Giúp các bạn hiểu thêm về lịch sử hình thành và phát triển của Viện Quy hoạch Đô thị và nông thôn quốc gia VIUP; công tác quy hoạch, kiến trúc gắn với những thành tựu ấn tượng và là định hướng phát triển cho các thế hệ tiếp theo.
Trang 1Vietnam institute for urban and rural Planning
Æ´ thfi & n´ng th´n Vi÷n Quy hoπch quËc gia
Trang 3Phần I:
Chủ tịCh hồ Chí Minh góp ý kiến Cho đồ án Quy hoạCh thủ đô hà nội
trong CuộC họp Của hội đồng Chính phủ
Trang 4trƯƠûng Ban:
phó trƯƠûng Ban:
Ban Biên tập:
thiết kế MyÕ thuật:
Viện trưởng - Viup ngô trung hải
Lãnh đạo Viện qua các thời kỳ và đương nhiệm
phó viện trưởng - Viup phạm thị nhâm
phó tổng biên tập tạp chí Quy hoạch xây dựng phạm hoàng tú
Cao Sỹ niêm phạm thị Bích Vân nguyễn Quang huy nguyễn thanh hiền phạm Văn Dũng nguyễn Minh tú
CHé ßĐO
Trang 5Phần I:
Với bao nỗ lực để hoàn thành trọng trách Đảng, Nhà nước và Bộ Xây dựng
giao phó, giờ đây Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn quốc gia đang vững
vàng tiếp tục sự nghiệp khoa học mà bao thế hệ cán bộ của Viện đã dành
trọn tâm huyết, trí tuệ để phấn đấu cho mục tiêu “Xây dựng đất nước ta
đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!” như lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Viện nhằm tôn vinh những thành quả của bao
thế hệ cha anh đã tiếp nối nhau vun đắp, xây dựng nên một đội ngũ các nhà
quy hoạch kiến trúc năng động, sáng tạo, cần cù chia ngọt sẻ bùi, cùng nhau
chung sức tạo dựng đất nước Việt Nam lớn mạnh như ngày hôm nay.
Trân trọng với những thành tựu to lớn ấy, với trách nhiệm của thế hệ kế tục
truyền thống, chúng tôi thực hiện biên soạn và xuất bản cuốn kỷ yếu “Viện
quy hoạch đô thị và nông thôn quốc gia - VIUP 60 năm CON ĐƯỜNG CHÚNG
TA ĐI”, trân trọng gửi tới độc giả nhân ngày kỷ niệm trọng đại này Cuốn kỷ
yếu như một lời tri ân của thế hệ trẻ gửi tới các bậc tiền bối - những người đã,
đang có công gây dựng nên tên tuổi, thương hiệu của VIUP hôm nay, đồng
thời thể hiện niềm tự hào của các nhà quy hoạch, các kiến trúc sư thuộc
Viện, với sản phẩm của mình, họ đang chèo lái con thuyền VIUP hướng tới hội
nhập toàn cầu.
Hy vọng cuốn kỷ yếu sẽ giúp bạn đọc hiểu thêm về lịch sử hình thành và phát
triển Viện đến ngày hôm nay, cũng như công tác quy hoạch, kiến trúc gắn
với những thành tựu ấn tượng của Viện, đồng thời đây sẽ là một tài liệu hữu
ích để lưu trữ và định hướng phát triển cho các thế hệ kế tiếp của Viện.
Để hoàn thành được cuốn sách này, tập thể Ban biên tập xin chân thành cảm
ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ Viện qua các thời kỳ, các bạn đồng nghiệp đã
cung cấp tài liệu, số liệu, bản đồ cùng những ý kiến đóng góp quý báu, góp
sức cùng chúng tôi hoàn thành cuốn sách này.
Trang 7thS kS Phạm thị thanh hoa
Phó Viện trưởng Deputy Director
Trang 8Các hoạt động tiêu biểu Viup
Cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực Viup 2016
7 87 111
Trang 9lịCH sƯû HìNH THÀNH & PHÁT TrIểN Phần I
Trang 101.1 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp Toàn dân tham gia thực hiện các phong trào do Chính phủ phát động và chỉ đạo, các đô thị
triển khai “Tiêu thổ kháng chiến”, các công trình bị phá dỡ hoặc bị tàn phá bởi chiến tranh Năm
1948, Chính phủ đã chỉ thị tổ chức Hội nghị tập hợp kiến trúc sư đầu tiên ở Liễn Sơn - Lập Thạch
- Vĩnh Yên thành lập đoàn Kiến trúc sư Việt Nam (tiền thân Hội Kiến trúc sư Việt Nam hiện nay)
gồm 8 kiến trúc sư, trong đó có KTS Hoàng Như Tiếp sau này là Viện trưởng đầu tiên của Viện
quy hoạch đô thị - nông thôn quốc gia
Kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, nhưng đất nước vẫn bị chia cắt bởi các thể chế chính
trị khác nhau, cách mạng Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn mới Miền Bắc bước vào thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội; mười năm đầu là kế hoạch tạo dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật tối thiểu ban
đầu cho nền kinh tế mới, trong đó chủ yếu là các công trình công nghiệp do các nước XHCN giúp đỡ
Miền Nam lo đối phó với cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc - thống nhất đất nước của mặt trận giải
phóng miền Nam Việt Nam
Năm 1954: Sau khi tiếp quản Thủ đô
Tháng 9/1955 Bộ Giao thông Công chính có quyết định tách làm 2 Bộ là: Bộ Giao thông và Bưu điện;
Bộ Thủy lợi và Kiến trúc do đồng chí Trần Đăng Khoa là Bộ trưởng Sau khi thành lập, Lãnh đạo Bộ
nhanh chóng kiện toàn tổ chức, xây dựng đội ngũ CBCNV Chủ trương lúc đó nhằm tập hợp hầu hết
các kiến trúc sư (KTS) đi kháng chiến về Bộ Thủy lợi và Kiến trúc để thành lập Nha Kiến trúc (Quyết
định số 506/TTg ngày 06/4/1955 của Thủ tướng Chính phủ) KTS Nguyễn Văn Ninh được chỉ định
làm Giám đốc, KTS Nguyễn Cao Luyện làm phó Giám đốc Nha Tổng cộng toàn miền Bắc lúc đó
chỉ có 18 KTS thì tập trung về Nha đến 14 người
Mặc dù lực lượng của Nha nhỏ bé như vậy, nhưng lại đảm nhiệm một trọng trách lớn là thiết kế, cải
tạo, phát triển xây dựng, phục hồi các đô thị và điểm dân cư nông thôn toàn miền Bắc
Năm 1956: Thành lập phòng đô thị thuộc Nha Kiến trúc
Bộ máy tổ chức của Phòng Đô thị
Phòng Đô thị do KTS Hoàng Như Tiếp phụ trách, với hơn 10 cán bộ, trong đó có 4 KTS, một số kỹ
sư công trình và các họa viên
Quan điểm tái cấu trúc lại hệ thống đô thị theo hướng Đô thị phải thúc đẩy sản xuất, phục vụ đông
đảo nhân dân lao động và thỏa mãn các yêu cầu ngày càng tăng trên cơ sở công hữu hóa đất đai
Đồng thời xây dựng đô thị phải gắn liền với chiến lược quốc phòng
Tiện dụng, bền vững và đẹp trong điều kiện có thể Không quá tập trung phát triển xây dựng các công
trình trọng điểm, đặc biệt là ở ven biển, dọc biên giới và đi sâu vào đất liền (chủ yếu là vùng trung du)
I THỜI KỲ 1956 - 1964
Đến năm 1956, nhu cầu phát triển nhanh chóng của đất nước, nên trong Nha Kiến trúc đã
thành lập Phòng Đô thị Đây chính là tiền thân của Viện Quy hoạch đô thị - nông thôn sau
này và giờ đây là Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn quốc gia (VIUP)
kS nguyễn văn thân
Cục trưởng
Từ 1958 đến 1961Cục Đô thị và Nông thôn
KTS nguyễn văn ninh
Giám đốc
Từ 1956 đến 1963
Nha Kiến trúc
kS Bùi văn các
Tổng Cục trưởng
Từ 1959 đến 1962Cục Kiến thiết cơ bản
Trang 11Phần I:
Ba tổ nghiên cứu thiết kế quy hoạch (không thành lập phòng):
Tổ Hà Nội do KTS Tạ Mỹ Duật phụ trách;
Tổ Việt Trì, Vinh do KTS Khổng Toán phụ trách;
Tổ Thái Nguyên - Hải Phòng - Hồng Gai - Quảng Yên do KTS Đàm Trung Phường phụ trách
Tổ khảo sát đo đạc phục vụ công tác quy hoạch đô thị - nông thôn và cắm mốc giới xây dựng do đ/c Phan Thông phụ trách
Ngoài ra còn có tổ điện nước Tổng số cán bộ và nhân viên 23 người
Cục trưởng Nguyễn Văn Thân đang đứng nói chuyện với các đồng sự trong Lễ kỷ niệm ngày thành lập Cục Đô thị & Nông thôn
(05/7/1958)
Trang 12Năm 1961: Thành lập Viện Thiết kế Quy hoạch thành phố.
Viện Thiết kế Quy hoạch thành phố đã bắt tay ngay vào nghiên cứu tái cấu trúc lại hệ thống đô thị
Thực dân - Phong kiến theo hướng đô thị XHCN để phù hợp với cơ cấu nền kinh tế kế hoạch tập
trung; đảm nhiệm việc quy hoạch xây dựng lại và xây dựng mới các đô thị sau nhiều năm không
được đầu tư và bị chiến tranh tàn phá Các đô thị Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định… là những ưu tiên
của các KTS lúc bấy giờ Quy hoạch thủ đô Hà Nội đã được Bác Hồ và Bộ Chính trị trực tiếp cho ý
kiến chỉ đạo từ năm 1960 Các đô thị khác được Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa
khác ở Đông Âu cử chuyên gia sang giúp đỡ quy hoạch Một số khu công nghiệp mới như Việt
Trì, Thái Nguyên… và một số khu nhà ở mới tại Hà Nội như: Kim Liên, Nguyễn Công Trứ, Thọ Lão,
Quỳnh Lôi, Văn Chương… một số kiểu nhà ở tập thể cho CBVC-LĐ Thủ đô cũng được xây dựng
như các căn nhà xây bằng gỗ tại khu tập thể ngoài đê sông Hồng được hình thành trong thời kỳ này
Bộ máy tổ chức của Viện Thiết kế Quy hoạch thành phố.
