Công tác chỉ đạo điều hành của Chính phủ, của các Bộ, ngành và chính quyền địa phương đã tích cực, chủ động hơn đẩy nhanh lộ trình áp dụng cơ chế một giá, hỗ trợ nhà đầu tư giảm chi phí
Trang 1NGUYÊN NHÂN BÀI HỌC KINH NGHIÊM VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế của khu vực ĐTNN
1.1 Nguyên nhân của những thành tựu:
Trước hết đó là đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng cùng những cố gắng và tiến bộ trong công tác quản lý của Nhà nước đã phát huy được nhân tố có ý nghĩa quyết định là ý chí kiên cường, tính năng động, sáng tạo và sự nỗ lực phấn đấu của các cấp, các ngành
Nước ta duy trì được ổn định chính trị xã hội, an ninh được đảm bảo, được đánh giá là địa bàn đầu tư an toàn, đồng thời kiên trì thực hiện đường lối đổi mới, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tạo hình ảnh tích cực đối với các nhà đầu tư Nền kinh tế tăng trưởng cao, thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư quốc tế, nhất là về khả năng
mở rộng dung lượng thị trường trong nước của trên 80 triệu dân
Công tác chỉ đạo điều hành của Chính phủ, của các Bộ, ngành và chính quyền địa phương đã tích cực, chủ động hơn (đẩy nhanh lộ trình áp dụng cơ chế một giá, hỗ trợ nhà đầu tư giảm chi phí sản xuất, tiếp tục thực hiện việc cải cách hành chính, quan tâm hơn tới việc tháo gỡ khó khăn cho việc triển khai dự án) Công tác vận động xúc tiến đầu tư ngày càng được cải tiến, tiến hành ở nhiều ngành, nhiều cấp, ở trong nước và nước ngoài dưới hình thức đa dạng, kết hợp với các chuyến thăm, làm việc cấp cao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, gắn với việc quảng bá rộng rãi hình ảnh Việt Nam và vận động đầu tư - xúc tiến thương mại và du lịch Chính vì vậy, mà hiệu quả đã được nâng dần với kết quả minh chứng là nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã vào tìm kiếm cơ hội đầu tư và ký kết số lượng lớn dự án quy mô lớn, mở đầu cho làn sóng đầu tư mới lần 2 vào Việt Nam, kể từ năm 1987 đến nay
Trang 21.2 Về nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
Tư duy kinh tế chậm đổi mới Chưa tạo lập đồng bộ các loại thị trường theo nguyên tắc thị trường Nhận thức về chung về FDI đều thống nhất như các chủ trương, pháp luật của Đảng và Nhà nước là coi FDI là một bộ phận cấu thành hữu cơ của nền kinh tế, được khuyến khích phát triển lâu dài, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác Tuy nhiên, thực tế xử lý các vấn đề cụ thể ở nhiều Bộ, ngành và địa phương vẫn còn phân biệt rất khác nhau giữa đầu tư trong nước và FDI, chưa thực sự coi FDI là thành phần kinh tế của Việt Nam Điều đó thể hiện ngay từ khâu quy hoạch sản phẩm, phân bổ các nguồn lực phát triển kinh tế (lao động, đất đai, vốn…) cũng chưa thực sự cho phép FDI tham gia Việc xử lý tranh chấp kinh tế giữa các bên cũng thiên về bảo vệ quyền lợi cho phía Việt Nam Trong những thời điểm khó khăn, ta tranh thủ vốn FDI nhưng khi điều kiện thuận lợi lại có xu hướng không khuyến khích FDI mà để trong nước tự làm; những biểu hiện này có tác động làm nản lòng nhà FDI
Hệ thống luật pháp, chính sách về đầu tư tuy đã được sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn chưa đồng bộ, thiếu nhất quán Một số Bộ, ngành chậm ban hành các thông
tư hướng dẫn các nghị định của Chính phủ
