1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Một số đề xuất nhằm nâng cao chất lượng phục vụ của hệ thống không gian công cộng trong các khu dân cư tại khu vực nội thành hiện hữu của thành phố Hồ Chí Minh

7 34 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 774,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày thực trạng chất lượng phục vụ của hệ thống không gian công cộng trong các khu dân cư; đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phục vụ của hệ thống không gian công cộng trong các khu dân cư trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

Trang 1

CỦA HỆ THỐNG KHÔNG GIAN CÔNG CỘNG TRONG CÁC KHU DÂN CƯ TẠI KHU VỰC NỘI THÀNH HIỆN HỮU CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHỤC VỤ

LÊ VÂN ANH, NGUyEãN DƯƠNG MiNH HOAøNG * PHẠM TrẦN HAûi, VƯƠNG ĐìNH HUy ** SOME SOLUTiONS TO ENHANCE THE SErViCE QUALiTy OF PUBLiC SPACE SySTEM iN THE rESiDENTiAL ArEASOF HO CHi MiNH CiTy

Public spaces in residential areas of Ho Chi Minh city play a crucial role in theurban residents’ spiritual life The survey in 13 existing urban districts shows that: the service quality of these public spaces is at average level only; and it need appropriate solutions in term ofconstruction investment and operation management In this article, some proposed solutions aim to improve the quality of these public spaces on two aspects: construction investment (economic tools and utilization of available urban spaces) and operation management (model of Neighborhood Management Unit).

Keywords: service quality, public space in residential areas, Ho Chi Minh city.

Không gian công cộng trong các khu dân cư (KGCCKDC) đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân trong đô thị Qua khảo sát trên địa bàn 13 quận nội thành hiện hữu cho thấy: chất lượng phục vụ của các KGCCKDC hiện chỉ ở mức trung bình, đòi hỏi giải pháp về đầu tư xây dựng và quản lý sử dụng phù hợp Trong phạm vi bài viết này, một số giải pháp được đề xuất nhằm nâng cao chất lượng của các KGCCKDC trên hai khía cạnh: đầu tư xây dựng (các công cụ kinh tế kết hợp với việc tận dụng các không gian đô thị khả dụng) và quản lý sử dụng (mô hình Ban quản trị theo đơn vị khu phố).

Từ khóa: chất lượng phục vụ, không gian công cộng trong các khu dân cư, TP.HCM.

Trang 2

1 Thực trạng chất lượng phục vụ của hệ thống

không gian công cộng trong các khu dân cư trên

địa bàn TP.HCM

Trong phạm vi bài viết này, không gian công cộng trong các khu

dân cư (KGCCKDC) bao gồm các công viên, vườn hoa, sân chơi

thuộc quyền quản lý của chính quyền cấp quận/chính quyền cấp

phường hoặc thuộc quyền sở hữu của cộng đồng dân cư, có đối

tượng phục vụ là một/một vài khu dân cư với tần suất phục vụ

thường xuyên hàng ngày Chất lượng phục vụ của KGCCKDC tại

khu vực nội thành hiện hữu được đánh giá theo phương pháp và

các tiêu chí đánh giá cụ thể sau đây:

1.1 Phương pháp và Bộ tiêu chí đánh giá

Phương pháp đánh giá

Chất lượng phục vụ của các KGCCKDC được đánh giá dựa trên các

cơ sở sau: (i) Cơ sở dữ liệu được tổng hợp từ Sở Giao thông vận tải

1; (ii) Kết quả đánh giá chất lượng phục vụ của KGCCKDC từ phía

chuyên gia; (iii) Kết quả đánh giá chất lượng phục vụ KGCCKDC

của người sử dụng Trên cơ sở đó, quy trình thực hiện đánh giá gồm

các bước được trình bày tại Hình 1

Về mặt phạm vi không gian, bên cạnh việc đánh giá tổng thể khu

vực nội thành hiện hữu, bài viết này thực hiện đánh giá chất lượng

phục vụ của KGCCKDC tại 03 khu vực trong khu vực nội thành

hiện hữu của TP.HCM, bao gồm: (i) Khu vực Trung tâm, tạm gọi

là “Khu vực Sài Gòn” (các quận: 1, 3, 4); (ii) Khu vực Tây Nam,

tạm gọi là “Khu vực Chợ Lớn” (các quận: 5, 6, 8, 10, 11); (iii) Khu

vực Đông Bắc, tạm gọi là “Khu vực Gia Định” (các quận: Tân Bình,

Bình Thạnh, Phú Nhuận, Tân Phú) Việc phân nhóm 03 khu vực

dựa trên yếu tố về: (i) đặc điểm lịch sử hình thành và (ii) văn hoá

của khu vực

Bộ tiêu chí đánh giá Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng phục vụ của KGCCKDC tại khu vực nội thành hiện hữu TP.HCM (sau đây gọi tắt là Bộ tiêu chí) dựa trên các cơ sở:

n Cơ sở lý luận về chất lượng phục vụ (service quality) và chất lượng phục vụ đối với KGCCKDC;

n Cơ sở thực tiễn về các bộ tiêu chí đánh giá chất lượng phục vụ của KGCCKDC;

n Phân tích khả năng áp dụng đối với việc đánh giá các KGCCKDC trên địa bàn TP.HCM dựa trên 2 khía cạnh, bao gồm: (i) Khả năng đo lường; (ii) Sự liên quan đối với chất lượng phục vụ của KGCCKDC

Bộ tiêu chí gồm 06 tiêu chí gồm 02 nhóm như sau: 1) Nhóm tiêu chí đánh giá về lượng và 2) Nhóm tiêu chí đánh giá về chất (trình bày tại Hình 3)

1.2 Một số vấn đề liên quan đến thực trạng chất lượng phục vụ của KGCCKDC tại khu vực nội thành hiện hữu của TP.HCM

Từ kết quả đánh giá chất lượng phục vụ của các KGCCKDC trong khu vực nội thành hiện hữu của TP.HCM, một số vấn đề quan trọng cần được giải quyết như sau:

n Tỉ lệ diện tích KGCCKDC bình quân đầu người là 0,67m2/người, thấp hơn nhiều so với QCVN 01:2008/BXD (2,00m2/người) Tỉ lệ diện tích KGCCKDC bình quân đầu người (đối với người dân có thể tiếp cận KGCCKDC trong bán kính đi bộ 200m, chiếm 39,09%)

ß a n g µ n h

Hình 1 Quy trình thu thập dữ liệu và đánh giá thực trạng chất lượng

phục vụ của KGCCKDC trong khu vực

Hình 2 Bản đồ thể hiện phạm vi nghiên cứu KGCCKDC – nguồn:

nhóm tác giả.

Hình 3 Tổng quát về Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng phục vụ của KGCCKDC trong khu vực nội thành hiện hữu của TP.HCM – nguồn:

nhóm tác giả.

Trang 3

cần được ưu tiên hơn so với việc kiến tạo thêm/mở rộng diện tích

KGCCKDC hiện hữu để đảm bảo phục vụ 39,09% dân số trên theo

quy chuẩn 2,00m2/người

n 301 KGCCKDCtrong khu vực nội thành hiện hữu của TP.HCM

phân bố không đều, cụ thể như sau:

q Khu vực Sài Gòn: có 24 KGCCKDC; tỉ lệ diện tích trong bán kính

phục vụ so với tổng diện tích của khu vực Sài Gòn đạt 29,15%

q Khu vực Gia Định: có 153 KGCCKDC; tỉ lệ diện tích trong bán

kính phục vụ so với tổng diện tích của khu vực Gia Định đạt 23,68%

q Khu vực Chợ Lớn: có 124 KGCCKDC; tỉ lệ diện tích trong bán

kính phục vụ so với tổng diện tích của khu vực Gia Định đạt 39,09%

n Trên địa bàn khu vực nội thành hiện hữu, diện tích trung bình của

KGCCKDC là 0,42ha, đạt thấp so với Tiêu chuẩn thiết kế quy hoạch

cây xanh sử dụng công cộng trong đô thị được qui định tại TCVN

9257:2012; với quy mô nhỏ như vậy, nhu cầu của người dân sống và

làm việc trong bán kính phục vụ của KGCCKDC không được đảm

bảo Kết quả khảo sát cho thấy: KGCCKDC có diện tích càng lớn thì

điểm số đánh giá về chất lượng phục vụ có xu hướng càng cao; điều

này hợp lý vì đối với các KGCCKDC có diện tích lớn, việc tổ chức các

khu chức năng và việc bố trí các tiện ích phục vụ sẽ tốt hơn

n Về các tiêu chí định tính:

q Tiêu chí về mức độ an toàn và tiêu chí về mức độ vệ sinh đạt mức

kém, cần được tập trung cải thiện để nâng cao chất lượng phục vụ

của các KGCCKDC

q Các tiêu chí về mức độ tiếp cận và mức độ đa dạng công năng

(được người dân cho là quan trọng nhất trong đánh giá chất lượng

phục vụ của KGCCKDC, nhất là đối với người cao tuổi), đạt mức

trung bình, cũng cần được cải thiện

n Tỉ lệ người dân sử dụng KGCCKDC không cao (dưới 50% số dân

sống và làm việc trong khu vực xung quanh KGCCKDC), nhất là

những người trẻ tuổi; nguyên nhân được cho là: các KGCCKDC

không có sức hấp dẫn (chất lượng phục vụ chỉ ở mức trung bình)

n Do thiếu vắng các tiện ích (bóng mát, mái che,…) trong điều kiện khí

hậu nhiệt đới nóng ẩm, KGCCKDC ít được sử dụng vào ban ngày,

nhất là buổi trưa (chủ yếu được sử dụng vào sáng sớm và chiều tối)

n Người dân có xu hướng hài lòng với chất lượng phục vụ của KGCCKDC

hiện nay (các tiêu chí định tính chủ yếu đạt mức tốt), lạc quan hơn nhiều

so với các chuyên gia (các tiêu chí định tính chủ yếu đạt mức trung bình

và kém); điều này dễ dẫn đến hệ quả: người dân sẽ ít quan tâm và ít sẵn

sàng đầu tư nguồn lực cho việc kiến tạo và quản lý sử dụng KGCCKDC

trong khu vực mình sinh sống và làm việc

2 Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng

phục vụ của hệ thống không gian công cộng trong

các khu dân cư trên địa bàn TP.HCM

Các vấn đề được nêu trên chỉ mới phản ánh các biểu hiện (hay nói

cách khác, đây là nhóm các yếu tổ cấu thành) của chất lượng phục

n Công tác quy hoạch và thiết kế đô thị: có vai trò định hướng sự phát triển của hệ thống các KGCC nói chung và KGCCKDC nói riêng một cách có hệ thống, giúp hoạch định về vị trí, diện tích (tiêu chí 1) và tính mỹ quan (tiêu chí 6) của KGCCKDC trong tương lai;

n Công tác đầu tư xây dựng: có vai trò huy động và đảm bảo nguồn lực phục vụ việc kiến tạo KGCCKDC (tác động đến tiêu chí 1 - diện tích) và là tiền đề cho việc đạt được 5 tiêu chí còn lại Với nguồn lực công hạn chế, để hiện thực hóa hệ thống KGCCKDC (vốn ít hấp dẫn đối với nhà đầu tư) được xác định trong các đồ án quy hoạch và thiết kế đô thị, công tác này có vai trò tối quan trọng;

n Công tác quản lý sử dụng: giúp đảm bảo sự bền vững trong vận hành của hệ thống KGCCKDC sau khi được đầu tư xây dựng (phạm vi ảnh hưởng: cả 05 tiêu chí về chất)

Hình 4 Sơ đồ mô tả các yếu tố bên trong (Bộ tiêu chí) và các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ của KGCCKDC -

nguồn: nhóm tác giả.

Hình 5 Sơ đồ mô tả sự liên kết giữa các nhóm giải pháp và các vấn đề liên quan đến chất lượng phục vụ của KGCCKDC trong khu vực nội thành hiện hữu của TP.HCM - nguồn: nhóm tác giả.

Trang 4

Trong bài viết này, các giải pháp được đề xuất

chỉ tập trung giải quyết ở 02 khía cạnh quan

trọng nhất là: đầu tư xây dựng và quản lý sử

dụng KGCC, gồm 02 nhóm như sau:

n Nhóm giải pháp về đầu tư xây dựng/ kiến tạo

KGCCKDC trong khu vực nội thành hiện hữu:

đây là nhóm giải pháp mang tính bản lề, hỗ trợ

việc gia tăng các tiêu chí về lượng, đồng thời,

tạo nguồn lực để đảm báo các tiêu chí về chất

của hệ thống KGCCKDC;

n Nhóm giải pháp về quản lý sử dụng

KGCCKDC trong khu vực nội thành hiện hữu:

đây là nhóm giải pháp chủ yếu hỗ trợ cho việc

nâng cao các tiêu chí về chất của hệ thống

KGCCKDC

2.1 Nhóm giải pháp về kiến tạo KGCCKDC

trong khu vực nội thành hiện hữu của TP.HCM

Giải pháp sử dụng các công cụ kinh tế để kiến

tạo KGCCKDC

Cơ chế TDR2 :

Quy hoạch phân khu cần xác định các khu vực

hạn chế phát triển nhưng được phép chuyển

nhượng quyền phát triển bất động sản dưới

dạng diện tích sàn xây dựng công trình sang

các khu vực phát triển đô thị khác trên địa

bàn Thành phố, được xác định trong nội dung

của Quy hoạch chung xây dựng Thành phố

và Chương trình phát triển đô thị Thành phố

Người chủ sở hữu khu đất trong khu vực hạn

chế phát triển có 03 sự lựa chọn (minh họa tại

Hình 6):

n Lựa chọn 1: tiếp tục sở hữu khu đất với chức

năng hiện hữu và khả năng phát triển bị hạn

chế

n Lựa chọn 2: tiếp tục sở hữu khu đất với chức

năng mới (công viên - vườn hoa, sân chơi) và

được phép chuyển nhượng một phần quyền

phát triển bất động sản sang khu vực khác phù

hợp trên địa bàn Thành phố Tuy nhiên, trong

trường hợp này, chủ sở hữu khu đất có trách

nhiệm đầu tư xây dựng, quản lý, bảo trì các tiện

ích trên công viên - vườn hoa, sân chơi phục vụ

cộng đồng

n Lựa chọn 3: Bán lại quyền sở hữu khu đất

cho chính quyền để phát triển các KGCCKDC

và được quyền chuyển toàn bộ các quyền phát

triển bất động sản sang khu vực khác phù hợp

trên địa bàn Thành phố

Mức độ ưu đãi và tính linh động trong việc

chuyển nhượng quyền phát triển tại một khu

Hình 6 Minh họa cơ chế chuyển nhượng quyền phát triển nhằm mục tiêu kiến tạo

KGCCKDC - nguồn: nhóm tác giả

Hình 7 Sơ đồ khu vực nằm trong và ngoài bán kính phục vụ (R=200m) của hệ thống KGCCKDC trong khu vực nội thành hiện hữu - nguồn: nhóm tác giả

ß a n g µ n h

Trang 5

vi bán kính 200m tính từ nhà ga metro

(được đề xuất tại nội dung tiếp theo)

Cơ chế ưu đãi hệ số sử dụng đất (HSSDĐ):

trên cơ sở tham khảo chính sách hiện được

áp dụng tại Khu trung tâm hiện hữu (930ha),

đề xuất áp dụng rộng rãi chính sách này

trên địa bàn khu vực nội thành hiện hữu của

TP.HCM Cụ thể như sau: chủ đầu tư dự

án đầu tư xây dựng được cộng thêm phần

HSSDĐ ưu đãi 1,0 V nếu đáp ứng đồng

thời 02 điều kiện: (i) Bố trí không gian mở

công cộng (dưới dạng công viên, vườn hoa,

sân chơi mà cộng đồng xung quanh có thể

tiếp cận vào bất cứ lúc nào) với quy mô từ

30% diện tích khu đất trở lên; và (ii) Cam

kết chịu trách nhiệm giữ gìn, bảo dưỡng

KGCC này Trường hợp chủ đầu tư xây

dựng công trình vi phạm cam kết sau khi đã

được hưởng ưu đãi về HSSDĐ, sẽ phải nộp

lại số tiền tương đương với 100% lợi nhuận

có được do ưu đãi HSSDĐ Hướng áp dụng

cơ chế TDR và cơ chế ưu đãi HSSDĐ đối

với từng khu vực: việc áp dụng TDR và ưu

đãi HSSDĐ cho các trường hợp kiến tạo

KGCCKDC sẽ chỉ áp dụng cho các trường

hợp nằm ngoài phạm vi bán kính phục vụ

(200m) của KGCCKDC - “Khu vực không

có KGCCKDC” (xem Hình 7), bao gồm 6

mức như sau (Hình 8):

n Đối với khu vực Sài Gòn: (i) Nếu nằm trong bán kính 200m tính từ nhà ga metro:

ưu đãi mức 1 (cao nhất); (ii) Nếu nằm ngoài bán kính 200m tính từ nhà ga metro: ưu đãi mức 2;

n Đối với khu vực Chợ Lớn: (i) Nếu nằm trong bán kính 200m tính từ nhà ga metro:

ưu đãi mức 3; (ii) Nếu nằm ngoài bán kính 200m tính từ nhà ga metro: ưu đãi mức 4;

n Đối với khu vực Gia Định: (i) Nếu nằm trong bán kính 200m tính từ nhà ga metro:

ưu đãi mức 5; (ii) Nếu nằm ngoài bán kính 200m tính từ nhà ga metro: ưu đãi mức 6 (thấp nhất);

Giải pháp tận dụng các không gian khả dụng trong đô thị để kiến tạo KGCCKDC

Để bổ trợ cho giải pháp 1 trong việc kiến

tạo các KGCCKDC trên địa bàn 13 quận nội thành hiện hữu, nghiên cứu này đề xuất giải pháp 2 - Tận dụng các không gian khả dụng trong đô thị (ví dụ: sân trong của các công trình, dạ cầu, hẻm,…) để kiến tạo KGCC, như: (i) Lồng ghép việc kiến tạo các KGCCKDC khi triển khai các dự án cải tạo, phục hồi kênh, rạch trên địa bàn 13 quận nội thành hiện hữu; (ii) Tận dụng các không gian dạ cầu để kiến tạo KGCCKDC (chỗ nghỉ chân, ghế đá,…)

2.2 Nhóm giải pháp về quản lý sử dụng KGCCKDC trong khu vực nội thành hiện hữu của TP.HCM

Mô hình Ban quản trị khu dân cư (theo đơn

vị khu phố) Đề xuất áp dụng mô hình Ban quản trị khu dân cư (theo đơn vị khu phố) để quản lý sử dụng các KGCCKDC Mô hình đề xuất như sau:

n Ban quản trị khu dân cư bao gồm các cá nhân được cộng đồng khu phố bầu lên thay mặt cho các cư dân thuộc khu phố, để thực hiện các quyền và trách nhiệm liên quan đến việc quản lý sử dụng KGCCKDC trên địa bàn khu phố

n Kinh phí hoạt động: cá nhân, tổ chức thuộc địa bàn khu phố phải đóng kinh phí bảo trì, kinh phí quản lý vận hành, kinh phí hoạt động của Ban quản trị khu dân cư và các khoản phí, lệ phí khác trong quá trình sử dụng KGCCKDC trên địa bàn khu phố

n Quyền và trách nhiệm: Ban quản trị khu dân cư có các quyền, trách nhiệm quản lý vận hành KGCCKDC của khu phố

Các tiện ích cần đầu tư, nâng cấp, cải tạo nhằm nâng cao chất lượng phục vụ của KGCCKDC

Hình 8 Sơđồ xác định mức độ ưu đãi về hệ số sử dụng đất và quyền phát triển bất động sản

nhằm khuyến khích việc kiến tạo KGCCKDC - nguồn: nhóm tác giả

Trang 6

Trên cơ sở các vấn đề liên quan đến chất lượng phục vụ của hệ

thống KGCCKDC được trình bày tại mục 1, Ban quản trị khu dân cư

có nhiệm vụ ưu tiên giải quyết các vấn đề cụ thể như sau:

n Tăng cường khả năng tiếp cận: việc xây dựng các ramp dốc, lối

vào, bãi để xe, trang bị các bảng hướng dẫn phù hợp theo Tiêu

chuấn xây dựng Việt Nam TCXDVN 264:2002 về nhà và công trình

n Nguyên tắc cơ bản xây dựng công trình để đảm bảo người tàn

tật tiếp cận sử dụng; tuyệt đối không bố trí rào chắn xung quanh

KGCCKDC

n Tăng cường mức độ đa dạng trong công năng sử dụng: số lượng

và diện tích KGCCKDC phải được bù đắp bằng cách đa dạng hóa

trong công năng sử dụng trong các thời điểm khác nhau trong ngày,

cụ thể: (i) Tăng cường công năng nghỉ ngơi, giải trí vào những thời

điểm thời tiết bất lợi (mưa, nắng,…) bằng việc bố trí các khu vực có

mái che Các khu vực có mái có thể sử dụng các mái là tấm solar

panel để phát điện, có các hình thức quảng cáo; (ii) Tăng cường

hiệu quả sử dụng KGCCKDC trong điều kiện nhiệt đới nóng ẩm,

nắng nhiều thống qua việc trồng thêm cây xanh,…

n Tăng cường mức độ an toàn: bố trí các camera giám sát an ninh

trong phạm vi các KGCCKDC

n Tăng cường mức độ vệ sinh: lưu ý tăng cường chế độ vệ sinh

hằng ngày, bố trí các trang thiết bị thùng rác trong khuôn viên của

các KGCCKDC, bố trí các nhà vệ sinh theo hình thức xã hội hóa (có

các hình thức quảng cáo,…)

1 Sở Giao thông vận tải là cơ quan tham mưu của UBND TP.HCM, chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về công viên, cây xanh (bao gồm cả các vườn hoa, sân chơi,…) trên địa bàn TP.HCM.

2 Cơ chế chuyển nhượng quyền phát triển bất động sản (Transfer of Development Right)

* Trung tâm Nghiên cứu vùng và đô thị (CRUS)

** Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM (HIDS)

Tài liệu tham khảo Tài liệu tham khảo tiếng Việt Hoàng Anh Tú (2013) Nghiên cứu định hướng phát triển hệ thống vườn - công viên trong tổ chức không gian đô thị tại TPHCM TPHCM: Sở Khoa học và Công nghệ.

Lý Thế Dân (2008) Phát triển không gian công cộng – Cú huých cho sự phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh Tải về từ địa chỉ http://kienviet.net/2008/06/28/ Phạm Thúy Loan (2016) Không gian công cộng trong đô thị - Từ lý luận đến thiết kế Hà Nội: Viện Quy hoạch xây dựng.

Trần Văn Khải (1999) Cải thiện điều kiện giao tiếp trong tổ chức không gian kiến trúc nhằm nâng cao chất lượng môi trường ở và sinh hoạt công cộng trong các đô thị ở Việt Nam Luận án Tiến sĩ kỹ thuật tại Đại học Xây dựng Hà Nội.

Tô Kiên (2018) Không gian công cộng trong thành phố đáng sống và nhân văn Tạp chí Quy hoạch đô thị Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam.

Trang 7

Tài liệu tham khảo tiếng Anh

Alldredge, R B (1973) Some capacity theory for parks and recreation areas Trends 10, 20-29.

Aken, B J., Eckert, J., Fox, N and Swenson, S (2008) Transfer of Development Rights (TDR) in Washington State: Overview, Benefits, and Challenges The Cascade Land Conservancy, 2008.

Berry, L., Zeithaml, V & Parasuraman, A (1985) Quality counts in services, too Business Horizons May/ June

Bury, R L (1976) Recreation carrying capacity hypothesis or reality? Parks and Recreation 11, 23-25, 56-58

Cicchetti, C E (1976) The Costs of Congestion Cambridge, Massachusetts; Ballinger Publishing Company.

Cicchetti, C E & Smith, V (1973) Congestion, quality deterioration, and optimal use; wilderness recreation in the Spanish Peaks Primitive Area Social Science Research 2, 15-30.

Clawson, M & Knetch, J L (1966) Economics of Outdoor Recreation Baltimore: John Hopkins University Press.

Desyllas J & Duxbury E (2001) Axial maps and visibility graph analysis: A comparision of their methodology and use in models of urban pedestrian movement, 3rd international Space Syntax Symposium Atlanta 2001, London: University College London.

Feng Feifei (2017) Public Spaces around Us Paper presented at The 4th MeTTA Forum “Megacity: Return of Public Space and Public Participation”, organized in Shanghai from 30th to 31st October 2017.

Gehl J (2006) Life between buildings København: Architectural Press.

Harman, H H (1976) Modern Factor Analysis 3rd edn Chicago: University of Chicago Press

Heberlein, T A (1973) Social psychological assumptions of user attitude surveys: the case of the wilderness scale Journal

of Leisure Research 5, 18-33

Heberlein, T A & Shelby, B (1977) Carrying capacity, values, and the satisfaction model: a reply to Greist Journal of Leisure Research 9, 142-148.

Hillier B (1984) The Social Logic of Space Cambridge: Cambidge University Press.

Hillier B (2007) Space Is The Machine Cambridge: Cambidge University Press.

Jacobs J (1960) The Death and Life of Great American Cities New York: The Random House

La Page, W F (1983) Recreation resource management for visitor satisfaction In Recreation Planning and Management (S Leiber and D Fesenmaier eds) State College: Venture Publishing.

Lewis R C & Booms B (1983) The marketing aspects of service quality, AMA Proceeding, American Marketing Association Chicago, 99-104.

Lime, D W & Stankey, G (1971) Carrying capacity: maintaining outdoor recreation quality In Recreation Symposium Proceedings, pp 174~185 Washington D.C.: USDA Forest Service

Lucas, R C & Stankey, G H (1974) Social carrying capacity for backcountry recreation In Outdoor Recreation Research: Applying the Results, pp 14-23 USDA Forest Service General Technical ReportNC-9

Mahdzar S S S & Safari H (2014) Legibility as a Result of Geometry Space: Analyzing and Comparing Hypothetical Model and Existing Space by Space Syntax, Life Science Journal, 309 - 317

MacKay, K J (1987) An Investigation of service quality in a municipal recreation setting Unpublished MS thesis, Department

of Recreation and Parks, Texas A&M University, College Station

MacKay, K J & Crompton, J L (1988) Alternative typologies for leisure programs Journal of Park and Recreation Administration 6, (4), 52~54.

Machemer, P L and Kaplowitz, M D (2002) A Framework for Evaluating Transferable Development Rights Programmes Journal of Environmental Planning and Management, 45(6), 773-795.

Manning, R E (1986) Studies in Outdoor Recreation Corvallis, Oregon: Oregon State University Press.

McConnell, V and Walls, Margaret (2009) U.S Experience with Transferable Development Rights Review of Environmental Economics and Policy, volume 3, issue 2, pp 288–303.

McConnell, K E (1977) Congestion and willingness to pay: A study of beach use Land Economics 53, 185-195 Neal Z (2010) Seeking common ground: three perspectives on public space, Journal of Urban Design and Planning, 163(2), 1-8

Noe, F P (1987) Measurement specification and leisure satisfaction Leisure Sciences 9, 163-172

Oliver, R (1981) Measurement and evaluation of satisfaction process in retail settings Journal of Retailing 57, 31, 25-48 Parasuraman, A., Zeithaml, V & Berry, L (1988) SERVQUAL: a multiple item scale for measuring consumer perceptions of service quality Journal of Retailing 68, 1, 12-40

Parasuraman, A., Zeithaml, V & Berry, L (1986) SERVQUAL: a Multiple Item ScaN& for Measuring Consumer Perceptions

of Service Quality Working paper Cambridge, Massachusetts: Marketing Science Institute.

Parasuraman, A., Zeithaml, V & Berry, L (1985) A conceptual model of service quality and its implications for future research Journal of Marketing 49, 41-50.

Peterson, G L (1974) Evaluating the quality of the wilderness environment: congruence between perception and aspiration Environment and Behavior 6, 16~193.

Pizor, P J (1978) A review of transfer development rights The Appraisal Journal,46(3), 386-396

Roggenbuck, J W & Schreyer, R M (1977) Relations between river trip motives and perception of crowding, management preference, and experience satisfaction In River Recreation Management andResearch Symposium, pp 359-364 North Central Forest Experiment Station, St Paul, Minnesota: USDA Forest Service, General Technical Report NC-28.

Whyte W H (1980) The Social Life of Small Urban Spaces New York: Conservation Foundation.

Yamane (1967) Statistics - An introductory analysis New York: Harper Row Publisher.

Yeeun, B &Kwon, Y S (2018) A Case Study on Sustainable Reuse of Abandoned Infrustructure at Seoul Station Overpass as Urban Park for the Design Strategies in Korea IOP Conference Series: Earth and Environmental Science.

Ngày đăng: 04/11/2020, 05:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w