Các đơn vị chuyên môn chính: 7 đơn vị thiết kế quy hoạch và 1 đội khảo sát đo đạc
Tổng số cán bộ công nhân viên (CBCNV) là 42 người trong đó có ba Phó tiến sỹ (PTS)
Tổ Hải Phòng - Quảng Ninh: do KS Huỳnh Đăng Hy phụ trách
Tổ Việt Trì - Vĩnh Yên - Thái Nguyên: do KTS Trần Quang Nhĩ phụ trách
Tổ Vinh - Hà Tĩnh - Quảng Bình: do KTS Trần Hùng phụ trách
Tổ Cây xanh: do KS Nguyễn Thanh Thủy phụ trách
Tổ Tổng hợp: do KTS Khổng Toán phụ trách sau đó là KTS Đàm Trung Phường đảm nhiệm
Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ thị công việc đối với chuyên gia đạt giải thưởng kiến trúc
quốc tế Đồ án “Làng nổi Đồng Tháp Mười” của Viện
(Người đứng cạnh Thủ tướng là nguyên Viện trưởng Hoàng Như Tiếp)
kS Đinh viết tiêu
Phó Viện trưởng
Từ 1961 đến 1969Viện Thiết kế hoạch Thành phố, Bộ Kiến trúc
ktS hoàng như tiếP
Trưởng phòng Đô thị,
Từ 1956 đến 1958Nha Kiến trúc
Cục phó
Từ 1956 đến 1958Cục Đô thị - Nông thôn
Viện trưởng Từ 1961 đến 1970
Viện Thiết kế Quy hoạch Thành phố, Bộ Kiến trúc
Từ năm 1960 đến 1965 là thời kỳ phát triển đô thị hóa khá mạnh Trước đòi hỏi của thực
tế, tháng 10/1961, Viện Thiết kế Quy hoạch thành phố của Bộ Kiến trúc được thành lập,
theo Quyết định số 166-CP của Hội đồng Chính phủ Trong Bộ còn có Cục Quy hoạch
và Thiết kế.
Trang 13Phần I:
1.2 Một số thành tựu tiêu biểu
Nhân dân miền Bắc bước vào xây dựng khôi phục
và phát triển đất nước Một trong những nhiệm vụ
quan trọng hàng đầu trong giai đoạn này là xây
dựng và phát triển các ngành công nghiệp nặng
Bộ trưởng Bùi Quang Tạo trực tiếp chỉ đạo công tác
quy hoạch nhất là các vùng, đô thị có vị trí an ninh
quốc phòng trọng điểm của cả nước
Công tác quy hoạch xây dựng để đáp ứng yêu
cầu đô thị hóa, phát triển cùng việc hình thành các
khu công nghiệp như gang thép Thái Nguyên,
công nghiệp nhẹ Việt Trì, công nghiệp hóa chất
Bắc Giang, khu công nghiệp Thượng Đình, Minh
Khai ở Hà Nội, khu Cửa Cấm Hải Phòng, than và
nhiệt điện Quảng Ninh, khu Apatit Cam Đường
Lào Cai…
Từ 1960 đến 1964, đô thị hóa phát triển theo
chiều rộng với xu hướng chiến lược là xây dựng
một mạng lưới đô thị trung bình và nhỏ đều khắp
trên toàn lãnh thổ đất nước Công tác quy hoạch
của Viện lúc đó đi sâu vào các lĩnh vực: Thiết kế,
cải tạo, phát triển xây dựng, phục hồi các đô thị và
điểm dân cư nông thôn toàn miền Bắc
QHC Hà nội thơì kỳ 1960-1964 (Do chuyên gia Liên Xô giứp đỡ )
Đuợc lập theo nghị quyết 118-NĐ/TW
Viện tham gia công tác Quy hoạch xây dưjng KCC Kim Liên
Trang 14Công tác lập đồ án quy hoạch đô thị bước đầu được hình thành theo
quy trình của Liên Xô Đồ án quy hoạch chung thủ đô Hà Nội được
thực hiện với sự trợ giúp của chuyên gia Liên Xô Chuyên gia Trung
Quốc sang giúp quy hoạch 2 thành phố công nghiệp Thái Nguyên
và Việt Trì Ba Lan giúp quy hoạch TP Hải Phòng; CHDC nhân
dân Triều Tiên giúp quy hoạch chung đô thị Bắc Giang Chuyên gia
Bulgaria giúp quy hoạch đô thị Thái Bình
Nghiên cứu thiết kế ban đầu cho ý tưởng tổ chức phát triển lãnh
thổ và nhiều đô thị quan trọng ở nước ta như thủ đô Hà Nội, Hải
Phòng, Nam Định, Hải Dương, Thái Bình, Vinh, Hòn Gai, Cẩm
Phả, Thái Nguyên, Việt Trì…
Nghiên cứu lý thuyết tiểu khu nhà ở Kim Liên với 3 cấp phục vụ,
được tổ chức theo tầng bậc và các mẫu đơn nguyên căn hộ khép
kín được du nhập vào nước ta từ thời đó Các công trình công cộng
như nhà trẻ - mẫu giáo, trường học, bệnh viện, câu lạc bộ, nhà
máy nước…, được quan tâm phát triển xây dựng Mẫu nhà lắp ghép
bằng tấm panen cũng được áp dụng song song với sự giúp đỡ của
chuyên gia Triều Tiên
Các nhà chung cư với các căn hộ điển hình xây dựng và phân phố đều
cho người lao động nhằm xóa dần sự không công bằng giữa giầu và
nghèo Nhìn chung, công việc của Viện hầu như theo đúng quy trình
lập quy hoạch của Liên Xô, vì khi đó chúng ta hoàn toàn chưa có kinh
nghiệm, chưa có nhận thức đầy đủ về đô thị hóa và phát triển đô thị
Nghiên cứu ý tưởng xây dựng cho các công trình quan trọng như
Nhà Quốc hội, nhà sàn của Bác Hồ, các mẫu nhà ở tập thể…
Từ tháng 8/1964, miền Bắc bị đánh phá, Viện phải đi sơ tán về
nông thôn Tam Dương tỉnh Vĩnh Phú Một bộ phận nhỏ của Viện
đã được giao nghiên cứu thực nghiệm quy hoạch vùng nông thôn
Lực lượng còn lại của Viện được giao nghiên cứu sẵn các phương
án cho mục tiêu đón thời cơ khi hòa bình lập lại ở một số đô thị lớn như Hà Nội, Vinh, Nam Định, Hải Phòng, Việt Trì, Thái Nguyên và các thị xã tỉnh lỵ
Thời kỳ này Đảng và Nhà nước có chủ trương đô thị hóa nông thôn, KTS Hoàng Như Tiếp đã khởi xướng và xúc tiến mạnh công tác thiết kế quy hoạch nông thôn Một số khu vực mà KTS Hoàng Như Tiếp triển khai thiết kế thực nghiệm quy hoạch nông thôn như vùng “Tam Thiên mẫu và nhà ở nông thôn Đào Viên (Hải Hưng), Vĩnh Tường (Phú Thọ), Lệ Thủy (Quảng Bình), Ân Thi (Hải Hưng), Lương Sơn (Hòa Bình)”
Về công tác đào tạo và hợp tác quốc tế:
Khi đó KTS và KS rất ít nên một thành công to lớn của Viện lúc bấy giờ là coi trọng công tác tự đào tạo cán bộ thiết kế quy hoạch đô thị và nông thôn Viện cũng được bổ sung một số lượng lớn cán bộ từ khoa xây dựng (Đại học Bách Khoa Hà Nội) và một số ít cán bộ từ Liên Xô, Trung Quốc về Mỗi tuần các KTS và KS được đào tạo từ thời Pháp, các KS khóa 1 từ Đại học Bách Khoa Hà Nội, các cán bộ Trung cấp kỹ thuật ở Việt Nam đều được Cục đô thị nông thôn tổ chức để các đoàn chuyên gia Liên Xô và Trung Quốc giảng dậy 4-5 buổi/tuần làm quy hoạch đô thị Các chuyên gia của Viện vừa học vừa làm cụ thể, như: Chủ trì thiết kế QH thành phố Vinh do đ/c Huỳnh Văn Hy phụ trách; Chủ trì QH thành phố Hải Phòng do chị Thanh Thủy phụ trách; Chủ trì thiết kế QH thành phố Thái Nguyên
do đ/c Đàm Trung Phường phụ trách; Chủ trì thiết kế QH thành phố Việt Trì do đ/c Trần Hùng phụ trách
Bộ Kiến trúc còn tổ chức những đoàn chuyên gia đi Liên Xô học tập, thực tập thiết kế và xây dựng khu nhà ở xã hội chủ nghĩa gồm các chuyên gia quy hoạch, thiết kế công trình, tổ chức thi công do KTS Dương Huy Chấn làm trưởng đoàn, KTS Đàm Trung Phường làm phó đoàn và phụ trách nhóm nghiên cứu thiết kế về quy hoạch khu nhà ở
Cuộc thi ý tưởng “Làng nổi Đồng Tháp Mười” KTS Bùi Quang Ngân
Trang 15Phần I:
xây dựng các công trình quan trọng như Nhà Quốc hội, nhà sàn của Bác Hồ, các mẫu nhà ở tập thể…
Hôm nay từ trong kỷ niệm và tâm tưởng về 60 năm trước, toàn thể các thành viên Viện Quy hoạch đô thị và nông
thôn quốc gia mãi mãi ghi nhận công lao to lớn của các bậc lão thành đã đặt nền tảng cho ngành quy hoạch xây
dựng liên tục phát triển và đạt được những thành công như ngày hôm nay.
Trang 162.1 Quá trình phát triển
Năm 1965 đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc XHCN, cả nước bảo toàn lực lượng, đối phó với chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và tiếp tục phát triển đất nước, chi viện cho miền Nam Chiến tranh cũng đã phá hủy phần lớn các thành quả mà 10 năm trước đã tạo dựng Nhiều công trình xây dựng cơ bản buộc phải tạm đình chỉ hoặc giãn tiến độ Ngành xây dựng đã chủ trương chuyển hướng nhiệm vụ, đưa CBCNV phục vụ chiến đấu chống chiến tranh phá hoại và xây dựng công trình phục vụ cho quốc phòng
Công tác quy hoạch, kiến trúc: Đây là thời kỳ chiến tranh, Viện Thiết kế quy hoạch thành phố vừa phải trực tiếp tham gia chiến đấu bảo vệ cơ quan, bảo toàn lực lượng, vừa phải đẩy mạnh các nhiệm vụ thiết kế quy hoạch và phát triển tiềm lực cho Viện Viện tổ chức sơ tán chống chiến tranh phá hại của Mỹ (từ tháng 8/1964 đến năm 1968) phòng QH đô thị sơ tán lên xã Phú Trưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc; phòng QH nông thôn sơ tán về xã Đào Viên, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên Viện đã cử đoàn công tác QH trong thời kỳ phá hoại chiến tranh của Mỹ Đoàn công tác đi Quảng Bình bằng xe đạp, đ/c Lũy đã hy sinh, đoàn công tác đi Lào bằng ôtô, đ/c Khôi
bị thương Lúc này, Viện có 2 nhiệm vụ chính:
Một là: Mở rộng công tác quy hoạch xây dựng nông thôn (theo quy mô xã, hợp tác xã, vùng liên xã), phục vụ hợp tác hóa và tiến nhanh lên sản xuất lớn XHCN.
Hai là: Nghiên cứu phát triển Thủ đô Hà Nội lên phía Bắc Có 2 phương án chính, một là dựa vào núi Ba Vì, hai là dựa vào Tam Đảo Phương án 2 được chấp nhận và thực thi vì có thuận lợi trong việc đào hầm xuyên qua núi để nối lên các khu căn cứ địa cách mạng, phục vụ chiến lược phát triển lâu dài của Đất nước trong bối cảnh có chiến tranh.
Năm 1969: Viện Thiết kế quy hoạch thành phố và nông thôn
Bộ máy tổ chức của Viện Thiết kế quy hoạch thành phố và nông thôn:
kS lê Đình cương (1970 -1975)
và ktS Đàm trung Phường
Tổng số CNCNV là 268 trong đó có 07 PTS, 06 phòng thiết kế quy hoạch và 01 đội khảo sát
Tổ chức của Viện có sự sắp xếp lại, Viện có các tổ:
Tổ Quy hoạch 1: Quy hoạch các thành phố vùng Đông Bắc bao gồm: Hải Dương, Bắc Giang, Hải Phòng, Quảng Ninh… do KTS Huỳnh Đăng Hy làm tổ trưởng kiêm chủ trì QH các đô thị của Quảng Ninh, chị Nguyễn Thị Thanh Thủy chủ trì QH thành phố Hải Phòng Năm 1966 – 1970, KTS Huỳnh Đăng Hy đi Nghiên cứu sinh tại Liên Xô, Tổ Quy hoạch 1 do KTS Nguyễn Văn Lý (học từ Trung Quốc về) làm tổ trưởng cho đến năm 1975
II THỜI KỲ 1965 - 1975
Ngày 09/10/1969 Viện Thiết kế quy hoạch thành phố tách thành hai Viện là Viện Thiết kế quy hoạch thành phố và nông thôn và Viện Thiết kế công trình kỹ thuật thành phố, thuộc Bộ Kiến trúc theo Quyết định số 201-CP của Hội đồng Chính phủ
kS lê Đình cương
Viện trưởng
Từ 1970 đến 1975Viện Thiết kế Quy hoạch Thành phố và nông thôn,
Bộ Kiến trúc
kS Đinh viết tiêu
Phó Viện trưởng
Từ 1961 đến 1969Viện Thiết kế Quy hoạch Thành phố, Bộ Kiến trúc
Phó Viện trưởng
Từ 1969 đến 1974Viện Thiết kế Quy hoạch Thành phố và nông thôn
Phó Viện trưởng
Từ 1975 đến 1977Viện Xây dựng Đô thị - nông thôn, Bộ Xây dựng
kS nguyễn văn chính
Phó Viện trưởng
Từ 1969 đến 1975Viện Thiết kế Quy hoạch Thành phố và nông thôn, Bộ Kiến trúc
Phó Viện trưởng
Từ 1975 đến 1978Viện Xây dựng đô thị - nông thôn,
Bộ Xây dựng
Trang 18Tổ Quy hoạch 2: Thiết kế quy hoạch các đô thị còn lại do KTS
Nguyễn Ngọc Điền phụ trách và KTS Dương Quang Trung làm
Phó phòng
Tổ Quy hoạch 3: Chuyên trách thiết kế QHC thủ đô Hà Nội KTS
Nguyễn Văn Hường tốt nghiệp ở Kiep (Liên Xô cũ) về làm Phó
phòng và phụ trách phòng từ năm 1969 - 1971 Chủ trì thiết kế
QHC thành phố Hà Nội cũ, và QHC khu mới ở Vĩnh Yên do KTS
Nguyễn Ngọc Khôi làm chủ trì Từ năm 1972 - 1975 PTS.KTS
Huỳnh Đăng Hy từ Liên Xô về là Trưởng phòng
Phòng Tổng hợp gồm: Kế hoạch, Quản lý kỹ thuật, Hành chính do
KTS Trần Quang Nhĩ làm Trưởng phòng
Phòng Quy hoạch vùng: Hình thành năm 1972 do
KTS Trần Trọng Hanh tốt nghiệp ở CuBa về phụ trách
Thơì kỳ này các cán bộ trẻ nòng cốt là: Nguyễn Thế Khải, Lê
Văn Nin, Nguyễn Văn Cương, Nguyễn Văn Thái, Nguyễn Văn
Trù, Nguyễn Mạnh Chu, Phạm Vũ Mỹ, Quách Tất Thúy, Nguyễn
Trọng Thanh, Bùi Văn Hoạch, Vũ Kim Long, Nguyễn Lân, Trần
Gia Luyện, Nguyễn Thái Lai, Trần Văn Dũng và Hoàng Khắc Tùng
(giao thông), Hoàng Nguyên Quang (cấp nước), Hồ Duy Diên (thoát
nước bẩn), Dương Cao Ba và Hoàng Quy (cấp điện), Nguyễn Đình
Bảng và Đỗ Đình Nguyên (san nền), Nguyễn Thanh Thủy (cây
xanh), Trương Văn Tốt (kinh tế); các họa viên: Nguyễn Văn Thận,
Trần Thị Đàm, Nguyễn Thị Kiên
-Thiết kế quy hoạch các thành phố loại lớn và vừa có tầm quan
trọng lớn về chính trị, kinh tế và quốc phòng
- Hướng dẫn các địa phương thiết kế quy hoạch kế hoạch xây dựng
và quản lý việc xây dựng các thành phố, thị xã loại vừa và nhỏ
- Thiết kế thí điểm quy hoạch nông thôn một số xã ở đồng bằng,
trung du, miền biển, miền núi để rút kinh nghiệm hướng dẫn việc lập
quy hoạch và xây dựng nông thôn
Cùng với các ngành có liên quan nghiên cứu xây dựng và theo dõi
các chính sách, chế độ về thiết kế quy hoạch và quản lý xây dựng
thành phố, nông thôn (Theo Quyết định 201-CP ngày 09/10/1969
của Hội đồng Chính phủ)
Năm 1973, để thống nhất quản lý nhà nước toàn Ngành, Quốc hội và
Chính phủ đã quyết định hợp nhất Uỷ ban kiến thiết cơ bản nhà nước
và Bộ Kiến trúc để thành lập Bộ Xây dựng Phó thủ tướng Đỗ Mười
kiêm Bộ trưởng Bộ Xây dựng (1973 - 1977) Thời kỳ này, Bộ trưởng
Đỗ Mười trực tiếp chỉ đạo công tác quy hoạch đô thị và nông thôn,
thường xuyên chủ trì các buổi họp thông qua quy hoạch vùng, quy
hoạch đô thị các thành phố quan trọng như: Vùng cảng biển phía
Bắc, quy hoạch xây dựng thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng…
các làng xã được quy hoạch xây dựng nông thôn mới ở miền Bắc
Dân quân tự vệ tham gia bảo vệ Thủ đô trong những năm
chống chiến tranh phá hoại Mỹ
Mô hình Quy hoạch Xây dựng Nông thôn Khảo sát phục vụ Quy hoạch sản xuất nông nghiệp
và xây dựng nông thôn
Trang 19Bộ máy tổ chức của Viện gồm:
KTS ĐÀM TRUNg PHưỜNg VÀ KS NgUYEãN HIỂN.
Tổng số CBCNV của Viện: 759 trong đó 06 PTS
Các phòng chức năng nghiệp vụ gồm có:
1- Phòng Tổ chức và cán bộ 2- Phòng Giám định3- Phòng Kỹ thuật4- Phòng Tổng hợp5- Phòng Hướng dẫn vận dụng kết quả nghiên cứu6- Phòng Kế hoạch nghiên cứu khoa học kĩ thuật7- Phòng Kế hoạch và hợp đồng
8- Phòng Lao động tiền lương9- Phòng Tài vụ kế toán10- Phòng Hành chính quản trị11- Xưởng ấn loát
Các phòng nghiên cứu khoa học, kỹ thuật có:
1- Phòng Nghiên cứu kinh tế2- Phòng Nghiên cứu quy hoạch xây dựng vùng và quy hoạch đô thị3- Phòng Nghiên cứu quy hoạch nông thôn
4- Phòng Nghiên cứu cây xanh và môi trường5- Phòng Nghiên cứu cấp thoát nước6- Phòng Nghiên cứu chuẩn bị kỹ thuật, giao thông và cấp điện7- Phòng Nghiên cứu nhà ở Đô thị, nông thôn
8- Phòng Nghwiên cứu công trình công cộng I (Bệnh viện, trường học…)9- Phòng Nghiên cứu công trình công cộng II (Khách sạn, nhà hát…)10- Phòng Nghiên cứu trang thiết bị nội thất
11- Phòng Nghiên cứu kết cấu công trình và thiết bị kỹ thuật công trình dân dụng
12- Phòng Nghiên cứu ứng dụng vật lý kiến trúc13- Phòng Nghiên cứu sửa chữa và cải tạo công trình
14- Phòng Thông tin khoa học kỹ thuật15- Xưởng Thực nghiệm, mô hình16- Công xưởng Thực nghiệm
Các tổ chức thiết kế và khảo sát gồm có:
1- Phân viện Thiết kế Hòa Bình
2- Phân viện Thiết kế công trình Kĩ thuật Đô thị3- Các xưởng thiết kế
Từ 1975 đến 1978
Viện Xây dựng Đô thị Nông thôn,
Bộ Xây dựng
Trang 20Thời kỳ này nhiều KTS, KS tốt nghiệp từ
Liên Xô, Trung Quốc, CHDC Đức, Tiệp,
Bulgaria, Hungari, CuBa… và từ các trường
Đại học và trung cấp trong nước như Kiến
trúc, Xây dựng, Kinh tế quốc dân, Bách
khoa đã liên tục được bổ sung vào đội ngũ
cán bộ hàng năm của Viện
Tháng 12/1975 PTS.KTS Huỳnh Đăng
Hy chuyển sang Văn phòng Chính phủ
đảm nhận chức vụ Phó Vụ trưởng phụ
trách quản lý kiến trúc và quy hoạch đô
thị - nông thôn
1- Nghiên cứu phát triển khoa học, kĩ thuật,
phát triển nền kiến trúc dân tộc và xã hội
chủ nghĩa trong các lĩnh vực thiết kế quy
hoạch xây dựng vùng, quy hoạch xây dựng
đô thị , nông thôn, thiết kế nhà ở, khu nhà
ở, công trình công cộng, công trình kỹ thuật
đô thị nông thôn Nghiên cứu thiết kế định
hình và công nghệ thi công các công trình
dân dụng, công trình kỹ thuật đô thị.Nghiên
cứu tiêu chuẩn, định mức, quy trình, quy
phạm về thiết kế và thi công các công trình
thuộc lĩnh vực Viện phụ trách
2- Chủ trì thiết kế quy hoạch xây dựng
vùng, quy hoạch xây dựng đô thị, nông
thôn, thiết kế nhà ở, khu nhà ở, công trình
công cộng, công trình kỹ thuật đô thị, nông
thôn theo kế hoạch Bộ giao
3- Nghiên cứu đề xuất ý kiến với Bộ trong
việc xét duyệt các địa điểm xây dựng và các
đồ án thiết kế thuộc lĩnh vực viện phụ trách
do các địa phương và cơ quan khác làm
Đánh giá tổ chức trao đổi những kết quả và
kinh nghiệm công tác nghiên cứu, thiết kế
thuộc các lĩnh vưc công tác Viện phụ trách
Hướng dẫn, giúp đỡ các Sở, Ty Xây dựng
về kỹ thuật nghiệp vụ công tác nghiên cứu
và thiết kế (theo quyết định số
211/BXD-TC ngày 28/4/1975 của Bộ Xây dựng)
Trong giai đoạn này, Viện là đơn vị hạch
toán kinh tế độc lập có tư cách pháp nhân,
được mở tài khoản ở Ngân hàng Nhà nước,
được sử dụng con dấu Phân viện thiết kế được sử dụng con dấu riêng Viện thực hiện chế độ hợp đồng thiết kế và hạch toán kinh tế trong các hoạt động thiết kế và được cấp kinh phí sự nghiệp cho các hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật
Ngày 30/4/1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất đã như làn gió mới thổi vào trang sử phát triển của Viện
2.2 Một số thành tựu tiêu biểu
Sau tháng 12/1972, Mỹ thất bại trận “Điện Biên Phủ trên không”, ngừng ném bom miền Bắc và rút quân về nước
Công tác hợp tác quốc tế phát triển mạnh:
Nhiều đoàn chuyên gia các nước xã hội chủ nghĩa đã sang giúp nước ta làm quy hoạch đô thị như:
QHC thủ đô Hà Nội bao gồm: khu đô thị mới
ở Vĩnh Yên và khu Hà Nội cũ do Liên Xô đảm nhiệm, KTS Nguyễn Ngọc Khôi phụ trách Ba Lan giúp quy hoạch Hải Phòng, KTS Nguyễn Thị Thanh Thủy phụ trách
CHDC Đức giúp Nghệ An lập QH chi tiết và đầu tư xây dựng hoàn chỉnh khu nhà
ở Quang Trung Rumani giúp quy hoạch thành phố Nam Định và thị xã Phủ Lý, KTS
Nguyễn Đức Tâm phụ trách CHDCND Triều tiên giúp quy hoạch thị xã Bắc giang
Cuba giúp quy hoạch thị xã Đồng Hới, do KTS Hoàng Linh Quy phụ trách Bulgaria giúp QH thị xã Thái Bình Hungary giúp quy hoạch thị xã Hồng Gai - Bãi Cháy
Ngoài ra, còn có đoàn chuyên gia xây dựng của Đảng cộng sản Nhật do đ/c KTS NoRoLara - Moriaki làm trưởng đoàn đã giới thiệu những kinh nghiệm và ưu điểm, nhược điểm của quy hoạch xây dựng đô thị Nhật Bản và đóng góp những ý kiến về xây dựng và cải tạo thủ đô Hà Nội
Giai đoạn này, Viện lập quy hoạch xây dựng lại nhiều thị xã như Hà Giang, Cao Bằng, Lào cai… khu nghỉ mát Tam Đảo, khu công nghiệp Bãi Bằng (Vĩnh Phú) và khu công
nghiệp Gò Đầm (Thái Nguyên); Quy hoạch Vùng Quảng Ninh - Hải Phòng nhiều trọng điểm xây dựng được xác định và giải quyết kịp thời phục vụ công cuộc phát triển kinh tế như: Điện Phả Lại, Xi măng Hoàng Thạch, than Mạo Khê, Vàng Danh, Núi Béo; các QHC Hồng Gai, Bãi Cháy, Uông Bí, Mạo Khê, Cẩm Phả được phê duyệt đã góp phần định hướng xây dựng và phát triển kinh tế, bảo vệ an ninh quốc phòng, đồng thời đề xuất với Bộ Xây dựng giải quyết địa điểm và quản lý QH tại địa phương
Với sự giúp đỡ nhiệt tình của các đoàn chuyên gia nước ngoài, đội ngũ cán bộ quy hoạch của Viện đã được mở rộng cả nhận thức thực tế cũng như lý thuyết và đã có một bước trưởng thành rõ rệt Giai đoạn này Viện đã tham gia:
Nghiên cứu phát triển thủ đô Hà Nội lên phía Bắc, tiếp tục điều chỉnh bổ sung quy hoạch thủ đô Hà Nội
Sau khi Bác mất 1969, Bộ Chính trị đã quyết định xây Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh Viện đã tích cực tham gia các phương án thiết kế Lăng Hồ Chủ Tịch Đặc biệt là quy hoạch Quảng trường Ba Đình và khu vực xung quanh Lăng Bác, đây được xem là đóng góp có tính lịch sử của Viện
Cùng với các chuyên gia tư vấn nước ngoài, Viện đã tham gia xây dựng quy hoạch thành phố Hải Phòng cử đoàn cán bộ biệt phái tham giam quy hoạch, thành phố Vinh, khu nhà ở Quang Trung - Vinh, thành phố Nam Định, thị xã Phủ Lý, thị xã Hòn Gai
- Bãi Cháy, thành phố Thái Bình và thị xã Bắc Giang, QH xây dựng khu nhà ở cọc 6 Cẩm Phả
Quy hoạch nông thôn cũng chưa bao giờ được mở rộng như thời kỳ này Với 2 điểm quy hoạch nông thôn được thực hiện ở Đào Viên - Khoái Châu - Hải Hưng và Yên Sở ở ngoại thành thủ đô Hà Nội, cũng như quy hoạch các huyện điểm: Quỳnh Lưu - Nghệ
An, Vũ Thư, Đông Hưng - Thái Bình, Nam Ninh - Nam Định…
Trang 21Phần I:
Mô hình quy hoạch vùng tỉnh của đoàn Bungari, đặc biệt là cách phân tích diễn biến thay đổi từng giai đoạn tiến lên
sản xuất lớn của mạng lưới các điểm dân cư nông thôn và sự xuất hiện các đô thị nông nghiệp, trên địa bàn nông thôn
Mô hình giải quyết quy hoạch xây dựng cụ thể của đoàn chuyên gia CHDC Đức, nhằm đáp ứng các yêu cầu bức
bách trước mắt (đặc biệt là vấn đề nhà ở cho việc hồi cư) trên cơ sở xác định hợp lý một khu dân cư của đô thị,
không chờ một quy hoạch chung hoàn chỉnh như phương pháp của các chuyên gia Liên Xô Đồng thời chuyên
gia Đức còn giúp đỡ tỉnh Nghệ An xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành xây dựng ngay tại chỗ như nhà
máy xi măng, nhà máy gạch, nhà máy sản xuất tấm bê tông Polygôn, nhà máy nước
Mô hình bảo vệ môi trường lâu bền trong quy hoạch phát triển khai thác du lịch, bảo tồn sinh thái, bảo vệ môi
trường cảnh quan vùng Hạ Long, hài hòa với việc phát triển các ngành kinh tế (công nghiệp, nông lâm nghiệp,
nuôi trồng chế biến hải sản, phát triển cảng biển, khai thác vật liệu xây dựng…) của đoàn chuyên gia Hungari
Giờ đây theo năm tháng, những dấu tích của chiến tranh tuy đã lùi dần, hầu hết các lớp cán bộ ở thời kỳ đó của
Viện đã rời cương vị công tác và nghỉ hưu Nhưng đây vẫn là giai đoạn lịch sử khó quên của Viện với những con
người tận tụy, lạc quan vì tương lai của dân tộc nói chung và sự nghiệp phát triển đô thị - nông thôn nước ta nói
riêng Trong chặng đường gian khổ nhưng rất đỗi tự hào đó của Viện có cả những người đã hy sinh xương máu
và ngã xuống khi làm nhiệm vụ quy hoạch của mình
Trang 223.1 Quá triển phát triển
Đất nước thống nhất đã đặt nền móng cho công cuộc xây dựng
CNXH trên phạm vi cả nước Tuy nhiên, Cách mạng nước ta lại phải
trải qua những thử thách mới trước những diễn biến chính trị phức tạp
của thế giới, cùng những khó khăn trong kinh tế - xã hội do sự khác
biệt giữa hai miền Nam - Bắc
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV ngành Xây dựng
đã nhanh chóng tổ chức, tập hợp sắp xếp và điều tiết lại lực
lượng xây dựng trong cả nước, hình thành bộ máy quản lý và các
tổ chức xây dựng ở phía Nam, tăng cường năng lực các tổ chức
xây dựng ở phía Bắc để thực hiện nhiệm vụ khôi phục nền kinh
tế - xã hội, đồng thời tập trung thi công các công trình trọng điểm
của Nhà nước Để bắt tay vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội trên phạm vi cả nước, chúng ta đứng trước hai hệ thống đô
thị hoàn toàn khác nhau ở hai miền:
Đô thị miền Bắc đã qua một thời công nghiệp hóa xã hội chủ
nghĩa, nhưng bị tàn phá nặng nề, đặc biệt là cơ sở sản xuất và
kết cấu hạ tầng kỹ thuật Nông thôn được tăng cường phục vụ,
hợp tác hóa và tạo những tiền đề cần thiết để tiến lên sản xuất
lớn, chuyên môn hóa
Đô thị miền Nam hình thành và phát triển theo yêu cầu của quân sự song song với việc bố phòng mạng lưới căn cứ chiến đấu và dịch vụ quân đội viễn chinh Hệ thống dân cư nông thôn bị xáo trộn, bị dồn cưỡng bức vào hệ thống “ấp chiến lược”, “vành đai trắng” Chính quyền ngụy cũng cho hình thành các xí nghiệp công nghiệp, nhưng hầu hết là công nghiệp tiêu dùng tại chỗ, được tập trung dồn về Sài Gòn và Biên Hòa Hệ thống công trình lợi ích công cộng cơ bản như nhà trẻ, mẫu giáo, trường học, bệnh viện, công viên vui chơi giải trí bị thiếu nghiêm trọng Giữa giàu và nghèo có 1 hố ngăn cách rất xa
Công tác quy hoạch, kiến trúc
Đất nước thống nhất mở ra nhiều cơ hội cho công tác quy hoạch Việc giải quyết địa điểm về chỗ ở, nơi làm việc, học tập… đã trở thành vô cùng cấp bách cho nhân dân, cán bộ công nhân viên, cơ quan, trường học, xí nghiệp nhà máy từ nơi sơ tán kéo về thành phố Tuy đã có sự chuẩn bị từ trước “Quy hoạch đón thời cơ” nhưng lúc này cũng có nhiều lúng túng không đáp ứng được kịp thời mà mỗi nơi đều tùy thuộc vào tình hình cụ thể trước mắt để giải quyết và điều chỉnh dần Đồng chí Vương Quốc Mỹ, KTS, nguyên thứ trưởng Bộ Kiến trúc, là người đầu tiên đã đặt nền móng đưa công tác quy hoạch như là một ngành quan trọng tạo nên bộ mặt của đất nước tại khu vực đô thị Mặc dù có những khó khăn rất lớn sau chiến tranh nhưng công tác Quy hoạch xây dựng, thiết kế kiến trúc đã có những chuyển biến tích cực, phù hợp với tình hình mới là chuẩn bị cho công tác tái thiết các đô thị ở miền Bắc sau bom đạn tàn phá, chuyển hóa cấu trúc các đô thị miền Nam - cấu trúc đô thị phục vụ quân sự - sang cấu trúc đô thị phát triển kinh tế XHCN.Thời kỳ căng thẳng ở biên giới phía Bắc, đồng chí Đồng Sĩ Nguyên, Trung tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Kiến trúc (1977 - 1982) đã trực tiếp chỉ đạo công tác quy hoạch nhất là đưa các yếu tố quốc phòng, an ninh vào các đồ án quy hoạch
Phương châm quy hoạch đô thị thời kỳ này là: Nâng tầm nhận thức đổi mới và phát triển theo sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Định hướng đô thị hóa mang tính chiến lược cho cả nước trong tình hình hòa bình với một nền kinh tế què quặt và những vết thương chiến tranh chồng chất nặng nề
III THỜI KỲ 1976 - 1985
Trang 23Phần I:
2- Phòng tổng hợp kế hoạch tài vụw
3- Phòng quản lý kĩ thuật
b) Các phòng, xưởng nghiên cứu và thiết kế quy hoạch đô thị nông thôn:
1- Phòng nghiên cứu Quy hoạch đô thị và cây xanh môi trường
2- Phòng nghiên cứu quy hoạch nông thôn
3- Ba xưởng thiết kế quy hoạch đô thị
4- Xưởng in, mô hình và khảo sát đo đạc
Giai đoạn này, Viện có trách nhiệm xây dựng định hướng phát triển đô thị và chiến lược phát
triển đô thị cho cả nước, trong thời kỳ hậu chiến với các nhiệm vụ cụ thể:
1) Nghiên cứu đề xuất phương châm, chính sách xây dựng đô thị nông thôn, phát triển mạng
lưới đô thị và xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa trong phạm vi cả nước, trên từng vùng
lãnh thổ tỉnh, thành phố hay liên tỉnh, trên địa bàn huyện và các khu kinh tế mới Nghiên cứu
ứng dụng và phát triển khoa học kỹ thuật kiến trúc xã hội chủ nghĩa Việt Nam có tính hiện đại
và tính dân tộc trong lĩnh vực quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn; biên soạn các quy trình,
quy phạm, tiêu chuẩn, chỉ dẫn thiết kế về quy hoạch xây dựng đô thị nông thôn
- Nghiên cứu đề xuất yêu cầu đầu tư xây dựng đô thị, nông thôn và yêu cầu về khảo sát thiết
kế, quy hoạch theo từng kế hoạch phát triển kinh tế nước nhà
2) Hướng dẫn các Ty (nay là Sở) thuộc ngành, các Viện thiết kế của địa phương về nhiệm vụ
làm Quy hoạch, về quản lý xây dựng theo Quy hoạch và chính sách các tiêu chuẩn, quy phạm
của nhà nước - Giúp ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong việc lựa chọn địa điểm xây
dựng những công trình quan trọng
- Giúp Bộ thẩm tra các Hồ sơ thiết kế quy hoạch và địa điểm xây dựng để Bộ duyệt hoặc trình
Nhà nước phê duyệt
- Tổ chức phổ biến ứng dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật, những kinh nghiệm trong nước
và trên thế giới về lĩnh vực quy hoạch xây dựng đô thị nông thôn
3) Trực tiếp lập nhiệm vụ thiết kế và thiết kế quy hoạch xây dựng một số vùng công nông
nghiệp, một số Khu, cụm công nghiệp, một số thành phố và khu dân dụng đặc biệt mà Bộ giao
4) Tham gia với các trường đại học, trung học của Bộ về nội dung chương trình và trong công tác
giảng dạy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học kĩ thuật về quy hoạch xây dựng đô thị nông thôn
Viện Thiết Kế Quy Hoạch Thành phố và nông thônBộ Kiến trúc
Phó Viện Trưởng
Từ 1975-1977Viện xây dựng đô thị, nông thôn,
Bộ Xây dựng
Viện Trưởng
Từ 1978 đến 1979Viện Quy hoạch Xây dựng Đô thị - Nông thôn, Bộ Xây dựng
Viện trưởng
Từ 1979 đến 1982Viện Quy hoạch Xây dựng Tổng hợp thuộc Ủy ban XDCBNN
Viện trưởng
Từ 1982 đến 1986Viện Quy hoạch Tổng hợp thuộc Bộ Xây dựng
kS Phạm trí minh
Viện trưởng Từ 1979 đến 1982
Viện Quy hoạch Đô thị - Nông thôn, BXD
Phó Viện trưởng Từ 1978 đến 1979
Viện Quy hoạch Xây dựng Đô thị Nông thôn, BXD
Trang 24PtS nguyễn lân
Phó Viện trưởng
Từ 1979 đến 1982Viện QHXD Tổng hợp thuộc Ủy ban XDCBNN
ktS nguyễn ngọc khôi
Phó Viện trưởng
Từ 1979 đến 1982Viện Quy hoạch xây dựng đô thị - nông thôn,BXD
Phó Viện trưởng
Từ 1982 đến 1986Viện Quy hoạch tổng hợp ,BXD
PtS tô thị minh thông
Phó Viện trưởng
Từ 1979 đến 1982Viện Quy hoạch xây dựng đô thị - nông thôn,BXD
Năm 1979 Tách thành hai viện là:
- Viện Quy hoạch xây dựng tổng hợp (thuộc UBXDCBNN)
- Viện Quy họach đô thị và nông thôn (Thuộc Bộ xây dựng)
- Viện Quy hoạch xây dựng tổng hợp thuộc Ủy ban xây dựng cơ bản nhà nước
ktS Đàm trung Phường làm Viện trưởng,
kS nguyễn tố, PtS nguyễn lân, PtS lữ triều thành làm Phó Viện trưởng
- Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn thuộc Bộ Xây dựng
kS Phạm trí minh làmViện trưởng,
ktS nguyễn ngọc khôi và PtS tô thị minh thông làm Phó Viện trưởng
Năm 1982 thành lập Viện Quy hoạch tổng hợp.
Ở thời điểm này, với tư cách là viện đầu ngành trong lĩnh vực quy hoạch đô thị, nông
thôn Viện tham gia nghiên cứu quy hoạch nhiều đô thị ở miền Bắc dưới sự hỗ trợ
của các chuyên gia nước ngoài trong khối XHCN; nghiên cứu mô hình sản xuất lớn
tác động vào khu vực nông thôn, nghiên cứu mô hình cấp huyện như một đơn vị kinh
tế và là một “Pháo đài” chống sự xâm lăng từ phương Bắc
Bộ máy tổ chức Viện gồm:
tố, PtS tô thị minh thông và PtS nguyễn văn than
- Tổng số CBCNV là khoảng 300 người với 01 người có học hàm giáo sư (GS) và 09
người có học vị PTS Viện có 09 xưởng thiết kế và nghiên cứu khoa học
- Thời kỳ này viện có một xưởng thiết kế tại Thành phố Hồ Chí Minh
kS Phạm trí minh sang làm cục trưởng cục nhà và đất
Trong giai đoạn này Viện Quy hoạch tổng hợp được nhà nước tặng thưởng huân
chương Lao động hạng Ba (1982) KTS Đàm Trung Phường được phong giáo sư
vào năm 1985
Sau khi Ủy ban xây dựng cơ bản nhà nước (UBXDCBNN) được thành lập, trên
cơ sở tách 1 phần từ Bộ Xây dựng Viện Quy hoạch xây dựng đô thị - nông thôn
được phân chia nhân sự làm hai Viện: Viện Quy hoạch xây dựng tổng hợp thuộc
UBXDCBNN và Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn thuộc Bộ Xây dựng
Năm 1982 do yêu cầu thống nhất công tác quy hoạch, hai Viện lại được nhập
lại theo quyết định số 35/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng thành Viện Quy hoạch
tổng hợp.
Trang 25Phần I:
Điều chỉnh cục bộ QHC Hà Nội năm 1981 do chuyên gia
Viện Leningrad - Liên Xô giúp thực hiện năm 1981
các cơ sở công nghiệp và hạ tầng đô thị bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh Miền Nam, các đô thị chủ yếu là đô thị phi sản xuất, do hậu quả của chiến tranh để lại Nhưng từ những năm 1980 trở đi, hệ thống đô thị toàn quốc đã dần hình thành, với các đô thị cấp quốc gia như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh; các đô thị trung tâm vùng và mạng lưới các thị trấn huyện lỵ
Đây là giai đoạn hoàn thiện các lý luận quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn XHCN Lúc này, Viện đảm đương gần như toàn bộ công tác thiết kế từ quy hoạch chung đô thị, đến quy hoạch chi tiết và quy hoạch điểm dân
cư nông thôn trên toàn quốc Số lượng các đồ án quy hoạch được Viện lập trong giai đoạn này cũng rất lớn như: QH vùng Điện Biên Phủ và QHC bảo tồn tôn tạo khu di tích lịch sử Điện Biên Phủ (kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ), QH vùng tỉnh Lâm Đồng đã đưa ra định hướng phân bố dân cư đô thị cho vùng cao nguyên lâm viên giầu có với 02 đô thị Trung tâm là Đà Lạt và Lâm Đồng QHC thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, thị xã Hòa Bình, thị xã Yên Bái, thị xã Việt Yên, thị xã Việt Trì; khu
du lịch Tam Thanh, thị xã Lạng Sơn
Viện đóng góp tích cực quản lý Nhà nước, sau năm 1975 Viện tham gia Đoàn nghiên cứu khảo sát liên bộ (Bộ Xây dựng, Ủy ban kế hoạch nhà nước, Bộ Quốc phòng, Tổng cục dầu khí) xác định địa điểm Khu liên hợp lọc hóa dầu, tìm hiểu về dây chuyền sản xuất và những yêu cầu cần và đủ cho một địa điểm xây dựng khu liên hợp lọc hóa dầu
Khi thủy điện sông Đà hoàn thành Viện lập QHC thị xã Hòa Bình với một hướng đi thích hợp, tận dụng tối đa cơ sở vật chất phục vụ xây dựng Thủy Điện sông Đà còn lại sang phục vụ cho việc phát triển kinh tế tỉnh Hòa Bình và vùng phụ cận; các khu ở chuyên gia trở thành khu nghỉ dưỡng phục vụ khách đến thăm quan nhà máy Thủy điện và lòng hồ sông Đà
Ngoài việc thực hiện đồ án quy hoạch các loại, Viện đã sưu tập và hệ thống hóa các tiêu chuẩn thiết kế quy hoạch đô thị và các thiết kế điển hình khu ở, đưa công tác quy hoạch vào nền nếp theo một quy trình chặt chẽ Công tác quy hoạch xây dựng nông thôn cũng được đặc biệt chú
ý Nhiều quy hoạch vùng huyện được lập trong phạm vi cả nước Quy hoạch cấp cơ sở ở nông thôn và cấp xã cũng được triển khai trên cơ sở các nghiên cứu định hình khu trung tâm xã và các công trình hạ tầng xã hội và kỹ thuật kèm theo
Trang 264.1 Quá trình phát triển
Năm 1986, Đại hội Đảng VI với chính sách đổi mới “xóa bỏ bao cấp” đặt nền móng cho sự ra đời của nền kinh tế thị trường, tạo điều kiện hội nhập với các nước trên thế giới, mở rộng cơ chế thị trường cho nhiều thành phần kinh tế cùng hoạt động theo định hướng XHCN Ngành Xây dựng dưới sự chỉ đạo của Bộ trưởng Phan Ngọc Tường (1982 - 1989), Bộ trưởng Ngô Xuân Lộc (1989 - 1997) nhận thức đúng đắn vai trò của đô thị, nông thôn trong thời kỳ đổi mới, vừa là động lực phát triển kinh tế xã hội, vừa là hạt nhân thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Ngành Xây dựng đã tạo được bước chuyển biến quan trọng về quan điểm, về nhận thức đối với các cấp các ngành trong việc đổi mới nội dung quản lý xây dựng và phát triển đô thị nông thôn Từ việc thiết kế quy hoạch, thiết kế nhà ở… để Nhà nước đầu tư, thực hiện, chuyển sang cơ chế mới là quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch các khu nhà ở để Nhà nước và nhân dân cùng làm, cùng đầu tư thực hiện Đến thập kỷ 90, hàng triệu mét vuông nhà ở đã được xây dựng lại, xây dựng mới, bộ mặt đô thị, cơ sở hạ tầng đô thị đã có sự chuyển biến đời sống nhân dân được cải thiện một bước
Trong lĩnh vực quy hoạch đô thị
Bước vào thời kỳ Đổi Mới, công tác nghiên cứu thiết kế quy hoạch chịu tác động lớn từ những đường lối chính sách mới của Đảng và Nhà nước Cùng với tiến trình Đổi Mới, công cuộc tái thiết hệ thống đô thị, nông thôn trên địa bàn cả nước trở lên sôi động hơn lúc nào hết Các đô thị ngày càng đóng vai trò là đô thị động lực kinh tế của các vùng miền và cả nước Các đô thị lớn như Thủ đô Hà Nội, Thành phố HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng… cũng như các đô thị trung bình, vừa và nhỏ như Hồng Gai, Thái Nguyên, Nam Định, Vinh, Đồng Hới, Huế, Nha Trang, Quy Nhơn, Cần Thơ, Vũng Tàu… đã phát triển và mở rộng nhanh chóng
Nhiều hiện tượng mới tác động vào đô thị đòi hỏi công tác quy hoạch phải được nghiên cứu đổi mới, để có giải pháp thỏa đáng, thiết thực và khả thi Tình trạng bùng nổ dân số ở các đô thị làm cho thiếu nhà ở, “phố hóa” các tiểu khu nhà ở, sửa mặt tiền, mở cửa hàng khắp nơi, ách tắc giao thông, phát triển thị trường buôn bán bất động sản… Hình thành mới nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất đón các dự án đầu tư của nước ngoài, đã dồn dập đòi hỏi nhà quy hoạch đô thị phải tìm giải pháp giải quyết
IV THỜI KỲ 1986 - 1995
Đại hội Đảng VI với chính sách đổi mới “xóa bỏ bao cấp” đặt nền móng cho sự ra đời của nền kinh tế thị trường
Trang 27Phần I:
Bộ máy điều hành của Viện gồm:
PtS tô thị minh thông, PtS nguyễn văn than
và PtS lê hồng kế
Tổng số CBCNV của Viện là 249, trong số đó có 04 người
có học vị PTS
Lúc này, Viện từng bước điều chỉnh hướng đi cho phù hợp
với tình hình mới Do còn nhiều khó khăn khách quan, nên
mặc dù Viện đã cố gắng mở rộng quan hệ quốc tế, đẩy
mạnh nghiên cứu khoa học, nhưng vẫn bị ảnh hưởng từ
những cơ chế, chính sách cũ
Bởi vậy, ở thời kì đầu đổi mới, tổ chức của Viện đã có
sự thay đổi Một bộ phận quy hoạch trực thuộc Viện ở
miền Nam được hình thành để đảm đương những công
việc phía Nam Năm 1988 Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã ban
hành quyết định thành lập Trung tâm Phát triển nông thôn
trực thuộc Bộ Xây dựng trên cơ sở phòng nông thôn của
Viện Từ năm 1989 đến năm 1992, Trung tâm Phát triển
nông thôn đã thực hiện dự án VIE/86/020 “Trợ giúp quy
hoạch và phát triển điểm dân cư nông thôn” cho chương
trình phát triển Liên hiệp quốc tài trợ
Trong 2 năm 1997 và 1998 Bộ xây dựng giao cho Trung
tâm Phát triển nông thôn chủ trì thực hiện dự án Nghiên cứu
Chiến lược quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn
đến năm 2020 do Chính phủ Vương quốc Đan Mạch tài trợ
Viện lúc này đã ý thức và nhìn nhận rằng: nội dung cải tiến,
đổi mới chủ yếu là phải dựa trên việc coi các đồ án quy
hoạch là công cụ sắc bén và quan trọng, nhằm giúp Nhà
nước quản lý đô thị, khai thác có hiệu quả quỹ đất, không
gian cảnh quan kiến trúc và kết cấu hạ tầng đô thị Đây là
mục tiêu quan trọng để tăng trưởng kinh tế đất nước
Viện Quy hoạch tổng hợp, Bộ Xây dựng
Viện trưởng
Từ 1990 đến 1996Viện Quy hoạch đô thị - nông thônBộ Xây dựng
PtS tô thị minh thông
Phó Viện trưởng
Từ 1982 đến 1990Viện Quy hoạch tổng hợp, BXD
Phó Viện trưởng
Từ 1990 đến 1995Viện Quy hoạch ĐT - NT, BXD
PtS nguyễn văn than
Phó Viện trưởng
Từ 1985 đến 1998Viện Quy hoạch đô thị - nông thôn
Bộ Xây dựng
PgS tS lê hồng kế
Phó Viện trưởng
Từ 1986 đến 1996Viện Quy hoạch đô thị - nông thôn
Bộ Xây dựng
kS ngô Đình trí
Phó Viện trưởng
Từ 1982 đến 1990Viện Quy hoạch tổng hợp, BXD
Phó Viện trưởng
Từ 1990 đến 1995Viện Quy hoạch ĐT - NT, BXD
Trang 28Với đội ngũ cán bộ ngày càng được trẻ hóa, việc ứng dụng công
nghệ tin học trong nghiên cứu quy hoạch và quản lý đô thị hóa đã
được triển khai mạnh mẽ và đều được thực hiện trên máy vi tính
với các phần mềm thích hợp Viện đã thực hiện dự án đầu tư chiều
sâu để nâng cao năng lực về công nghệ, thiết bị, con người… một
cách toàn diện và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về quy hoạch
và quản lý đô thị
Bằng những đóng góp của mình, các quỹ vật chất của Viện ngày
càng được nâng cao, đời sống cán bộ công nhân viên ngày càng
được cải thiện rõ rệt Công việc của Viện được đổi mới toàn diện
về con người, về điều hành, về đầu tư chiều sâu… Viện đã thực
sự chuyển sang một giai đoạn mới, phục vụ ngày càng tốt hơn
nhiệm vụ của Bộ và Nhà nước giao phó
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Uỷ ban Xây dựng cơ
bản Nhà nước được sáp nhập vào Bộ Xây dựng theo Quyết
định số 66/NQ-HĐNN ngày 24/3/1988 của Hội đồng Nhà nước
Đầu những năm 90, tình hình kinh tế nước phát triển mạnh, xu
thế hội nhập, hợp tác quốc tế mở rộng trên mọi lĩnh vực Một số
trào lưu văn hóa ồ ạt và có ảnh hưởng tới văn hóa trong nước như
Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc… Nền Quy hoạch và kiến
trúc nước nhà cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng này Bên
cạnh đó, mạng Internet phát triển, khoa học công nghệ cũng đã
Năm 1990, đổi tên thành Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn
Ngày 05/10/1993 Bộ Xây dựng ra quyết định số 212/BXD-TCLĐ
thành lập Trung tâm Nghiên cứu và quy hoạch môi trường đô
thị - nông thôn trực thuộc Viện Quy hoạch đô thị - nông thôn, Bộ
Xây dựng
Năm 1994, thành lập Trung tâm Phát triển nông thôn miền Trung
(1994 -5/1996) trực thuộc Viện Quy hoạch đô thị - nông thôn
Năm 1996, đổi tên thành Trung tâm Quy hoạch đô thị - nông
thôn miền Trung (6/1996 - 3/2008) trực thuộc Viện Quy hoạch
đô thị - nông thôn Trung tâm là một đơn vị sự nghiệp khoa học,
có tư cách pháp nhân, được mở tài khoản tại ngân hàng và được
sử dụng con dấu theo mẫu quy định để giao dịch thực hiện các
nhiệm vụ được giao Trụ sở đóng tại thành phố Đà Nẵng
Với năng lực về trang thiết bị cũng như nhân sự, trong những
năm qua Trung tâm Quy hoạch đô thị - nông thôn miền Trung
đã luôn phát huy vai trò của viện đầu ngành trên địa bàn miền
Trung Trung tâm đã thiết kế quy hoạch, lập dự án, khảo sát địa
hình, địa chất, thuỷ văn, thiết kế kỹ thuật thi công các công trình cũng như tham gia các dự án của Ngân hàng Thế giới với chất lượng hồ sơ đạt yêu cầu theo đúng quy định của Nhà nước và chủ đầu tư Nhiều công trình đã đi vào thực tiễn mang lại hiệu quả cao
Trong giai đoạn này Viện được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì (1986)
4.2 Một số thành tựu tiêu biểu
Trong quản lý Nhà nước dưới sự chỉ đạo của Bộ Xây dựng, Viện đã tham gia tích cực trong việc biên soạn các văn bản pháp quy về xây dựng đô thị nhà ở, đổi mới nội dung công tác quy hoạch đô thị - nông thôn, quản lý xây dựng theo quy hoạch Thời kỳ này hầu hết các đô thị từ tỉnh lị trở lên đã được điều chỉnh lại quy hoạch Việc đầu tư xây dựng ở các đô thị tăng nhanh, trật tự, kỷ cương được lập lại Bộ mặt kiến trúc đô thị, đường phố đô thị, vệ sinh môi trường đô thị được khang trang, sạch đẹp hơn Nhà ở, nước uống và các dịch vụ ở các đô thị được cải thiện, nâng cấp một bước mới
Viện đã tham gia nghiên cứu các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố HCM, Đà Nẵng, Cần Thơ; các đô thị vừa và nhỏ như Hồng Gai, Thái Nguyên, Nam Định, Vinh, Đồng Hới, Huế, Nha Trang, Quy Nhơn, Cần Thơ, Vũng Tàu… Đặc biệt Thủ đô Hà Nội được nghiên cứu với ý tưởng phát triển không gian đô thị sang phía Bắc, đưa trục cảnh quan sông Hồng vào trong cấu trúc đô thị… Các giải pháp kết nội hạ tầng sang sông Hồng cũng được đề cập Thiết kế xây dựng các khu chức năng quan trọng, như: khu trung tâm chính trị Ba Đình, quy hoạch chi tiết khu phố cổ, Hồ Gươm (Hà Nội), quy hoạch định hướng phát triển các khu công nghiệp tập trung toàn quốc và 3 địa bàn kinh tế trọng điểm, luận chứng địa điểm và quy hoạch khu công nghiệp lọc dầu số một tại Dung Quất (Quảng Ngãi), quy hoạch xây dựng các khu công nghiệp tập trung Cái Lân (Quảng Ninh), Hòa Khánh (Đà Nẵng), Chân Mây (Thừa Thiên - Huế), Mỹ Xuân (Bà Rịa - Vũng Tàu), Vũng Áng (Hà Tĩnh), Việt Trì (Vĩnh Phú), Xuân Mai - Hòa Lạc (Hà Tây)…, Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội được phê duyệt năm 1992
QH chùm đô thị Hà Nội (1995) giải quyết vấn đề định hướng phát triển Hà Nội và các đô thị trong vùng thuộc Hưng Yên, Phủ Lý, Bắc Ninh, Sơn Tây, Hà Đông, Hải Dương, Phả Lại - Chí Linh, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên… đồ án đã đóng góp vào định hướng phát triển thủ đô cùng các thành phố, thị xã trong vùng; giải quyết các địa điểm quan trọng như: Khu công nghệ cao Hòa Lạc, đại học Quốc gia, làng văn hóa các dân tộc Việt Nam (Hà Tây cũ); các khu công nghiệp Như Quỳnh, Phố Nối (Hưng Yên); Đồng Văn (Hà Nam) Phổ Yên (Thái Nguyên); Khai Quang, Kim Hoa (Vĩnh Phúc) Đồ án cũng định hướng hình thành hệ thống giao thông được kết nối bởi các đường vành đai và các trục hướng tâm
Năm 1990, Viện Quy hoạch Tổng hợp đổi tên thành Viện
Quy hoạch Đô thị và Nông thôn theo Quyết định của Bộ
trưởng Bộ Xây dựng số 174/BXD-TCLĐ.
Trang 29Phần I:
Bộ trưởng Ngô Xuân Lộc chỉ đạo triển khai quy hoạch
khu lọc-hoá dầu Dung Quất
Tổng bí thư Đỗ Mười chỉ đạo quy hoạch khu vực trung tâm Hà NộiTổng bí thư Đỗ Mười chỉ đạo QHXD Hà Nội
Phó Thủ tướng - Bộ trưởng Bộ Xây dựng Ngô Xuân Lộc đi thực
địa & chỉ đạo công tác quy hoạch xây dựng của Viện tại các
tỉnh phía Nam
Thủ tướng Võ Văn Kiệt thực địa khảo sát quy hoạch
khu lọc hóa dầu ven biển miền Trung Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Phó Thủ tướng Trần Đức Lương nghe Viện báo cáo quy hoạch thành phố Việt trì và thị xã Vĩnh Yên
Trang 30Viện trưởng Nguyễn Ngọc Khôi báo cáo QHC thủ đô Hà Nội với UBND TP Hà Nội Đoàn công tác của Viện
đi thực điạ tại Quảng Ninh
QHC Hà nội năm 1992 (QĐ: 132/H§BT 18/4/1992) QH tổng thể Hà Nội năm 1992
Trang 31Phần I:
Quy hoạch Vùng thủ đô Hà Nội (1995)
Viện trưởng Nguyễn Ngọc Khôi đi khảo sát lập quy hoạch tại thị xã Vĩnh Yên
Song song với công tác quy hoạch đô thị, nhiều xã đã có quy hoạch tổng thể và cơ sở hạ tầng cùng hàng trăm dự án xây dựng đường sá, trường học, chợ… ở nông thôn đã được nghiên cứu và triển khai, góp phần từng bước đổi mới bộ mặt nông thôn nước ta
Công tác khảo sát địa hình và địa chất phục vụ quy hoạch
do Viện thực hiện đã đáp ứng kịp thời cho công tác nghiên cứu thiết kế quy hoạch
Tham gia nhiều chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp ngành như chương trình về đô thị hóa, chiến lược phát triển đô thị, phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, động thái dân số đô thị, xã hội học đô thị, giao thông đô thị… Kết quả nghiên cứu đều được Hội đồng nghiệm thu cấp Nhà nước đánh giá khá và xuất sắc Trong năm
1994 - 1995, đề tài “Chiến lược phát triển đô thị quốc gia”
do Thứ trưởng Phạm Sỹ Liêm chỉ đạo, Viện thực hiện và được đánh giá như một đề tài nghiên cứu khoa học đầu tiên, góp phần thực hiện công tác quản lý Nhà nước về Quy hoạch đô thị và nông thôn trên phạm vi cả nước
Trang 32Xây dựng và mở rộng quan hệ hợp tác hợp tác quốc tế, được các tổ
chức quốc tế lớn tài trợ như: UNDP, UNFPA, UNCDF, ADB, CIDA,
DANIDA…
Dự án VIE/86/020 đã tạo dựng được phương pháp mới quy hoạch cơ sở
hạ tầng nông thôn, lập các dự án và thực thi các công trình cơ sở hạ tầng
đường xá, trường học, chợ tại 8 xã thí điểm ở các tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Nội và
Nam Hà mở 3 lớp tập huấn đào tạo cán bộ quy hoạch phát triển nông thôn
cho 7 tỉnh (khoảng 150 cán bộ cấp Sở làm công tác quy hoạch phát triển
nông thôn) Dự án nghiên cứu Chiến lược Quốc gia cấp nước và vệ sinh
nông thôn: Các chuyên gia Việt Nam và các Chuyên gia tư vấn quốc tế đã
tiến hành khảo sát đánh giá thực trạng cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn
69 tỉnh đại diện cho 8 vùng, nghiên cứu soạn thảo chiến lược, trao đổi ý
kiến trực tiếp với các Bộ, Ngành và tổ chức nhiều cuộc Hội thảo cấp cơ sở,
cấp tỉnh, cấp vùng và Hội thảo quốc tế để xin ý kiến Dựa vào các kết quả
nghiên cứu trên Bộ Xây dựng đã biên soạn chiến lược Quốc gia cấp nước
và vệ sinh nông thôn đến năm 2020 Liên Bộ - Bộ Xây dựng và Bộ Nông
nghiệp và phát triển nông thôn đã trình Thủ tướng Chính phủ Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành Quyết định số 104/QĐ-TTg ngày 25/8/2000 phê
duyệt chiến lược quốc gia cấp nước và vệ sinh nông thôn đến năm 2020
Với sự tài trợ của DANIDA dự án đã xây dựng thí điểm công trình cấp
nước sạch tập trung ở xã Cẩm Nhượng huyện Cẩm Xuyên công suất
2000m3/ngày đêm và công trình cấp nước sạch tập trung ở thị trấn Cẩm
Xuyên huyện Cẩm Xuyên công suất 3000m3/ngày đêm Thí điểm hình
thành quỹ tín dụng quanh vùng cho các hộ dân vay vốn tín dụng theo
hình thức trả góp để dẫn nhánh nước và lắp đồng hồ vào từng hộ gia
đình (Quỹ tín dụng này được giao cho Hội phụ nữ huyện Cẩm Xuyên
vận hành) Tham gia công tác giảng dạy và đào tạo tại các trường Đại
học Bách khoa, Đại học Kiến trúc, Đại học Xây dựng và Đại học Quốc
gia Hà Nội; hướng dẫn nghiên cứu sinh, thạc sĩ, sinh viên và chấm thi
tốt nghiệp tại các trường Tiếp nhận một bộ phận lớn sinh viên từ các
khoa Kiến trúc và khoa Quy hoạch của các trường đến thực tập và làm
đồ án tốt nghiệp Trong thời gian này Viện đã tổ chức 12 khóa đào tạo:
chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao trình độ cho trên 350 lượt cán bộ làm
công tác quản lý nghiên cứu quy hoạch, môi trường đô thị của các địa
phương trong cả nước
Mặt khác, Viện cũng đã đặt quan hệ hợp tác với một số trường Đại học lớn
trên thế giới để hợp tác, trao đổi trong lĩnh vực nghiên cứu và quy hoạch
phát triển đô thị ở Úc, Mỹ, Pháp, AIT (Thái Lan), Hà Lan Thời kỳ này đã có
17 cán bộ được cử đi đào tạo thạc sĩ và sau đại học ở các nước Thái Lan,
Hà Lan, Đức, Mỹ, Úc… 50 lượt cán bộ đi tham quan khảo sát ở hầu hết các
nước Đông Nam Á, 45 lượt cán bộ đi dự các hội nghị, hội thảo quốc tế lớn
như Hội nghị Thượng đỉnh về Habitat ở New York và Thổ Nhĩ Kỳ
Cùng với công tác nghiên cứu quy hoạch, Viện đã phát động tất cả cán bộ
hăng hái tham gia các cuộc thi và đạt được các giải thưởng lớn của quốc
gia và quốc tế, như: Quy hoạch làng nổi Tháp Mười (tại Pháp), quy hoạch
khu ở tương lai MINCK (Liên Xô cũ), làng hoa (Bungari), làng văn hóa các
dân tộc Việt Nam (Bộ Văn hóa và Thông tin)…
Trang 33Trong lĩnh vực quy hoạch xây dựng
Viện quy hoạch đô thị nông thôn đến thời kỳ này đã có sự lớn mạnh không ngừng, tập thể CBVC của Viện đã đóng góp tích cực cho quá trình hội nhập và phục vụ tích cực sự nghiệp CNH - HĐH đất nước
Tham gia trong công tác quản lý và phát triển đô thị như: Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam, Định hướng phát triển cấp nước đô thị, Định hướng thoát nước đô thị Việt Nam đến năm 2020
Thành phố Hồ Chí Minh năm 2007 (Nguồn - Gnet)
Trang 34Trong khung cảnh chung của một tương lai đổi mới, Viện cũng được chứng kiến sự lớn mạnh không ngừng của đội ngũ các chuyên gia quy hoạch theo cả bề rộng lẫn chiều sâu về tổ chức, nhân sự, kiến thức, công nghệ, quan hệ đa ngành trong nước và quốc tế… Đội ngũ đó ngày một kiện toàn với hàng trăm chuyên gia thuộc đủ các chuyên môn có liên quan về quy hoạch kiến trúc, kinh tế, xã hội, kỹ thuật hạ tầng, môi trường sinh thái…
Một số lượng đáng kể CBVC của Viện đã được nâng cấp trình độ sau đại học và đặc biệt nguồn lực đã tăng trưởng vượt bậc nhờ ứng dụng công nghệ hiện đại, trước hết là công nghệ tin học đang hướng đến trình độ tiên tiến của thế giới, như khảo sát viễn thám (remote sensing), hệ thống thông tin địa lý chuyên ngành (GIS); sử dụng các phần mềm tin học phục vụ nghiên cứu không gian kiến trúc (Autocad, 3D), phần mềm về xử lý tổ hợp và chỉnh hợp tư liệu, phần mềm kỹ thuật hạ tầng về giao thông, cấp nước, cấp điện… Hơn nữa việc được tiếp cận hàng loạt các phương pháp quy hoạch mới cùng rất nhiều kinh nghiệm phong phú của các tổ chức tư vấn quốc tế đã đem đến trong hành trang tri thức của ngành quy hoạch xây dựng một tiềm năng phong phú hơn rất nhiều so với trước đây
Với một đội ngũ cán bộ “rất đông về số lượng, lớn mạnh trong công tác tư vấn, nhưng lại rất hạn chế trong công tác nghiên cứu khoa học” Do vậy, bên cạnh công tác chuyên môn, Viện trưởng PGS.TS Lê Hồng Kế quan tâm đặc biệt đến công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo nguồn nhân lực Từ đầu những năm 90, hàng loạt dự án với sự hỗ trợ kinh phí của nước ngoài được lập ra, hàng chục cán bộ được đào tạo lại theo các khóa ngắn hạn ở trong nước và đào tạo trên đại học Thạc sỹ, Tiến sỹ ở nước ngoài như: Thái Lan (AIT), Hà Lan, Australia, England, Scotland, Netherland, Trung Quốc, Nhật Bản theo các hợp phần của các dự án VIE.86.020; VIE.88.P02;
Đoàn cán bộ Viện tham gia đào tạo Quy hoạch phát triển nông thôn
Trang 35Phần I:
Trao đổi chuyên môn trong thiết kế QHXD
Diện mạo đô thị dần đổi mới
bộ chủ động huy động nguồn vốn cá nhân tìm kiếm, thu hút công việc từ các địa phương
Trang 36Bộ máy tổ chức của Viện:
Bộ máy tổ chức của Viện:
cử làm cố vấn cho Bộ trưởng đến năm 2000;
PtS.tS tô thị minh thông - Phó Viện trưởng nghỉ hưu nhưng vẫn tiếp tục làm cố vấn cao cấp cho Viện
Bộ máy lãnh đạo của Viện lúc này gồm:
thS Đỗ tú lan, thS nguyễn hồng tiến, PtS nguyễn văn than
tS nguyễn Sơn hải
Phó Viện trưởng
Từ 1996 đến 2005Viện Quy hoạch đô thị - nông thônBộ Xây dựng
thS nguyễn hồng tiến
Phó Viện trưởng
Từ 1999 đến 2003 Viện Quy hoạch đô thị - nông thônBộ Xây dựng
thS Đỗ tú lan
Phó Viện trưởng
Từ 1998 đến tháng 5/2003
Viện Quy hoạch
đô thị - nông thôn
Bộ Xây dựng
PtS nguyễn văn than
Phó Viện trưởng
Từ 1985 đến 1998
Viện Quy hoạch
đô thị - nông thôn
Bộ Xây dựng
PgS tS lê hồng kế
Viện trưởng
Từ 1996 đến 2000Viện Quy hoạch đô thị - Nông thôn,
Bộ Xây dựng
Tổng Bí Thư Đỗ Mười chỉ đạo về NC QHC Hà Nội năm 1996
trước khi trình Bộ Chính Trị
Hội đồng tuyển chọn tư vấn Lập Quy hoạchchung Xây dựng Thủ đô Hà Nội
mở rộng kí kết (2008)
Trang 37Vụ trưởng Vụ Kiến trúc, quy hoạch xây dựng;
thS ngô trung hải
Phó Viện trưởng
Từ 2003 đến tháng
4/2008
Viện Quy hoạch
Đô thị - Nông thôn, BXD
thS lã thị kim ngân
Phó Viện trưởng
Từ 2003 đến tháng 4/2008Viện Quy hoạch Đô thị - Nông thôn, BXD
tS nguyễn Sơn hải
Phó Viện trưởng
Từ 1996 đến 2005Viện Quy hoạch đô thị - nông thônBộ Xây dựng
thS vương anh dũng
Phó Viện trưởng
Từ 1996 đến 2005
Viện Quy hoạch
đô thị - nông thôn
Bộ Xây dựng
Trang 38trưởng Vụ Kiến trúc quy hoạch xây dựng.
nhiệm làm Phó Viện trưởng
Trung tâm Quy hoạch đô thị - nông thôn miền Nam được thành lập và đóng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2001) Phân viện Quy hoạch đô thị - nông thôn miền Nam (năm 2005) được thành lập trên cơ sở sáp nhập Xí nghiệp quy hoạch từ Công ty tư vấn Xây dựng tổng hợp (NAGECCO) và Trung tâm Quy hoạch đô thị - nông thôn miền Nam do TS Nguyễn Thiềm làm Phó Viện trưởng kiêm Giám đốc Phân viện
Như vậy là Viện đã liên tục có sự thay đổi và kế thừa trong bộ máy lãnh đạo Viện trong giai đoạn này Công tác nghiên cứu của Viện luôn ổn định và ngày càng nâng cao theo hướng chuyên nghiệp và hội nhập với quốc tế để đáp ứng những thay đổi nhanh chóng của tình hình mới Từ năm 1996 - 2000, PGS.TS Lê Hồng Kế làm Viện trưởng đã thúc đẩy cách tiếp cận quy hoạch gắn với bảo vệ môi trường
PgS tS lưu Đức hải
Viện trưởng
Từ tháng 9/2003 đến tháng 4/2008Viện Quy hoạch Đô thị Nông thôn, BXD
thS ngô trung hải
Phó Viện trưởng
Từ 2003 đến tháng
4/2008Viện Quy hoạch
Đô thị - Nông thôn, BXD
tS nguyễn thiềm
Phó Viện trưởng
Từ 2005 đến 2006
Viện Quy hoạch
Đô thị - Nông thôn, BXD
thS lã thị kim ngân
Phó Viện trưởng
Từ 2003 đến tháng 4/2008Viện Quy hoạch Đô thị - Nông thôn, BXD
kS Phạm xuân tứ
Phó Viện trưởng
Từ 2006 đến tháng 4/2008Viện Quy hoạch Đô thị - Nông thôn, BXD
Lãnh đạo Viện Quy hoạch ĐT-NT vinh dự nhận bằng khen Chính phủ năm 2006
Viện trưởng Luư Đức Hải lắng nghee chỉ đạo của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và Bộ trưởng Nguyễn Hồng Quân
Trang 39Phần I:
để đảm bảo chất lượng không gian sống tốt hơn Từ năm 2000
-2003, KTS Trần Ngọc Chính làm Viện trưởng, mở rộng tư duy này
ở bình diện không gian rộng lớn hơn trong mối liên kết vùng tỉnh,
vùng liên tỉnh Từ năm 2003-2008, PGS.TS Lưu Đức Hải làm Viện
trưởng với sự kế thừa truyền thống các thế hệ đi trước, nhưng với
mong muốn phải áp dụng công nghệ mới vào công tác lập và quản
lý phát triển đô thị Hệ thống cơ sở dữ liệu GIS được dần tiếp cận,
áp dụng Đây là giai đoạn, Viện đã đóng góp được rất nhiều cho
công tác xây dựng của ngành Bên cạnh việc quy hoạch hệ thống
đô thị, điểm dân cư nông thôn, Viện đã tham gia nhiều quy hoạch
liên quan đến quản lý nhà nước của Bộ khác, như: quy hoạch các
khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế; các vùng kinh tế trọng
điểm; quy hoạch các khu di sản văn hóa và di sản thiên nhiên; quy
hoạch các khu du lịch, TDTT, các trung tâm văn hóa; thiết kế cột
mốc biên giới quốc gia… Những đóp góp lớn lao này, đã làm thay
đổi diện mạo không gian đô thị, điểm dân cư nông thôn nhiều tỉnh,
nhiều vùng trên địa bàn cả nước
Đặc biệt trong đội ngũ lãnh đạo của Viện có đ/c Viện trưởng KTS
Trần Ngọc Chính đã được Thủ tướng bổ nhiệm vào cương vị Thứ
trưởng Bộ Xây dựng (5/2005) Có 03 đồng chí được phong hàm
PGS là: TS Tô Thị Minh Thông (1998), TS Lê Hồng Kế (2000),
TS Lưu Đức Hải (2002)
5.2 Một số thành tựu tiêu biểu
Công tác quản lý nhà nước:
Thời gian này, Viện tham gia soạn thảo các văn bản pháp quy
quan trọng như Luật Xây dựng, Nghị định về quy hoạch xây dựng,
đánh giá tác động môi trường trong quy hoạch xây dựng Từ năm
2005 đến cuối 2007, Viện tiếp tục tham gia việc soạn thảo Nghị
định 132 về phân cấp, phân loại đô thị; Nghị định hướng dẫn thi
hành Luật Xây dựng, Nghị định tham gia cải tiến nội dung quy
trình thiết kế quy hoạch đô thị và tham dự vào việc sửa đổi, dự
thảo các Quyết định, Thông tư liên quan đến công tác phát triển
đô thị Đặc biệt trong thời gian này, Viện đã tham gia tích cực vào
soạn thảo Luật Quy hoạch xây dựng
Tham gia soạn thảo các văn bản pháp quy quan trọng như Luật
Xây dựng trong đó có Chương II về Quy hoạch xây dựng Nghị
định 08/2005/NĐ-CP về quy hoạch xây dựng Thông tư 10/2000/
TT-BXD hướng dẫn đánh giá tác động môi trường trong quy ïch xây dựng Thông tư 15/2005/TT-BXD hướng dẫn lập thẩm định và xét duyệt quy hoạch xây dựng
hoa-Công tác nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế:
Viện đã thực hiện thành công dự án quốc tế VIE 86/020 (Quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn), VIE/88/P02 (Nghiên cứu dân số, lao động và đô thị hóa), VIE/94/006 (Nâng cao năng lực quản lý quy hoạch), VIE 93/034 (Quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng sông Hồng)… cùng với chuyển giao công nghệ thích hợp về giao thông nông thôn, cấp nước, xây dựng trường học, y tế cho một số xã thí điểm như Đại Áng (Thanh Trì - Hà Nội), Hy Cương (Vĩnh Phúc) và 5 dự án quy hoạch xây dựng thí điểm; dự án hạ tầng cơ sở nông thôn dựa vào cộng đồng; dự án ổn định dân cư vùng lòng hồ thủy điện sông Đà (Hòa Bình); hoàn thành chiến lược cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn do Đan Mạch tài trợ (DANIDA)… Viện đã phối hợp và triển khai nhiều dự án hợp tác như dự án IDRC 92-1303; dự án EC về quy hoạch môi trường đô thị; dự án RETA 6121 về liên kết tiểu vùng sông Mê Kông…
Thiết kế và cắm mốc cột mốc biên giơí Vịêt Nam với Campuchia, Lào và Trung Quốc , Lãnh đạo Viện và nhóm thiết kế cột mốc tại lễ khánh thành cột mốc số 171 tại Biên giới Việt Nam (2007)
Trang 40Cơ quan quy hoạch vùng Ile de France - Cộng hoà Pháp; Viện là thành viên của chương trình quản lý đô thị Châu Á và tổ chức quy hoạch thế giới.
Nghiên cứu nhà ở cho người thu nhập thấp tại Hà Nội được Hội huynh đệ Pháp Việt và tin lành Thụy Sĩ chấp nhận cho xây dựng thí điểm tại Phương Liệt, Hà Nội
Tiến hành nghiên cứu khoa học cấp Bộ, ngành và cấp quốc gia, để thúc đẩy các nghiên cứu mang tính chỉ đạo vĩ mô Viện đã thực hiện 02 chương trình NCKH cấp Nhà nước 28A và 28.01, 70 đề tài nghiên cứu khoa học (trong đó: 3 đề tài cấp Nhà nước, 16 đề tài cấp Bộ, 18 đề tài liên kết cấp Nhà nước và cấp Bộ, 33 đề tài cấp Viện) và nhiều dự án, đề tài khác, nhằm chi tiết hóa các nội dung nghiên cứu chiến lược nói trên Kết quả đã được Nhà nước phê duyệt và được ứng dụng vào công tác quy hoạch xây dựng trên phạm vi toàn quốc
Công tác Quy hoạch xây dựng:
Viện tham gia quản lý dự án và tham gia ban chỉ đạo Dự án
Quy hoạch môi trường Vùng ĐBSCL do EEC tài trợ (năm 2008)
Quy hoạch chung thành phố Hà Nội năm 1998
Lãnh đạo Viện tháp tùng Bộ trưởng Nguyễn Hồng Quân thăm và ký
kết hợp tác với Bộ Quản lý đất đai, Đô thị và Giao thông Campuchia
về xây dựng và Quy hoạch Đô thị
Lớp học nâng cao năng lực của dự án VIE/88/PO2