Môi trường đầu tư-kinh doanh nước ta tuy được cải thiện nhưng tiến bộ đạt được còn chậm hơn so với các nước trong khu vực, trong khi cạnh tranh thu hút vốn FDI tiếp tục diễn ra ngày càng gay gắt
Định hướng chiến lược thu hút vốn FDI hướng chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu nhưng sự liên kết, phối hợp giữa các doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước còn yếu nên giá trị gia tăng trong một
số sản phẩm xuất khẩu (hàng điện tử dân dụng, dệt may) còn thấp Nhiều tập đoàn công nghiệp định hướng xuất khẩu đầu tư tại Việt Nam buộc phải nhập khẩu phần lớn nguyên liệu đầu vào vì thiếu nguồn cung cấp ngay tại Việt Nam Công tác quy hoạch còn có những bất hợp lý, nhất là quy hoạch ngành còn nặng về xu hướng bảo hộ sả n xuất trong nước, chưa kịp thời điều chỉnh để phù hợp với các cam kết quốc tế
Trang 3Nước ta cú xuất phỏt điểm của nền kinh tế thấp, quy mụ nền kinh tế nhỏ bộ; kết cấu hạ tầng kinh tế, xó hội yếu kộm; cỏc ngành cụng nghiệp bổ trợ chưa phỏt triển; trỡnh độ cụng nghệ và năng suất lao động thấp, chi phớ sản xuất cao Chớnh sỏch, biện phỏp để khuyến khớch huy động tốt nguồn lực trong nước và ngoài nước vào phỏt triển kinh tế, xó hội cũn nhiều hạn chế
Sự phối hợp trong quản lý hoạt động FDI giữa cỏc Bộ, ngành, địa phương chưa chặt chẽ Đỏnh giỏ tỡnh hỡnh FDI vẫn nặng về số lượng, chưa coi trọng về chất lượng, cũn bệnh thành tớch trong cơ quan quản lý cỏc cấp
Tổ chức bộ mỏy, cụng tỏc cỏn bộ và cải cỏch hành chớnh chưa đỏp ứng yờu cầu phỏt triển trong tỡnh hỡnh mới Năng lực của một bộ phận cỏn bộ, cụng chức làm cụng tỏc kinh tế đối ngoại cũn hạn chế về chuyờn mụn, ngoại ngữ, khụng loại trừ một số yếu kộm về phẩm chất, đạo đức, gõy phiền hà cho doanh nghiệp, làm ảnh hưởng xấu đến mụI trường đầu tư-kinh doanh
2.Bài học kinh nghiệm
2.1.Bài học kinh nghiệm rỳt ra từ cỏc nước:Trung Quốc,Thỏi
Lan,Malaixia
Từ vài thập niên trở lại đây, đầu t trực tiếp nớc ngoài đã góp phần
không nhỏ trong quá trình tăng trởng của nhiều nớc trong đó có cả sự thần kỳ Châu Á Sự bùng nổ đầu t và thơng mại ở tất cả các vùng trên thế giới trong mấy năm gần đây là các nhân tố chính góp phần thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa kinh
tế ngày một lan rộng Khu vực Châu Á - Thái Bình Dơng đã trở thành một điểm sáng trên bản đồ phân bổ đầu t của thế giới với nhiều lợi thế về lao động, nguồn lực mà các nhà đầu t coi là rất có triển vọng và đặt nhiều niềm tin Về lâu dài, chúng ta cần phải gắn việc cải cách môi trờng đầu t với cải cách toàn bộ nền kinh tế Việc làm này có tác dụng mạnh mẽ hơn so với việc u đãi và khuyến khích riêng lẻ cho các nhà đầu t (chủ yếu chỉ để giữ chân các nhà đầu t trớc chuyển dịch lợi thế cạnh tranh giữa các nớc) Cải cách môi trờng đầu t sẽ chỉ là một phần trong việc cải cách cơ cấu kinh tế và có thu hút đợc nhiều FDI hay không phụ thuộc vào kết quả của những nỗ lực cải cách ấy Cần phải thấy rằng nếu chỉ cải thiện theo hớng tốt hơn so với trớc là cha đủ Các nhà đầu t sẽ chỉ
Trang 4đầu t khi cho rằng các điều kiện của môi trờng đã đủ tốt đối với họ và có thể
đem lại lợi nhuận
Sự ổn định chính trị – xã hội cùng với chính sách nhất quán và lâu dài của Việt Nam trong việc hội nhập với khu vực và thế giới cùng với những lợi thế vốn có
về tài nguyên, con ngời sẽ vẫn là những thế mạnh của môi trờng đầu t của Việt Nam Nh vậy chúng ta cần biết tận dụng và phát huy những lợi thế, Việt Nam vẫn sẽ là một thị trờng hấp dẫn và có nhiều cơ hội đầu t
Tóm lại, Việt Nam là nớc đi sau trong quá trình thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài nên chúng ta có nhiều cơ hội tiếp cận bài học kinh nghiệm của những nớc đi
tr-ớc, đặc biệt là những nớc Đông Nam Á, vì có những điểm tơng tự với nớc ta Từ
đó, có thể học cái hay từ những chính sách của họ và tránh đi những sai lầm mà các nớc này đã mắc phải để có thể thu hút và quản lý có hiệu quả hoạt động đầu
t nớc ngoài
2.2.Bài học kinh nghiệm sau 20 năm thu hỳt vốn đầu tư FDI
a Bài học th ứ nhất chớnh là nắm bắt và vận dụng cơ hội
FDI của nước ta sau chu kỳ tăng trưởng từ 1991 đến 1997 là thời kỳ suy thoỏi kộo dài từ 1998 đến 2004 Trước thời kỳ suy thoỏi này, vào thỏng 7 năm
1995, nước ta đó cú 3 sự kiện quan trọng diễn ra trong cựng một thỏng Đú là: chỳng ta gia nhập ASEAN, ký hiệp đinh khung về hợp tỏc kinh tế với EU và bỡnh thường húa quan hệ với Mỹ Cú lẽ chưa từng cú và khú cú thể lặp lại ba sự kiện lớn như vậy diễn ra trong cựng một thỏng Những sự kiện này đó tạo ra những cơ hội to lớn cho nền kinh tế Việt Nam núi chung, lĩnh vực FDI núi riờng Nhưng đỏng tiếc, chỳng ta lại khụng nhanh chúng tạo ra được một mụi trường đầu tư thuận lợi khi cú quỏ nhiều cơ quan, ban ngành với vụ số cỏc thủ tục phiền đó gõy ra nhiều phản ứng tiờu cực từ cỏc nhà đầu tư nước ngoài Cơ hội khụng chỉ dừng lại ở đú Thỏng 2/1997, cuộc khủng hoảng tài chớnh chõu Á
đó đó lan rộng ra nhiều nước, gõy thiệt hại nặng nề đối với cỏc nền kinh tế vốn được coi là “sự thần kỳ Đụng Á" Việt Nam khi đú vẫn nằm ngoài "rỡa" vũng xoỏy của cuộc khủng hoảng Lẽ ra chỳng ta cú thể nhõn đú biến thành lợi thế so
Trang 5sánh để thu hút FDI hơn nữa Nhìn thấy cơ hội và biết nắm bắt nó để có thể làm lợi cho đất nước giữ một vai trò quyết định trong vấn đề thu hút vốn FDI Nhưng điều đó cũng đã không xảy ra, do nước ta bị động đối phó nên không những không biến được cơ hội thành hiện thực mà còn chịu tác dộng tiêu cực, khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại, vốn FDI cũng do đó mà ít dần
b Bài học thứ hai, đó chính là ba mối quan hệ lợi ích liên quan đến FDI.
Trước hết, đó là lợi ích của nước ta và lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài Nước
ta có quyền ban hành luật pháp, áp dụng các thủ tục hành chính còn nhà đầu tư nước ngoài có quyền lựa chọn nước để thực hiện dự án Vì thế, cần hài hòa lợi ích của cả hai bên trên cơ sở bảo đảm lợi ích chính đáng của đất nước, phải bảo đảm nhà đầu tư thu được lợi nhuận đến mức đủ hấp dẫn họ, đi cùng với sự hướng dẫn và hỗ trợ của cơ quan nhà nước trong việc cấp phép và triển khai dự
án Tiếp theo, đó là mối quan hệ lợi ích giữa người sử dụng và người lao động
Có một thực tế hiện nay là chúng ta thường coi các cuộc đình công, bãi công là những việc không bình thường, trong khi điều này đã được luật pháp cho phép
Do đó, trong các doanh nghiệp có vốn FDI thì càng phải có cái nhìn đúng đắn hơn về vụ việc này Các cơ quan chức năng cần phải hướng dẫn người sử dụng lao động, nhà đầu tư nước ngoài tuân thủ, tôn trọng văn hóa ứng xử, tập quán của người Việt Nam để từ đó giáo dục, tổ chức người lao động làm việc có kỷ
-
c Bài học thứ ba, đó là lợi thế so sánh.
Hiện nay, dưới tác động của cuộc cách mạng về khoa học - công nghệ và toàn cầu hóa nên lợi thế so sánh đã biến đổi khá nhiều Lực lượng lao động đồi dào và tiền công thấp đã không còn là thế mạnh của Việt Nam Trong khi ngày càng nhiều dự án FDI công nghệ cao đang được triển khai thì tình trạng thiếu
Trang 6nghiêm trọng nguồn nhân lực có tay nghề cao, kỹ năng lao động, đội ngũ nhà quản trị doanh nghiệp giỏi lại là nhươch điểm lớn của nước ta Để giải quyết vấn đề này, theo GS.TS Nguyễn Mại, cần phải có một hệ giải pháp đồng bộ từ chủ trương, chính sách của Chính phủ đến vốn đầu tư cho giáo dục đào tạo… Hiện nay, chúng ta đang có một lợi thế so sánh nổi trội, đó là sự ổn định về chính trị - xã hội trong khi một số nước trong khu vực đang bất ổn cả chính trị
và xã hội Do đó, chúng ta cần phải tranh thủ thời cơ này để thu hút đầu tư FDI Tuy nhiên, bất lợi lớn nhất nhưng lại chậm được khắc phục nhất lại là hạ tầng kỹ thuật Tình trạng thiếu điện, thiếu đường giao thông vẫn phổ biến, gây
ra sự e ngại đối với các nhà đầu tư đang có ý định rót vốn vào Việt Nam Năm
2007 là năm có tỷ lệ vốn thực hiện trên vốn đăng ký thấp nhất, chỉ đạt 22,6%
Do đó, cần phải cảnh báo rằng, nếu các cơ quan chức năng không thấy hết tính cấp bách của điều kiện hạ tầng kỹ thuật mà không có những giải pháp quyế liệt và có hiệu quả thì chắc chắn nguồn vốn FDI đã và sắp được cấp phép chỉ tăng trên giấy
d Bài học thứ tư về FDI, đó là chính sách.
Việc theo đuổi chính sách khuyến khích FDI và coi trọng chất lượng FDI luôn là hai mặt có quan hệ hữu cơ của thể chế và chính sách của chúng ta Trong điều kiện hoạt động đầu tư trong nước đang gia tăng nhanh chóng thì việc lựa chọn dự án FDI cần phải bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội trong mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực Theo TS Trần Đình Thiên, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam thì chúng ta không nên “khoe khoang” con số vốn đăng
ký FDI mà cần phải quan tâm đến con số vốn thực hiện cũng như thực trạng ngày càng doãng ra giữa hai con số này Nếu khoảng cách giữa hai con số này ngày càng gia tăng thì không thể nói là thu hút FDI thành công, dù vốn đăng ký
có lên tới hàng trăm tỷ USD Bên cạnh đó, khi nước ta đã là thành viên WTO thì Chính phủ cần hướng vào chính sách nâng cấp FDI thông qua việc đẩy mạnh khai thác thế mạnh của các tập đoàn kinh tế mạnh của khu vực và thế giới Bên
Trang 7cạnh đó, cần phải nhìn nhận nghiêm túc mặt trái của “cuộc chiến chào mời đầu tư” của các địa phương để tránh ảnh hưởng đến phúc lợi xã hội của điạ phương tiếp nhận FDI do những ưu đãi không cần thiết chỉ vì để cạnh tranh với địa phương bên cạnh Ngoài ra, chính quyền địa phương cần tập trung vào công tác chuẩn bị trước dự án đầu tư bao gồm mặt bằng đất đai, điện, nước, đường giao thông, dịch vụ, khả năng phát triển công nghiệp phụ trợ… và ban hành “cẩm nang đầu tư nước ngoài” để nhà đầu tư có được những thông tin cần thiết Cuối cùng, chúng ta cần nhanh chóng thực hiện chính phủ điện tử, đầu tư nguồn nhân lực, vốn để thiết lập các trung tâm điều hành tại Cục Đầu tư nước ngoài, sở kế hoạch và đầu tư, ban quản lý được nối mạng với doanh nghiệp FDI để cập nhật thông tin và giải các vấn đề kịp thời, hiệu quả quyết
3 Các giải pháp chủ yếu
Để triển khai thực hiện việc thu hút và sử dụng hiệu quả vốn ĐTNN trong giai đoạn 2006- 2010 và một số năm về sau, Chính phủ sẽ chỉ đạo thực hiện các giải pháp sau :
3.1Nhóm giải pháp về quy hoạch
Đẩy nhanh tiến độ xây dựng và phê duyệt các quy hoạch còn thiếu; rà soát để định kỳ bổ sung, điều chỉnh các quy hoạch đã lạc hậu nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc xác định và xây dựng dự án
Quán triệt và thực hiện thống nhất các quy định mới của Luật Đầu tư trong công tác quy hoạch, đảm bảo việc xây dựng các quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm phù hợp với các cam kết quốc tế
Hoàn chỉnh quy hoạch sử dụng đất, công bố rộng rãi quy hoạch, tạo điều kiện
để đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng cho các dự án đầu tư
3.2 Nhóm giải pháp về luật pháp, chính sách
Trang 8Tiếp tục rà soát pháp luật, chính sách để sửa đổi hoặc loại bỏ các điều kiện áp dụng ưu đãi đầu tư không phù hợp với cam kết của Việt Nam với WTO và có giải pháp đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư liên quan
Xây dựng văn bản hướng dẫn các địa phương và doanh nghiệp về lộ trình cam kết mở cửa đầu tư nước ngoài làm cơ sở xem xét cấp giấy chứng nhận đầu tư Theo dõi, giám sát việc thi hành pháp luật về đầu tư và doanh nghiệp để kịp thời phát hiện và xử lý các vướng mắc phát sinh Khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn các luật mới, nhất là các luật mới được Quốc hội thông qua trong năm 2006 có liên quan đến đầu tư, kinh doanh
Ban hành các ưu đãi khuyến khích đầu tư đối với các dự án xây dựng các công trình phúc lợi (nhà ở, bệnh viện, trường học, văn hoá, thể thao) cho người lao động làm việc trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, đảm bảo sự tương thích với các luật pháp hiện hành
Nghiên cứu, đề xuất chính sách vận động, thu hút đầu tư đối với các tập đoàn đa quốc gia cũng như có chính sách riêng đối với từng tập đoàn và mỗi nước thành viên EU, Hoa Kỳ
Chấn chỉnh tình trạng ban hành và áp dụng các ưu đãi, hỗ trợ đầu tư trái với quy định của pháp luật Tăng cường tập huấn, phổ biến nội dung và lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam
3.3 Nhóm giải pháp về xúc tiến đầu tư
Các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tiếp tục rà soát, cập nhật bổ sung danh mục kêu gọi đầu tư phù hợp với nhu cầu đầu tư phát triển và quy hoạch phát triển ngành, địa phương
Triển khai nhanh việc thành lập bộ phận XTĐT tại một số địa bàn trọng điểm Xây dựng quy chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại và xúc tiến du lịch các cấp, bao gồm cả trong nước lẫn đại diện ở nước ngoài nhằm tạo sự đồng bộ và phối hợp nâng cao hiệu quả giữa các hoạt động này Đồng thời, thực hiện tốt Chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia giai
Trang 9đoạn 2007-2010 để đảm bảo kinh phí cho vận động thu hút vốn ĐTNN nhằm đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá hình ảnh Việt Nam, kết hợp chặt chẽ các chuyến công tác của lãnh đạo cấp cao Đảng và Nhà nước với các hoạt động xúc tiến đầu tư-thương mại-du lịch
Tổ chức hiệu quả các cuộc hội thảo ở trong nước và nước ngoài Nâng cấp trang thông tin điện tử về ĐTNN cập nhật và chất lượng tài liệu xúc tiến đầu tư bằng một số ngôn ngữ đáp ứng nhu cầu của số đông nhà đầu tư (tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Trung, tiếng Hàn, tiếng Nga)
Tăng cường các đoàn vận động đầu tư theo phương thức làm việc trực tiếp với các tập đoàn lớn, tại các địa bàn trọng điểm (Nhật Bản, Mỹ và EU) để kêu gọi đầu tư vào các dự án lớn, quan trọng Chủ động tiếp cận và hỗ trợ các nhà đầu
tư tiềm năng có nhu cầu đầu tư vào Việt Nam
3.4 Nhóm giải pháp về cải thiện cơ sở hạ tầng
Tiến hành tổng rà soát, điểu chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu hạ tầng đến năm 2020 làm cơ sở thu hút đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng Tăng cường công tác quy hoạch, thực thi các quy hoạch cũng như thu hút đầu tư vào các công trình giao thông, năng lượng
Tranh thủ tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt là nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; ưu tiên các lĩnh vực cấp, thoát nước, vệ sinh môi trường (xử lý chất thải rắn, nước thải.v.v.); hệ thống đường bộ cao tốc, trước hết là tuyến Bắc-Nam, hai hành lang kinh tế Việt Nam-Trung Quốc; nâng cao chất lượng dịch vụ đường sắt, trước hết là đường sắt cao tốc Bắc-Nam, đường sắt hai hành lang kinh tế Việt Nam-Trung Quốc, đường sắt nối các cụm cảng biển lớn, các mỏ khoáng sản lớn với hệ thống đường sắt quốc gia, đường sắt nội đô thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh.v.v
Trước mắt tập trung chỉ đạo, giải quyết tốt việc cung cấp điện, trong mọi trường hợp không để xảy ra tình trạng thiếu điện đối với các cơ sở sản xuất Tăng cường nghiên cứu xây dựng chính sách và giải pháp khuyến khích sản xuất và
Trang 10sử dụng điện từ và các loại năng lượng mới như sức gió, thủy triều, nhiệt năng
từ mặt trời
Khẩn trương xây dựng và ban hành cơ chế khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài nhà nước tham gia phát triển các công trình kết cấu hạ tầng trong đó có các công trình giao thông, cảng biển, các nhà máy điện độc lập
Mở rộng hình thức cho thuê cảng biển, mở rộng đối tượng cho phép đầu tư dịch
vụ cảng biển, đặc biệt dịch vụ hậu cần (logistic) để tăng cường năng lực cạnh tranh của hệ thống cảng biển Việt Nam; kêu gọi vốn đầu tư các cảng lớn của các khu vực kinh tế như hệ thống cảng Hiệp Phước-Thị Vải, Lạch Huyện.v.v
Tập trung thu hút vốn đầu tư vào một số dự án thuộc lĩnh vực bưu chính-viễn thông và công nghệ thông tin để phát triển các dịch vụ mới và phát triển hạ tầng mạng
Đẩy mạnh đầu tư vào các lĩnh vực (văn hóa- y tế- giáo dục, bưu chính-viễn thông, hàng hải, hàng không) đã cam kết khi gia nhập WTO Xem xét việc ban hành một số giải pháp mở cửa sớm hơn mức độ cam kết đối với một số lĩnh vực dịch vụ mà nước ta có nhu cầu
3.5 Nhóm giải pháp về lao động, tiền lương
Đẩy nhanh việc triển khai kế hoạch tổng thể về đào tạo nhằm nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 40% vào năm 2010 Theo đó, ngoài việc nâng cấp đầu tư
hệ thống các trường đào tạo nghề hiện có lên ngang tầm khu vực và thế giới, sẽ phát triển thêm các trường đào tạo nghề và trung tâm đào tạo từ các nguồn vốn khác nhau
Nghiên cứu điều chỉnh chuyển dịch cơ cấu lao động theo tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Thực hiện các giải pháp nhằm đưa Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động vào thực tế cuộc sống để ngăn ngừa tình trạng đình công bất hợp pháp, lành mạnh hóa quan hệ lao động theo tinh thần của Bộ luật Lao động, bao gồm: