục vụ việc quản lý đất nước Từ xa xưa, các

bộ cổ luật của các triều đại phong kiến đã có nhiều quy định cụ thể về thừa

kế Đáng chú ý của thời kỳ phong kiến là: Bộ luật Hồng Đức (năm 1943),

Bộ luật Gia Long (năm 1815), Bộ Dân luật Bắc kỳ (năm 1931), Bộ Dânluật Trung kỳ (năm 1936) Ngoài các bộ luật, các nhà nước phong kiến cònban hành nhiều văn bản như chiếu, chỉ, dụ, lệnh của vua…

Trong Bộ luật Hồng Đức hay còn gọi là Quốc triều hình luật hoặcLuật hình triều Lê có quy định tôn trọng ý muốn và quyền quyết định củangười có tài sản

Điều 388 Bộ luật Hồng Đức quy định:

Trang 18

Cha mẹ mất cả, có ruộng đất, chưa kịp để lại chúc thư, màanh em chị em tự chia nhau, thì lấy một phần 20 số ruộng đất làmhương hỏa, giao cho người con trai trưởng giữ, còn thì chia nhau.Phần con của vợ lẽ, nàng hầu, thì phải kém Nếu đã có lệnh củacha mẹ và chúc thư, thì phải theo đúng, trái thì mất phần mình.Điều 390 Bộ luật Hồng Đức quy định: "Người làm cha mẹ phải liệutuổi già mà lập sẵn chúc thư…" [11].

Như vậy, Bộ luật Hồng Đức đã quy định quyền lập chúc thư để lại

di sản, đặc biệt là những người tuổi cao

Di chúc được lập dưới dạng văn bản gọi là chúc thư Bộ luật HồngĐức cũng quy định về hình thức lập di chúc tại Điều 366: "Những ngườilàm chúc thư, văn khế mà không nhờ quan trưởng trong làng viết thay vàchứng kiến, thì phải phạt 80 trượng, phạt tiền theo việc nặng nhẹ Chúc thưvăn khế ấy không có giá trị Nếu biết chữ mà viết lấy thì được" [11]

Như vậy, người có tài sản có thể tự mình viết chúc thư Nếu người

để lại di sản không biết chữ thì chỉ được phép nhờ quan trưởng viết thay,không được nhờ người khác Nếu nhờ người khác viết hộ di chúc mà khôngnhờ quan trưởng thì ngoài việc bị phạt, di chúc không có giá trị, di sảnđược chia theo pháp luật Vấn đề hình thức lập di chúc trong thời kỳ này đãđược coi trọng

Bộ luật Gia Long (hay còn gọi là Hoàng Việt luật lệ) là phiên bảncủa Bộ luật Mãn Thanh (Trung Quốc) Bộ luật không thừa nhận quyền thừa

kế của con gái mà chú trọng đến quyền lợi của con trai, thể hiện rõ việctrọng nam khinh nữ Bộ luật cũng công nhận vai trò của việc thừa kế theo

di chúc, thể hiện tại Điều 388 Bộ luật này quy định: "Nếu có mệnh lệnh củacha mẹ, phải theo đúng Vi phạm điều này sẽ mất phần" [9]

Trang 19

Bộ Dân luật Bắc kỳ được ban hành bằng một Nghị định của Thống

sứ Bắc kỳ ngày 30-3-1931 Bộ luật bao gồm 1.464 điều, được chia làm 4quyển Quyển thứ nhất bao gồm 12 thiên quy định về gia đình, chế độ hônsản và thừa kế, trong đó có 17 điều luật quy định về thừa kế theo di chúc.Nội dung của bộ luật phản ánh được những phong tục, tập quán của ngườiViệt Nam như: Việc thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng truyền thống và đặctrưng của người Việt Nam…

Bộ Dân luật Bắc kỳ quy định người lập di chúc có quyền dành một phần

di sản để thờ cúng Việc chăm sóc nuôi dưỡng nhau giữa những người trong cùngmột gia đình được coi là bổn phận của đạo đức Bộ luật quy định con cháu khôngđược phân chia khối tài sản của gia đình khi cha mẹ còn sống nếu không được sựđồng ý của họ Con cháu của người chết buộc phải nhận di sản của người đó vàthay họ thực hiện các nghĩa vụ về tài sản mà họ để lại

Bộ luật còn quy định cha mẹ phải có trách nhiệm nuôi dưỡng con cái, phải đảmbảo cho cuộc sống lâu dài của con cái nên họ phải để lại tài sản của mình chonhững người ở thế hệ sau khi họ chết Điều 321 Bộ Dân luật Bắc kỳ quy địnhngười vợ không có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản riêng của mình nếukhông được người chồng đồng ý Người cha có thể lập chúc thư để định đoạt tàisản của mình tùy theo ý mình, nhưng phải giữ quyền lợi cho người vợ chính.Người lập chúc thư có thể truất quyền thừa kế của một hay nhiều người trongnhững người được thừa kế Việc truất quyền thừa kế phải lập thành văn bản doviên quản lý văn khế lập hoặc do lý trưởng nơi cư trú của người lập chúc thư.Chúc thư phải làm thành văn bản hoặc do viên quản lý văn khế làm ra hoặc cócông chứng thị thực Chúc thư không có viên chức thị thực phải do người lậpchúc thư viết lấy và ký tên Nếu người lập chúc thư đọc để người khác viết thaythì phải có ít nhất hai người đã thành niên làm chứng Người làm chứng thường

là lý trưởng tại nơi trú quán của người lập chúc thư, nếu ở xa không về nơi trúquán được thì chúc thư ấy phải có sự chứng kiến của lý trưởng nơi hiện ở

Trang 20

của người lập chúc thư (Điều 326 Dân luật Bắc kỳ) Chúc thư phải ghi rõ ngày,tháng năm lập chúc thư; tên, họ, tuổi, nơi trú quán của người làm chứng Chúcthư khi đã làm xong thì lý trưởng đọc to cho mọi người cùng nghe rồi lý trưởng,người lập chúc thư, người viết hộ (nếu có) và những người làm chứng cùng kýtên vào văn bản Có bao nhiêu người được thừa kế thì chúc thư được làm thànhbấy nhiêu bản gốc để gửi cho mỗi người thừa kế một bản.

Khi người lập chúc thư muốn thay đổi một phần hay toàn bộ chúcthư, thì bản chúc thư sau phải tiến hành đúng những thủ tục trên và phảinêu rõ việc người lập chúc thư thay đổi một phần hay toàn bộ bản chúc thư,nếu không nói rõ thì chỉ những điều khoản nào không hợp hoặc có trái vớibản chúc thư sau mới bị bỏ mà thôi

Điều 113 Bộ Dân luật Bắc kỳ quy định: Khi người vợ chết trước, ngườichồng trở thành chủ sở hữu duy nhất tất cả của cải chung trong đó có cả phần của

vợ (tức là tài sản riêng của vợ) Còn nếu chồng chết thì người vợ chỉ có quyềnhưởng dụng tài sản riêng của chồng khi không còn người thừa kế nào bên nội,bên ngoại của chồng (Điều 346) Nếu người vợ góa tái giá thì tài sản riêng củachồng phải trả lại nhà chồng, tài sản riêng của vợ được mang theo đi, còn tài sảncủa vợ chồng thì để lại cho con (Điều 360) [14]

Bộ luật Trung kỳ hay còn gọi là Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật gồm

1709 điều, được chia làm 5 quyển Có thể nói, Bộ luật này hầu như saochép lại nhiều điều khoản trong Bộ luật Bắc kỳ, ví dụ: Điều 341 Bộ luậtTrung kỳ giống Điều 346 Bộ Dân luật Bắc kỳ; Điều 359 Bộ Dân luật Trung

kỳ giống Điều 360 Bộ Dân luật Bắc kỳ; Điều 111 Bộ Dân luật Trung kỳgiống Điều 113 Bộ Dân luật Bắc kỳ; Điều 313 Bộ Dân luật Trung kỳ giốngĐiều 321 Bộ Dân luật Bắc kỳ [15]

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1990

Trang 21

Với thắng lợi rực rỡ của Cách mạng tháng Tám, Nhà nước Việt Namdân chủ cộng hòa ra đời, đánh dấu một trang sử mới của cách mạng nước

ta Ngay sau khi thành lập, nhà nước non trẻ đã phải đối phó với rất nhiềunhững khó khăn cả về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa xã hội… Để giữvững thành quả cách mạng, Nhà nước ta đã có những chính sách vừa mềmdẻo, vừa cương quyết để tập trung quyền lực về tay Nhà nước Trong thời

kỳ này, những vấn đề lớn đều được điều chỉnh bằng các Sắc lệnh, cònnhững vấn đề thuộc về dân sự thì Nhà nước vẫn cho phép áp dụng các vănbản cũ, nếu nó không trái nguyên tắc vi phạm đến độc lập của Nhà nướcViệt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa (Sắc lệnh số 90/SL ngày 10-9-1945) Trong quan hệ về thừa kế, Nhà nước ta vẫn cho phép áp dụng cácquy định trong các Bộ Dân luật Bắc kỳ, Bộ Dân luật Trung Kỳ

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội thì những điều khoảncủa các Bộ dân luật trở nên lạc hậu Để xóa bỏ sự bất bình đẳng giữa nam

và nữ, nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động Chủ tịch HồChí Minh đã ký Sắc lệnh số 97/SL ngày 22-5-1950 Điều 5 của Sắc lệnh

quy định: "Chồng và vợ có địa vị bình đẳng trong gia đình" Về thừa kế

cũng được Sắc lệnh quy định: Con cháu hoặc vợ chồng của người chết cũngkhông bắt buộc phải nhận thừa kế của người ấy Khi nhận thừa kế thì cácchủ nợ của người chết cũng không có quyền đòi nợ quá số di sản để lại(Điều 10) Trong lúc còn sinh thời người chồng góa hay vợ góa, các con đãthành niên có quyền xin chia phần tài sản thuộc quyền sở hữu của ngườichết, sau khi đã thanh toán tài sản chung (Điều 11) [38]

Với những quy định này, tuy còn ở mức độ nhất định nhưng nó đãthể hiện sự tiến bộ vượt bậc của pháp luật nói chung và về thừa kế nói riêng

so với Bộ dân luật Bắc kỳ và Bộ dân luật Trung kỳ

Sự ra đời của Hiến pháp năm 1959 đã đánh dấu bước trưởng thành lớncủa công tác lập pháp nước ta Quyền thừa kế được Hiến pháp ghi nhận tại

Trang 22

Điều 19: "Nhà nước chiểu theo pháp luật để bảo hộ quyền thừa kế về tài

sản của công dân" [24] Đây là một nguyên tắc Hiến định, là cơ sở để các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền thừa kế cho công dân

Ngày 29-12-1959 Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố Luật Hôn nhân

và gia đình, có hiệu lực thi hành từ 13-1-1960 (gọi là Luật Hôn nhân và giađình năm 1959) Với Luật hôn nhân và gia đình đầu tiên này đã phá bỏ chế

độ gia đình phụ quyền của chế độ cũ, đảm bảo chế độ hôn nhân tự nguyện,tiến bộ, một vợ, một chồng Vợ chồng có quyền bình đẳng trong mọi quyềnlợi, trong đó có quyền thừa kế tài sản của nhau; con cái trong và ngoài giáthú cũng được đối xử bình đẳng [31]

Để thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, Tòa án nhân dân tốicao đã thường xuyên tổng kết công tác xét xử, ban hành nhiều thông tư, hướngdẫn cho Tòa án các địa phương trong việc áp dụng thống nhất pháp luật

Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 1964 của ngành Tòa án, Tòa ánnhân dân tối cao đã hướng dẫn việc xét xử của Tòa án cấp dưới trong việcxét xử các vụ án tranh chấp di sản thừa kế Theo tổng kết này thì có bahàng thừa kế sau:

- Hàng thừa kế thứ nhất: Vợ góa hay chồng góa; các con đẻ và con nuôi

của người chết; bố mẹ mất sức lao động được người để lại di sản nuôi dưỡng

- Hàng thừa kế thứ hai: Bố mẹ còn sức lao động.

- Hàng thừa kế thứ ba: Anh chị em ruột và anh chị em nuôi.

Ngày 27-8-1968, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư số594/NCPL hướng dẫn đường lối xét xử các việc tranh chấp thừa kế Thông tư đãnêu rõ các đặc điểm cơ bản (thực chất là các nguyên tắc) của chế độ thừa kế củanhà nước ta: Nam nữ bình đẳng về quyền thừa kế, người thừa kế được hưởng cácquyền tài sản của người chết để lại và phải chịu trách nhiệm thi hành các nghĩa

vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi giá trị tài sản

Trang 23

nhận được, tôn trọng quyền định đoạt bằng di chúc của người có di sản, đồngthời bảo vệ thích đáng quyền lợi của một số người thừa kế theo luật Thông tưnói rõ: Di sản thừa kế bao gồm không những quyền sở hữu cá nhân về những tàisản mà người chết để lại mà còn gồm cả những quyền tài sản và nghĩa vụ tài sảnphát sinh do quan hệ hợp đồng hoặc do việc gây thiệt hại mà người chết để lại.

Về thừa kế theo pháp luật, Thông tư đưa ra khái niệm diện thừa kế và hàng thừa

kế theo pháp luật, thứ tự hưởng di sản căn cứ vào hàng thừa kế Diện nhữngngười thừa kế theo pháp luật gồm: Vợ góa (vợ cả góa và vợ lẽ góa) hoặc chồnggóa, con đẻ và con nuôi, bố mẹ đẻ hoặc bố mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại,

bà ngoại, anh chị em ruột Như vậy, trong diện những người thừa kế theo phápluật có thêm ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại Những người trong diện thừa

kế được xếp làm hai hàng thừa kế:

Hàng thừa kế thứ nhất: Vợ góa (vợ cả góa và vợ lẽ góa) hoặc chồnggóa, các con đẻ và con nuôi, bố mẹ đẻ hoặc bố mẹ nuôi

Hàng thừa kế thứ hai: Anh chị em ruột và anh chị em nuôi, ông nội,

bà nội, ông ngoại, bà ngoại

Thông tư đã ghi nhận: Anh chị em cùng mẹ khác cha hoặc cùng chakhác mẹ có quan hệ huyết thống với nhau không hoàn toàn nhưng trongnhiều gia đình họ đối xử với nhau thân mật không khác gì anh chị em cùngcha, cùng mẹ Do đó, cần xác định họ có quyền thừa kế di sản của nhau

Về thừa kế theo di chúc: Thông tư 594 xác nhận quyền tự do định đoạttheo di chúc nhưng không được trái với chính sách và pháp luật hiện hành, khôngtrái với tinh thần đoàn kết, tương trợ trong gia đình và phải bảo đảm đời sốngcho vợ hoặc chồng, con vị thành niên hoặc con đã thành niên nhưng mất sức laođộng và cha mẹ già yếu, túng thiếu Do đó, người lập di chúc khi định đoạt tàisản của mình phải giữ một phần tài sản cho những người nói trên Phần di sảnbắt buộc phải dành lại cho những người này nên tính tùy theo tình hình di sản và

số người thừa kế cần được bảo vệ quyền lợi, nó không

Trang 24

nên quá thấp so với phần di sản mà họ đáng lẽ được hưởng nếu không có dichúc Trường hợp di chúc không dành phần bắt buộc thích đáng cho nhữngngười nói trên thì cần phải điều chỉnh lại Phần di sản dư ra sau khi đã dànhnhững phần bắt buộc, Tòa án vẫn chiếu theo di chúc để chia cho người thừa

kế được chỉ định trong di chúc

Thông tư số 594 ngày 27-8-1968 của Tòa án nhân dân tối cao đã xóa bỏquan điểm của Dân luật cũ thời Pháp thuộc (Điều 321 Dân luật Bắc kỳ, Điều 313Hoàng Việt Trung kỳ Hộ luật) về quyền tự do tuyệt đối khi lập di chúc Đây làvấn đề mới từ thực tiễn xét xử nên ở thời điểm đó Tòa án nhân dân tối cao chưathể ấn định cụ thể phần di sản bắt buộc này là bao nhiêu [41]

Với thắng lợi to lớn của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đất nước ta

đã hoàn toàn thống nhất năm 1975 Thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử tự dotrong cả nước tháng 7-1976, Nhà nước ta lấy tên là Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam Ngày 25-3-1977 Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghịquyết số 76/CP quy định về việc thực hiện thống nhất pháp luật trên cảnước Kể từ thời điểm này, pháp luật đã được áp dụng thống nhất trong toànquốc Tuy nhiên, ở giai đoạn này vẫn chưa có một văn bản pháp luật nàoquy định riêng về thừa kế

Trước sự thay đổi lớn của đất nước, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa

VI đã thông qua bản Hiến pháp (gọi là Hiến pháp 1980) - Hiến pháp đầutiên trong thời kỳ thống nhất đất nước - là cơ sở nền tảng cho việc pháttriển của pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về thừa kế theo dichúc nói riêng Hiến pháp năm 1980 là đạo luật gốc, đạo luật cơ bản củaNhà nước Hiến pháp đã quy định về chế độ chính trị, chế độ kinh tế, vănhóa xã hội, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân… tạo tiền đề, cơ sởpháp lý cho việc ban hành các văn bản pháp luật về thừa kế sau này

Trang 25

Điều 27 Hiến pháp năm 1980 quy định: "Nhà nước bảo hộ quyền sở

hữu của công dân về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinhhoạt, những công cụ sản xuất dùng trong những trường hợp được phép laođộng riêng lẻ Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân" Hiếnpháp năm 1980 cũng quy định mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật,

sự bình đẳng giữa nam và nữ, Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phânbiệt, đối xử giữa các con

Hiến pháp năm 1980 đã quy định đất đai thuộc sở hữu nhà nước.Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung, nhằm bảo đảmđất đai được sử dụng hợp lý và tiết kiệm Những tập thể và cá nhân đang sửdụng đất đai được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động của mìnhtheo quy định của pháp luật [25]

Để đảm bảo thống nhất đường lối xét xử, trên cơ sở tổng kết công tác xét

xử, đồng thời bổ sung một số vấn đề cho phù hợp với các quy định của Hiếnpháp năm 1980, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư số 81-TANDTCngày 24-7-1981 hướng dẫn giải quyết tranh chấp về thừa kế Ngay từ Phầnnguyên tắc chung (Phần I), Thông tư đã quy định về quyền lập di chúc của côngdân để định đoạt tài sản của mình sau khi chết Nếu không có di chúc thì mớichia thừa kế theo pháp luật, tôn trọng quyền định đoạt bằng di chúc của người có

di sản, đồng thời bảo hộ thích đáng quyền lợi của một số người thừa kế theo luật(người thừa kế bắt buộc không phụ thuộc vào nội dung di chúc), phụ nữ và namgiới bình đẳng về quyền lập di chúc, người thừa kế có quyền nhận hay khôngnhận di sản thừa kế, người nhận thừa kế được hưởng các tài sản và các quyền vềtài sản của người chết để lại, đồng thời phải chịu trách nhiệm thi hành các nghĩa

vụ về tài sản mà người chết để lại trong phạm vi giá trị tài sản đã nhận được.Thông tư số 81 đã hướng dẫn về việc xác định di sản thừa kế, diện và hàng thừa

kế, việc phân chia di sản thừa kế Đặc biệt, Thông tư đã dành chương IV đểhướng dẫn về thừa kế theo di chúc, trong đó quy

Trang 26

định rõ về hình thức của di chúc, quyền định đoạt tài sản của người lập dichúc, nghĩa vụ phải dành lại một phần tài sản cho những người thừa kế bắtbuộc của người lập di chúc (hạn chế quyền của người lập di chúc)…Những người thừa kế bắt buộc gồm: Vợ góa hoặc chồng góa, con chưathành niên hoặc tuy đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, bố

mẹ già yếu và túng thiếu Phần di sản phải dành cho mỗi người thừa kế bắtbuộc ít nhất là 2/3 suất của thừa kế theo pháp luật [44]

Ngày 29-12-1986 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 được banhành và có hiệu lực thi hành từ 3-1-1987 đã đánh dấu một bước phát triểncủa pháp luật hôn nhân gia đình nước ta, thay thế cho Luật Hôn nhân và giađình năm 1959 Luật hôn nhân và gia đình 1986 có những điều khoản quantrọng đối với những quy định của pháp luật thừa kế Ví dụ: Luật Hôn nhân

và gia đình năm 1986 xác định nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa các thành viêntrong gia đình là cơ sở cho pháp luật thừa kế xác định ai là người thừa kếđược hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc [32]

Thắng lợi của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) đã tạobước ngoặt mới trong sự phát triển kinh tế của đất nước Cơ chế kinh tế tập trungquan liêu bao cấp đã bị xóa bỏ, nền kinh tế nhiều thành phần (trong đó có kinh tế

tư nhân) đã được pháp luật thừa nhận và khuyến khích phát triển

Ngày 29-12-1987 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

đã thông qua Luật Đất đai (gọi là Luật Đất đai năm 1987) Luật Đất đai đã quyđịnh chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai và đất đai do Nhà nước thống nhấtquản lý Nhà nước giao đất cho người sử dụng đất để sử dụng ổn định, lâu dàihoặc tạm thời, có thời hạn Điều 5 của Luật Đất đai năm 1987 quy định:

"Nghiêm cấm việc mua, bán, lấn, chiếm đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hìnhthức, nhận đất được giao mà không sử dụng, sử dụng đất không đúng mục đích,

tự tiện sử dụng đất nông nghiệp, đất có rừng vào mục đích khác, làm hủy hoạiđất đai" Nhà nước bảo đảm cho người sử dụng đất

Trang 27

được hưởng những quyền lợi hợp pháp trên đất được giao, kể cả quyềnchuyển, nhượng, bán thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giaokhi không còn sử dụng đất và đất đó được giao cho người khác sử dụngtheo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định [28].

1.3.3 Giai đoạn từ năm 1990 đến 1 tháng 7 năm 1996

Để đáp ứng với sự biến động, phát triển không ngừng của xã hội, ngày30-8-1990 Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đãthông qua Pháp lệnh Thừa kế, có hiệu lực từ ngày 10-9-1990 Đây là văn bảnpháp luật có hệ thống và ở tầm văn bản pháp lý cao nhất về thừa kế nói chung vàthừa kế theo di chúc nói riêng kể từ ngày thành lập nước Pháp lệnh Thừa kế gồm

38 điều, được chia làm 6 chương, trong đó đã xác định được những nguyên tắc

cơ bản về thừa kế, về quyền bình đẳng về thừa kế của công dân Pháp lệnh Thừa

kế đưa ra những khái niệm về: Thời điểm mở thừa kế, địa điểm mở thừa kế, disản, người thừa kế… Thừa kế theo di chúc được Pháp lệnh quy định tại chương

II từ Điều 10 đến Điều 23 Pháp lệnh đã quy định về quyền của người lập dichúc Theo quy định tại Điều 10 của Pháp lệnh thì công dân có quyền lập di chúc

để chuyển quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình cho một hoặcnhiều người trong hoặc ngoài các hàng thừa kế theo pháp luật, cũng như cho Nhànước, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế Người lập di chúc cóquyền chỉ định người thừa kế, phân định tài sản cho người thừa kế, giao nghĩa vụcho người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của một hoặc nhiều người thừa kếtheo pháp luật mà không nhất thiết phải nêu lý do Người lập di chúc có quyềnsửa đổi, bổ sung di chúc đã lập, thay thế di chúc đã lập bằng di chúc khác, hủy bỏ

di chúc

Pháp lệnh Thừa kế cũng quy định về di chúc hợp pháp là di chúc dongười từ đủ mười tám tuổi trở lên tự nguyện lập trong khi minh mẫn, không bịlừa dối và không trái với quy định của pháp luật Di chúc cũng được coi là

Trang 28

hợp pháp nếu do người từ đủ mười sáu tuổi trở lên nhưng chưa đủ mườitám tuổi tự nguyện lập trong khi minh mẫn và phải được sự đồng ý của cha

mẹ hoặc người đỡ đầu, không bị lừa dối và không trái với quy định củapháp luật Di chúc do công dân Việt Nam lập ở nước ngoài theo pháp luậtcủa nước ngoài, nếu có nội dung không trái với pháp luật Việt Nam cũngđược coi là di chúc hợp pháp

Về nội dung của di chúc được Pháp lệnh quy định tại Điều 13:Trong bản di chúc phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập di chúc, họ, tên và nơithường trú của người lập di chúc, họ, tên người được hưởng di sản, tên cơquan tổ chức được hưởng di sản… Đặc biệt, Pháp lệnh quy định rõ về việcphải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc

Pháp lệnh quy định về hiệu lực của di chúc viết được cơ quan côngchứng hoặc Ủy ban nhân dân chứng thực, di chúc viết được cơ quan đạidiện ngoại giao hoặc lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài chứng thực, dichúc viết không có chứng thực, xác nhận và di chúc miệng…

