1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng định giá cổ phần các doanh nghiệp Việt Nam

29 401 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng định giá cổ phần các doanh nghiệp Việt Nam
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kế toán, Quản trị Doanh nghiệp
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 112,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự khác biệt của 2 loại cổ phiếu cơ bản này như sau: - Các cổ đông sở hữu cổ phiếu thông thường có quyền hạn và trách nhiệm đối với công ty như: Được chia cổ tức theo kết quả kinh doanh;

Trang 1

Như vậy, cổ phiếu chính là một chứng thư chứng minh quyền sở hữu của một

cổ đông đối với một công ty cổ phần và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu

Thông thường hiện nay các công ty cổ phần thường phát hành 2 dạng cổ phiếu:

Cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi Sự khác biệt của 2 loại cổ phiếu cơ bản này như sau:

- Các cổ đông sở hữu cổ phiếu thông thường có quyền hạn và trách nhiệm đối với công ty như: Được chia cổ tức theo kết quả kinh doanh; Được quyền bầu

cử, ứng cử vào bộ máy quản trị và kiểmsoát công ty; Chịu trách nhiệm về sự thua lỗ hoặc phá sản tương ứng với phần vốn góp của mình

- Các cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi cũng là hình thức đầu tư vốn cổ phần như

cổ phiếu thông thường nhưng quyền hạn và trách nhiệm hạn chế như: lợi tức cốđịnh; không có quyền bầu cử, ứng cử

1.2 Cổ phần được giao dịch như thế nào

Nếu một công ty muốn tăng vốn thì công ty đó có thể vay nợ hoặc bán cổ phần cho các nhà đầu tư Việc phát hành các cổ phần mới để gia tăng vốn được diễn

ra trên thị trường sơ cấp Nhưng sao đó hầu hết các giao dịch cổ phần là các cổ phần đang lưu hành và nó diễn ra khi các nhà đầu tư này mua lại cổ phần từ những nhà đầu tư khác và do đó không làm gia tăng thêm vốn mới cho công tỵ Thị trường giao dịch các loại cổ phần đang được lưu hành gọi là thị trường thứ cấp Thị trường thứ cấp giao dịch các cổ phần là thị trường chưng khoán

NewYork Đây là thị trường chứng khoán lớn nhất trên thế giới nới khối lượng giao dịch hang ngày khoảng 500 triệu cổ phần của 2900 công ty

Giả định rằng bạn đang quản lý một quỹ hưư bổng và bạn đang muốn mua 100.000 cổ phần của GE Bạn liên lạc với nhà môi giới của bạn để người này

Trang 2

đạt lịch cho sàn giao dịch của NewYork.Người có trách nhiệm thực hiện việc mua và bán các cổ phần là các chuyên gia,những người này sẽ thực hiện khớp lệnh giữa bên mua và bên bán.Khi lệnh mua của bạn được gửi đến, chuyên gia này kiểm tra thông tin và tìm nhà đầu tư nào sẵn lòng bán ở mức giá muốn muacủa bạn.Và cứ luân phiên như vậy ,vị chuyên gia có thể tìm cho bạn một thoả thuận mua bán tốt nhât từ những broker đang tụ hợp xung quanh ,hoặc có thể bán cho bạn một vài cổ phần nào đó mà họ đang nắm giữ.Nếu không có ai sẵn lòng bán ở mức giá mong muốn của bạn, thì những chuyên gia này sẽ ghi nhận lại yêu cầu của bạn và sẽ thực hiện bất cứ lúc nào có thể

1.3 Tại sao phải định giá cổ phần

- Định giá cổ phần nhằm trợ giúp cho quá trình chuyển đổi cơ cấu về vốn chủ sở hữu:

Cổ đông hoặc nhà đầu tư muốn nắm bắt một cách chi tiết về tình hình hiện tại của công ty trước khi đưa ra quyết định cuối cùng Có thể giá cổ phiếu trên thị trường có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị thực của nó Vì vậy cần xác định đúng già trị cổ phần để quyết định đúng đắn hơn

