1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bảo vệ các quyền con người bằng các quy phạm của chế định các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự một số vấn đề về lý luận và thực tiễn

109 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 118,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại trong việc bảo vệ quyền con người bằng quy phạm về các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự .... Một nghiên cứutoàn diện về lí luận,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THANH LOAN

BẢO VỆ CÁC QUYỀN CON NGƯỜI

BẰNG CÁC QUY PHẠM CỦA CHẾ ĐỊNH CÁC BIỆN PHÁP ưNGĂN CHẶN TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THANH LOAN

BẢO VỆ CÁC QUYỀN CON NGƯỜIBẰNG CÁC QUY PHẠM CỦA CHẾ ĐỊNH CÁC BIỆN PHÁP ưNGĂN CHẶN TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

MÃ SỐ: 60 38 40

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS – TS NGUYỄN NGỌC CHÍ

HÀ NỘI – 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kếtquả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các

số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trungthực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tàichính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệLuận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Thanh Loan

Trang 4

Danh mục các từ viết tắt

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

PHẦN MỞ ĐẦU 6

1 Tính cấp thiết của đề tài: 6

2 Tình hình nghiên cứu đề tài: 8

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài: 9

3.1 Mục đích nghiên cứu đề tài: 9

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài: 9

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài: 9

5 Phương pháp nghiên cứu: 10

6 Những điểm mới của luận văn: 10

7 Cơ cấu của luận văn: 10

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜIBẰNG CÁC QUY PHẠM CỦA CHẾ ĐỊNH CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN 11

TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 11

1.1 Quyền con người trong tố tụng hình sự và bảo vệ quyền con người bằng các quy phạm của chế định các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự 11

1.1.1 Quyền con người trong tố tụng hình sự 11

1.1.2 Khái niệm bảo vệ quyền con người bằng các quy phạm của chế định các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự 16

1.2 Quyền của người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn theo luật quốc tế nhân quyền 29

1.2.1 Quyền an toàn tự do thân thể 29

1.2.2 Quyền được xét xử công bằng 32

1.3 Cơ chế bảo vệ quyền của người bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo luật nhân quyền quốc tế 33

1.3.1 Cơ chế quốc tế 33

Trang 6

CHƯƠNG II: QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN BẢO VỆ

QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG CÁC QUY PHẠM CỦA CHẾ ĐỊNH CÁC

BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 37

2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về bảo vệ quyền con người bằng các quy phạm của chế định các biện pháp ngăn chặn 37

2.1.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về bảo vệ quyền con người bằng các quy phạm của chế định các biện pháp ngăn chặn trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 37

2.1.2 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 44

2.2 Bảo vệ quyền con người bằng các biện pháp ngăn chặn trong BLTTHS 2003 52

2.2.1 Bắt người 52

2.2.2 Biện pháp ngăn chặn tạm giữ 61

2.2.3 Biện pháp ngăn chặn tạm giam 67

2.2.4 Biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú 79

2.2.5 Biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh 82

2.2.6 Biện pháp ngăn chặn đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo . 85

2.3 Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại trong việc bảo vệ quyền con người bằng quy phạm về các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự 88

2.3.1 Nguyên nhân thuộc về các quy phạm pháp luật 88

2.3.2 Nguyên nhân thuộc về các chủ thể áp dụng pháp luật 89

2.3.3 Nguyên nhân khách quan 89

CHƯƠNG III: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG CÁC QUY PHẠM CỦA CHẾ ĐỊNH CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 92

3.1 Cơ sở của việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người bằng các quy phạm của chế định các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật TTHS 92

3.2 Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về các biện pháp ngăn chặn 93

Trang 7

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện các nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng hình sự 93

3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người bằng các quy phạm của chế định các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật TTHS 99 3.3.1 Nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn nghiệp vụ của những người tiến hành tố tụng 99 3.3.2 Giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường công tác giám sát việc bảo vệ quyền con người trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn 100 KẾT LUẬN 103 Danh mục tài liệu tham khảo 105

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Hiện nay đất nước ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền – Nhà nước ở

đó quyền con người được bảo vệ bằng pháp luật và được tôn trọng Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ XI đặt ra nhiệm vụ “Đẩy mạnh xây dụng Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa, trong đó đẩy mạnh việc thực hiện chiếc lược cải cách tưpháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệcông lý và bảo vệ quyền con người” Do vậy, bảo vệ quyền con người là nhiệm

vụ cơ bản song song với xây dựng Nhà nước pháp quyền Thông qua đường lốicủa Đảng, pháp luật của Nhà nước quyền con người được đề cao, tôn trọng vàbảo vệ Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiếnlược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra phương hướng: “… hoàn thiệncác thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minhbạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người.” Trong Hiến pháp năm 2013, vănbản pháp lý mang tính pháp lý cao nhất, việc bảo vệ quyền con người cũng đượcquy định rõ ràng, cụ thể tại Điều 14 “1 Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, vănhóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và phápluật.”

Quyền con người là vấn đề được thế giới quan tâm, được ghi nhận trongluật pháp quốc tế và pháp luật của mỗi quốc gia, trong đó có luật tố tụng hình

sự Hoạt động tố tụng hình sự giải quyết vụ án là vấn đề nhạy cảm, dễ bị xâmphạm đến quyền con người, nhất là khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn Việc

áp dụng các biện pháp ngăn chặn làm ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền côngdân, cụ thể là quyền tự do, quyền chính trị, quyền học tập, quyền lao động… củacon người Tuy nhiên, trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninhquốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, để bảo vệ tính mạng, sức khỏecủa người khác, theo quy định của pháp luật thì quyền con người có thể bị hạnchế Chủ thể được quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn là Nhà nước, chủ thể cóquyền lực đặc biệt với sức mạnh cưỡng chế của bộ máy trấn áp (cơ quan

Trang 9

Công an, Viện kiểm sát, Tòa án) một bên là công dân Từ đó dễ dẫn đến tìnhtrạng quyền con người, quyền công dân không được tôn trọng, không được bảo

vệ, không được thực hiện đúng quy định của pháp luật Bộ luật tố tụng hình sựngay từ khi ban hành, quy phạm pháp luật về biện pháp ngăn chặn trong tố tụnghình sự đã được quy định khá đầy đủ Chế định các biện pháp ngăn chặn đượcquy định tại Chương VI của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Pháp luật tố tụnghình sự Việt Nam quy định chặt chẽ việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đốivới người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nhằm bảo vệ các quyền conngười Việc áp dụng các quy định đó trong những năm qua góp phần tạo điềukiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng hoàn thành tốt nhiệm vụ giải quyết các vụ

án hình sự, góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, trật tự, an toàn xã hội vàbảo vệ các quyền con người của người tham gia tố tụng, đặc biệt là của người bịtạm giữ, bị can, bị cáo Tuy nhiên một số quy định về việc áp dụng biện phápngăn chặn còn chưa rõ ràng, trong thực tế năng lực, tinh thần trách nhiệm, phẩmchất của người tiến hành tố tụng dẫn đến việc áp dụng biện pháp ngăn chặnchưa thống nhất, làm ảnh hưởng, thậm chí xâm phạm đến quyền con người, ảnhhưởng đến quyền của người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Một nghiên cứutoàn diện về lí luận, về quy định pháp luật thực tiễn và thực tiễn việc áp dụngbiện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự để đảm bảo các quy địnhcủa pháp luật và việc áp dụng các quy định pháp luật về biện pháp ngăn chặnđược thực hiện đúng, thống nhất nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, đảm bảocho việc giải quyết vụ án hình sự đúng pháp luật, nhằm hoàn thiện quy phạm cácbiện pháp ngăn chặn để bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình

sự Từ những phân tích nêu trên, tôi đã quyết định chọn đề tài “Bảo vệ quyền con người bằng các quy phạm của chế định các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn” cho luận văn thạc sỹ - Luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành luật hình sự của mình.

Trang 10

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Bảo vệ quyền con người là vấn đề được các quốc gia trên thế giới, các tổchức quốc tế và Việt Nam rất quan tâm và được nghiên cứu dưới nhiều góc độ.Bảo vệ quyền con người bằng các quy phạm của pháp luật tố tụng hình sự, củaquy phạm về các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự đã đượcnhiều tác giả đề nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau Khi chọn đề tài tôi đãnghiên cứu một số sách chuyên khảo, các bài viết trên các tạp chí khoa học vềbảo vệ các quyền con người bằng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự,bằng các quy định về các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sựnhư: Đề tài khoa học “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự và phápluật tố tụng hình sự” do GS.TSKH Lê Văn Cảm, TS Nguyễn Ngọc Chí, ThsTrịnh Quốc Toản đồng chủ trì; Bài viết “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật

tố tụng hình sự” của Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Chí, Khoa luật, Đại học quốc gia HàNội được đăng trên Tạp chí Khoa học của Đại học quốc gia Hà Nội (số 23, năm2007); Tham luận “Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự” của Thạc sỹĐinh Thế Hưng – Viện Nhà nước và pháp luật tại Hội thảo: Các điều kiện đảmbảo quyền con người ở Việt Nam do Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Viện NN vàPháp luật tổ chức ngày 27/8/2010; Sách chuyên khảo “Bảo vệ quyền con ngườitrong luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam” của TS Trần Quang Tiệp –NXB Chính trị quốc gia năm 2004; Sách chuyên khảo “Biện pháp ngăn chặnkhám xét và kê biên tài sản trong bộ luật tố tụng hình sự” của Ths Nguyễn Mai

Bộ - Nhà xuất bản Tư pháp năm 2004; Ngoài ra, một số sách chuyên khảo, bàiviết trên các tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí Tòa án nhân dân; Tạp chí Kiểmsát; Tạp chí Luật học; Tạp chí Nhà nước và pháp luật; Tạp chí nghiên cứu lậppháp; Tạp chí Công an nhân dân…

Các công trình nghiên cứu, các bài viết, các tham luận đã được công bố

đã đề cập đến việc bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp hình sự,trong pháp luật tố tụng hình sự, trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặntrong pháp luật tố tụng hình sự Tuy nhiên một số vấn đề về lí luận về bảo vệ cácquyền con người bằng các quy phạm của chế định các biện pháp ngăn chặn, các

Trang 11

biện pháp bảo vệ các quyền con người bằng các quy phạm của chế định các biệnpháp ngăn chặn mới được đề cập ở mức độ nhất định để từ đó đánh giá đúngthực trạng và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự nhằmđưa ra những giải pháp để bảo vệ quyền con người bằng các biện pháp ngănchặn được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự.

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:

3.1 Mục đích nghiên cứu đề tài:

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận, các quy định của pháp luật tố tụng hình sựViệt Nam và thực tiễn bảo vệ quyền con người bằng các quy phạm của chế địnhcác biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự, luận văn sẽ đưa ranhững tồn tại, hạn chế để từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quyđịnh của pháp luật tố tụng hình sự về các biện pháp ngăn chặn, nâng cao phẩmchất, năng lực của những người tiến hành tố tụng và tăng cường công tác giámsát việc bảo vệ quyền con người trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặntrong hoạt động tố tụng hình sự ở Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:

- Luận văn làm rõ vấn đề lí luận về quyền con người, bảo vệ các quyềncon người trong pháp luật tố tụng hình sự và bảo vệ các quyền con người bằng cácquy phạm của chế định các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự

- Luận văn phân tích các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về bảo vệ các quyền con người bằng các quy định về biện pháp ngăn chặn

- Luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việcbảo vệ các quyền con người bằng các quy định của chế định các biện pháp ngăn chặntrong pháp luật tố tụng hình sự

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

- Lí luận về bảo vệ quyền con người bằng các quy phạm của chế định các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự

- Các quy định của chế định các biện pháp ngăn chặn trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành;

9

Trang 12

- Thực tiễn việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử;

- Thực trạng của việc bảo vệ các quyền con người bằng các quy phạm củachế định các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự Việt

Nam

5 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩaMác – Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), tưtưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng về bảo vệ các quyền conngười bằng pháp luật

Các phương pháp nghiên cứu được áp dụng khi thực hiện luận văn:phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phươngpháp lịch sử…

6 Những điểm mới của luận văn:

- Luận văn làm rõ vấn đề lí luận về bảo vệ các quyền con người bằng cácquy định của chế định các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự

- Luận văn phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về bảo vệ các quyền con người bằng quy phạm về các biện pháp ngăn chặn

- Luận văn đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy phạm

về các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự

7 Cơ cấu của luận văn:

Luận văn gồm có phần mở đầu, phần kết luận và 4 chương:

- Chương I: Một số vấn đề lí luận về bảo vệ quyền con người bằng cácquy phạm của chế định các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự

- Chương II: Quy định của pháp luật và thực tiễn bảo vệ quyền con ngườibằng các quy phạm của chế định các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hìnhsự

- Chương III: Hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quảbảo vệ các quyền con người bằng các quy phạm của chế định các biện pháp ngănchặn trong pháp luật tố tụng hình sự

Trang 13

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG CÁC QUY PHẠM CỦA CHẾ ĐỊNH CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN

TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1 Quyền con người trong tố tụng hình sự và bảo vệ quyền con người bằng các quy phạm của chế định các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự

1.1.1 Quyền con người trong tố tụng hình sự

1.1.1.1 Khái quát về quyền con người

Quyền con người là một vấn đề liên quan đến nhiều lĩnh vực trong cuộcsống như chính trị, đạo đức, pháp lý, kinh tế… Quyền con người là thuật ngữđược sử dụng từ thời cổ đại trong lịch sử chính trị, tư tưởng của nhân loại.Quyền con người ở mỗi phạm trù nghiên cứu khác nhau được định nghĩa khácnhau, chưa có một định nghĩa nào bao hàm được được đầy đủ các yếu tố củaquyền con người Do đó có nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người đãđược công bố, mỗi định nghĩa tiếp cận quyền con người theo những góc độkhác nhau Quyền con người được xem xét dưới góc độ quyền tự nhiên của conngười hoặc quyền con người được gắn với thuộc tính xã hội – chính trị của conngười trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Có thể nói, quyền con ngườicần phải được xem xét dưới góc độ các quyền tự nhiên, quyền bẩm sinh vànhững quyền phát sinh trong đời sống của con người gắn với một cộng đồng,một quốc gia và với toàn thể nhân loại

Ở góc độ quốc tế, thì “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do

cơ bản của con người” 1 (Định nghĩa được đưa ra bởi Văn phòng Cao ủy Liên

hiệp quốc về quyền con người)

Trang 14

Ở Việt Nam, đã có nhiều định nghĩa về quyền con người được đưa rabởi các chuyên gia Tại giáo trình “Lý luận và pháp luật về quyền con người” do Nhàxuất bản chính trị quốc gia xuất bản năm 2009, quyền con người được định nghĩa:

“Là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghinhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận

pháp lý quốc tế”2 Theo GS TS Phạm Hồng Thái thì quyền con người có nhữngđặc trưng sau: Tính phổ biến, tính không thể chuyển nhượng, tính

không thể phân chia, tính liên hệ, phụ thuộc lẫn nhau3 Quyền con người là mộtkhái niệm có tính chất bao quát, được áp dụng cho tất cả mọi người, nhómngười thuộc mọi quốc gia, dân tộc, chủng tộc… trên toàn thế giới thể hiện trongmối quan hệ giữa các cá nhân với nhau và với toàn thể cộng đồng Quyền conngười là tự nhiên,vốn có, dành cho tất cả mọi người nên quyền con người mangtính phổ biến Quyền con người mang tính không thể phân chia, mọi quyền conngười đều có giá trị như nhau và đều cần được tôn trọng, bảo đảm thực hiện.Quyền con người không thể bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứchủ thể nào, không thể chuyển nhượng Bất kỳ quyền con người nào được bảođảm hay bị vi phạm đều tác động tích cực hay tiêu cực đến các quyền khác nên

nó mang tính liên hệ, phụ thuộc lẫn nhau

Quyền con người được ghi nhận trong các công ước quốc tế được ký kếttrong khuôn khổ Liên hiệp quốc như Công ước quốc tế về quyền dân sự và chínhtrị, Công ước quốc tế về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội và các tuyên bố, nghị địnhthư… bao gồm các quyền cơ bản như: Quyền tự quyết; Quyền sống; Quyền tự do,

an toàn cá nhân (Bao gồm tự do, không bị bắt, giam giữ tùy tiện); Quyền bình đẳng(Bao gồm bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng); Quyềnđược công nhận là tư cách con người trước pháp luật; Quyền tự do tôn giáo, tự do

ý kiến, tự do lập hội; Quyền được tham gia vào việc công, quyền tiếp cận dịch vụcông, quyền ứng cử, bầu cử; Quyền có một phiên tòa công bằng trong các vụ ándân sự, hình sự; Quyền làm việc; Quyền về giáo dục;

2 Giáo trình “ Lý luận và pháp luật về quyền con người”…

3 Hỏi đáp về quyền con người, NXB Đại học quốc gia……

Trang 15

Quyền tự do hôn nhân, bình đẳng trong hôn nhân; Quyền được bảo vệ đặc biệt của trẻ em, quyền làm mẹ của phụ nữ…

Quyền con người không đồng nhất với quyền công dân Quyền con người

là những quyền tự nhiên, vốn có của con người, còn quyền công dân trước hếtcũng là quyền con người nhưng quyền công dân gắn liền với quốc tịch, với địa

vị pháp lý của công dân trong mối quan hệ với nhà nước và được nhà nước đảmbảo đối với công dân của họ Quyền công dân là những quyền được Nhà nướcthừa nhận, áp dụng cho công dân của mình, chỉ những ai có quốc tịch của mộtquốc gia thì mới được hưởng quyền công dân của quốc gia đó Trong các côngước quốc tế, các nghị định thư, tuyên bố quốc tế hay hiến pháp, văn bản luật củacác quốc gia thì khi đề cập đến quyền con người thường dùng từ “mọi người”hoặc “không ai” để thể hiện quyền con người và dùng từ công dân khi quy địnhcác quyền, nghĩa vụ của công dân Quyền con người là khái niệm rộng hơnquyền công dân, áp dụng cho mọi người, không bị hạn chế như quyền công dân

Hiến pháp năm 2013, đạo luật gốc – đạo luật cơ bản, là bản Hiến pháp đãghi nhận chế định quyền con người Lần đầu tiên quyền con người được quyđịnh trong Hiến pháp và được tách bạch với quyền công dân và được quy địnhngay tại Chương II của Hiến pháp, ngay sau Chương I quy định về chế độ chínhtrị Trong Hiến pháp năm 2013, quyền con người đã được đặt vào một vị trítrang trọng, là trung tâm của những sửa đổi trong Hiến pháp Điều này thể hiện

sự coi trọng đến quyền con người, quyền công dân trong đời sống chính trị, kinh

tế, văn hóa, xã hội của đất nước Trong Hiến pháp năm 2013, quyền con ngườicũng được quy định thêm và được đảm bảo bởi nguyên tắc “Quyền con người,quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợpcần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức

xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Điều 14) Mọi người có nghĩa vụ tôn trọngquyền của người khác

Trang 16

1.1.1.2 Đặc điểm của quyền con người trong pháp luật tố tụng hình sự

Tố tụng hình sự là một lĩnh vực điều chỉnh của pháp luật với các qui định

về thẩm quyền, thủ tục giải quyết vụ án, trong đó có các qui định về các biệnpháp ngăn chặn Khi tiến hành tố tụng giải quyết vụ án, hoạt động của các cơquan tiến hành tố tụng ít nhiều ảnh đến quyền con người, tác động đến quyềncon người theo hướng tiêu cực nên cần có cơ chế để bảo đảm quyền con ngườikhông bị xâm hại So với các lĩnh vực khác thì quyền con người trong TTHSkhá nhạy cảm và có những những đặc điểm sau:

a Đối tượng quyền con người trong TTHS

Tham gia vào quá trình tố tụng giải quyết vụ án hình sự có nhiều chủ thểtham gia, nhưng đối tượng của quyền con người trong TTHS chỉ là những

“người yếu thế” Nói cách khác họ là những người tham gia tố tụng hình sự, đặcbiệt là người bị cáo buộc phạm tội ở những giai đoạn khác nhau của TTHS, baogồm: Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người tham gia tố tụngkhác như: người bị hại, người làm chứng… Trong đó, người bị tạm giữ, bị can,

bị cáo là những người mà quyền của họ dễ bị xâm phạm, dễ bị tổn thương, đặcbiệt là quyền sống, quyền tự do, quyền chính trị…Theo PGS TS Nguyễn NgọcChí thì đối tượng quyền con người trong TTHS bao gồm: Người bị tình nghiphạm tội, người phạm tội bị kết án và phải chấp hành hình phạt do Tòa ántuyên, nhóm người tham gia tố tụng do có quyền, lợi ích liên quan đến vụ ánnhư : Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi vànghĩa vụ liên quan, người bào chữa…4

b Đặc điểm quyền con người trong TTHS

Trên bình diện chung thì quyền con người trong pháp luật tố tụng hình sự

là những quy định trong pháp luật tố tụng hình sự nhằm bảo vệ những ngườitham gia tố tụng khỏi việc bị xâm hại đến sức khỏe, nhân phẩm, quyền tự do,quyền chính trị… khi tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hình sự Quyềncon người trong tố tụng hình sự trên mỗi một góc độ khác nhau thì có những4

Trang 17

đặc điểm khác nhau Theo quan điểm của tác giả luận văn thì quyền con ngườitrong TTHS có các đặc điểm sau: a.Quyền con người được dựa trên các chuẩnmực đạo đức trong xã hội, phản ánh những quy tắc đạo đức của thời kỳ nó được

ra đời; b Ở mỗi một giai đoạn lịch sử thì quyền con người lại mang đặc điểmcủa thời kỳ lịch sử đó; c Quyền con người trong tố tụng hình sự được quy địnhbởi nhà nước, cụ thể là cơ quan lập pháp và được giải thích bởi các cơ quan tưpháp Dù trong tố tụng hình sự, quyền con người có những quyền tự nhiên vốn

có hay được nhà nước thừa nhận thì vẫn phải được quy định trong pháp luật về

tố tụng hình sự Thông qua các văn bản pháp luật, quyền con người trong tốtụng hình sự mới được đảm bảo

Từ những đặc điểm và phân tích nêu trên, tác giả luận văn chia sẻ địnhnghĩa của Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Khoa Luật Đại học quốc gia HàNội: “Quyền con người trong TTHS là tổng hợp các quyền thuộc nhóm quyềndân sự, chính trị nhằm mục đích khẳng định việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe,tôn trọng danh dự, nhân phẩm của con người trong mọi hoàn cảnh cũng nhưbảo đảm việc xét xử công bằng bởi một Tòa án độc lập khách quan đối vớinhững người yếu thế (Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án vànhững người tham gia tố tụng khác) khỏi sự tùy tiện và sự lạm quyền của các cơquan và nhân viên nhà nước trong các hoạt động TTHS”5

Quyền con người trong tố tụng hình sự bao gồm những quyền cơ bản:Quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, thông tin

cá nhân, tài sản; Quyền được xét xử công bằng, công khai, độc lập bởi Tòa án;Quyền được bào chữa, được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp; Quyền được suyđoán vô tội; Quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án; Quyền được ápdụng các thủ tục đặc biệt đối với người chưa thành niên; Quyền khiếu nại, tố cáovới hoạt động tiến hành tố tụng…Khoa học pháp lý phân chia quyền con ngườitrong TTHS thành hai nhóm: a Nhóm thứ nhất, các quyền an toàn thân thể, danh

dự, nhân phẩm của cá nhân trong tố tụng hình sự gồm quyền được bảo vệ không

5 Nguyễn Ngọc Chí, Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXBĐHQG, Hà nội năm 2013, tr 43

Trang 18

bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục; quyền đượcbảo vệ để khỏi bị bắt, giam giữ tùy tiện; quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọngnhân phẩm của những người bị tước tự do; quyền thông tin, liên lạc bên ngoài;quyền có cơ chế khiếu nại, tố cáo hữu hiệu; quyền đối với người chưa thành niên.

b Nhóm thứ hai, Quyền được xét xử công bằng bao gồm: quyền bình đẳng trướcTòa án và được xét xử bởi Tòa án độc lập, không thiên vị, công khai; quyền bàochữa, quyền được xét xử theo thủ tục riêng của người chưa thành niên; quyềnkháng cáo; quyền được bồi thường khi bị kết án oan; quyền không bị xét xử hai lần

về cùng một tội danh; không bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì lý do không thựchiện được nghĩa vụ hợp đồng; Không bị coi là có tội nếu hành vi không cấu thànhtội phạm theo pháp luật vào thời điểm thực hiện hành vi6

1.1.2 Khái niệm bảo vệ quyền con người bằng các quy phạm của chế định các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự

1.2.1.1 Quyền của người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn

Quyền của người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn có các đặc điểm sau:

a Quyền của người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là quyền của người thuộc các nhóm người dễ bị tổn thương

Người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn thuộc nhóm người dễ bị tổnthương vì họ là những người bị hạn chế, bị tước tự do như quyền tự do đi lại, tự

do cư trú… Việc thừa nhận và bảo đảm các quyền con người của họ là hết sứccần thiết và quan trọng Việc coi nhẹ, phủ nhận các quyền của bất cứ nhómngười nào trong xã hội đều có thể dẫn đến mất sự ổn định trong xã hội, đồngthời cũng không đi ngược lại với nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế về quyềncon người là nguyên tắc tất cả các quyền con người được áp dụng một cáchbình đẳng với tất cả mọi người Bình đẳng không có nghĩa là cào bằng mức độhưởng thụ, thực chất là sự bất bình đẳng

6 Nguyễn Ngọc Chí, Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXBĐHQG, Hà nội năm 2013, tr41,42

Trang 19

Những người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là những người có vị thế vềchính trị, xã hội thấp hơn, khiến họ có nguy cơ bị vi phạm các quyền con ngườinên họ cần được chú ý bảo vệ Những người bị áp dụng biện pháp ngăn chặnthuộc nhóm người dễ bị tổn thương là: Do địa vị pháp lý là người bị giới hạnmột số quyền so với các công dân bình thường, bị giảm đi cơ hội hưởng thụ cácquyền như những người bình thường khác như quyền tự do đi lại, tự do cư trú,

tự do hành nghề…; Do nhận thức và quan niệm của cố hữu của những ngườitiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cơ quan quản lý hành chính vàthậm chí của một số người sống xung quanh họ Họ thường bị đối xử khôngcông bằng, bị coi là tội phạm mặc dù chưa bị kết tội bởi bản án có hiệu lực phápluật vì đó mà các quyền chính đáng của họ bị xâm phạm khiến họ dễ bị tổnthương hơn, đặc biệt về mặt tinh thần dẫn đến nguy cơ cao bị bức cung, dùngnhục hình…

b Đó là những quyền cơ bản và đặc thù của con người cho dù họ có bị tước hoặc hạn chế một số quyền tự do.

Quyền của người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là một bộ phận cấuthành của quyền con người Quyền con người xuất phát từ giá trị của con người,không phân biệt giới tính, dân tộc, màu da, ngôn ngữ hay bất kỳ địa vị nào.Người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cũng có những phẩm chất và giá trị conngười, không vì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn mà họ bị mất hết quyền conngười Người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn có các quyền con người tự nhiên,

có bản Việc ghi nhận và bảo vệ các quyền con người nói chung, quyền củangười bị áp dụng biện pháp ngăn chặn nói riêng nhằm đáp ứng những đòi hỏi tấtyếu về bảo vệ giá trị của con người

Người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cũng được hưởng các quyền conngười cơ bản trên cương vị bình đẳng như người bình thường khác, ngoài ra họcòn có những quyền đặc thù, cơ chế bảo vệ đặc biệt dành cho họ Đó là cácquyền như quyền không bị bức cùng, dùng nhục hình, quyền được đối xử nhânđạo, quyền được thông tin về lý do bắt giữ và các quyền được có khi bị bắt giữ,các quyền thuộc nhóm quyền xét xử công bằng, quyền của nhóm người chưa

Trang 20

thành niên… Việc quy định những ưu tiên này cho họ nhằm bảo về họ khỏinguy bị vi phạm nhiều hơn các quyền khác.

c Các quyền của người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Quyền của người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn mang tính pháp lý, phảiđược quy định trong pháp luật, chỉ khi chưa được Nhà nước, pháp luật ghi nhậnthì mới trở thành quyền Hầu hết các văn kiện pháp luật của các quốc gia đều thểhiện quyền con người là các quyền pháp lý Quyền pháp lý là tập hợp chọn lọc

và đã được cụ thể hóa của các quyền tự nhiên, có thể chưa bao gồm hết cácquyền tự nhiên

Pháp luật là công cụ hữu hiệu của Nhà nước trong việc thực hiện, bảo vệquyền của người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Thông qua pháp luật, nghĩa vụtôn trọng và thực thi các quyền có hiệu lực bắt buộc và thống nhất cho tất cả mọichủ thể trong xã hội Vai trò của pháp luật đối với việc thúc đẩy các quyền củangười bị áp dụng biện pháp ngăn chặn thể hiện rõ ở hai khía cạnh là thừa nhận

và bảo đảm các quyền cho họ, chỉ khi được pháp luật thừa nhận và bảo vệ thìnhững quyền của họ mới mang đầy đủ giá trị hiện thực Pháp luật là phương tiệnbảo đảm các giá trị thực tế của các quyền của người bị áp dụng biện pháp ngănchặn Khi được quy định trong pháp luật, việc tuân thủ và thực hiện các quyềncủa người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn mới mang tính cưỡng chế, bắt buộcvới mọi chủ thể trong xã hội Pháp luật là công cụ giúp nhà nước bảo đảm sựtuân thủ, thực thi, là công cụ để các cá nhân bảo vệ các quyền của mình thôngqua việc vận dụng các quy phạm pháp lý Sự bảo vệ đối với người bị áp dụngbiện pháp ngăn chặn được quy định trong luật pháp quốc tế và của mỗi quốc gia,với những mức độ khác nhau, cách thức khác nhau

d Quyền của người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn được bảo đảm bằng

cơ chế cả trong phạm vi quốc tế, khu vực và phạm vi quốc gia.

Các quyền của người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn được quy địnhtrong luật pháp quốc tế và quốc gia Để các quyền đó đi vào cuộc sống, trở thànhhiện thực thì cần thiết phải có cơ chế bảo đảm Quy định pháp luật là xuất phát

Trang 21

điểm bảo đảm quyền con người nhưng hiệu quả của quy định sẽ bị hạn chế nếukhông có cơ chế đầy đủ để thực thi Cơ chế bao gồm bộ máy các cơ quan chuyêntrách và hệ thống các trình tự, thủ tục để thực hiện việc bảo vệ quyền của họ Cơchế bảo đảm quyền của người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn hiện nay thể hiện

ở ba cấp độ, đó là cơ chế quốc tế; cơ chế khu vực; cơ chế quốc gia Cơ chế quốc

tế có phạm vi rộng lớn, toàn cầu và có vai trò nhất định trong việc bảo đảmquyền của người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cơ chế khu vực có phạm

vi nhỏ hơn (như của khối EU) Cơ chế khu vực có đặc điểm là các quốc giatrong khu vực thường có nhiều điểm chung về kinh tế, văn hóa, truyền thống, có thể

dễ dàng tiếp cận với công chúng hơn so với cơ chế toàn cầu của bởi vì phạm vi địa lýhẹp hơn Cơ chế quốc gia cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền củangười bị áp dụng biện pháp ngăn chặn

1.1.2.2 Bảo vệ quyền con người bằng các quy định của chế định biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự

* Khái niệm biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự

Bảo vệ quyền con người bằng các quy phạm của chế định các biện phápngăn chặn trong tố tụng hình sự là những qui định của pháp luật tố tụng hình sựnhằm bảo vệ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo khỏi việc bị xâm hại đến sức khỏe,nhân phẩm, quyền tự do, quyền chính trị… khi bị áp dụng các biện pháp ngănchặn trong tố tụng hình sự Bảo vệ quyền con người bằng các quy định của chếđịnh biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là một trong những bộ phận củabảo đảm quyền con người trong TTHS Theo đó, bảo đảm quyền con ngườitrong TTHS bao gồm các nội dung sau:

a Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vônhận đạo hoặc hạ nhục Quyền này được ghi nhận trong Điều 5 Tuyên ngônquốc tế nhân quyền Nội dung của quyền này là không ai bị tra tấn, bị đối xử,trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo, hạ thấp nhân phẩm, không ai có thể bị sử dụng

để làm thí nghiệm y học, khoa học mà không được sự tự nguyện đồng ý củanhững người đó nhưng không bao gồm những biện pháp trừng phạt hợp pháp

Trang 22

b Quyền được bảo vệ để khỏi bị bắt, giam giữ tùy tiện Quyền này đượcghi nhận trong Điều 9 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền Nội dung của nó khôngchỉ bao gồm bắt, giam, giữ trái pháp luật mà còn gồm cả việc bắt, giam, giữkhông thích đáng, không công bằng.

c Quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của những người bịtước tự do được ghi nhận tại Điều 10 Công ước quốc tế về các quyền dân sự Theo

đó theo đó: Những người bị tước tự do phải được đối xử nhân đạo với sự tôn trọngnhân phẩm vốn có của con người Khoản 2 Điều này quy định: “Trừ những hoàncảnh đặc biệt, bị can, bị cáo phải được giam giữ tách biệt với những người đã bị kết

án và phải được đối xử theo chế độ riêng, phù hợp với quy chế dành cho nhữngngười bị tạm giam Những bị can chưa thành niên phải được giam giữ tách riêngkhỏi người lớn và phải được đưa ra xét xử càng sớm càng tốt”

Việc đối xử với những tù nhân trong những trại giam nhằm mục đích chính

là cải tạo họ chứ không phải để trừng phạt, hành hạ họ

d Quyền được hưởng tố tụng riêng cho người chưa thành niên bao gồm nhữngquyền nhằm đảm bảo người chưa thành niên được hưởng tố tung riêng, có xét tới độ tuổi của họ và mục đích thúc đẩy sự phục hồi nhân cách của họ Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, còn có những hạn chế về nhận thức, tâm sinh lý Người chưa thành niên làm trái pháp luật phải được hưởng những đảm bảo tố tụng ít nhất cũng ngang bằng với những người đã thành niên Việc tước tự do của người chưa thành niên chỉ được sử dụng như là biện pháp cuối cùng và trong một thời gian cần thiết tối thiểu, và chỉ nên giới hạn đối với những trường hợp ngoại lệ Bên cạnh việc quy định rất nhiều bảo đảm đối với người chưa thành niên, cũng nhấn mạnh quyền có luật sư bào chữa và được yêu cầu trợ giúp pháp lý không phải trả tiền trong giai đoạn chờ xét xử của họ

Bộ luật TTHS năm 2003 đã thể hiện tương đối đầy đủ những chuẩn mực nêutrên Các biện pháp ngăn chặn đều hạn chế quyền tự do thân thể, tự do đi lại, quyền

về tài sản … trong thời gian nhất định nên ảnh hưởng đến các quyền con người,quyền công dân Những biện pháp ngăn chặn bao gồm: Bắt; Tạm giữ; Tạm giam;Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bảo lĩnh; Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo

Trang 23

- Bắt người là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, được áp dụngđối với bị can, bị cáo, người đang bị truy nã, người thực hiện hành vi phạm tội quảtang và trong trường hợp khẩn cấp nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, ngănchặn việc trốn tránh của họ và để tạo điều kiện cho việc tiến hành tố tụng, xác định sựthật khách quan của vụ án.

- Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do người có thẩmquyền áp dụng đối với những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quảtang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truynã

- Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do người cóthẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tộirất nghiêm trọng; Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà

Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó cóthể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội

- Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự,được áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặtcủa họ theo giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng

- Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự được các cơ quantiến hành tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có người bảolãnh nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tốtụng

- Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo là biện pháp ngăn chặn trong

tố tụng hình sự do người có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo để bảo đảm sự

có mặt của họ theo giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng

Những biện pháp ngăn chặn nêu trên phải được áp dụng bởi những người cóthẩm quyền như: Chánh án, Phó Chánh án Toà án các cấp; Thẩm phán giữ chức vụChánh toà, Phó Chánh toà Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; Hội đồng xétxử; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp; Thủ trưởng, Phó Thủtrưởng Cơ quan điều tra, trong trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện

21

Trang 24

kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành; Người chỉ huy quân đội độc lậpcấp trung đoàn và tương đương, người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo vàbiên giới, người chỉ huy tàu bay, tàu biển hoặc chỉ huy trưởng vùng cảnh sátbiển Riêng việc bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang, bắt người đang

bị truy nã thì mọi công dân đều có quyền bắt

* Căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự

Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với những người bị nghi ngờthực hiện hành vi phạm tội hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ đảm bảo chocác hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng được thuận lợi, góp phần nângcao hiệu quả vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm vì người thực hiện tộiphạm thường có ý thức che dấu tội phạm, trốn tránh để tránh bị xử lý Việc ápdụng các biện pháp ngăn chặn tác động trực tiếp đến các quyền cơ bản của côngdân như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do cư trú và đi lại… dovậy phải đảm bảo sự công bằng, dân chủ và tôn trọng các quyền công dân đượcHiến pháp và pháp luật quy định Vì vậy không được tùy tiện áp dụng các biệnpháp ngăn chặn mà phải áp dụng dựa trên các căn cứ pháp luật đã quy định đểđảm bảo việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, thực hiện các biện pháp ngănchặn đúng pháp luật

Căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn được quy định tại Điều 79 Bộluật tố tụng hình sự bao gồm: Để kịp thời ngăn chặn tội phạm; Khi có căn cứchứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử; Sẽ tiếptục phạm tội; Cần bảo đảm thi hành án

a Đề kịp thời ngăn chặn tội phạm

Kịp thời ngăn chặn tội phạm, để tội phạm không xảy ra, không tiếp tụcxảy ra, không hoàn thành để gây ra nguy hiểm cho xã hội là một việc làm cầnthiết Do đó BLTTHS quy định để kịp thời ngăn chặn tội phạm là một căn cứ ápdụng biện pháp ngăn chặn

Để kịp thời ngăn chặn tội phạm thường được sử dụng để bắt người trongtrường hợp khẩn cấp (Khi có căn cứ cho rằng người nào đó đang chuẩn bị thực

Trang 25

hiện tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng) hoặc bắt người phạm tội quả tang (Khi thấy một người đang thực hiện tội phạm).

b Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử

Những người bị tình nghi thực hiện tội phạm hay đã bị truy cứu tráchnhiệm hình sự nếu không bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn phần lớn sẽ gâynhiều khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng nên việc áp dụng các biệnpháp ngăn chặn là cần thiết Khi họ có các hành vi gây khó khăn thì việc giảiquyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng gặp nhiều khó khăn và việc tìm ra

sự thật khách quan của vụ án gặp nhiều cản trở thậm chí không thực hiện được.Việc gây khó khăn của họ thể hiện ở việc trốn tránh triệu tập của các cơ quantiến hành tố tụng, làm sai lệch hoặc thủ tiêu chứng cứ, bàn bạc, câu kết vớinhững người tham gia tố tụng khác khai báo gian dối, tạo chứng cứ giả…

Do vậy khi có căn cứ nêu trên các cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụngcác biện pháp ngăn chặn hoặc thay đổi các biện pháp ngăn chặn đối với bị can,

bị cáo, người đã thực hiện hành vi phạm tội để đáp ứng được nhiệm vụ giảiquyết vụ án hình sự, xác định được sự thật khách quan của vụ án

c Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội

Trường hợp người bị tình nghi thực hiện hành vi phạm tội, bị can, bị cáo

có khả năng tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thì việc áp dụng biện pháp ngănchặn để hạn chế hoặc cách ly họ với xã hội để họ không có điều kiện thực hiệntội phạm là cần thiết Tuy nhiên, khi xem xét căn cứ này phải xem xét trên mọiphương diện để tránh việc áp dụng tùy tiện, xâm phạm đến các quyền conngười, quyền công dân của họ

Các căn cứ này có thể được xác định thông qua nhân thân của người bịtình nghi thực hiện hành vi phạm tội, bị can, bị cáo, các hành vi khách quan của

họ Họ là những người có nhân thân xấu như: có tiền án, tiền sự, sử dụng tráiphép các chất ma túy chứng tỏ họ đã được giáo dục và xử lý bởi pháp luậtnhưng vẫn tiếp tục vi phạm pháp luật Họ có các biểu hiện như đe dọa trả thùngười bị hại, người làm chứng… và có khả năng thực hiện được sự đe dọa

Trang 26

Việc áp dụng căn cứ này được áp dụng tại phiên tòa bởi Hội đồng xét xửtrong các trường hợp:

- Bị cáo đã bị áp dụng biện phán ngăn chặn tạm giam, bị xử phạt bằnghình phạt tù và thời hạn phạt tù lớn hơn thời hạn tạm giam thì Hội đồng xét xử sẽ raquyết định tạm giam để tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án

- Bị cáo không bị áp dụng biện pháp tạm giam nhưng bị xử phạt bằnghình phạt tù và có căn cứ cho rằng họ gây khó khăn cho việc thi hành bản án hoặc sẽtiếp tục phạm tội thì Hội đồng xét xử sẽ ra quyết định bắt tạm giam để tạm giam bịcáo để đảm bảo thi hành án

Như vậy, những quy định về việc bảo vệ những người bị áp dụng cácbiện pháp ngăn chặn phải được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự Chỉkhi có đủ các điều kiện được quy định trong luật tố tụng hình sự mới được ápdụng biện pháp ngăn chặn với một người Khi áp dụng biện pháp ngăn chặn vớingười bị áp dụng thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện đúng và đầy

đủ các bước, các quy trình luật định để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho họ

1.1.2.3 Những đối tượng cần bảo vệ quyền con người bằng các quy phạm của chế định các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự

Người bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là người

bị tình nghi hay có căn cứ cho rằng họ đã thực hiện hành vi phạm tội Họ lànhững người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và bị hạn chế những quyền con ngườinhất định như quyền tự do, quyền học tập, quyền làm việc Những người này

là những chủ thể dễ bị xâm phạm về quyền lợi nhiều nhất vì họ bị tình nghi bởinhững người đại diện cho nhà nước, có quyền lực, có công cụ trấn áp Việc bảo

Trang 27

vệ quyền cho những người này đã được đặt ra từ lâu nhưng chưa có mộtnghiên cứu nào chỉ ra đầy đủ rằng bảo vệ họ bằng việc quy định các biện phápngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự là như thế nào

Những người bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn bao gồm: Người bị bắttrong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo lệnh truy nã;Người bị tạm giữ; Bị can; Bị cáo Họ là những người bị các cơ quan tiến hành tốtụng cho rằng có căn cứ là đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quyđịnh trong BLHS Tùy theo giai đoạn tố tụng mà người bị coi là thực hiện hành

vi phạm tội có những tên gọi và những quyền, nghĩa vụ khác nhau

a Người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo lệnh truy nã

Là những người khi có căn cứ cho rằng họ đang chuẩn bị thực hiện tộiphạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng; người mà bị người khác cómặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đãthực hiện hành vi phạm tội và thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn;người mà thấy có dấu vết tội phạm ở người hoặc ở nơi ở nên cần ngăn chặnngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ; người bị phát hiện đang thựchiện hành vi phạm tội, người có lệnh truy nã

Trường hợp một người đang thực hiện hành vi phạm tội, đang có lệnhtruy nã thì mọi người đều có quyền bắt giữ

Trường hợp một người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêmtrọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng; người mà bị người khác có mặt tại nơi xảy ratội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện hành viphạm tội và thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn; người mà thấy códấu vết tội phạm ở người hoặc ở nơi ở nên cần ngăn chặn ngay việc người đótrốn hoặc tiêu hủy chứng cứ thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tracác cấp, người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương;người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; người chỉ huy tàu bay, tàubiển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng ra lệnh bắt khẩn cấp

b Người bị tạm giữ

Trang 28

- Người bị tạm giữ theo quy định tại Khoản 1 Điều 48 BLTTHS là người

bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo lệnh truy nãhoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ

Người bị tạm giữ là người có thể đã hoặc chưa bị khởi tố về hình sự.Người bị tạm giữ là người bị nghi là thực hiện hành vi phạm tội, khi có căn cứcho rằng họ đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệtnghiêm trọng; người mà bị người khác có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắttrông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện hành vi phạm tội và thấy cầnngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn; người mà thấy có dấu vết tội phạm ởngười hoặc ở nơi ở nên cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủychứng cứ; người bị phát hiện đang thực hiện hành vi phạm tội, người có lệnhtruy nã hoặc người tự thú sau khi thực hiện hành vi phạm tội

- Người bị tạm giữ là người đã bị người có thẩm quyền theo quy định tạiĐiều 81 BLTTHS (Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, người chỉ huy quânđội độc lập cấp trung đoàn và tương đương, người chỉ huy đồn biên phòng

ở hải đảo và biên giới, người chỉ huy tàu bay, tàu biển hoặc chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển) ra quyết định tạm giữ

Trang 29

Bị can tham gia tố tụng trong giai đoạn điều tra (Kể từ khi bị khởi tố bịcan), giai đoạn truy tố, một phần của giai đoạn xét xử (Trước khi Tòa án raquyết định đưa vụ án ra xét xử).

Người có thẩm quyền khởi tố bị can theo quy định tại Điều 34, Điều 36BLTTHS gồm: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng,Phó Viện trưởng Viện kiểm sát

Bị cáo tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử (Kể từ khi bị quyết địnhđưa ra xét xử) đến khi bản án hoặc quyết định của Tòa án về việc giải quyết vụ

án có hiệu lực pháp luật

Bị cáo cũng như bị can là người chính thức bị buộc tội và bị áp dụng cácbiện pháp ngăn chặn đảm bảo cho việc xét xử của Tòa án và thi hành bản án,quyết định của Tòa án

Xét dưới góc độ quyền con người, bị cáo khi tham gia tố tụng được bảođảm tốt hơn khi họ tham gia tố tụng với tư cách là bị can Tại phiên tòa côngkhai, bị cáo được giải thích rõ về các quyền và nghĩa vụ, cách thức để họ thựchiện các quyền và nghĩa vụ của mình, được trình bày ý kiến, quan điểm củamình, được xét hỏi, tranh luận với đại diện Viện khiểm sát (Bên buộc tội) dưới

sự chứng kiến của những người tham gia tố tụng khác, của nhân dân tham dựphiên tòa Đồng thời, bị cáo không thể bị sử dụng các biện pháp bức cung, bị đặtcác câu hỏi có tính chất truy xét từ hội đồng xét xử Hơn nữa trong giai đoạn xét

xử, người bào chữa của bị cáo luôn được Tòa án tạo điều kiện tiếp xúc hồ sơ,gặp bị cáo trước khi xét xử, được hỏi bị cáo tại phiên tòa…

Trang 30

Dù ở giai đoạn tố tụng nào, bị can, bị cáo, người bị tạm giữ cần phảiđược bảo đảm các quyền con người nói chung trừ những trường hợp được quyđịnh trong pháp luật tố tụng hình sự.

Biện pháp ngăn chặn được áp dụng đối với người bị tạm giữ, bị can, bịcáo Họ là những người, có căn cứ cho rằng (bị nghi) là đã thực hiện hành viphạm tội Bảo đảm quyền con người đối với những người này cần phải đượcxem xét trên cơ sở bảo đảm quyền công dân nói chung và quyền, nghĩa vụ của

họ trong tố tụng hình sự

a Bảo đảm các quyền công dân cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chỉ là những người bị nghi ngờ đã thực

hiện hành vi phạm tội, họ chưa bị buộc tội bằng bản án có hiệu lực pháp luật

Do đó họ có các quyền công dân nói chung như các công dân khác, tuy nhiên họđang tham gia hoạt động tố tụng hình sự là một hoạt động đặc biệt nên quyềncông dan của họ sẽ bị ảnh hưởng

Để đảm bảo quyền công dân cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, cần quyđịnh đầy đủ, chặt chẽ các nguyên tắc để đảm bảo cho họ được thực hiện cácquyền, lợi ích hợp pháp của mình như: Bảo vệ quyền bầu cử, các quyền dân sựkhác như: quyền về tài sản, quyền về nhân thân… Thực tế, những người bị tạmgiữ, tạm giam không thể thực hiện các quyền như định đoạt về tài sản, ủy quyềncho người khác thực hiện các quyền dân sự, quyền ly hôn, quyền tiếp nhậnthông tin…

b Bảo đảm các quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong hoạtđộng tố tụng hình sự nói chung và trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn:

- Pháp luật tố tụng hình sự cần quy định đầy đủ, hướng dẫn rõ ràngquyền, nghĩa vụ của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và của những người tiến hành tốtụng trong hoạt động tố tụng hình sự, trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn,đặc biệt là trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng để việc áp dụng các biệnpháp ngăn chặn được thực hiện nghiêm túc, hạn chế việc lạm dụng chức vụ, quyềnhạn, vi phạm pháp luật trong hoạt động này

Trang 31

- Cần quy định rõ ràng, tránh những ý kiến trái chiều, thậm chí có nhữngbức xúc trong nhân dân trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn như hiện

nay

- Cần quy định rõ những biện pháp bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiệncác quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, để họ có điều kiện chứng minh cho hành

vi của mình là phạm tội hay không, ở mức độ nào…

Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm Bảo vệ các quyền conngười bằng các quy phạm của chế định các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật

tố tụng hình sự: Bảo vệ các quyền con người bằng các quy phạm của chế định các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự là tổng hợp các biện pháp được qui định trong luật TTHS và được áp dụng trong quá trình tiến hành

tố tụng nhằm bảo đảm các quyền về chính trị, dân sự văn hóa xãz hội của người

bị áp dụng biện pháp ngăn chặn trọng phạm vi mà pháp luật cho phép

1.2 Quyền của người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn theo luật quốc

tế nhân quyền

1.2.1 Quyền an toàn tự do thân thể

Quyền an toàn, tự do thân thể bao gồm: Quyền sống, quyền được bảo vệkhông bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục,quyền được bảo vệ để khỏi bị bắt, giam giữ tùy tiện; quyền được đối xử nhânđạo và tôn trọng nhân phẩm của những người bị tước tự do và quyền đượchưởng tố tụng riêng cho người chưa thành niên

a Quyền sống

Điều 3 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền quy định, mỗi cá nhân đều có quyềnsống, quyền tự do và an ninh cá nhân Quyền sống là bảo đảm các điều kiện tồn tạicủa con người đối với người bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn Về việc ăn ở thìmọi chỗ nghỉ cho người bị giam giữ, đặc biệt là chỗ ngủ, cần phải đảm bảo yêu cầusức khỏe, cần có sự quan tâm đến điểu kiện môi trường, không khí, không gian sàntối thiểu, Họ được cung cấp nước và đồ dung vệ sinh cần thiết để giữ gìn sứckhỏe và sự sạch sẽ Những quần áo mà tù nhân mặc không được thể hiện sự hạnhục hay lăng mạ Người bị giam giữ phải được cung cấp đồ

Trang 32

ăn với giá trị dinh dưỡng phù hợp cho sức khỏe vào thời gian nhất định, đảm bảo

chất lượng, được chuẩn bị cẩn thận và phục vụ chu đáo Trại giam phải có cán bộ y

tế cung cấp dịch vụ y tế và người bị giam giữ cần điều trị đặc biệt phải đượcchuyển sang những nhà tù chuyên biệt hoặc chuyển tới các bệnh viện dân sự

b Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vônhân đạo hoặc hạ nhục

Quyền được bảo vệ, không bị tra tấn hoặc đối xử tàn bạo, vô nhân đạotheo luật quốc tế gồm các tiêu chí: Không bị tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo

và hạ nhục; Nơi giam giữ được xác định; Việc giam giữ phải được ghi chép vào

hồ sơ; Được chăm sóc sức khỏe một cách thích đáng; kỷ luật phải thích đáng,không bị còng, trói, giam trong thời gian dài Chống tra tấn, đối xử hay trừngphạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục được coi là một quy phạm tập quán quốc

tế về nhân quyền Bởi vậy, tất cả các quốc gia trên thế giới đều có nghĩa vụ tuânthủ Từ năm 1997, Liên hiệp quốc đã tuyên bố ngày 26/6 là Ngày Quốc tế hỗ trợcác nạn nhân của tra tấn

c Quyền được bảo vệ để khỏi bị bắt, giam giữ tùy tiện

Điều 9 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị quy định: Mọingười đều có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân Không ai bị bắt hoặc bị giamgiữ vô cớ Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền đó là có lý

do và theo đúng những thủ tục mà luật pháp đã quy định; Bất cứ người nào bị bắtgiữ đều phải được thông báo vào lúc bị bắt về những lý do họ bị bắt và phải đượcthông báo không chậm trễ về sự buộc tội đối với họ Bất cứ người nào bị bắt hoặc

bị giam giữ vì một tội hình sự phải được sớm đưa ra toà án hoặc một cơ quan tàiphán có thẩm quyền thực hiện chức năng tư pháp và phải được xét xử trong thờihạn hợp lý hoặc được trả tự do Việc tạm giam một người trong thời gian chờ xét

xử không được đưa thành nguyên tắc chung, nhưng việc trả tự do cho họ có thểkèm theo những điều kiện để bảo đảm họ sẽ có mặt tại toà án để xét xử vào bất cứkhi nào và để thi hành án nếu bị kết tội Bất cứ người nào do bị bắt hoặc giam giữ

mà bị tước tự do đều có quyền yêu cầu được xét xử trước toà án, nhằm mục đích

để toà án đó có thể quyết định không chậm trễ về tính hợp

Trang 33

pháp của việc giam giữ và ra lệnh trả lại tự do cho họ, nếu việc giam giữ là bấthợp pháp Bất cứ người nào trở thành nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị giam giữbất hợp pháp đều có quyền được yêu cầu bồi thường.