Pháp lệnh Thừa kế đã quy định cụ thể về những người được hưởng

di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc tại Điều 20 Theo quyđịnh này thì trong trường hợp không được người lập di chúc cho hưởng disản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất của một ngườithừa kế theo pháp luật, nếu như di sản được chia theo pháp luật, thì conchưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên không đủ khả nănglao động và túng thiếu của người lập di chúc vẫn được hưởng phần di sảnbằng ít nhất là hai phần ba suất đó, trừ trường hợp họ là người không cóquyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 7 của Pháp lệnh Đây là

sự kế thừa và pháp điển hóa so với quy định về người thừa kế bắt buộc tạiThông tư số 81-TANDTC ngày 24-7-1981 của Tòa án nhân dân tối cao

Pháp lệnh cũng quy định về việc sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúc,hiệu lực của di chúc, di sản dùng vào việc thờ cúng [35]

Trang 29

Để đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới do sự đổi mớitoàn diện của đất nước kể từ Đại hội lần thứ VI của Đảng, Quốc hội nước ta

đã sửa đổi Hiến pháp năm 1980 Hồi 11 giờ 45 phút ngày 15-4-1992 Quốchội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 11 đãnhất trí thông qua Hiến pháp năm 1992 Hiến pháp năm 1992 đã khẳngđịnh về việc tiếp tục đưa đất nước ta đi theo con đường chủ nghĩa xã hội,phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sựquản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Với tư tưởng chủđạo này, trong chương II về chế độ kinh tế, Hiến pháp đã quy định việcđảm bảo tính thống nhất của sự phát triển kinh tế sao cho nền kinh tế đượcphát triển theo cơ chế thị trường với nhiều thành phần kinh tế khác nhautheo định hướng xã hội chủ nghĩa

Hiến pháp năm 1992 đã quy định về quyền bình đẳng của công dântrước pháp luật, quyền bình đẳng giữa nam và nữ, Nhà nước và xã hộikhông thừa nhận việc phân biệt, đối xử giữa các con Điều 58 Hiến pháp

năm 1992 quy định: "Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của

cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản kháctrong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác Nhà nước bảo hộquyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân"

Hiến pháp năm 1992 quy định về việc Nhà nước bảo hộ quyền lợichính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tạo điều kiện chongười Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia đình vàquê hương, góp phần xây dựng quê hương đất nước

Để thi hành Hiến pháp năm 1992, tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX đã thông qua Luật Đất đai năm 1993, cóhiệu lực kể từ 15-10-1993 Kể từ đây, việc "được chuyển quyền sử dụng đất đượcNhà nước giao theo quy định của pháp luật" của tổ chức và cá

Trang 30

nhân theo quy định tại Điều 18 Hiến pháp năm 1992 đã được thể chế hóa.Khoản 2 Điều 3 Luật Đất đai năm 1993 quy định:

Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất có quyềnchuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sửdụng đất

Các quyền nói trên chỉ được thực hiện trong thời hạn giaođất và đúng mục đích sử dụng của đất được giao theo quy địnhcủa Luật này và các quy định khác của pháp luật

Điều 76 Luật Đất đai năm 1993 quy định:

1 Cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp để trồngcây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, sau khi chết thì quyền sửdụng đất của họ được để lại cho những người thừa kế theo quyđịnh của pháp luật thừa kế

2 Hộ gia đình được Nhà nước giao đất nông nghiệp để trồngcây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu trong hộ có thành viên chết thìcác thành viên khác trong hộ được quyền tiếp tục sử dụng diện tích đất

mà Nhà nước đã giao cho hộ Trường hợp trong hộ gia đình không cònthành viên nào thì Nhà nước thu hồi đất

3 Cá nhân, thành viên của hộ gia đình được giao đất nôngnghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở,sau khi chết, quyền sử dụng đất của họ được để lại cho nhữngngười thừa kế theo quy định của pháp luật thừa kế [29]

Với những quy định trên, quyền sử dụng đất đã được coi là di sản thừa kế.

1.3.4 Giai đoạn từ 1-7-1996 đến nay

Với đường lối chính trị, kinh tế đúng đắn được Đảng và Nhà nước ta thể hiện trong Hiến pháp năm 1992, tất cả mọi mặt trong đời sống xã hội từ

Trang 31

kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đều thay đổi trên mọi bình diện Vì vậy,trong đời sống dân sự cũng phát sinh nhiều vấn đề mà pháp luật chưa kịpđiều chỉnh hoặc điều chỉnh chưa đầy đủ Các văn bản pháp luật dưới nhiềuhình thức như: Nghị định, Pháp lệnh, Thông tư, Nghị quyết chưa đủ baoquát để điều chỉnh một cách rộng khắp các quan hệ dân sự nói chung vàvấn đề các điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng.

Chính từ thực tiễn đòi hỏi, ngày 28-10-1995, Quốc hội khóa IX, kỳhọp thứ 8 đã thông qua Bộ luật dân sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam (gọi là Bộ luật dân sự năm 1995)

Bộ luật dân sự năm 1995 tương đối đồ sộ với 7 phần, 838 điều.Trong mỗi phần được chia làm nhiều chương, mục Bộ luật có hiệu lực kể

từ ngày 1-7-1996 (riêng những quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 vềchuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực áp dụng kể từ ngày Luật Đất đai

1993 có hiệu lực 15-10-1993)

Bộ luật dân sự năm 1995 là công cụ pháp lý thúc đẩy giao lưu dân

sự, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Bộ luật góp phần bảo đảm cuộc sống cộng đồng ổn định, lành mạnh, giữgìn và phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái trong nhân dân

Bộ luật đã dành hẳn Phần thứ tư và Chương VI Phần thứ năm đểquy định về thừa kế với tổng số 63 điều luật (nếu tính cả 9 điều thuộcchương những quy định chung về chuyển quyền sử dụng đất mà thừa kếquyền sử dụng đất phải áp dụng thì tổng số lên đến 72 điều)

Bộ luật đã đưa ra những khái niệm về thời điểm, địa điểm mở thừa

kế, người thừa kế, người quản lý di sản, di chúc… Đặc biệt, Bộ luật có quyđịnh cụ thể về quyền, nghĩa vụ của người quản lý di sản, người thừa kế,việc từ chối nhận di sản, về những người không được hưởng di sản…

Trang 32

Do sự phát triển đất nước, các tranh chấp dân sự diễn ra ngày càngphức tạp, Bộ luật dân sự năm 1995 đã bộc lộ những khiếm khuyết của nó.Tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XI, từ ngày 5-5-2005 đến ngày 14-6-2005Quốc hội nước ta đã thông qua Bộ luật dân sự năm 2005 Bộ luật dân sựnăm 2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2006.

Với 7 phần, 777 điều, Bộ luật dân sự năm 2005 không "đồ sộ" đượcnhư Bộ luật dân sự năm 1995, nhưng những quy định về thừa kế có nhiềutiến bộ hơn Bộ luật dân sự năm 1995, đặc biệt về thừa kế quyền sử dụngđất Về các điều kiện có hiệu lực của di chúc thì những quy định của Bộluật dân sự năm 1995 về cơ bản vẫn được Bộ luật dân sự năm 2005 giữ lại

và có sự phát triển

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Thừa kế theo di chúc là một trong hai hình thức thừa kế được phápluật quy định Thừa kế theo di chúc là việc dịch chuyển di sản của mộtngười đã chết cho người khác theo sự định đoạt ý chí của người để lại disản khi còn sống Trong những trường hợp cụ thể, quyền định đoạt củangười lập di chúc được pháp luật thừa nhận toàn bộ, nhưng trong một sốtrường hợp khác thì quyền tự định đoạt của người lập di chúc lại bị hạnchế Di chúc là giao dịch dân sự một bên, do vậy di chúc cũng cần phảithỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của di chúc

Theo tiến trình phát triển của pháp luật thừa kế, các điều kiện cóhiệu lực của di chúc trong mỗi thời kỳ cũng được quy định khác nhau.Nhưng nhìn chung, pháp luật của Nhà nước ta luôn nhằm bảo vệ nhữngquyền dân sự hợp pháp của cá nhân, trong đó có quyền lập di chúc vàquyền này ngày càng được pháp luật quy định cụ thể hơn

Với sự ra đời của Bộ luật dân sự năm 1995, các quy định pháp luật vềđiều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng và pháp luật về thừa kế nói chung

Trang 33

đã được quy định một cách hệ thống Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện,

Bộ luật dân sự năm 1995 đã phát sinh những hạn chế nhất định, đòi hỏiphải có sự khắc phục kịp thời Tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa VI, từ ngày5-5-2005 đến ngày 14-6-2005, Quốc hội nước ta đã thông qua Bộ luật dân

sự năm 2005 Bộ luật dân sự năm 2005 đã có những tiến bộ hơn so với Bộluật dân sự năm 1995 trong việc quy định về thừa kế nói chung và các điềukiện có hiệu lực của di chúc nói riêng

Trang 34

Điều 650 Bộ luật dân sự năm 1995 (Điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005)

quy định về người lập di chúc:

1- Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trườnghợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác màkhông thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình

2- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi

có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý

Như vậy, pháp luật dân sự đã quy định cụ thể về người được lập di chúc

Theo quy định tại các điều luật trên có thể nhận thấy hai yêu cầu về người lập di chúc, đó là:

- Yêu cầu về độ tuổi của người lập di chúc

- Yêu cầu về nhận thức của người lập di chúc

2.1.1 Yêu cầu về độ tuổi của người lập di chúc

Pháp luật dân sự quy định chỉ người thành niên mới có quyền lập dichúc, còn người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi muốn lập

di chúc phải được sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó

Có quy định trên bởi vì chỉ khi đạt đến một độ tuổi nhất định thì conngười mới có đủ nhận thức để điều chỉnh hành vi của mình

Trang 35

Đối với những người đã thành niên, nhưng bị mắc bệnh tâm thầnhoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vicủa mình thì những người đó không có quyền lập di chúc Trong trườnghợp những người này lập di chúc, thì di chúc đó không phát sinh hiệu lựcpháp luật.

Bộ luật dân sự năm 1995 quy định về người thành niên: Người từ

đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên (Điều 20) Người thành niên

có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp người thành niên đó bịmất năng lực hành vi dân sự và hạn chế năng lực hành vi dân sự

Như vậy, những người thành niên bị mất quyền lập di chúc khi họ là

người:

- Mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác

- Không thể nhận thức được hành vi của mình

- Không thể điều chỉnh được hành vi của mình [6]

Pháp luật dân sự của Nhà nước ta cũng quy định người từ đủ mườilăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹhoặc người giám hộ đồng ý

Người mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi mặc dù là ngườichưa thành niên, nhưng họ có những nhận thức nhất định Về mặt thực tếthì có người trong số họ đã có tài sản riêng do được thừa kế hoặc được tặngcho, thậm chí có người đã tích lũy từ lao động phù hợp với sức lao độngcủa mình Để đảm bảo phần nào quyền định đoạt tài sản của họ, pháp luật

đã cho phép họ lập di chúc nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ của họđồng ý Bàn về quy định này còn có những ý kiến khác nhau do chưa có sựhướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền:

- Cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý là đồng ý về việc cho phép người

từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi lập di chúc hay là đồng

ý về nội dung di chúc?

Trang 36

- Sự đồng ý của cha hoặc mẹ hay là cả cha và mẹ Trường hợp nào thì cần đến sự đồng ý của người giám hộ?

Về vấn đề thứ nhất, chúng tôi cho rằng chỉ là việc đồng ý cho phépngười từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi lập di chúc vì nếu hiểu làđồng ý với nội dung di chúc thì vô hình chung pháp luật đã can thiệp đến quyền

tự định đoạt, đến ý chí tự nguyện của người lập di chúc, trong khi ý chí tựnguyện là một trong những điều kiện để di chúc được coi là hợp pháp Với tưcách là người thừa kế hàng thứ nhất theo pháp luật của người con, người cha,người mẹ có thể can thiệp vào nội dung của di chúc, can thiệp vào sự định đoạtcủa người con nếu được hiểu theo cách việc lập di chúc của người từ đủ mườilăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được sự đồng ý của cha, mẹ về nộidung di chúc Và một điều đương nhiên, nếu hiểu cha mẹ phải đồng ý về nộidung di chúc thì đã bao hàm cả việc đồng ý cho lập di chúc

Về vấn đề thứ hai, căn cứ vào cách hành văn của điều luật thì chỉcần một trong hai người là cha hoặc mẹ đồng ý là đủ, mà không cần thiếtphải được sự đồng ý của hai người Pháp luật dân sự cũng đã quy định rõràng về việc giám hộ tại Mục 5 Chương II, Phần thứ nhất Bộ luật dân sựnăm 1995 Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức hoặc cơ quan nhà nước (gọi làngười giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việcchăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên,người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức,làm chủ được hành vi của mình (gọi là người được giám hộ) Trong quan

hệ pháp luật thừa kế theo di chúc, thì người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa

đủ mười tám tuổi chỉ có quyền lập di chúc khi được sự đồng ý của ngườigiám hộ trong trường hợp người chưa thành niên này không còn cha, mẹhoặc không xác định được cha, mẹ hoặc cha và mẹ đều mất năng lực hành

vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Tòa án hạn chế quyền củacha, mẹ hoặc còn cha, mẹ nhưng cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc,giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu

Trang 37

Một vấn đề cần đặt ra khi nghiên cứu về sự đồng ý của cha, mẹhoặc người giám hộ đối với hành vi lập di chúc của người từ đủ mười lămtuổi đến chưa đủ mười tám tuổi, đó là: Sự đồng ý này phải được thể hiệndưới hình thức như thế nào? Có bắt buộc việc đồng ý phải được thể hiệnbằng văn bản riêng hay chỉ cần xác nhận vào di chúc, hay chỉ cần bằngmiệng? Sự đồng ý đó có cần phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyềncông nhận hay không? Sự đồng ý được thể hiện trước hay sau khi ngườichưa thành niên lập di chúc?

Đây là một câu hỏi vì vấn đề này chưa được sự hướng dẫn, giải đápcủa cơ quan nhà nước có thẩm quyền

2.1.2 Yêu cầu về nhận thức

Kết quả nghiên cứu về y học cho thấy độ tuổi và nhận thức có quan

hệ mật thiết với nhau Con người chỉ khi đạt đến một độ tuổi nhất định thìmới có đủ nhận thức để điều chỉnh được hành vi dân sự của mình (trong đó

có hành vi lập di chúc), trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc cácbệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.Pháp luật dân sự nước ta quy định người từ đủ mười tám tuổi trở lên làngười thành niên Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừtrường hợp họ mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành

vi dân sự Vì vậy, độ tuổi và khả năng nhận thức là hai tiêu chí để xác địnhnăng lực hành vi dân sự của cá nhân

Tại khoản 1 Điều 655 Bộ luật dân sự năm 1995 và điểm a, khoản 1 Điều

652 Bộ luật dân sự năm 2005 có quy định như nhau về nhận thức của người lập

di chúc: "Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc…"

Tuy nhiên, người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt đến mức độ nào?Người lập di chúc có phải giám định sức khỏe trước khi lập di chúc hay không?Nếu người lập di chúc phải giám định sức khỏe trước khi lập di chúc thì cơ quannào có thẩm quyền giám định? Có cần hay không cần kết quả

Trang 38

giám định sức khỏe thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được chứng thực vào di chúc ?

Hiện nay, pháp luật dân sự của nước ta chưa có quy định nào về việcngười lập di chúc phải giám định sức khỏe trước khi lập di chúc Vì vậy, ngườilập di chúc có thể khám sức khỏe hoặc không khám sức khỏe trước khi lập dichúc Có một số trường hợp khám sức khỏe thì cơ quan khám sức khỏe cũngkhông thống nhất: Có trường hợp khám tại trung tâm y tế cấp huyện, tỉnh; nhưngcũng có trường hợp lại đi khám ở các bệnh viện về tâm thần

Trên thực tế người lập di chúc ít khi đi giám định sức khỏe, khámsức khỏe trước khi lập di chúc Vì vậy, tình trạng sức khỏe của người lập dichúc tại thời điểm lập di chúc không được thể hiện Khi có tranh chấp xảy

ra, bên đương sự nào cho rằng người lập di chúc không đủ sức khỏe, ảnhhưởng đến sự minh mẫn của người lập di chúc trong khi lập di chúc thì họphải có nghĩa vụ chứng minh Thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế tạiTòa án nhân dân cho thấy tình trạng này diễn ra tương đối phổ biến Bênyêu cầu chia thừa kế theo di chúc có nghĩa vụ xuất trình trước Tòa án cácchứng cứ liên quan đến việc người lập di chúc hoàn toàn minh mẫn, sángsuốt khi lập di chúc Ngược lại, bên yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật cónghĩa vụ xuất trình các chứng cứ để chứng minh người lập di chúc khôngminh mẫn, sáng suốt để bác bỏ yêu cầu chia thừa kế theo di chúc

Về nguyên tắc, tất cả các di chúc đều được coi là do người để lại di sảnlập trong lúc minh mẫn, sáng suốt Vì vậy, đương sự nào cho rằng khi lập di chúcngười lập di chúc không minh mẫn, sáng suốt phải có nghĩa vụ chứng minh trướcTòa án có thẩm quyền Chỉ khi có đầy đủ cơ sở khẳng định người lập di chúckhông minh mẫn, sáng suốt như: Kết luận của cơ quan y tế, bản án có hiệu lựcpháp luật của Tòa án… thì Tòa án có thẩm quyền tuyên bố di chúc vô hiệu.Thông thường, những di chúc được chứng nhận, chứng thực của cơ

Trang 39

quan nhà nước có thẩm quyền ít khi xảy ra tranh chấp về việc người lập dichúc có minh mẫn, sáng suốt hay không Tranh chấp về việc minh mẫn,sáng suốt của người lập di chúc lại thường xảy ra đối với những di chúckhông có chứng nhận, chứng thực Vì vậy, để hạn chế tranh chấp thì việclập di chúc có chứng thực, chứng nhận cần được khuyến khích.

Quy định về vấn đề này, pháp luật dân sự Cộng hòa Pháp chỉ yêu cầungười lập di chúc có tinh thần minh mẫn (Điều 901 Bộ luật dân sự Cộng hòaPháp) Còn Điều 963 Bộ luật dân sự Nhật Bản quy định: "Người lập di chúc tạithời điểm lập di chúc phải có đủ năng lực để làm việc này" [5]

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân chính là khả năng của cá nhânbằng hành vi của mình để xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự Nếunhư năng lực pháp luật của cá nhân phát sinh ngay từ khi cá nhân được sinh

ra thì năng lực hành vi dân sự của cá nhân chỉ phát sinh đầy đủ khi người

đó đạt đến độ tuổi nhất định (đủ 18 tuổi); nếu như năng lực pháp luật của cánhân chỉ chấm dứt khi người đó chết thì năng lực hành vi dân sự của cánhân chấm dứt khi người đó bị mất năng lực hành vi dân sự

Như vậy, một người được coi là có năng lực hành vi dân sự (trong đó cónăng lực hành vi viết di chúc), khi người đó bằng khả năng của mình thực hiệnhành vi, mà bằng hành vi đó, người đó đã xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự.Trong quan hệ pháp luật thừa kế, người lập di chúc bằng hành vi định đoạt tàisản thuộc sở hữu của mình thông qua việc lập di chúc, người lập di chúc đã xáclập quyền hưởng di sản cho người được thừa kế theo di chúc Cũng đồng thời vớiviệc xác lập quyền hưởng di sản cho người thừa kế theo di chúc, người lập dichúc đương nhiên đã xác lập nghĩa vụ cho người quản lý di sản Bằng hành

vi lập di chúc, người lập di chúc đã thực hiện quyền định đoạt đối với những tàisản của mình cho người thừa kế được chỉ định trong di chúc Việc thực hiệnquyền của người lập di chúc thể hiện ở chỗ: Người lập di chúc có quyền định

Trang 40

đoạt cho ai, cho ai cho bao nhiêu, chỉ cho sử dụng tài sản hay cho sở hữutài sản…

Pháp luật dân sự không quy định về việc người bị hạn chế năng lực hành

vi dân sự bị mất quyền lập di chúc Chỉ trong những trường hợp nhất định: Mộtngười bị nghiện ma túy hoặc nghiện các chất kích thích khác dẫn tới phá tán tàisản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quanhoặc tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chếnăng lực hành vi dân sự Đồng thời với quyết định tuyên bố một người hạn chếnăng lực hành vi dân sự, Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật củangười bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm

viđại diện Như vậy, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không phải

là người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức

và làm chủ được hành vi của mình theo quy định của Điều 650 Bộ luật dân

sự năm 1995 nên họ vẫn có quyền lập di chúc mà không phải được sự đồng

ý của người đại diện

Đối với những người đã thành niên nhưng bị bệnh tâm thần hoặcmắc các bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi củamình thì không có quyền lập di chúc Nếu họ lập di chúc, thì di chúc đókhông được công nhận

2.2 Ý CHÍ CỦA NGƯỜI LẬP DI CHÚC

2.2.1 Người lập di chúc hoàn toàn tự nguyện

Nguyên tắc tự nguyện trong việc tham gia các giao dịch dân sự là mộtnguyên tắc cơ bản được ghi nhận tại Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sựnăm 2005 Trong giao lưu dân sự, các bên đều phải hoàn toàn tự nguyện, khôngbên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào

Lập di chúc là giao dịch dân sự, là hành vi pháp lý đơn phương củangười lập di chúc Vì vậy, cũng như các giao dịch dân sự khác, việc lập di

Ngày đăng: 04/11/2020, 14:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ph. Ăngghen (1961), Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước
Tác giả: Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1961
3. Trần Hữu Biền và Tiến sĩ Đinh Văn Thanh (1995), Hỏi đáp về Pháp luật thừa kế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về Pháp luật thừa kế
Tác giả: Trần Hữu Biền và Tiến sĩ Đinh Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1995
5. Bộ luật dân sự của nước Cộng hòa Pháp (1998), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật dân sự của nước Cộng hòa Pháp
Tác giả: Bộ luật dân sự của nước Cộng hòa Pháp
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
8. Bộ luật dân sự Nhật Bản (1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.9. Bộ luật Gia Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật dân sự Nhật Bản "(1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.9
Tác giả: Bộ luật dân sự Nhật Bản
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
10. Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, (2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
12. Chính phủ (1998), Nghị định về đăng ký hộ tịch số 83/1998/NĐ-CP, ngày 10-10-1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định về đăng ký hộ tịch số 83/1998/NĐ-CP
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1998
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Các Nghị quyết của Trung ương Đảng 1996-1999, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Nghị quyết của Trung ương Đảng1996-1999
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2001
19. Nguyễn Ngọc Điện (1999), Một số suy nghĩ về thừa kế trong Bộ luật Dân sự Việt Nam, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số suy nghĩ về thừa kế trong Bộ luật Dân sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Điện
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1999
20. Nguyễn Ngọc Điện (2001), Bình luận khoa học về thừa kế trong Bộ luật Dân sự, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học về thừa kế trong Bộ luật Dân sự
Tác giả: Nguyễn Ngọc Điện
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2001
21. Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam (1999), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
Tác giả: Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1999
22. Giáo trình Luật La Mã (2001), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật La Mã
Tác giả: Giáo trình Luật La Mã
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2001
27. Trần Đức Linh (1974), Danh từ pháp luật lược giải, Nxb Khai Trí, Sài Gòn, 1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh từ pháp luật lược giải
Tác giả: Trần Đức Linh
Nhà XB: Nxb Khai Trí
Năm: 1974
36. Quốc hội (2000), Nghị quyết số 35/2000/QH10, ngày 9-6- 2000 về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 35/2000/QH10
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2000
37. Lê Kim Quế (1994), 90 câu hỏi - đáp pháp luật về thừa kế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 90 câu hỏi - đáp pháp luật về thừa kế
Tác giả: Lê Kim Quế
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
41. Tòa án nhân dân tối cao (1974), Thông tư số 15-TATC, ngày 27-9- 1974 hướng dẫn xử lý một vài loại tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 15-TATC
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 1974
44. Tòa án nhân dân tối cao (2001), Báo cáo thống kê của ngành Tòa án nhân dân năm 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thống kê của ngành Tòa án nhân dân năm 2000
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2001
45. Tòa án nhân dân tối cao (2002), Báo cáo thống kê của ngành Tòa án nhân dân năm 2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thống kê của ngành Tòa án nhân dân năm 2001
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2002
46. Tòa án nhân dân tối cao (2003), Báo cáo thống kê của ngành Tòa án nhân dân năm 2002, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thống kê của ngành Tòa án nhân dân năm 2002
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w