Các cơ hội và tiềm năng phát triển cho tương lai Đặc biệt là các khoản nợ ngoài dự kiến, ví dụ: các vấn đề về thuế, các nguy cơ tiềm ẩn về kiện tụng, tranh chấp

- Chuẩn bị cho việc phát hành trái phiếu ra công chúng lần đầu (IPO): Thị trường Chứng khoán áp đặt một số yêu cầu và qui tắc nhất định về chủng loại thông tin mà công ty buộc phải công khai trong các văn bản IPO (được gọi

Cải thiện tình hình hoạt động chung của công ty trước thực trạng hoạt động kém hiệu quả:

Quá trình “Xác định giá trị Doanh nghiệp” sẽ đánh giá một cách khách quan các điểm mạnh và điểm yếu của công ty

Trang 3

Bằng việc xác định và chỉ ra những vấn đề hoặc các khu vực thể hiện rõ nhất các điểm yếu của công ty, quá trình “Xác định giá trị Doanh nghiệp” là một công cụ nhằm giúp công ty đánh giá một cách khách quan hoặc “mở khoá” các

cơ hội/tiềm năng và gia tăng giá trị cho các cổ đông hiện tại và tương lai

Lợi ích của qui trình “Xác định giá trị Doanh nghiệp” là khả năng tổng hợp, đánh giá, phân tích và khớp lại các dữ liệu quá quá khứ và triển vọng phát triểntrong tương lai của Doanh nghiệp trong một bản báo cáo chính xác và toàn diện

Bằng việc xác định các điểm mạnh, điểm yếu và các giá trị cốt lõi của công ty,

“Xác định giá trị Doanh nghiệp” trở thành một công cụ hữu hiệu giúp công ty hiện thực hoá được cơ hội và gia tăng giá trị cho các cổ đông hoặc nhà đầu tư tương lai

Trong các trường hợp cần thiết, sẽ vạch ra các kế hoạch và các kiến nghị chuẩn

bị cho các hoạt động tiền và hậu IPO

Chỉ ra những thay đổi cần thiết về hệ thống tài chính, cơ cấu thành phần cổ đông hoặc cấu trúc doanh nghiệp bởi qui trình này sẽ tạo ra một diễn đàn mở

để công ty có thể thảo luận một cách sâu rộng và xem xét xem những cơ cấu này có đồng nhất và có lợi cho tương lai của công ty hay không?

Hỗ trợ Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc đưa ra những quyết định khó khăn như các hoạt động bán hàng hoặc loại bỏ các hoạt động làm ăn không có lãi hoặc không mang tính mấu chốt, để tập trung vào những hoạt động mang lại giá trị cao

Đưa ra những phân tích về hệ thống quản trị và điều hành công ty, đồng thời cung cấp những đánh giá về năng lực đối với một số các vị trí nhân lực chủ chốt

Một dự án “Xác định giá trị Doanh nghiệp” toàn diện và thành công sẽ đem lạinhững hiệu quả tích cực do đội ngũ chuyên gia tư vấn sẽ phát hiện ra những khu vực làm ăn hiệu quả của công ty, từ đó sẽ đưa ra được những giải pháp phát huy tối đa hiệu quả điểm mạnh đó để gia tăng giá trị cho các cổ đông và chủ doanh nghiệp

1.4 Phương pháp định giá cổ phần thường

1.4.1 Định giá cổ phiếu theo phương pháp chiết khấu luồng cổ tức

Giả sử một cổ phiếu được nắm giữ đến năm thứ n, cổ tức chi trả từ năm

1 đến năm n lần lượt là ¿1, ¿2, ¿3, ¿n Biết giá bán cổ phiếu vào năm thứ n là Pn

và tỷ lệ lợi tức yêu cầu (lợi suất dự kiến) của nhà đầu tư là r không đổi, ta cócông thức định giá cổ phiếu theo phương pháp chiết khấu luồng cổ tức như sau:

Trang 4

Trong đó: ¿t: Mức chia cổ tức năm t

r: Tỷ lệ lợi tức yêu cầu (hay còn gọi là lãi suất chiết khấu hoặcchi phí vốn cổ phần)

Như vậy, theo phương pháp này, giá cổ phiếu chính là giá trị quy về hiện tạicủa toàn bộ các luồng thu nhập trong tương lai

Nếu cổ phiếu được người đầu tư nắm giữ vô hạn, có nghĩa là n sẽ tiến tới 8(thông thường, quãng đời của cổ phiếu là vô hạn vì nó không có thời gian đáohạn) Khi đó, giá trị hiện tại của vốn gốc Pn/(1+r )n sẽ tiến tới 0 và công thứctrên sẽ trở thành:

Trang 5

Giáo Sư Myrin Gordon đã phát triển công thức tính giá trị nội tại hết sức đơn giản như sau:

Ví dụ cổ phiếu X có dòng cổ tức tăng trưởng 7% theo như đồ thị sau:

Khi dự đoán tỷ lệ tăng trưởng, chúng ta phải lưu ý rằng, không chỉ một mình cổtức tăng trưởng với tốc độ đó, mà các chỉ số tài chánh quan trọng khác, quan trọng nhất là lợi nhuận cũng phải phải tăng trưởng với cùng tốc độc Khi đó tỷ

lệ tăng trưởng của cổ tức sẽ được lợi nhuận và các chỉ số khác hỗ trợ, và vì thế được duy trì bền vững Ngoài ra chúng ta phải lưu ý rằng tỷ lệ tăng trưởng bền vững này chỉ có thể nhỏ hơn hay cao nhất là bằng tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế Không có doanh nghiệp nào có thể tăng trưởng mãi mãi với tốc độ cao hơn tỷ lệ tăng trưởng chung của nền kinh tế

- Trường hợp 3: Cổ tức của công ty tăng trưởng không đồng nhất Đây là trườnghợp thực tế nhất vì tỷ lệ tăng trưởng cổ tức của công ty không thể chỉ là một chỉtiêu cố định trong một thời gian dài, thông thường xảy ra trường hợp mức tăngtrưởng cổ tức không đều trong một số năm, trước khi có thể đạt đến giai đoạn

Trang 6

(1+ r)t

Để có thể dự tính một cách chính xác các thông số để đưa vào công thứctính toán trong định giá cổ phiếu, nhà đầu tư phải tiến hành phân tích chính xáctình hình tài chính của tổ chức phát hành để có thể dự báo triển vọng phát triểncủa doanh nghiệp Nguyên tắc chung được áp dụng như sau:

a Tính DIV1: Việc ước tính cổ tức năm đầu (DIV1) được dựatrên số liệu về cổ tức trong quá khứ, chính sách phân chia cổ tức trongtương lai, ước tính thu nhập năm sau của công ty để từ đó ước tính ra giátrị cổ tức có thể nhận được trong năm đầu tiên (DIV1)

Cổ tức = DIV = Tỷ lệ chia cổ tức x EPS

Trong đó, thu nhập trên mỗi cổ phiếu (Earning Per Share - EPS)được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng trừ đi cổ tức ưu đãi và chia cho sốlượng cổ phiếu đã phát hành

b Tính g: Việc ước tính tỷ lệ tăng trưởng cổ tức của công ty phảidựa trên đánh giá tiềm năng phát triển của công ty trong dài hạn chứkhông chỉ đơn thuần trong một số năm tới, vì tốc độ tăng trưởng đượcgiả định là mức tăng trưởng đều đặn của công ty trong suốt quãng đờihoạt động Do vậy, các số liệu để tính toán g phải là mức dự đoán bìnhquân trong dài hạn

Tỷ lệ tăng trưởng cổ tức được xác định dựa trên tỷ lệ tăng trưởng lợinhuận và tỷ lệ lợi nhuận dùng để chi trả cổ tức Trong thực tế, tốc độ tăngtrưởng cổ tức được giả định là bằng với tốc độ tăng trưởng thu nhập và đượctính theo công thức như sau:

g = ROE.b

Trang 7

ty có độ rủi ro càng cao thì nhà đầu tư sẽ đòi hỏi tỷ suất lợi nhuận cao để

bù đắp rủi ro Để xác định r người ta có thể dùng một số công thức khácnhau tuỳ thuộc vào cơ cấu vốn của công ty phát hành Tuy nhiên, côngthức phổ biến nhất là áp dụng theo mô hình CAPM

R=r f × β (r mr f)

r f: lãi suất phi rủi ro

r m lãi suất danh mục thị trường

β là mức độ rủi ro của công tyTheo lý thuyết, công ty tính r như trên chỉ áp dụng trong trường hợp công tychỉ phát hành cổ phiếu Nếu công ty phát hành cả cổ phiếu lẫn trái phiếu thì rcần được xác định theo phương pháp chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC)như sau:

r a=r e × E

D+ E+r d

D D+ E(1−T )

Trong đó:

r a: là lợi suất thu nhập ước tính trên tài sản của công ty = Thu nhập hoạt động

ước tính / Giá thị trường của tất cả các loại chứng khoán của công ty

r e: hay r ở công thức trên đây là lãi suất gọi vốn cổ phần hay còn gọi là tỷ suất

vốn hoá thị trường (lợi suất yêu cầu của người đầu tư khi mua cổ phiếu) và rd

là lãi suất vay nợ

Trang 8

E và D là khối lượng vốn cổ phần và vốn vay tương ứng t là thuế suất

Do đó, từ công thức trên có thể suy ra công thức tính lợi suất yêu cầu

(lãi suất chiết khấu) đối với cổ phiếu như sau:

r e= r a (D/E) [ra - rd(1-t)]

Công thức trên cho thấy: khi công ty chỉ phát hành cổ phiếu thì ra = re

Khi công ty vay thêm vốn thì rủi ro cho cổ đông tăng thêm và nếu vay vốn

càng nhiều (tỷ lệ D/E càng lớn) thì độ rủi ro cho cổ đông càng lớn, vì vậy cổ

đông yêu cầu lợi suất đầu tư (re) phải càng cao

Ví dụ : Cổ phiếu Y có hai giai đoạn tăng trưởng, giai đoạn 1 gồm 5 năm với tỷ

lệ tăng trưởng 20%/năm, và giai đoạn hai, từ năm thứ sáu trở đi, tăng trưởng

bền vững với tỷ lệ 7%/năm Để đơn giản ta giả sử tỷ lệ lợi nhuận mong đợi hay

chi phí vốn chủ sỡ hữu trong cả hai giai đoạn đều là 15%

Sau đó chúng ta chiết khấu giá trị vừa tính bên trên cùng với các dòng tiền cổ

tức giai đoạn 1 về hiện tại theo bảng sau:

Giá trị tương lai Giá trị hiện tại

Trang 9

Tổng GTHT dòng tiền giai đoạn 2 tại

Vận dụng cách tính cơ bản của hai mô hình nói trên, chúng ta có thể áp dụng

cho những cổ phiếu có cổ tức phát triển theo nhiều gian đoạn khác nhau, chẳng

hạn như mô hình 3 giai đoạn: cổ tức tăng trưởng mạnh, giảm dần, và trở lại

tăng trưởng bền vững, hoặc mô hình 2 giai đoạn tăng trưởng ổn định sau đó lại

tăng trưởng nóng…

Phương thức chiết khấu dòng cổ tức dễ sử dụng và đem lại độ chính xác khá

cao Thế nhưng phương pháp cũng có một số khuyết điểm đó là nó đánh giá

không chính xác, và thường là hạ thấp giá trị, của những công ty đang tăng

trưởng, không chia cổ tức hoặc chia cổ tức với tỷ lệ thấp so với lợi nhuận Mô

hình này cũng xác định hết giá trị của các công ty có nhiều tài sản không hoạt

động – nghĩa là tài sản không đóng góp vào việc tạo ra cổ tức

Tuy nhiên, cần lưu ý là đối với trường hợp công ty phát hành cổ phiếu lần đầu

ra công chúng, thì chưa thể áp dụng các công thức trên để ước tính r vì chưa có

căn cứ về mức độ rủi ro của công ty Vì thế, trong trường hợp này để có thể xác

định được tỉ suất thu nhập dự tính này, người đầu tư cần phải căn cứ vào tỷ suất

thu nhập dự tính của các cổ phiếu có dùng mức rủi ro với cổ phiếu cần định

giá Trong một số trường hợp, để thuận tiện trong cách tính toán người ta có thể

lấy khung lãi suất chung hiện hành trên thị trường để xác định tỷ suất thu nhập

r

1.4.2 Định giá cổ phiếu theo luồng tiền (DCF)

Bên cạnh định giá cổ phiếu bằng phương pháp chiết khấu dòng cổ tức

thì phương pháp chiết khấu dòng tiền được khá nhiều người ủng hộ và thậm chí

phương pháp này còn được giới phân tích tài chính ưa dùng hơn Về mặt lý

thuyết thì đây thực sự là một phương pháp khá tuyệt vời, tuy nhiên trên thực tế,

chúng ta có thể gặp vài khó khăn khi dùng phương pháp chiết khấu dòng tiền

để định giá cổ phiểu Một số phương pháp định giá khác cũng hữu ích, chúng

giúp chúng ta có được một cái nhìn tòan diện hơn về giá trị của cổ phiếu

Phương pháp định giá theo DCF dựa trên nguyên tắc cơ bản nhất là ước tính

Trang 10

giá trị tất cả các luồng thu nhập tự do mà tổ chức phát hành sẽ thu được trongtương lai và quy chúng về giá trị hiện tại bằng cách chiết khấu các luồng thunhập này theo một mức lãi suất chiết khấu thích hợp

- Những vấn đề cơ bản về phân tích chiết khấu dòng tiền

Lý thuyết chiết khấu dòng tiền phát biểu rằng giá trị của tất cả dòng tiền tạo ratài sản bao gồm từ những thu nhập cố định cho đến các khoản đầu tư đối vớitòan bộ doanh nghiệp thực ra chính là giá trị hiện tại của dòng tiền mong đợitrong tương lai được chiết khấu về hiện tại với một chiết khấu hợp lý Đối vớiđịnh giá doanh nghiệp thì người ta hay dùng khái niệm dòng tiền tự do Mứcchiết khấu hợp lý đối với doanh nghiệp chính là chi phí sử dụng vốn trung bình(WACC) của chính doanh nghiệp đó

FCFi là dòng tiền tự do năm thứ i

r : lãi suất chiết khấu

TFCF giá trị dòng tiền tự do còn lại vào cuối thời kỳ

g : tốc độ tăng trưởng giả định là liên tục trong suốt thời gian dự báo

n : số năm được sử dụng trong mô hình định giá

Theo DCF thì để xác định được giá trị của doanh nghiệp cần phải xác định khoảng thời gian dự báo (thường là 5-10 năm đối với các doanh nghiệp đã tương đối vững mạnh) rồi ước lượng các dòng tiền tự do, xác định mức chiết khấu hợp lý, ước đóan mức tăng trưởng của doanh nghiệp và xác định giá trị còn lại vào cuối kỳ dự báo Gía trị còn lại vào cuối kỳ dự báo( terminal value) chính là thành phần [TFCF / (k - g)] / (1+k)^n-1 trong công thức trên

Lấy giá trị hiện tại PV chia cho số cổ phần đang lưu hành của doanhnghiệp ta sẽ được giá trị hợp lý của mỗi cổ phần Đó chính là giá trị mà bạnđang tìm kiếm đấy! Đến đây có vẻ như phương pháp DCF cũng không mấykhó khăn để sử dụng Nhưng thực tế thì bạn sẽ gặp phải một số vấn đề sau:

Trang 11

Có lẽ một trong các giả định quan trọng nhất của mô hình DCF chính là các giảđịnh về mức chiết khấu và tỷ lệ tăng trưởng Có khá nhiều cách để xác địnhmức chiết khấu trong mô hình DCF định giá cổ phần

Các nhà phân tích thường sử dụng công thức mức chiết khấu R=Rf + β×(Rm Rf) hoặc là sử dụng chi phí sử dụng vốn trung bình WACC của doanh nghiệpnhư một tỷ lệ chiết khấu hợp lý khi sử dụng DCF để định giá doanh nghiệp Cảhai phương pháp trên đều khá lý thuyết và chúng thật sự không vận hành hiệuquả lắm trong ứng dụng đầu tư thực tế Các nhà đầu tư khác có thể chọn một tỷsuất rào cản tuỳ ý để định giá cho tất cả các khoản đầu tư vốn cổ phần Dĩnhiên là bạn nên biết rằng khi chọn một phương pháp nào để dự báo suất chiếtkhấu thì không có nghĩa là bạn sẽ có được những câu trả lời chắc chắn chínhxác Có lẽ vấn đề lớn nhất đối với giả định về tỷ lệ tăng trưởng chính là khichúng được sử dụng như một giả định về tốc độ tăng trưởng liên tục Giả địnhrằng một doanh nghiệp có thể giữ mức tăng trưởng liên tục là một giả định rất

-lý thuyết Các nhà phân tích đã tranh luận rằng tất cả các công ty lớn mạnhđang hoạt động với mức tăng trưởng liên tục như giả định sẽ có khuynh hướngchỉ đạt ở mức tăng trưởng chung của nền kinh tế trong dài hạn

Thêm vào đó, mức tăng trưởng của công ty sẽ thay đổi, đôi khi là thay đổi rấtnhanh qua từng năm hoặc thậm chí là qua từng thập kỷ Hiếm khi nào mà mộtdoanh nghiệp đạt đến một mức tăng trưởng nào đó và có thể duy trì mức tăngtrưởng đó mãi mãi

Quay trở lại với cách tính toán trong mô hình DCF dễ thấy kết quả của nó rấtnhạy cảm với bất cứ một sự thay đổi nào dù là nhỏ nhất trong giả định về tỷ lệchiết khấu và tỷ lệ tăng trưởng

- Các phương pháp thay thếNgay cả với một người có lòng tin chắc chắn đối với DCF, xem đây là mô hìnhtuyệt vời nhất trong xác định giá trị của đầu tư cổ phần thì việc xem xét thêmcác phương pháp khác để xác định giá cả mục tiêu cũng là một việc làm hữuích Nếu bạn đang lập kế hoạch về thu nhập và dòng tiền cho các khoản đầu tư,thì việc tính toán một số chỉ số bổ trợ để bạn ra quyết định là hết sức đơn giản.Các chỉ số như P/E, giá/ dòng tiền là các chỉ số được xác định dựa trên lịch sử

Trang 12

hoạt động của công ty và thông tin trong ngành của nó Cố gắng lựa chọn khéoléo một loạt các chỉ số nói lên mức độ hấp dẫn của doanh nghiệp là việc nênlàm

Chúng ta đều biết rằng khác với mô hình DCF, nếu định giá doanh nghiệp dựatrên tỷ số P/E hoặc giá/ dòng tiền thì cứ sau mỗi lần giao dịch, chúng ta lại cócác dữ liệu quá khứ để dự đoán chính xác hơn khả năng trong tương lai Trongkhi đó ngược lại các tính toán về tỷ lệ chiết khấu trong mô hình DCF thì ít phụthuộc vào các dữ liệu quá khứ, chúng ta chỉ tính toán lần đầu tiên rồi cứ thế sửdụng cho suốt nhiều năm trong khoảng thời gian dự báo

Là một nhà đầu tư, khôn ngoan nhất chính là tránh việc luôn tin tưởng rằng mộtphương pháp nào đó là tốt nhất cho việc định giá cổ phần Trong khi rất nhiềunhà đầu tư đồng tình rằng giá trị của cổ phần có liên quan với giá trị hiện tạicủa các dòng tiền tự do trong tương lai và phương pháp DCF được sử dụngxuất phát từ quan điểm ấy Tuy nhiên mô hình DCF không hề dễ dàng để thựchiện trong bối cảnh thực tế Có quá nhiều bất trắc với các giả định của nó Việctìm kiếm các phương pháp bổ trợ để ra quyết định chắc chắn là một việc làmkhông vô nghĩa Các phương pháp bổ trợ sẽ giúp bạn có một cái nhìn toàn diệnhơn về giá trị của cổ phiếu

1.4.3 Định giá dựa trên các hệ số tài chính

- Định giá cổ phiếu bằng phương pháp P/ENĐT cần xác định liệu một CP của Cty có giá trị gấp bao nhiêu lần thu nhập hiện tại của nó, giá CP trên thị trường là đắt hay rẻ có phản ánh đúng giá trị nộitại của CP

Các nhân tố ảnh hưởng tới P/E

EPS (thu nhập trên mỗi CP): Tỉ lệ tăng trưởng EPS càng cao thì hệ số P/E có

xu hướng cao theo

Hệ số đòn bẩy tài chính: Nguồn vốn của Cty được hình thành từ vốn nợ và vốn chủ sở hữu, nên khi một Cty có hệ số đòn bẩy tài chính cao thì P/E của Cty đó

sẽ thấp hơn so với một Cty khác tương đương trong ngành

P/E toàn thị trường: P/E toàn thị trường có ảnh hưởng rất lớn tới P/E riêng lẻ của từng loại CP Điều này chúng ta có thể thấy rất rõ tại TTCK VN

Trang 13

Lĩnh vực kinh doanh đa dạng: Một Cty có nhiều mảng hoạt động kinh doanh thì đồng nghĩa với việc phân tán rủi ro, ổn định thu nhập và sự đa dạng này sẽ giúp làm giảm sự biến động mạnh về thu nhập mỗi CP của Cty đó Những Cty đa dạng hoá họat động kinh doanh thường được NĐT đánh giá cao

Lãi suất thị trường: Giá cả các loại CK chịu tác động nhiều từ yếu tố lãi suất Nếu lãi suất thị trường cao sẽ dẫn đến giá CK và hệ số P/E thấp hơn vì giá trị hiện tại của các khoản thu nhập tương lai của Cty sẽ thấp hơn do phải chiết khấu ở mức lãi suất cao

- Lựa chọn EPS

Ta có thể lấy EPS của Cty trong 12 tháng gần nhất hoặc 4 quý gần nhất Nếu lấy thị giá hiện tại của CP chia cho EPS tương ứng ta sẽ sẽ thu được P/E hiện tại Nếu ta lấy EPS dự tính của năm sau hoặc trung bình của 3 đến 5 năm

ta sẽ thu được P/E gọi là P/E tương lai

Chỉ số nào tốt hơn ? Tỉ lệ P/E hiện tại có ưu điểm là nó phản ánh tình hình thực tế vì mẫu số EPS là con số thực tế đã được kiểm toán Tuy nhiên, nhược điểm của nó là lợi nhuận này chắc chắn sẽ thay đổi trong tương lai Do

đó, bằng cách ước tính lợi nhuận trong tương lai, chỉ số P/E tương lai dự đoánđược cả mức tăng trưởng của DN

Mặc dù con số ước tính này có thể không chính xác, ít nhất nó cũng giúpcác NĐT có cơ sở để tham khảo ra quyết định đầu tư Trên thực tế để định giáphục vụ cho mục đích đầu tư trong thời gian trung và dài hạn thì NĐT nên sử dụng EPS trung bình ước tính của Cty 3 đến 5 năm tới

- Lựa chọn P/E trong định giá CP

Trang 14

* Xác định hệ số P/E bình quân của nhóm Cty tương đương trong ngành về

kỹ thuật, mạng lưới khách hàng, quy mô, cơ cấu vốn và nhân hệ số này với thu nhập dự kiến của Cty để có mức giá hợp lý

Xác định hệ số P/E trung bình các Cty tương đương cùng ngành các nước trongkhu vực và nhân hệ số này với thu nhập dự kiến để có mức giá hợp lý

Xem xét CP có ý định đầu tư đắt hay rẻ không chỉ đơn thuần dựa vào hệ số P/E

mà cần phải kết hợp nhiều yếu tố và phương pháp khác để có kết quả chính xáchơn Tuy nhiên, trong một chừng mực nhất định, vẫn có thể sử dụng hệ số P/E như một phương pháp tham khảo để đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý

II.1 Thực trạng một số phương pháp được áp dụng phổ biến

Hiện nay các công ty cổ phần định giá cổ phần của mình theo nhiều phương pháp nhưng mô hình chiết khấu dòng tiền (DCF) và dựa vào chỉ số P/E là được

sử dụng nhiều nhất nên dưới đây chúng ta sẽ tìm hiểu các mô hình đó trong cáccông ty ở Việt Nam

◙ Định giá cổ phiếu phổ thông theo phương pháp chiết khấu luồng thu nhập

(DCF)

Phương pháp định giá chiết khấu luồng thu nhập (DCF) được dựa trên một nguyên lý cơ bản là "tiền có giá trị theo thời gian, một đồng tiền của ngày hôm nay luôn có giá trị hơn một đồng tiền của ngày mai, một đồng đầu tư vào trong doanh nghiệp (DN) này có mức sinh lời khác với một đồng đầu tư trong DN khác Do đó, giá trị của DN được xác định bằng các luồng thu nhập dự kiến mà

DN đó thu được trong tương lai được quy về giá trị hiện tại bằng cách chiết

Ngày đăng: 23/10/2013, 13:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Vận dụng cách tính cơ bản của hai mô hình nói trên, chúng ta có thể áp dụng cho những cổ phiếu có cổ tức phát triển theo nhiều gian đoạn khác nhau, chẳng hạn  như mô hình 3 giai đoạn: cổ tức tăng trưởng mạnh, giảm dần, và trở lại tăng  trưởng bền vững, ho - Thực trạng định giá cổ phần các doanh nghiệp Việt Nam
n dụng cách tính cơ bản của hai mô hình nói trên, chúng ta có thể áp dụng cho những cổ phiếu có cổ tức phát triển theo nhiều gian đoạn khác nhau, chẳng hạn như mô hình 3 giai đoạn: cổ tức tăng trưởng mạnh, giảm dần, và trở lại tăng trưởng bền vững, ho (Trang 9)
Như vậy, theo các mô hình định giá dựa trên các dự báo khá lạc quan, giá một cổ phần Vietcombank không vượt quá mức 100.000 đồng - Thực trạng định giá cổ phần các doanh nghiệp Việt Nam
h ư vậy, theo các mô hình định giá dựa trên các dự báo khá lạc quan, giá một cổ phần Vietcombank không vượt quá mức 100.000 đồng (Trang 17)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w