1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng ô nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng trong đất tại một số điểm ngoại thành hà nội

5 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 3,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu: đánh giá ô nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng trong đất tại các điểm nghiên cứu.. Phát hiện được 5 loại ký sinh trùng trong các mẫu đất, 3 loại thuộc nhóm giun sán ấu trùng giun ng

Trang 1

Summary STUDY THE EFFECT OF ELECTRO - ACUPUNCTURE TREATMENT

OF RHEUMATOID ARTHRITIS STAGE 1 - 2 Objective: study evaluated the effect of electro - acupuncture (EA) in the treatment of rheumatoid

arthritis stage 1 - 2 Methods: Research was conducted on 34 patients rheumatoid arthritis of stage 1 - 2

with the method of clinical trial and comparing pre - post treatment Results: after 4 weeks were treated

with the regimen of Acupuncture Institute, the Ritchie index, Lee, morning stiffness duration, degree of

joint swelling markedly decreased compared with before treatment Several para - clinical indexes such as

VSS, concentrations of CRP and IgA, IgG, IgM Globulin reducing while IL2 increased at a statistically

significant in compared with before treatment Conclusion: Electro - acupuncture has analgesic effect,

reducing inflammation, improving joint mobilization and brings positive changes interms of the

concentration of some immune globulin in the treatment of rheumatoid arthritis patients

Keywords: Rheumatoid Arthritis (RA) , Electro - accupuncture ( EA)

Bệnh ký sinh trùng hiện nay vẫn còn phổ biến trong cộng đồng, một trong những nguyên nhân là do đất

bị ô nhiễm các mầm bệnh Mục tiêu: đánh giá ô nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng trong đất tại các điểm

nghiên cứu Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: thu thập các mẫu đất xung quanh nhà dân, khu chế

biến thực phẩm, giết mổ gia súc-gia cầm; xét nghiệm tìm các mầm bệnh ký sinh trùng Kết quả và kết luận:

tỷ lệ mẫu đất ô nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng của 4 điểm nghiên cứu là 15,63%, trong đó đất ở khu chăn

nuôi có tỷ lệ nhiễm cao nhất là 53,33% Phát hiện được 5 loại ký sinh trùng trong các mẫu đất, 3 loại thuộc

nhóm giun sán (ấu trùng giun ngoại cảnh, trứng A.lumbricoides, trứng T.trichiura, 2 loại thuộc nhóm đơn bào

(Cyclopspora sp.; Cryptosporidium sp.) Không phát hiện được bào nang E.histolytica và bào nang G.lamblia

Ấu trùng giun ngoại cảnh có tỷ lệ nhiễm cao nhất: 12,5% Tỷ lệ ô nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng trong đất

của Đức Giang, Phú Thịnh, Dương Nội, Chúc Sơn không có sự khác biệt

Từ khóa: mẫu đất, ký sinh trùng

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MẦM BỆNH KÝ SINH

TRÙNG TRONG ĐẤT TẠI MỘT SỐ ĐIỂM NGOẠI THÀNH HÀ NỘI

Phạm Ngọc Minh, Đào Ngọc Phong, Lưu Ngọc Hoạt,

Nguyễn Văn Huy, Đào Thị Minh An

Trường Đại học Y Hà Nội

I ĐẶT VẦN ĐỀ

Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt

đới, gió mùa; có nhiệt độ và độ ẩm tương đối cao

quanh năm Các điều kiện tự nhiên này rất thuận

lợi cho sự lưu hành và phát triển các bệnh ký sinh

trùng Hơn nữa với tập quán canh tác sử dụng phân tươi và điều kiện vệ sinh ăn uống, vệ sinh cá nhân cũng như vệ sinh môi trường của người dân hiện nay còn nhiều hạn chế Thực trạng này làm cho bệnh ký sinh trùng trong cộng đồng ở

Trang 2

một số vùng của các tỉnh Bắc Bộ vẫn còn tương

đối cao Hiện nay, vấn đề vệ sinh an toàn thực

phẩm đang ở mức báo động và được cộng đồng

rất quan tâm Ngoại thành Hà Nội có các khu vực

trồng rau, chăn nuôi, khu giết mổ gia súc - gia

cầm, chế biến thực phẩm… cung cấp chủ yếu

cho thủ đô Hà Nội và các vùng lân cận Từ đất bị

ô nhiễm, các mầm bệnh ký sinh trùng có thể

được phát tán ra nhiều nơi cùng với thực phẩm,

gây tác hại cho sức khỏe của người dân [1, 2, 3,

7] Việc tìm hiểu thực trạng ô nhiễm mầm bệnh

ký sinh trùng trong đất tại các khu vực này là rất

cần thiết Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài với mục tiêu:

Đánh giá ô nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng

trong đất tại các điểm nghiên cứu

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu: Đất tại xung quanh

nhà dân và khu chế biến thực phẩm, giết mổ gia súc - gia cầm

2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu

được tiến hành từ tháng 8/2008 đến tháng 7/2009, tại xã Dương Nội (ngoại thành Hà Đông cũ), thị trấn Trúc Sơn (huyện Chương Mỹ), xã Đức Giang (huyện Hoài Đức) và xã Phú Thịnh (ngoại thành của thị xã Sơn Tây)

3 Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng nghiên

cứu mô tả cắt ngang Mẫu nghiên cứu được lấy theo chỉ tiêu (quota sampling) [8] Tổng số 160 mẫu đất, mỗi địa điểm thu thập 40 mẫu

4 Kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu: Trong

nghiên cứu áp dụng kỹ thuật xét nghiệm tìm mầm bệnh ký sinh trùng trong đất Đây là kỹ thuật nghiên cứu thường quy được áp dụng tại Bộ môn Ký sinh trùng Trường Đại học Y Hà Nội [6]

5 Xử lý số liệu nghiên cứu: Các số liệu được

xử lý trên máy vi tính, xử dụng phần mềm Microsoft Office Excel 2003 và Epi - Info 6.04

III KẾT QUẢ

Bảng 1 Các loại đất thu thập được tại các điểm nghiên cứu

N (%)

Nhận xét bảng 1: Có 160 mẫu đất được thu thập bao gồm 4 loại đất; trong đó có 25 mẫu có nhiễm ký

sinh trùng, chiếm tỷ lệ 15,63% Đất khu chăn nuôi có tỷ lệ nhiễm cao nhất là 53,33%

Nhận xét bảng 2: Trong tổng số 160 mẫu đất thu thập được tại 4 điểm nghiên cứu, 20 mẫu có ấu trùng giun ngoại cảnh, 3 mẫu có Cyclopspora sp.; 1 mẫu có Cryptosporidium sp.; 1 mẫu có trứng giun đũa (Ascaris lumbricoides) và 1 mẫu có trứng giun tóc (Trichuris trichiura) Không mẫu nào có bào nang Entamoeba histolytica và bào nang Giardia lamblia Phát hiện được 5 loại ký sinh trùng trong các mẫu đất, ấu trùng giun ngoại cảnh có tỷ lệ nhiễm cao nhất là 12,5%

Trang 3

Bảng 2 Kết quả xét nghiệm ký sinh trùng trong đất

Địa điểm

nghiên cứu n

Các loại ký sinh trùng đường ruột Giun sán

Trứng Giun đũa Giun tóc Trứng

Ấu trùng giun ngoại cảnh

Bào nang

E.histolytica

Bào nang

Giardia lamblia

Bào nang

Giardia lamblia

Cyclop-spora sp

Đơn bào

Bảng 3 So sánh tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng trong các mẫu đất tại các điểm nghiên cứu

N (%)

p (1,2) > 0,05

p (1,3) > 0,05

p (1,4) > 0,05

p (2,3) > 0,05

p (2,4) > 0,05

p (3,4) > 0,05

p > 0,05

Nhận xét: tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng của Đức Giang (22,50%) cao hơn của Phú Thịnh (15%) và của Dương Nội 15%), Chúc Sơn (12,50%) Nhưng sự khác biệt giữa các xã là không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05

IV BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 4 loại mẫu

đất được thu thập bao gồm 4 là: đất sân vườn, đất

bãi rác, đất khu chăn nuôi, đất trồng rau trong đó

có 25 mẫu có nhiễm ký sinh trùng, chiếm tỷ lệ

15,63% Đất khu chăn nuôi có tỷ lệ nhiễm cao

nhất là 53,33% (Bảng 3.1)

Trong tổng số 160 mẫu đất thu thập được tại 4

điểm nghiên cứu, phát hiện được 5 loại ký sinh

trùng trong các mẫu đất, 3 loại thuộc nhóm giun sán (ấu trùng giun ngoại cảnh, trứng giun đũa

A.lumbricoides, trứng giun tóc T.trichiura), 2 loại thuộc nhóm đơn bào (Cyclopspora sp., Cryptosporidium sp.) Ấu trùng giun ngoại cảnh

có tỷ lệ nhiễm cao nhất là 12,5% Không mẫu

nào có bào nang E.histolytica và bào nang G.lamblia (Bảng 3.2) Kết quả nghiên cứu của

chúng tôi có sự khác biệt với tác giả Nguyễn Thị Việt Hòa và cộng sự nghiên cứu tại thôn Hạ, xã

Trang 4

Mễ Trì, Từ Liêm Hà Nội [4] Theo kết quả của tác

giả Nguyễn Thị Việt Hòa qua xét nghiệm 150

mẫu đất và 111 mẫu bụi thấy có sự ô nhiễm trứng

giun đũa A.lumbricoides, trứng giun tóc

T.trichiura Tỷ lệ ô nhiễm trứng giun ở đất là

84,0% (mùa mưa) và 78,0% (mùa khô); tỷ lệ ô

nhiễm trứng giun trong bụi là 55,8% (mùa mưa)

và 67,6% (mùa khô) Các mẫu đất mà tác giả thu

thập bao gồm: đất sân, bếp và gần hố xí Đa số

hộ gia đình ở thôn Hạ là làm nông nghiệp (90%);

sử dụng hố xí một ngăn và người dân sử dụng

phân người để bón cho lúa và rau

Theo kết quả nghiên cứu của tác giả khác là

Hoàng Văn Miêng và cộng sự về ô nhiễm mầm

bệnh trứng giun xung quanh hố xí (hố xí tự hoại,

hố xí 1 ngăn, 2 ngăn và nhà cầu tiêu) tại xã Việt

Hùng, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình [5] Lấy mẫu

đất ở khoảng cách dưới 5 mét, tỷ lệ ô nhiễm trứng

giun đũa trong đất xung quanh hố xí tự hoại thấp

hơn nhà cầu tiêu (một loại hố xí không đạt tiêu

chuẩn vệ sinh) (p < 0,05)

Trong nghiên cứu của chúng tôi các mẫu đất

có tỷ lệ ô nhiễm trứng giun đũa A.lumbricoides,

trứng giun tóc T.trichiura rất thấp vì tại đây hầu

hết người dân đã chuyển sang sử dụng hố xí tự

hoại và không sử dụng phân người để bón cho

cây trồng, vì vậy sự ô nhiễm trứng giun từ hố xí và

phân người cho đất là rất thấp

So sánh về tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng của đất

của 4 điểm nghiên cứu tại Bảng 3 cho thấy: Tỷ lệ

nhiễm ký sinh trùng của mẫu đất ở Đức Giang

(22,50%) cao hơn của Phú Thịnh (15,00%) và của

Dương Nội 15,00%), Chúc Sơn (12,50%) Nhưng

sự khác biệt giữa các xã là không có ý nghĩa

thống kê với p > 0,05

V KẾT LUẬN

- Tỷ lệ ô nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng trong

đất tính chung ở 4 điểm nghiên cứu là 15,63%,

trong đó đất ở khu chăn nuôi có tỷ lệ nhiễm cao

nhất là 53,33%

- Phát hiện được 5 loại ký sinh trùng trong các mẫu đất, 3 loại thuộc nhóm giun sán (ấu trùng

giun ngoại cảnh, trứng A.lumbricoides, trứng T.trichiura, 2 loại thuộc nhóm đơn bào (Cyclopspora sp.; Cryptosporidium sp.) Không phát hiện được bào nang E.histolytica và bào nang G.lamblia Ấu trùng giun ngoại cảnh có tỷ lệ

nhiễm cao nhất là 12,5%

- Tỷ lệ ô nhiễm mầm bệnh ký sinh trùng trong đất của Đức Giang, Phú Thịnh, Dương Nội và Chúc Sơn là không có sự khác biệt

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Phùng Đắc Cam (2004), “Nhiễm ký sinh

trùng đường ruột ở rau trồng trong vùng nước thải

tái sử dụng ở Hà Nội”, Y học Việt Nam, Số

7/2004, tr 22 - 26

2 Nguyễn Văn Đề, Phan Thị Hương Liên, Trương Thị Kim Phượng, Phạm Ngọc Minh và CS (2009), “Ô nhiễm mầm bệnh giun sán trên cá

nuôi bằng nước thải tại thành phố và nông thôn

tỉnh Nam Định”, Tạp chí Thông tin Y - Dược, Số

8/2009, tr 19 - 21

3 Nguyễn Văn Đề (2003), “Mầm bệnh ký

sinh trùng trong thực phẩm ở Việt Nam”, Tạp chí Thông tin Y - Dược, Số 9/2003, tr 11 - 15

4 Nguyễn Thị Việt Hòa, Hoàng Thị Kim, Yasunori Fujimaki, Đoàn Hạnh Nhân, Aoki Yoshiki, Lê Đình Công (2003), “Ô nhiễm đất và

bụi do trứng các loại giun truyền qua đất tại thôn

Hạ, ngoại thành Hà Nội, Việt Nam”, Tạp chí Y học thực hành, Số 447/2003, tr 47 - 51