Như vậy, việc bắt, giam giữ được coi là tùy tiện khi không dựa trên những

lý do và đúng trình tự, thủ tục luật định và phải phù hợp với luật nhân quyền quốc

tế Nó không chỉ bao gồm bắt, giam, giữ trái pháp luật mà còn gồm cả việc bắt,giam, giữ không thích đáng, không công bằng Trong những trường hợp như vậynhững người bị bắt, giam giữ tùy tiện có quyền được yêu cầu bồi thường

d Quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của những người

bị tước tự do

Điều 10 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị quy định: Nhữngngười bị tước tự do phải được đối xử nhân đạo với sự tôn trọng nhân phẩm vốn cócủa con người Trừ những hoàn cảnh đặc biệt, bị can, bị cáo phải được giam giữtách biệt với những người đã bị kết án và phải được đối xử theo chế độ riêng, phùhợp với quy chế dành cho những người bị tạm giam Những bị can chưa thành niênphải được giam giữ tách riêng khỏi người lớn và phải được đưa ra xét xử càng sớmcàng tốt Theo đó việc đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của những người bị

áp dụng biện pháp ngăn chặn là một nguyên tắc cơ bản về nhân quyền trong tố tụnghình sự mà các quốc gia thành viên phải áp dụng

e Quyền được hưởng tố tụng riêng cho người chưa thành niên

Theo luật nhân quyền quốc tế thì người chưa thành niên là người dưới 18tuổi Người chưa thành niên phát triển chưa đầy đủ nên có nhiều hạn chế về thểchất, tâm thần, bởi vậy cộng đồng quốc tế đã giành nhiểu quan tâm bảo vệ ngườichưa thành niên về mặt pháp lý Theo đó, người chưa thành niên làm trái pháp luậtphải được hưởng những đảm bảo tố tụng ít nhất cũng ngang bằng với những người

đã thành niên Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn cũng như thi hành tố tụng vớinhững người chưa thành niên làm trái pháp luật cần tính đến độ tuổi của họ vàkhuyến khích họ hoàn lương Việc tước tự do của người chưa thành niên chỉ được

sử dụng như là biện pháp cuối cùng và trong một thời gian cần thiết tối thiểu, và chỉnên giới hạn đối với những trường hợp ngoại lệ Điều 14 Công ước

Trang 34

quốc tế về các quyền dân sự và chính trị quy định thủ tục áp dụng đối với ngườichưa thành niên phải xem xét đến độ tuổi và khuyến khích sự phục hồi của họ.Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước tự do năm

1990, bên cạnh việc quy định rất nhiều bảo đảm đối với người chưa thành niên,cũng nhấn mạnh quyền có luật sư bào chữa và được yêu cầu trợ giúp pháp lýkhông phải trả tiền trong giai đoạn chờ xét xử của họ

1.2.2 Quyền được xét xử công bằng

Quyền được xét xử công bằng là một tập hợp các bảo đảm tố tụng nhằm

để quá trình xét xử công bằng, bình đẳng, công khai trước Tòa án

Quyền được xét xử công bằng được quy định tại Điều 10, Điều 11 Tuyênngôn nhân quyền quốc tế Theo đó, mọi người đều có bằng nhau quyền đượcphân xử công khai và công bằng, trước một tòa án độc lập và vô tư, để đượcphán quyết về các quyền lợi và nhiệm vụ của mình, hay về những tội phạm màmình bị cáo buộc; Khi truy tố trước pháp luật, mọi người được xem là vô tội,cho đến khi pháp luật chứng minh là có tội, trong một phiên tòa công khai và tòa

án này phải cung ứng tất cả mọi bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ của đươngsự; Không ai có thể bị kết án khi có những hành động hay sơ suất xảy ra vào lúc

mà luật pháp của quốc gia hay quốc tế không quy định đó là một hành vi phạmpháp Tương tự như vậy, không được áp đặt một hình phạt nào nặng hơn hìnhphạt được ấn định vào lúc hành vi phạm pháp xảy ra

Quyền được xét xử công bằng bao gồm: Quyền không bị phân biệt đối

xử, được thừa nhận và bình đẳng trước pháp luật; Quyền được thông tin về lý

do bị bắt gữ và những quyền khi bị bắt giữ; Quyền im lặng và không bị buộcphải đưa ra lời khai chống lại chính mình; Quyền được xét xử công khai; Quyềnbào chữa; Quyền được suy đoán vô tội; Quyền được xét xử bởi cơ quan tài phán

có thẩm quyền, độc lập, vô tư; Quyền không bị áp dụng hồi tố và kết án nhiềulần về cùng một hành vi phạm tội; Quyền kháng cáo; Quyền được bồi thườngkhi bị bắt hoặc bị giam giữ bất hợp pháp; Quyền được hưởng tố tụng riêng chongười chưa thành niên khi bị áp dụng khác biện pháp ngăn chặn

Trang 35

1.3 Cơ chế bảo vệ quyền của người bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo luật nhân quyền quốc tế

Việc bảo vệ quyền con người nói chung và quyền của những người bị ápdụng các biện pháp ngăn chặn (Người bị tước tự do) nói riêng ngoài cơ chếquốc tế còn có các cơ chế khu vực và quốc gia

1.3.1 Cơ chế quốc tế

a Cơ chế dựa trên Hiến chương

Dựa trên Hiến chương, hiện nay Đại hội đồng, Hội đồng bảo an, Hội đồngkinh tế và xã hội Liên hiệp quốc và Tòa án quốc tế chịu trách nhiệm trong lĩnhvực này

Đại hội đồng là cơ quan có trách nhiệm cao nhất, thiết lập các chuẩn mựcquốc tế về quyền con người, xây dựng bộ máy cơ quan nhân quyền của Liên hợpquốc, điều hành các chương trình hoạt động về quyền con người Quyết địnhviệc xử lý các vi phạm quyền con người

Hội đồng bảo an là cơ quan của Liên hợp quốc có thẩm quyền xem xétnhững vi phạm nghiêm trọng, thông qua các biện pháp cưỡng chế, thành lập cáctòa án hình sự xét xử những vi phạm nghiêm trọng luật nhân đạo quốc tế, là cơquan duy nhất của Liên hiệp quốc có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế khi

có vi phạm về quyền con người

Hội đồng kinh tế và xã hội có vai trò quan trọng trong cơ chế của Liênhiêpj quốc về quyền con người Hội đồng này đã thiết lập Ủy ban quyền conngười (CHR) nay là Hội đồng quyền con người (HRC), Ủy ban ngăn ngừa tội

ác và tư pháp hình sự

Tòa án công lý Quốc tế (ICJ) có chức năng xét xử các tranh chấp pháp lýliên quan đến Hiến chương Liên hiệp quốc trong đó có chức năng xem xét, xử lýcác tranh chấp về quyền con người

Ban thư ký liên hợp quốc, có chức năng cung cấp dịch vụ hành chính chotất cả các cơ quan trong đó có các cơ quan nhân quyền và điều phối các chươngtrình hoạt động về quyền con người trong cả hệ thống Liên hợp quốc Để phục

vụ cho hoạt động của mình, các cơ quan chính thành lập thêm các cơ quan giúp

Trang 36

việc, có nhiệm vụ chung là hỗ trợ các cơ quan này trong các hoạt động về quyềncon người Trong đó nổi bật là hội đồng nhân quyền UNHRC, tiến hành các thủtục điều tra đặc biệt; thúc đẩy tôn trọng, bảo vệ thực thi quyền con người ở cácquốc gia.

b Cơ chế dựa trên công ước:

Quyền của người bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn được tìm thấy trongnhiều Công ước nhân quyền, chẳng hạn như trong Công ước quốc tế về các quyềndân sự và chính trị (các quyền bình đẳng trước pháp luật, được đối xử nhân đạo…),Công ước về quyền trẻ em (liên quan đến các quyền của người bị tước tự do làngười chưa thành niên), công ước chống tra tấn Các ủy ban giám sát công ước cónhiệm vụ thực hiện một số chức năng, nhiệm vụ như: Xem xét báo cáo của cácquốc gia thành viên; Xem xét khiếu nại của các cá nhân; Đưa ra các khuyến nghị đểgiải thích nội dung và các biện pháp thực hiện công ước

Cơ chế dựa trên Hiến chương và cơ chế dựa trên Công ước đều góp phầnquan trọng trong việc bảo đảm các quyền con người nói chung, quyền của người

bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn nói riêng

c Cơ chế khu vực

Cùng với cơ chế quốc tế, cơ chế khu vực đóng vai trò quan trọng trongviệc thúc đẩy và bảo vệ quyền của người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Hiệntại chỉ có 3 châu lục là châu Âu, châu Mỹ và châu Phi thiết lập được cơ chế khuvực về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người Châu Á hiện chưa thiết lập được cơchế chung về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người

Trong số ba cơ chế nhân quyền khu vực, hệ thống văn kiện của cơ chếnhân quyền châu Âu khá đa dạng, đầy đủ, gồm: Công ước Châu Âu về bảo vệquyền con người và tự do cơ bản 1950 (Được gọi tắt là Công ước nhân quyềnChâu Âu) Công ước được bổ sung bằng 10 Nghị định thư, trong đó Nghị địnhthư số 11 (có hiệu lực từ năm 1998) quy định việc thành lập Tòa án Quyền conngười Châu Âu thường trực Bước đột phá lớn là sự ra đời của Công ước châu

Âu về ngăn ngừa tra tấn, trừng phạt và đối xử vô nhân đạo, hạ nhục năm 1987.Công ước này đã thiết lập Uỷ ban châu Âu về ngăn ngừa tra tấn, trừng phạt và

Trang 37

đối xử phi nhân đạo hay hạ nhục Theo đó, tính logic của hệ thống là ở hiệu quảphòng ngừa đối nghịch lại với việc bảo vệ sau khi sự việc đã xảy ra, do Uỷ banchâu Âu về quyền con người và Tòa án nhân quyền châu Âu đảm nhiệm Bộmáy cơ quan nhân quyền châu Âu gồm: Hội đồng Châu Âu (COE), thúc đẩynhân quyền, dân chủ và pháp quyền, trong đó có tòa án nhân quyền Châu Âuthành lập năm 1959; Tổ chức an ninh và hợp tác Châu Âu (OSCE) đảm bảo hòabình và an ninh khu vực.

Khu vực châu Mỹ, hệ thống văn kiện nhân quyền gồm: Công ước châu

Mỹ về quyền con người, công ước quy định về việc thiết lập và vận hành cơquan giám sát việc thực hiện công ước là Ủy ban và Tòa án; Tuyên bố châu Mỹ

về các quyền và nghĩa vụ của con người 1948; Công ước châu Mỹ về phòngngừa và chống tra tấn 1985 Bộ máy các cơ quan nhân quyền châu Mỹ gồm: Ủyban nhân quyền Liên Mỹ được thành lập năm 1959 có chức năng, nhiệm vụ thúcđẩy việc tuân thủ và bảo vệ nhân quyền tại châu Mỹ; Tòa án nhân quyền Liên

Mỹ với chức năng chính là xét xử và tư vấn

Khu vực châu Phi, hệ thống văn kiện quyền con người đã được thiết lập,nhưng còn sơ sài Trong đó quan trọng là Hiến chương châu Phi về quyền conngười và quyền các dân tộc năm 1981 là văn kiện nền tảng của hệ thống vănkiện khu vực về quyền con người Bộ máy cơ quan nhân quyền châu Phi gồm:

Ủy ban quyền con người và quyền các dân tộc châu Phi; Tòa án quyền conngười châu Phi

Cả ba cơ chế của ba khu vực đều có hoạt động giải quyết khiếu kiện vềnhân quyền, bao gồm cả khiếu kiện cá nhân và khiếu kiện giữa các quốc gia vớinhau Tuy nhiên chỉ cơ chế nhân quyền châu Âu là cho phép cá nhân gửi trựctiếp khiếu kiện đến Tòa án nhân quyền châu Âu Trong khi Tòa án của Châu Mỹ

và Châu Phi không giải quyết trực tiếp khiếu kiện cá nhân (phải gửi đơn đến Ủyban nhân quyền trước) Điều này thể hiện tính ưu việt, nổi trội của cơ chế nhânquyền châu Âu so với các châu lục còn lại (Việc cá nhân khiếu nại trực tiếp lênTòa án nhân quyền như vậy có thể bảo đảm tính kịp thời và nhanh chóng trongviệc giải quyết các khiếu kiện) Kết quả giải quyết của Ủy ban thường mang tính

Trang 38

khuyến nghị và ít rính ràng buộc hơn Tuy nhiên điều đó cũng có thể làm tăng sốlượng các vụ việc phải giải quyết cho tòa án Bên cạnh việc giải quyết các khiếukiện về quyền con người, các cơ chế nhân quyền khu vực cũng thực hiện cácbiện pháp khác nhằm thúc đẩy, bảo vệ nhân quyền ở khu vực mình.

Kết luận Chương I

Các quyền con người là bất khả xâm phạm Bảo vệ các quyền con người

là một nhiệm vụ quan trọng của mỗi nhà nước, của cộng đồng quốc tế Quyềncon người được ghi nhận, được quy định trong các công ước, tuyên bố, nghịđịnh thư quốc tế do Liên hiệp quốc ký kết, được quy định trong hiến pháp, cácvăn bản quy phạm pháp luật của do nhà nước ta ban hành

Hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động đặc thù, trong đó tiến hành cáchoạt động để giải quyết vụ án hình sự, xác định sự thật khách quan của vụ án, xử

lý hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm Khi tham gia quan hệ phápluật tố tụng hình sự, người bị tình nghi, người bị truy cứu trách nhiệm hình sự

bị coi là người đã thực hiện hành vi phạm tội do đó quyền con người của họ rất

dễ bị xâm phạm Đặc biệt trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tốtụng hình sự đối với họ Vì việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn ảnh hưởngđến các quyền cơ bản của con người

Nghiên cứu các khái niệm về quyền con người, xem xét quyền con ngườidưới nhiều góc độ khác nhau, chỉ ra những đặc điểm của quyền con người vànhững đối tượng cần bảo vệ quyền con người bằng các quy phạm của chế địnhcác biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự và lý luận về các biện pháp ngănchặn trong tố tụng hình sự sẽ giúp cho việc bảo vệ các quyền con người trongviệc áp dụng các biện pháp ngăn chặn cũng như trong hoạt động tố tụng hình sựnói chung được thực thi

Trang 39

CHƯƠNG II QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG CÁC QUY PHẠM CỦA CHẾ ĐỊNH CÁC BIỆN PHÁP

NGĂN CHẶN TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về bảo vệ quyền con người bằng các quy phạm của chế định các biện pháp ngăn chặn

2.1.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về bảo vệ quyền con người bằng các quy phạm của chế định các biện pháp ngăn chặn trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

2.1.1.1 Giai đoạn trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988

Ngay sau khi ra đời, mặc dù tình hình đất nước còn nhiều rối ren, thùtrong, giặc ngoài, khó khăn chồng chất nhưng Nhà nước Việt Nam dân chủcộng hòa đã quan tâm, chú trọng đến lĩnh vực tư pháp, quan tâm đến việc bảo

vệ các quyền của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo

Ngày 13/9/1945, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đãban hành Sắc lệnh số 33C/SL về việc thành lập các Tòa án quận sự ở khu vựcBắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ và quy định thẩm quyền xét xử của các Tòa án này.Sắc lệnh này đã quy định một số quyền cơ bản của bị cáo như: quyền tự bàochữa hoặc nhờ người khác bào chữa, chánh án phải giải thích cho bị cáo bị ápdụng hình phạt tử hình về việc họ được quyền gửi đơn xin ân giảm tới Chủ tịchnước, và phải hỏi họ có xin đơn không Đồng thời sắc lệnh cũng quy địnhnguyên tắc xét xử công khai của Tòa án, Tòa chỉ được xử kín khi có căn cứ(duyên cớ) Đó chính là các nguyên tắc cơ bản để đảm bảo quyền cho bị cáo,người đã bị Tòa án đưa ra xét xử

Sắc lệnh số 40/SL được ra ngày 29/3/1946 đã ra quy định chi tiết về việcbắt người, việc giam giữ, trách nhiệm của những người vi phạm các quy định vềbắt, giam người Sắc lệnh đã thể hiện rõ sự quan tâm đến quyền của người bị ápdụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự của Nhà nước Sắc lệnh đã

Trang 40

quy định rõ trừ trường hợp bắt người phạm tội quả tang thì không cần lệnh bắtcủa thẩm phán viên còn những trường hợp khác phải có lệnh của Thẩm phánviên Sắc lệnh số 40 còn quy định rõ trường hợp phạm pháp quả tang là: Khi nào

sự phạm pháp đương xẩy ra hoặc vừa xẩy ra trước mắt, hoặc khi nào kẻ phạmpháp còn đương bị công chứng theo đuổi hay còn đương cầm giữ tang vật.Trong trường hợp phạm tội quả tang thì: Cá nhân bắt được kẻ phạm pháp quảtang phải lập tức dẫn đến trình nhà chức trách ở gần đấy nhất; Bất kỳ vào trườnghợp nào trong hạn 24 giờ kể từ lúc bắt, người bị bắt cũng phải được đem ratrước mặt thẩm phán viên để lấy cung

Để bảo đảm quyền của những người bị bắt, bị giam cứu, Sắc lệnh số 40quy định rõ trình tự, thủ tục thực hiện việc giam giữ như: Lệnh bắt người phảiđược viết ra giấy và phải do nhân viên của các cơ quan chính thức đem thi hành;

Ở nơi chưa có thẩm phán viên thì chỉ có những cơ quan do luật pháp đã quy định

để thay cho thẩm phán viên mới có quyền ra lệnh bắt người Đối với việc giam cứutrước khi xét xử thì bao giờ cũng do các cơ quan tư pháp quyết định và việc giam cứuđược quy định thời hạn cụ thể: Người bị bắt bị truy tố về tiểu hình thì hạn giam cứukhông được quá một tháng kể từ ngày bắt; Người bị bắt bị truy tố về đại hình thì hạngiam cứu không được quá ba tháng kể từ ngày bắt Tuy nhiên, nếu cần phải giam cứulâu hơn thời hạn trên thì cơ quan tư pháp có thể quyết nghị gia hạn thêm hai lần nữa,mỗi lần thêm một tháng hay ba tháng tuỳ theo tính chất vụ việc Ngoài ra sắc lệnh cònquy định thời hạn làm thủ tục gia hạn, quyết đinh phải ghi rõ lý do và thông báo chongười bị giam muộn nhất là 24 giờ trước khi hết hạn giam Trường hợp người bịgiam không đồng ý với việc gia hạn giam cứu, họ có quyền kháng nghị lên toàthượng thẩm Toà Thượng thẩm phải có trách nhiệm xem xét việc kháng nghị ấy vàphải tuyên bố công khai việc chấp nhận hay không chấp nhận kháng nghị Trong khi

bi giam cứu, người bị giam có quyền đệ đơn xin tạm tha theo quy định của pháp luật

Đồng thời Sắc lệnh số 40 quy định cụ thể trách nhiệm của những người bắt,giam giữ người trái pháp luật và hình phạt nghiêm khắc họ sẽ bị áp dụng khi bắt,giam giữ người trái pháp luật như: Sẽ bị sẽ bị phạt tù từ 2 năm đến 5 năm và

38

Ngày đăng: 04/11/2020, 14:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w