5 Hoàng Văn Miêng, Phan Thị Dịu và CS (2006), “Đánh giá tình hình nhiễm giun tròn

đường ruột, sự khuếch tán trứng giun xung quanh

các loại hình nhà tiêu”, Tạp chí Y học thực hành,

Số 3 (537)/2006, tr 31 - 32

6 Đỗ Dương Thái, Nguyễn Thị Minh Tâm, Phạm

Trang 5

Văn Thân, Phạm Trí Tuệ, Đinh Văn Bền (1975), Ký

sinh trùng và Bệnh ký sinh trùng ở người, Quyển III,

Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr 1044 - 1046

7 Phạm Văn Thân, Nguyễn Thị Minh Tâm,

Phạm Hoàng Thế, Phạm Trí Tuệ, Hoàng Tân

Dân, Trương Thị Kim Phượng, Phan Thị Hương

Liên, Phạm Ngọc Minh (2007), Ký sinh trùng,

Nhà xuất bản Y học, Hà Nội

8 Dương Đình Thiện (1997), Dịch tễ học lâm

sàng, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội

Summary

TO RESEARCH THE POLLUTION OF PARASITES IN SOIL OF HIGH RISK PLACES

OF THE OUTSKIRTS OF HA NOI Parasite diseases are popular in the community, one of the reason is soil pollution of parasites Objective: To evaluate the pollution of parasites in soil at the research places Methods: To collect and

detect parasites in the soil samples Results and conclusions: The rates of pollution of parasites in the soil

samples of 4 communes are: 15.63%, The rate of pollution of parasites in the soil samples of livestock

farms are highest: 53.33% 5 kinds of parasites were detected, 3 kinds belong to helthmin (the larva of

worm in environment, A.lumbricoides egg, T.trichiura egg, 2 kinds belong to protozoa (Cyclopspora sp.;

Cryptosporidium sp.) No E.histolytica and G.lamblia cyst are found The the larva of worm in

environment has highest rate: 12.50% The rates of soil samples having parasites of Duc Giang, Phu

Thinh, Duong Noi and Chuc Son are the same

Key words: soil sample, parasite

Đánh giá tỷ lệ mù lòa và hiệu quả mổ đục thể thủy tinh là cần thiết để lập kế hoạch phòng chống mù

loà Mục tiêu: (1) Xác định tỷ lệ mù, nguyên nhân gây mù (2) Đánh giá hiệu quả và trở ngại đối với mổ đục

thể thủy tinh (ĐTTT) tại cộng đồng Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang trên 1.740

người từ 50 tuổi trở lên Kết quả: tỷ lệ mù 2 mắt ở người từ 50 tuổi trở lên là 4,79 ± 1,18%, mù 1 mắt là

8,88 ± 1,26% Các nguyên nhân chính gây mù là ĐTTT (49,0%), bệnh phần sau nhãn cầu (15,4%), mắt hột

(12,5%), teo nhãn cầu (7,7%), sẹo giác mạc (6,7%) và glôcôm (5,8%) Tỷ lệ ĐTTT gây mù 2 mắt là 1,65%,

gây mù 1 mắt là 5,75% Tỷ lệ quặm ở 1 mắt và 2 mắt là 7,8%, tỷ lệ lông xiêu ( 3 lông) là 2,4%, Tỷ lệ mộng

1 và 2 mắt là 27,0% Tỷ lệ người được mổ ĐTTT 2 mắt là 1,46%, mổ 1 mắt là 2,63% Tỷ lệ bao phủ phẫu

thuật 65,8% (theo người), 37,9% (theo mắt) Tỷ lệ thành công của phẫu thuật là 75,8% Các trở ngại bệnh

nhân đi mổ là nghèo (24,3%), quá già (21,4%), không biết bệnh (20,0%), sợ mổ không sáng (5,7%) Kết

luận: nguyên nhân gây mù chủ yếu là ĐTTTvà mắt hột Tỷ lệ bao phủ phẫu thuật khá tốt nhưng tỷ lệ thành

công chưa cao Cần đẩy mạnh mổ ĐTTT và mổ quặm để nhanh chóng hạ thấp tỷ lệ mù loà

Từ khoá: đánh giá mù lòa, mổ ĐTTT

ĐÁNH GIÁ TỶ LỆ MÙ LOÀ VÀ HIỆU QUẢ CỦA CAN THIỆP MỔ ĐỤC THỂ THUỶ TINH Ở CỘNG ĐỒNG TỈNH BẮC NINH

Nguyễn Chí Dũng

Bệnh viện Mắt Trung ương

Ngày đăng: 04/11/2020, 14:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm