DANH MỤC CÁC BẢNGBảng 2.1 Nguồn gốc ngôn ngữ của tên gọi cây nông nghiệp trong tiếng Việt 53 Bảng 2.2 Tổng hợp cấu tạo tên gọi cây nông nghiệp trong tiếng Việt 59 Bảng 2.3 Mô hình cấu tạ
Trang 1VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu và thực hiện dưới
sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Hùng Việt Các tư liệu được sử dụng trongluận án có xuất xứ rõ ràng Để hoàn thành luận án này, ngoài các tài liệu thamkhảo đã liệt kê, tôi cam đoan không sao chép các công trình hoặc nghiên cứucủa người khác Những kết quả nghiên cứu được nêu trong luận án là trungthực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2020
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Hà Thùy Dương
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi vô cùng biết ơn PGS.TS Phạm Hùng Việt – người đãtrực tiếp dành nhiều thời gian tận tình hướng dẫn, cung cấp những thông tin
và tài liệu tham khảo quý báu giúp tôi hoàn thành Luận án này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Viện Từ điển học và Báchkhoa thư Việt Nam, nơi tôi đang công tác; các thầy cô giáo Khoa Ngôn ngữhọc – Học viện Khoa học Xã hội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trìnhthực hiện Luận án này
Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến những người thân cùng bạn bèđồng nghiệp, những người luôn cổ vũ, động viên tôi hoàn thiện Luận án này
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2020
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Hà Thùy Dương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 1
2.1 Mục đích nghiên cứu 2
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 3
4.1 Phương pháp nghiên cứu 3
4.2 Nguồn ngữ liệu nghiên cứu 5
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 6
5.1 Đóng góp về mặt lí luận 6
5.2 Đóng góp về mặt thực tiễn 6
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án 6
6.1 Về mặt lí luận 7
6.2 Về mặt thực tiễn 7
7 Cơ cấu của luận án 7
CHƯƠNG 1: 8
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 8
1.1 Tổng quan tình hình hình nghiên cứu 8
1.1.1 Tình hình nghiên cứu tên gọi thực vật trên thế giới 8
1.1.2 Tình hình nghiên cứu tên gọi thực vật ở Việt Nam 10
1.1.3 Tình hình nghiên cứu, biên soạn từ điển tiếng Việt 16
1.2 Cơ sở lí luận của việc nghiên cứu tên gọi cây nông nghiệp trong tiếng Việt 22
1.2.1 Vấn đề định danh 22
Trang 51.2.2 Một số cơ sở lí thuyết về từ và ngữ 31
1.2.3 Một số vấn đề về nghĩa của từ 36
1.2.4 Một số vấn đề từ điển học 42
1.3 Khái quát về cây nông nghiệp 48
Tiểu kết 49
CHƯƠNG 2: 50
ĐẶC ĐIỂM TÊN GỌI CÂY NÔNG NGHIỆP TRONG TIẾNG VIỆT 50
2.1 Dẫn nhập 50
2.2 Tên gọi cây nông nghiệp trong tiếng Việt xét về nguồn gốc ngôn ngữ 51
2.3 Tên gọi cây nông nghiệp trong tiếng Việt xét về cấu tạo 53
2.3.1 Cách thức biểu thị tên gọi cây nông nghiệp trong tiếng Việt 53
2.3.2 Mô hình cấu tạo tên gọi cây nông nghiệp trong tiếng Việt 60
2.4 Tên gọi cây nông nghiệp trong tiếng Việt xét về đặc điểm định danh 70
2.4.1 Những dấu hiệu được lựa chọn để định danh cây nông nghiệp 70 2.4.2 Các mô hình định danh cây nông nghiệp trong tiếng Việt 73
2.4.3 Tên gọi cây nông nghiệp trong tiếng Việt xét về các bậc định danh 80
Tiểu kết 87
CHƯƠNG 3: 89
ĐỊNH NGHĨA TÊN GỌI CÂY NÔNG NGHIỆP TIẾNG VIỆT TRONG CÁC TỪ ĐIỂN GIẢI THÍCH 89
3.1 Dẫn nhập 89
3.2 Phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của tên gọi cây nông nghiệp trong tiếng Việt 89
3.2.1 Miêu tả và phân tích định nghĩa tên gọi cây nông nghiệp trong tiếng Việt 90 3.2.2 Mô hình cấu trúc ngữ nghĩa tên gọi cây nông nghiệp trong tiếng Việt
104
Trang 63.2.3 Nhận xét về định nghĩa từ ngữ chỉ tên gọi cây nông nghiệp trong
"Từ điển tiếng Việt" 107
3.3 So sánh định nghĩa tên gọi cây nông nghiệp trong các từ điển giải thích tiếng Việt 115
3.3.1 So sánh định nghĩa tên gọi cây lương thực trong các từ điển giải thích tiếng Việt 116
3.3.2 So sánh định nghĩa tên gọi cây ăn quả trong các từ điển giải thích tiếng Việt 123
3.3.3 So sánh định nghĩa tên gọi cây nguyên liệu trong các từ điển giải thích tiếng Việt 134
3.3.4 Đề xuất mô hình định nghĩa mục từ cây nông nghiệp trong từ điển giải thích tiếng Việt 142
Tiểu kết 143
KẾT LUẬN 146
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC 165
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Nguồn gốc ngôn ngữ của tên gọi cây nông nghiệp trong tiếng Việt 53 Bảng 2.2 Tổng hợp cấu tạo tên gọi cây nông nghiệp trong tiếng Việt 59 Bảng 2.3 Mô hình cấu tạo tên gọi cây nông nghiệp là ngữ định danh 69 Bảng 2.4 Tổng hợp các đặc điểm dùng để định danh cây nông nghiệp 79 Bảng 2.5 Các bậc định danh tên gọi cây nông nghiệp trong tiếng Việt 85 Bảng 3.1 Các nét nghĩa đặc trưng của tên gọi cây nông nghiệp tiếng Việt 103 Bảng 3.2 Nét nghĩa "cây trồng/được gieo trồng" được bổ sung vào lời định 111
nghĩa
Bảng 3.3 Nét nghĩa "thời điểm" được bổ sung vào lời định nghĩa 114
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Việt Nam là nước thuộc vào nền văn minh nông nghiệp nên cây nôngnghiệp tự nhiên và thuần dưỡng rất phong phú và đa dạng Tương ứng với đặcđiểm tồn tại khách quan đó, việc định danh, đặt tên cho cây nông nghiệp cũng trởnên phong phú và đa dạng tương ứng Ở nước ta trong số các công trình nghiêncứu ở cấp trên và sau đại học đã có nhiều luận văn, luận án nghiên cứu về thuậtngữ, về từ nghề nghiệp, còn tên gọi cây nông nghiệp là những từ, ngữ thôngthường chưa có công trình nghiên cứu tương xứng Chưa có một công khoa họcnào nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống các từ ngữ là tên gọi các loại cây nôngnghiệp trong tiếng Việt về phương diện cấu tạo, ngữ nghĩa, đặc điểm định danh
1.2 Từ điển là công cụ tra cứu hữu hiệu cho người sử dụng ngôn ngữ Trong
sự phát triển thực tiễn, từ điển học thực hành ở Việt Nam, trong đó điển hình là
từ điển giải thích ngữ văn, đã phát triển mạnh mẽ Số lượng từ điển tiếng Việttăng vọt vào thời gian mấy năm trở lại đây Đến nay, chưa có những nghiên cứusâu sắc và có giá trị ứng dụng về các mô hình định nghĩa, cách giải thích ý nghĩacủa các kiểu loại mục từ trong các từ điển giải thích tiếng Việt Việc tìm hiểuđịnh nghĩa các mục từ là tên gọi cây nông nghiệp trong các từ điển giải thích sẽbước đầu góp phần nâng cao chất lượng định nghĩa của từ điển
1.3 Từ hai lí do trên, chúng tôi chọn đề tài Tên gọi cây nông nghiệp trong tiếng Việt và cách giải thích trong từ điển tiếng Việt cho luận án của mình.
Luận án của chúng tôi sẽ tập trung khảo sát, nghiên cứu những đặc điểm về cấutạo, định danh và ngữ nghĩa của các từ ngữ là tên gọi các cây nông nghiệp trongtiếng Việt Trên cơ sở đó tìm hiểu định nghĩa các từ ngữ này trong từ điển giảithích và đề xuất mô hình ngữ nghĩa để định nghĩa chính xác và thống nhất cácmục từ cây nông nghiệp trong từ điển giải thích tiếng Việt
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Trang 9Đề xuất bổ sung các thông tin cần thiết vào định nghĩa và đưa ra một mô hìnhđịnh nghĩa phù hợp cho các mục từ là tên gọi cây nông nghiệp trong từ điển giảithích tiếng Việt.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
a Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về tên gọi vềthực vật nói chung, cây nông nghiệp nói riêng Từ đó xác định được các nội dungnghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
b Xác lập được một khung lí thuyết liên quan đến đối tượng nghiên cứu, nộidung nghiên cứu của luận án Khung lí thuyết này gồm các vấn đề: lí thuyết vềđịnh danh ngôn ngữ, lí thuyết về từ, cấu tạo từ, cụm từ; lí thuyết về nghĩa từ; líthuyết về từ điển học
c Khảo sát, thống kê, phân loại từ ngữ là tên gọi các loại cây nông nghiệptrong tiếng Việt từ các nguồn ngữ liệu khác nhau; tìm hiểu đặc điểm cấu tạo củachúng; xác định các đặc trưng được sử dụng để gọi tên (định danh) các loại câynông nghiệp, miêu tả cụ thể các phương thức định danh, mô hình định danh cácloại cây nông nghiệp trong tiếng Việt
d Khảo sát nội dung ngữ nghĩa tên gọi các loại cây nông nghiệp qua các định
nghĩa trong Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), xác định các nét nghĩa
được sử dụng để định nghĩa tên gọi cây nông nghiệp và mô hình cấu trúc ngữnghĩa tổng quát của các định nghĩa tên gọi cây nông nghiệp
So sánh định nghĩa một số mục từ tên gọi cây nông nghiệp trong 8 cuốn từđiển giải thích tiếng Việt Từ đó nêu nhận xét về cách định nghĩa, bổ sung các
Trang 10thông tin cần thiết vào định nghĩa về cây nông nghiệp và đề xuất mô hình định nghĩa các mục từ tên gọi cây nông nghiệp trong từ điển giải thích tiếng Việt.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc điểm tên gọi cây nông nghiệp trongtiếng Việt và định nghĩa cây nông nghiệp trong các từ điển giải thích trên cơ sở
2609 các từ ngữ là tên gọi cây nông nghiệp trong tiếng Việt được thu thập từ cácnguồn ngữ liệu đáng tin cậy khác nhau và các mục từ tên gọi cây nông nghiệptrong các từ điển tiếng Việt Đó là những từ thường dùng gọi tên các loại câyđược con người trồng, chăm sóc và thu hoạch phục vụ các nhu cầu khác nhaucủa con người Một số tên gọi cây nông nghiệp đã được định nghĩa trong từ điểntiếng Việt cho trình độ phổ thông, đại học, phân biệt với nghĩa thuật ngữ và phânbiệt với từ nghề nghiệp về phạm vi sử dụng Như vậy, những loại cây hoang dãkhông phải là đối tượng nghiên cứu của luận án
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án gồm hai phương diện sau đây:
Đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh của tên gọi cây nông nghiệp trong tiếng Việt
Ngữ nghĩa của các từ tên gọi cây nông nghiệp được thể hiện trong định
nghĩa các mục từ trong Từ điển tiếng Việt.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Luận án này sử dụng một số phương pháp và thủ pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học sau đây:
4.1.1 Phương pháp miêu tả
Phương pháp miêu tả được dùng để miêu tả đặc điểm cấu tạo tên gọi các loại cây nông nghiệp, các phương thức định danh trong tên gọi các loại cây nông
Trang 11nghiệp trong tiếng Việt Từ đó nêu lên những nhận xét về những đặc trưng về cấutạo và định danh của tên gọi cây nông nghiệp trong tiếng Việt.
4.1.2 Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp
Phương pháp này được áp dụng để phân tích cấu tạo tên gọi các cây nôngnghiệp theo thành tố trực tiếp nhằm xác định các yếu tố cấu tạo tên gọi các loạicây nông nghiệp Từ đó, tìm ra được các nguyên tắc cấu tạo tên gọi cây nôngnghiệp tiếng Việt, các mô hình cấu tạo của chúng
4.1.3 Phương pháp phân tích thành tố nghĩa
Phương pháp này được áp dụng để phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của từ là têncác loại cây nông nghiệp được định nghĩa bằng cách dùng từ bao trong từ điểntiếng Việt thành các nét nghĩa, từ đó xác lập các đặc trưng định danh làm cơ sởxây dựng các mô hình định danh tên cây nông nghiệp, đồng thời xác định cácđặc trưng ngữ nghĩa (được thể hiện bằng các nét nghĩa trong lời định nghĩa)được sử dụng để định nghĩa cây nông nghiệp tiếng Việt
4.1.4 Phương pháp lịch sử so sánh
Luận án sử dụng phương pháp lich sử so sánh để so sánh một số định nghĩa
cây nông nghiệp trong 7 quyển từ điển tiếng Việt xuất bản trong khoảng thời
gian 80 năm (Việt Nam tự điển (Hội Khai trí - Tiến Đức, Sài Gòn, 1931 đến Từ
điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên, Hà Nội, tái bản năm
2012) để phân tích trúc ngữ nghĩa của mục từ tên gọi cây nông nghiệp.Từ đó xácđịnh các đặc trưng ngữ nghĩa (được thể hiện bằng các nét nghĩa trong lời địnhnghĩa) được sử dụng để định nghĩa các loại cây nông nghiệp trong tiếng Việt
4.1.5 Thủ pháp thống kê, phân loại
Thủ pháp thống kê được sử dụng để xác định số lượng từ ngữ là tên gọi cácloại cây nông nghiệp trong tiếng Việt, tỉ lệ phần trăm của các phương thức cấutạo, các mô hình định danh tên cây nông nghiệp trong tiếng Việt Các kết quảthống kê sẽ được tổng hợp lại dưới hình thức của bảng biểu giúp hình dung rõ
Trang 12hơn các đặc điểm cấu tạo, phương thức định danh trong tên gọi cây nông nghiệp
trong tiếng Việt.
4.2 Nguồn ngữ liệu nghiên cứu
Ngữ liệu nghiên cứu của luận án là các từ ngữ gọi tên các cây nông nghiệptrong tiếng Việt, tức là những loài cây có ích cho đời sống, được con người gieotrồng trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp
Các mục từ là tên gọi các loại cây nông nghiệp xuất hiện trong các cuốn từ
điển: Việt Nam tự điển (Hội Khai trí - Tiến Đức, Sài Gòn, 1931) [46], Tự điển
Việt Nam phổ thông (Đào Văn Tập biên soạn, Sài Gòn, 1951) [93], Việt Nam tân
từ điển (Thanh Nghị biên soạn, Sài Gòn, 1952) [75], Tự điển Việt Nam (Lê Văn
Đức biên soạn, Sài Gòn, 1970) [32], Từ điển tiếng Việt (Văn Tân chủ biên, Hà Nội, 1977) [92], Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên, Hà Nội, 1999) [136], Từ điển từ và ngữ Việt Nam (Nguyễn Lân biên soạn, Tp Hồ Chí Minh, 2000) [57], Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên, Hà Nội,
Danh sách giống lúa tại Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số
80/2005/QĐ - BNN ngày 05 tháng 12 năm 2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn
Trang 13Danh sách giống khoai tại Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số
80/2005/QĐ - BNN ngày 05 tháng 12 năm 2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn
Thực tế khảo sát các nguồn ngữ liệu, chúng tôi chỉ có ngữ liệu về một số loại
cây nông nghiệp là: lúa, ngô, khoai lang, sắn, đậu, lạc, vừng, ; cây ăn quả:
cam,
bưởi, nhãn, vải, chuối, xoài, thanh long, mận, táo, dứa, dừa, nho, ổi, ; cây trồng
phục vụ công nghiệp, lâm nghiệp: cà phê, cao su, chè, mía, bông, đay, thuốc lá,
sơn, sở, trẩu, hồ tiêu, ca cao, hồi, Số lượng tên cây thuốc rất lớn và cũng đã có
những công trình nghiên cứu chúng Còn các cây thực phẩm như các loại rau,cây gia vị không có tư liệu đầy đủ Vì vậy, luận án này chỉ khảo sát tên gọi câynông nghiệp chỉ giới hạn là tên gọi cây lương thực, cây trồng phục vụ côngnghiệp, lâm nghiệp và cây ăn quả Từ các nguồn ngữ liệu khác nhau, chúng tôi
đã thu thập được 2609 tên gọi cây nông nghiệp được biểu thị bằng từ và cụm từ
của tiếng Việt
Đóng góp mới về khoa học của luận án
5.1 Đóng góp về mặt lí luận
Kết quả nghiên cứu của luận án góp thêm vào việc vận dụng lí thuyết ngônngữ học (định danh ngôn ngữ, ngữ nghĩa học, từ điển học thực hành) để nghiêncứu, xử lí từ ngữ tên gọi cây nông nghiệp trong tiếng Việt, chỉ rõ tính khoa học,hiệu quả của các lí thuyết ngôn ngữ học vào nghiên cứu thực tế nguồn ngữ liệutiếng Việt
5.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng trong việc làm cơ sởđặt tên bằng tiếng Việt cho các loại cây trồng mới ở Việt Nam, cũng như vàoviệc định nghĩa các mục từ này trong từ điển được chính xác, khoa học hơn
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
Có thể nói, đây là luận án đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một cách hệ thống
và toàn diện những đặc điểm cơ bản về phương diện cấu tạo, định danh và cấu
Trang 14trúc nghĩa tên gọi cây nông nghiệp trong định nghĩa của từ điển giải thích tiếngViệt Vì vậy, luận án sẽ có ý nghĩa như sau:
sở đặt tên (định danh) cho chúng
Kết quả nghiên cứu của luận án là minh chứng về mối quan hệ giữa nghiêncứu lí thuyết với nghiên cứu ứng dụng trong địa hạt ngôn ngữ học, sẽ góp phầnvào việc nâng cao chất lượng, độ chính xác của các định nghĩa về tên gọi các loạicây nông nghiệp nói riêng trong các loại từ điển tiếng Việt
6.2 Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ:
Cho phép xác định, đề xuất được các biện pháp, cách thức gọi tên (định danh)các loại sự vật, hiện tượng mới xuất hiện dựa vào các đặc điểm riêng, nổi bật(các đặc điểm định danh) của chúng
Có thể sử dụng cho việc giảng dạy từ vựng tiếng Việt và định nghĩa hệ
thống tên gọi các loài thực vật nói chung, tên gọi các loại cây nông nghiệp nói riêng trong tiếng Việt trong từ điển giải thích tiếng Việt
Sử dụng thống nhất mô hình định nghĩa mà luận án đã đề xuất vào việc địnhnghĩa các mục từ cây nông nghiệp trong từ điển giải thích tiếng Việt
Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án gồm 3 chương được bố cục như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 2: Đặc điểm tên gọi cây nông nghiệp trong tiếng Việt
Trang 15Chương 3: Định nghĩa tên gọi cây nông nghiệp tiếng Việt trong các từ điển giải thích
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Tổng quan tình hình hình nghiên cứu
Vì tên gọi cây nông nghiệp nói riêng thường được coi như một phần của têngọi thực vật nói chung, nên để thấy được tình hình nghiên cứu về tên gọi câynông nghiệp, luận án trình bày tổng quan về tình hình nghiên cứu tên gọi thựcvật trên thế giới và tình hình nghiên cứu tên gọi thực vật và tên gọi cây nôngnghiệp ở Việt Nam
1.1.1 Tình hình nghiên cứu tên gọi thực vật trên thế giới
Trong ngôn ngữ học hiện đại, việc nghiên cứu đặc điểm cấu tạo và định danhtên gọi thực vật trong các ngôn ngữ trên thế giới còn ít được nghiên cứu Với sựhiểu biết hạn chế của mình, chúng tôi trình bày khái quát một số công trìnhnghiên cứu trên thế giới có liên quan đến đề tài luận án
Luận án Phó tiến sĩ về đề tài Tên gọi dân tộc các loài thực vật (dựa trên ngữ
liệu tiếng Anh, tiếng Nga và tiếng Cadắc) [152] của G.I Uiukbôva bảo vệ năm
1983 tại Viện Ngôn ngữ học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô thuộc loạicông trình nghiên cứu đầu tiên Lựa chọn 523 tên gọi thực vật tiếng Anh, 290 têngọi thực vật tiếng Nga và 302 tên gọi thực vật tiếng Cadắc làm đối tượng nghiêncứu, luận án đã miêu tả tên gọi thực vật trong ba ngôn ngữ này, xác định được 10thuộc tính được sử dụng (tác giả gọi là "bộ lí do") để định danh thực vật trongcác ngôn ngữ Anh, Nga và Cadắc
Luận án Phó tiến sĩ về đề tài Trường nghĩa "thực vật" trong tiếng Nga [151] của
Said Aliafar bảo vệ năm 1999 tại Trường Đại học Tổng hợp Xanh Pêtecbua đã dựa
vào 800 từ là tên gọi thực vật trong tiếng Nga được định nghĩa trong Từ điển
Trang 16tiếng Nga của S.I Ojegov và N Ju Svedova để nghiên cứu đặc điểm ngữ nghĩa
của các từ tên gọi thực vật trong tiếng Nga và cách giải thích nghĩa từ vựng củachúng trong từ điển Luận án cũng tìm hiểu đặc điểm định danh tên gọi các loạicây và hoa trong tiếng Nga
Luận án Phó tiến sĩ về đề tài Các phương thức định danh thực vật trong tiếng
Nanai [147] của L.J Zacsor bảo vệ năm 2005 tại Xanh Pêtecbua đã dựa vào
1171 tên gọi thực vật trong tiếng Nanai để miêu tả nguồn gốc hình thành và đặc
điểm phát triển lịch sử tên gọi thực vật trong tiếng Nanai Luận án cũng đãnghiên cứu phương thức phụ tố trong định danh thực vật, tìm hiểu đặc điểm cấutạo tên gọi thực vật và đặc điểm định danh thực vật bằng các phương tiện hìnhthái, từ vựng - ngữ nghĩa và cú pháp trong trong ngôn ngữ Nanai
Luận án Phó tiến sĩ về đề tài Tên gọi các loài thực vật ngoại lai trong tiếng
Anh và tiếng Nga: Các bình diện cấu trúc - cấu tạo từ và mô típ định danh [146]
của A.V Berestneva, bảo vệ năm 2008 tại Trường Đại học Tổng hợp Quốc giaGomen (Bêlarus) Dựa vào 2.000 tên gọi tiếng Nga và hơn 2.500 tên gọi tiếngAnh các loài thực vật ngoại lai, luận án đã phân tích cấu trúc - cấu tạo từ tên gọicác loài thực vật ngoại lai tiếng Anh và tiếng Nga, xác định các nguyên tắc, dấuhiệu định danh thực vật ngoại lai trong hai ngôn ngữ và xác định các loại dấuhiệu được dùng để định danh các loài thực vật ngoại lai Từ đó, luận án tiến hànhđối chiếu các dấu hiệu ngữ nghĩa có trong tên gọi các loài thực vật ngoại laitrong hai ngôn ngữ để làm sáng rõ những nguyên tắc định danh mang tính phổquát và dân tộc
Luận án Phó tiến sĩ về đề tài Tên gọi các loài dược thảo trong các ngôn ngữ có cấu trúc khác nhau (dựa trên ngữ liệu tiếng Nga, tiếng Maria, tiếng Đức và tiếng Latinh [150] của O.G Rubxôva bảo vệ năm 2015 tại Trường Đại học Tổng hợp
Quốc gia Maria Đối tượng nghiên cứu là tên gọi các loài dược thảo trong tiếngNga, tiếng Maria, tiếng Đức và tiếng Latin, gồm 4.000 tên gọi các loài dược thảo,phân tích 3003 tên gọi, trong đó có 70 tên gọi Latinh, 1953 tên dược thảo tiếng
Trang 17Nga, 383 tên dược thảo tiếng Maria và 597 tên dược thảo tiếng Đức Luận án đãnghiên cứu những nguyên tắc cơ bản được dùng để định danh các loài dược thảotrong các ngôn ngữ này; xác định những đặc trưng làm cơ sở định danh và nhữngnguyên tắc định danh các loài dược thảo Trên cơ sở đó, luận án đã phân loại và
so sánh tên gọi các loài dược thảo được thể hiện trong bốn ngôn ngữ này
1.1.2 Tình hình nghiên cứu tên gọi thực vật ở Việt Nam
Trong vốn từ vựng tiếng Việt, tên gọi các loài thực vật nói chung, tên gọi cácloại cây nông nghiệp nói riêng được coi là một nhóm từ vựng - ngữ nghĩa Đặcđiểm sinh học của các loài thực vật ở nước ta đã được nghiên cứu chuyên sâu từphương diện thực vật học, sinh học, nông học Còn về phương diện ngôn ngữhọc, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về tên gọi thực vật nói chung, tên gọi
cây nông nghiệp nói riêng Vân đài loại ngữ [29] của Lê Quý Đôn và Lịch triều
hiến chương loại chí [19] của Phan Huy Chú có thể xem là những sách có tính
bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam đề cập đến nghề nông và sử dụngnước Gần đây một số chuyên khảo về nghề trồng lúa, một số quyển từ điển báchkhoa chuyên ngành về nông nghiệp, về cây thuốc Việt Nam đã được biên soạn:
Từ điển Bách khoa nông nghiệp [115], Từ điển Bách khoa nông nghiệp Việt Nam
[23], Từ điển cây thuốc Việt Nam (bộ mới), 2 tập [17], Văn minh lúa nước và
nghề trồng lúa Việt Nam [27].
Trong Việt ngữ học hiện đại, với tư cách là một nhóm từ vựng - ngữ nghĩa,tên gọi các loài thực vật nói chung, tên gọi cây nông nghiệp nói riêng trong tiếngViệt được nghiên cứu theo ba hướng: nghiên cứu từ cách tiếp cận từ vựng họctruyền thống; nghiên cứu theo hướng phong cách học và nghiên cứu theo hướngcủa ngôn ngữ học tri nhận
a Nghiên cứu nhóm từ tên gọi thực vật theo truyền thống
Theo hướng nghiên cứu này có thể nêu ra một số bài viết, luận văn sau:
Luận văn tốt nghiệp đại học của Cao Thị Thu Đặc điểm định danh và ngữ
nghĩa trường từ vựng tên gọi thực vật trong tiếng Việt [106] bảo vệ năm 1995 tại
Trang 18Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội Dựa vào lời giải thích trong định nghĩa từđiển giải thích tiếng Việt của 657 từ ngữ chỉ thực vật, tác giả luận văn sử dụngphương pháp phân tích thành tố nghĩa để phân giải lời giải thích thành các nghĩa
vị khu biệt phản ánh những đặc trưng cơ bản của thực vật được biểu thị Tác giả
đã xác định được 14 nghĩa vị khu biệt xuất hiện trong lời giải thích tên gọi thực
vật: tên chỉ loại; đặc điểm hình thức/cấu tạo; đặc điểm kích cỡ; vai trò trong đời
sống; đặc điểm màu sắc; đặc điểm vị trí, quan hệ trong phân loại sinh vật học; vai trò trong y học; môi trường sống; đặc điểm vị; đặc điểm mùi; đặc điểm thuần dưỡng; đặc điểm thời gian; đặc điểm tập tính sinh sống Trên cơ sở đó tác
giả tìm hiểu quá trình chuyển nghĩa và những ý nghĩa biểu trưng của các từ ngữchỉ thực vật trong tiếng Việt
Luận văn thạc sĩ của Trần Hạnh Nguyên Trường trường từ vựng - ngữ nghĩa
thực vật trong kho tàng ca dao người Việt [76] bảo vệ năm 2014 tại Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội, tìm hiểu đặc điểm cấu tạo, đặc trưng ngữ nghĩa và giá trịbiểu trưng của tên các loài thực vật cùng những bộ phận cơ bản của chúng (hoa,
quả) xuất hiện trong kho tàng ca dao Việt Nam Khảo sát 11825 lời ca trong Kho
tàng ca dao người Việt, tác giả luận văn xác định được có 2875 lời ca về trường
nghĩa thực vật, chiếm 24% và thống kê được 325 loại thực vật chỉ cây (tùng,
cúc, trúc, mai, tre, lúa, cây đa, rau cải, rau muống, rau răm,…) Có 2226 từ nói
về cây và rau (chiếm 49%): cây đào, cây liễu, cây trúc, cây tre, cây đa, cây lúa,
cây bèo, cỏ, rau muống, rau cải, rau răm, rau má, rau húng, gừng, Dựa vào kết
quả thống kê, phân loại nêu trên tác giả tiến hành khảo sát, phân tích đặc điểm
ngữ nghĩa, sự chuyển trường của các từ ngữ chỉ tên thực vật trong ca dao, tìmhiểu ý nghĩa biểu trưng của các từ thuộc trường nghĩa thực vật trong kho tàng cadao người Việt
Luận án Từ ngữ chỉ động thực vật trong tiếng Việt và tiếng Anh [118] của
Nguyễn Thanh Tùng đã so sánh từ chỉ thực vật tiếng Việt và tiếng Anh trong từđiển giải thích, trong thành ngữ và tục ngữ dựa trên cơ sở phân loại từ chỉ thực
Trang 19vật dùng theo nghĩa đen và nghĩa bóng Trong công trình này, tác giả đã chỉ ranhững đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của hai dân tộc Việt và Anh với hai loạihình ngôn ngữ và văn hóa khác biệt nhau.
Hồ Văn Tuyên (2005) trong Đặc điểm định danh từ vựng trong phương ngữ
Nam Bộ [119], tác giả có đề cập đến cách định danh thực vật ở Nam Bộ xét về
mặt cấu tạo, phương thức biểu thị và ngữ nghĩa Qua cách định danh này, tác giảcho ta thấy rõ nét văn hóa rất đặc trưng trong tư duy của người Việt nói chung vàngười Nam Bộ nói riêng
Luận văn thạc sĩ của Lê Hồng Nhiên Từ chỉ thực vật trong tiếng Việt (đối
chiếu giữa các phương ngữ) [77], bảo vệ năm 2012 tại Trường Đại học Sư phạm
TP Hồ Chí Minh đã thu thập được 391 từ chỉ thực vật có tên gọi khác nhau trongcác phương ngữ của tiếng Việt qua khảo sát các từ điển thường dùng và điền dã.Tác giả công trình này đã phân loại và miêu tả đặc điểm cấu tạo từ (từ đơn, từghép, từ láy), các mô hình cấu tạo từ ghép là các loài thực vật có tên gọi khácnhau trong các phương ngữ tiếng Việt Luận văn đã đối chiếu từ chỉ thực vật giữacác phương ngữ xét về mặt cấu tạo, ngữ âm - ngữ nghĩa để làm rõ cách tri nhận,tìm hiểu các yếu tố văn hóa, địa lí có ảnh hưởng đến quy luật định danh tên gọithực vật trong từng phương ngữ nói riêng và trong tiếng Việt nói chung Thôngqua đối chiếu nhóm từ chỉ thực vật giữa các phương ngữ, luận văn đã nêu lênnhững đặc trưng, những nét khác biệt chủ yếu về mặt cấu tạo, ngữ âm - ngữnghĩa giữa các phương ngữ, có sự so sánh với ngôn ngữ toàn dân
Luận án của Trần Thị Hường Đặc điểm định danh tên cây thuốc Việt Nam (có
liên hệ tiếng Latinh) [50] bảo vệ năm 2020 tại Trường Đại học Khoa học xã hội
và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận án nghiên cứu định danh tên gọicây thuốc Việt Nam nhằm xác định nguồn gốc, đặc điểm cấu tạo và cơ sở đặt têncho cây thuốc, đồng thời khám phá đặc trưng văn hóa dân tộc của người Việt đốivới việc định danh cây thuốc, có sự liên hệ với tên gọi Latinh Khảo sát 1966 têncây thuốc, luận án xác định được 1538 tên gọi thuần Việt, 414 tên gọi vay mượn
Trang 20tiếng Hán và 14 tên gọi vay mượn các ngôn ngữ Ấn - Âu Luận án đã xác địnhđược tên gọi cây thuốc Việt Nam có cấu tạo là từ gồm 678 đơn vị (chiếm34,49%) và 1288 đơn vị (chiếm 65,51%) có cấu tạo là cụm từ (ngữ), miêu tả têngọi cây thuốc có cấu tạo là cụm từ theo các mô hình cấu tạo gồm từ 2 đến 5thành tố Những thành tố thu được đều là những yếu tố có nghĩa từ vựng biểu thịmột khái niệm hoặc đặc trưng của khái niệm có liên quan đến tên cây thuốc ViệtNam Tên gọi cây thuốc bằng tiếng Latinh gồm tên chi và tên loài cũng đượcmiêu tả cụ thể Về phương diện định danh tên gọi cây thuốc Việt Nam, luận án
đã xác định được 151 tên gọi không có lí do (chiếm 7,68%) vì không giải thíchnổi vì sao gọi thế Những tên gọi này thuộc loại định danh đơn (định danh cơ sở)chủ yếu là những tên gọi có cấu tạo là từ đơn thuần Việt và từ vay mượn ngônngữ Ấn - Âu Còn lại1186 tên gọi cây thuốc là có lí do thuộc loại định danh phức
(chiếm 60,32%) Những tên gọi này có đặc trưng: dùng thành tố chỉ loài kết hợp
với các dấu hiệu chỉ đặc điểm để định danh Với cây thuốc có tên khoa học tiếng
Latinh, các nhà khoa học đã dựa vào một số cơ sở sau để định danh cây thuốc:địa danh nơi loài phát triển, hoặc nơi đầu tiên phát hiện; tên người đã khám phá,
mô tả loài đó; tên thể hiện tính chất đặc thù nào đó của loài (màu sắc, hình dạng,mùi thơm, vùng sinh thái,…)
b Nghiên cứu tên gọi thực vật theo hướng phong cách học
Theo hướng này, tên gọi thực vật và cây nông nghiệp trong tiếng Việt là ngữliệu để tìm hiểu các tín hiệu thẩm mĩ và nghĩa biểu trưng Chỉ có một vài luận án,luận văn, bài viết khảo sát bước đầu về trường tên gọi thực vật, chủ yếu tập trungtìm hiểu tên loài thực vật và đặc điểm biểu trưng các loài thực vật trong thơ ca,
ca dao
Luận án Tín hiệu thẩm mĩ thuộc trường nghĩa cây trong thơ Việt Nam [1] của Phạm Thị Kim Anh đã tìm hiểu các từ thuộc trường nghĩa "cây" có chức năng kiến
tạo nghĩa thẩm mĩ được dùng để biểu thị các hình tượng nghệ thuật thơ Luận án đã
miêu tả các đơn vị ngôn ngữ thuộc trường nghĩa "cây" trong thơ ca (cây tre,
Trang 21trúc, thông, tùng, liễu, cỏ, lúa, lau, bèo, rêu) Từ đó, tìm hiểu sự biến đổi và
chuyển hóa cả về hình thức biểu đạt lẫn nội dung ý nghĩa của các từ chỉ các câytrong thơ ca Việt Nam để chúng trở thành một hệ thống tín hiệu thẩm mĩ
Một số tác giả nghiên cứu nghĩa biểu trưng của hoa, một bộ phận của cây
trong kho tàng ca dao của người Việt như: Hàm ý biểu trưng của từ chỉ hoa và
tên hoa trong ca dao của tác giả Hà Thị Quế Hương đã chỉ ra biểu trưng của các
từ chỉ hoa trong ca dao [49] Bài viết Đôi nét về nhóm biểu tượng hoa trong ca
dao của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Điệp đã đề cập tới biểu tượng hoa chỉ vẻ đẹp của người thiếu nữ, biểu tượng về tình yêu, [28] Trần Văn Sáng đã xác định
những giá trị biểu trưng của hoa đào qua bài viết Hoa đào, từ biểu tượng văn
hóa đến biểu trưng văn học Theo tác giả, "Nếu trong văn chương bác học, các nhà thơ thường liên tưởng tới cả cây đào, thân đào, hoa đào với những biểu trưng khác nhau thì trong ca dao, các thi sĩ dân gian lại chủ yếu sử dụng thi liệu hoa đào để nói về người con gái, tình yêu đôi lứa và mối nhân duyên” [89, tr.
44]
c Nghiên cứu tên gọi thực vật theo hướng ngôn ngữ học tri nhận
Việt Nam trong vài thập niên gần đây, những vấn đề về ngôn ngữ học tri nhậnnói chung và lí thuyết ẩn dụ ý niệm nói riêng đã thu hút sự chú ý của giới nghiên
cứu Việt ngữ học Trong công trình Ngôn ngữ học tri nhận: Từ lí thuyết
đại cương đến thực tiễn tiếng Việt [100], Lý Toàn Thắng đi sâu vào việc nghiên
cứu ngữ nghĩa của từ “cây” và sự phân loại dân dã thực vật ở người Việt Ông xác định từ "cây" được sử dụng với 11 ý nghĩa khác nhau Theo ông, cách dùng của từ "cây" trong các ngữ cảnh khác nhau và sự phân loại dân dã thực vật của
người Việt, về cơ bản, không phải là nguyên lí “phân loại sinh học” mà quantrọng là đặc tính về tri giác và về văn hóa, trong đó chủ yếu là nguyên lí “lấy conngười làm trung tâm” (dĩ nhân vi trung)
Luận án Ẩn dụ ý niệm của phạm trù thực vật trong tiếng Việt và tiếng Anh của
Trần Thị Phương Lý [68] đã nghiên cứu các ẩn dụ ý niệm trên nguồn ngữ
Trang 22liệu cụ thể liên quan đến ý niệm thực vật trong tiếng Việt (có liên hệ với tiếngAnh) nhằm tìm ra chứng cứ củng cố cho quan điểm tri nhận về ẩn dụ, giúp làmphong phú thêm những nghiên cứu về ẩn dụ tiếng Việt Dựa trên ngữ liệu chỉ
thực vật trong phạm vi nguồn cứ liệu chính là Từ điển tiếng Việt, luận án đã khảo
sát ẩn dụ ý niệm, tìm hiểu phương thức thiết lập và các thành tố của mô hìnhchuyển di ý niệm (từ ý niệm thực vật để nhận thức các phạm trù ý niệm khác)trên ngữ liệu biểu thức ngôn ngữ liên quan đến thực vật trong tiếng Việt (có liên
hệ với tiếng Anh), cũng như tìm hiểu các nền tảng kinh nghiệm phổ quát chophép thực hiện sự nhận thức thông qua con đường chuyển di này, từ đó, phânloại và lí giải chức năng các loại ẩn dụ ý niệm THỰC VẬT
Cũng từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận, trong bài viết Chiếu xạ miền ý niệm
thực vật và con người trong ca từ Trịnh Công Sơn [43], Nguyễn Thị Bích Hạnh
đã nghiên cứu mô hình ẩn dụ ý niệm CON NGƯỜI LÀ THỰC VẬT trong ca từ
Trịnh Công Sơn, lí giải quy luật chiếu xạ từ ý niệm thực vật (miền NGUỒN) lên
ý niệm con người (miền ĐÍCH), tìm hiểu cách tri nhận của nhạc sĩ về con người
và các chu kì vòng đời người dựa trên ý niệm chu kì sinh trưởng của thực vậthiện thân trong ngôn ngữ, từ đó giải mã con người văn hóa, vô thức cá nhân và
thế giới tinh thần của nhạc sĩ Trong một bài viết khác với nhan đề Ẩn dụ ý niệm
"CON NGƯỜI LÀ CÂY" trong thành ngữ, tục nhữ tiếng Việt [44], Nguyễn Thị
Bích Hạnh đã tìm hiểu cách tri nhận của người Việt về con người và các chu kì
vòng đời người dựa trên ý niệm về chu kì sinh trưởng của thực vật được thể hiệntrong ngôn ngữ Căn cứ vào những liên tưởng kinh nghiệm thể hiện trong tụcngữ tiếng Việt và những miền tri thức được chiếu từ miền nguồn sang miền đíchthể hiện qua các thành ngữ tiếng Việt, tác giả đã chỉ ra cơ chế sao phỏng giữa haimiền không gian trong tư duy ngôn ngữ của người Việt
Tóm lại, các tác giả đi trước đề cập đến các từ chỉ thực vật như là một nhóm
từ vựng - ngữ nghĩa và nghiên cứu chúng từ nhiều góc độ: tìm hiểu đặc trưng từvựng - ngữ nghĩa (đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa và định danh), nghiên
Trang 23cứu các ẩn dụ ý niệm trên nguồn ngữ liệu liên quan đến ý niệm thực vật trongtiếng Việt, nghiên cứu nghĩa biểu trưng của các từ ngữ chỉ thực vật và nghiêncứu đối chiếu các từ ngữ chỉ thực vật trong các ngôn ngữ khác nhau Từ đó, cóthể khẳng định rằng chưa có công trình nào nghiên cứu tên gọi cây nông nghiệptiếng Việt về phương diện cấu tạo, ngữ nghĩa, định danh và định nghĩa chúngtrong từ điển giải thích.
1.1.3 Tình hình nghiên cứu, biên soạn từ điển tiếng Việt
Về từ điển, có thể xem xét từ hai góc độ: nghiên cứu về từ điển - từ điển học
lí thuyết và biên soạn từ điển - từ điển học thực hành Từ góc độ từ điển học líthuyết có thể xem xét sự phát triển của từ điển học qua những công trình lí luận;
từ góc độ từ điển học thực hành có thể xem xét sự phát triển của ngành từ điểnhọc qua những cuốn từ điển đã được biên soạn Trong thực tế hai mặt này gắn bóchặt chẽ với nhau, vì một cuốn từ điển được biên soạn thường mang đậm dấu ấncủa tác giả, cả về tri thức bách khoa lẫn tri thức ngôn ngữ học Theo thống kêcủa Vũ Quang Hào, "Chỉ tính riêng những từ điển về tiếng Việt, liên quan đếntiếng Việt, được biên soạn bằng tiếng Việt và được dịch ra tiếng Việt được xuấtbản ở Việt Nam và nước ngoài, từ 1651 đến 1998, đã là gần 1.000 đầu từ điển"[45, tr.21] Đó là một con số lớn Trong khuôn khổ đề tài, luận án chỉ trình bàykhái quát một số vấn đề lí thuyết từ đó liên hệ với tình hình biên soạn thực tế vàgiới thiệu một số quyển từ điển giải thích tiếng Việt mà luận án có khảo sát địnhnghĩa một số mục từ cây nông nghiệp trong tiếng Việt
1.1.3.1 Tình hình nghiên cứu lí thuyết từ điển học ở Việt Nam
Về phương diện nghiên cứu lí thuyết từ điển học, cho đến những thập niên 90của thế kỉ XX, Hoàng Phê và Nguyễn Ngọc Trâm khẳng định: "Từ điển học ViệtNam ra đời rất muộn, thậm chí có thể nói rằng nó còn chưa thật sự hình thành,mặc dù chúng ta cũng đã có nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn nhất định"[83,tr.9] Hai tác giả này cũng cho rằng: "Từ những năm
Trang 241968 - 1969, chúng ta đã bắt đầu tìm hiểu lí luận từ điển học trong điều kiện rấtthiếu tài liệu tham khảo và tìm hiểu những bài học kinh nghiệm trong công tác từđiển học của các nước cũng như kinh nghiệm của nước ta" [83, tr.10] Chu BíchThu nhận thấy rằng ý kiến trên đây "vẫn không gây phản ứng nào trong giớingôn ngữ học" và khẳng định: "Quả thực, cho đến nay cũng vẫn chưa có mộtcông trình nghiên cứu nào về từ điển một cách toàn diện và có hệ thống"[108,tr.12] Tuy nhiên, tác giả cũng thừa nhận "những ý kiến về từ điển và từđiển học đã có từ rất lâu" Thực tế đã có hàng loạt bài viết đã trình bày nhữngvấn đề lí thuyết từ điển học [5, 70, 78, 116, 124]; hoặc trình bày một vài vấn đề
cụ thể của từ điển học [21, 60, 80, 83, 85, 124]; hoặc thông qua việc nhận xét,giới thiệu các quyển từ điển để phát biểu về quan điểm và phương pháp biênsoạn từ điển [7, 62] Các bài viết này "đã đặt nền móng cho một cách làm từ điểngiải thích hiện đại, chấm dứt giai đoạn làm từ điển chỉ bằng kinh nghiệm và sự
cần mẫn" [108,tr.14] Loạt bài này đã đặt cơ sở cho việc biên soạn cuốn Từ điển
tiếng Việt phổ thông (tập 1) 1975 và sau đó là cuốn Từ điển tiếng Việt (Hoàng
phê chủ biên) năm 1988, đồng thời cũng hình thành một hệ thống những quanniệm đầu tiên cho một nền từ điển học lí thuyết ở Việt Nam" [108,tr.12] Đến
năm 1997, công trình Một số vấn đề từ điển học ra đời mà các tác giả của nó chính là những người tham gia biên soạn Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ
biên, xuất bản năm 1988 và đã tái bản nhiều lần) đã bắt tay tổng kết một số vấn
đề lí thuyết về từ điển Ở đó, "những vấn đề muôn thuở của từ điển" như: cấutrúc vĩ mô và cấu trúc vi mô của từ điển giải thích; vấn đề thu thập và giải thíchthuật ngữ trong từ điển; hệ thống các kiểu chú giải trong từ điển; cách chú từ loạicho mục từ; thiết kế mẫu định nghĩa các mục từ ngữ văn chương, đã được cáctác giả "nhìn nhận dưới ánh sáng của lí thuyết từ điển học hiện đại và ngôn ngữhọc hiện đại" [108,tr.13] Đánh giá công trình này, Chu Bích Thu viết: "Không
thể nói những gì các tác giả của tập Một số vấn
Trang 25đề từ điển học đã đề cập là hoàn toàn mới, nhưng có thể nói đây là sự kết hợp
khá nhuần nhuyễn giữa lí thuyết và thực hành khi biên soạn cũng như đúc kếtnhững vấn đề có tính lí thuyết của công tác từ điển trên thế giới vào thực tế tiếngViệt ( ) Các tác giả đã cố gắng vận dụng những vấn đề tương đối mới của ngônngữ học hiện đại vào việc biên soạn từ điển giải thích ( ) Loạt bài này đồngthời đã và đang đặt nền móng cho việc tiếp tục biên soạn một cuốn từ điển lớnhơn và tốt hơn" [108,tr.27]
Sau 1997, đáng chú ý nhất là cuốn sách Kiểm kê từ điển học Việt Nam của Vũ
Quang Hào Với cấu trúc gồm 4 chương, cuốn sách giới thiệu đầy đủ một số vấn
đề chung về từ điển học, giới thiệu toàn cảnh về từ điển học lí thuyết Việt Nam(1923 - 2005), toàn cảnh về từ điển học thực hành Việt Nam (1651 - 2005) vàmột số vấn đề về từ điển học nước ngoài Trong giai đoạn này đã có khá nhiềubài viết chuyên về từ điển học của Nguyễn Văn Thạc [94], Chu Bích Thu [105],
Hồ Hải Thụy [107], Nguyễn Ngọc Trâm [83], Lý Toàn Thắng [99], NguyễnTuyết Minh [70],
Chương trình khoa học cấp Bộ Một số vấn đề cơ bản về lí luận và phương
pháp luận của thế giới và Việt Nam về biên soạn các loại từ điển
do Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam triển khai trong hai năm 2009
và 2010 Mục tiêu của chương trình là xác định các loại hình từ điển và báchkhoa thư cơ bản; xây dựng cơ sở lí luận và phương pháp biên soạn đối với cácloại hình từ điển và bách khoa thư để trên cơ sở đó, triển khai biên soạn các loại
từ điển và bách khoa thư Việt Nam Chương trình gồm bảy đề tài, trong đó đề tài
thứ sáu: Một số vấn đề cơ bản về cơ sở lí luận và phương pháp luận của thế giới
và Việt Nam về việc biên sọan các loại từ điển ngữ văn do Nguyễn Thanh Nga
làm chủ nhiệm đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lí thuyết cơ bản của từ điển
học: cấu trúc vĩ mô, cấu trúc vi mô của từ điển ngữ văn; vấn đề nghĩa của từ và
áp dụng phương pháp phân tích thành tố nghĩa vào định nghĩa các mục từ của từđiển giải
Trang 26thích; xây dựng các mẫu định nghĩa cho từ điển giải thích; các kiểu chú trong từđiển giải thích; vai trò của ví dụ trong cấu trúc mục từ; các thông tin bách khoa
và thông tin ngôn ngữ trong định nghĩa các mục từ; nguyên tắc chuyển chú giữacác mục từ,
1.1.3.2 Tình hình biên soạn từ điển giải thích ở Việt Nam
Trong sự phát triển thực tiễn, từ điển học thực hành ở Việt Nam, trong đóđiển hình là từ điển giải thích ngữ văn, theo Chu Bích Thu [109,tr.194-195], cóthể chia thành ba giai đoạn phát triển Giai đoạn trước thế kỉ XIX còn lại chủ yếu
là các tập từ vựng đối chiếu Hán - Việt và bộ Từ điển An Nam - Lusitan - Latin xuất bản ở Rome năm 1651 (thường gọi là Từ điển Việt - Bồ
La) của tác giả A de Rhodes, giúp các giáo sĩ Tây Ban Nha truyền giáo là những
cuốn từ điển đối dịch tiếng Việt cổ nhất Giai đoạn cuối thế kỉ XIX - nửa đầu thế
kỉ XX, về từ điển giải thích tiếng Việt, có cuốn Đại Nam quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của xuất bản cuối thế kỉ XIX (1895) Trong giai đoạn này
còn có ba cuốn từ điển giải thích được biên soạn có khối lượng tương đối lớn vàđược coi là có giá trị Đó là các cuốn:
Việt Nam tự điển của Hội Khai trí Tiến Đức (khởi thảo), xuất bản năm 1931 ở
Hà Nội, tái bản 1954 ở Pháp và Sài Gòn, chủ yếu lấy tự làm đơn vị giải thích,tổng cộng có khoảng 24.500 mục từ
Việt Nam tân từ điển của Thanh Nghị, được phát hành lần đầu tiên năm 1951,
gồm hai tập dày 1.774 trang với 35.000 từ (có cả tên riêng) (nhà xuất bản Thời
thế, Sài Gòn), năm 1958 tái bản và đổi tên thành Từ điển Việt Nam cũng ở Sài
Gòn, nhà xuất bản Thời thế
Tự điển Việt Nam phổ thông của Đào Văn Tập, Nhà sách Vĩnh Bảo xuất bản
năm 1952 ở Sài Gòn Đây là một bộ từ điển (mặc dù tên gọi là tự điển) dày 728
trang khổ lớn (19 x 27cm) thu thập và giải thích khoảng 37.500 mục từ, có kèm
ví dụ ca dao, tục ngữ, những câu nói thường ngày để minh họa
Trang 27Giai đoạn nửa sau thế kỉ XX đánh dấu sự phát triển vượt bậc về chất lượng từđiển và đặc biệt là về số lượng từ điển Về từ điển giải thích có thể nêu ra nhữngcuốn cơ bản sau đây:
Từ điển tiếng Việt do tập thể biên soạn, Văn Tân chủ biên (thường gọi tắt là
Từ điển Văn Tân), xuất bản lần đầu năm 1967 ở Hà Nội, in lại ở Hà Nội năm
1974, có chỉnh lí và bổ sung của Văn Tân, Nguyễn Văn Đạm, nhà xuất bản Khoahọc xã hội tái bản năm 1994
Tự điển Việt Nam của Lê Văn Đức (thường gọi tắt là Từ điển Lê Văn Đức),
nhà xuất bản Khai Trí, Sài Gòn, năm 1970 Tự điển gồm hai tập dày tổng cộng
2.516 trang với gần 76.000 mục từ
Từ điển tiếng Việt do tập thể biên soạn, Hoàng Phê chủ biên, nhà xuất bản
Khoa học xã hội in lần đầu 1988, được chỉnh lí hai lần Lần thứ nhất
năm 1992 đã sửa chữa 2.770 định nghĩa, bổ sung 2.090 mục từ, sửa chữa, thaythế 3.510 ví dụ Lần thứ hai năm 2000, sửa 2.903 định nghĩa, bổ sung 1.670 mục
từ hoặc nghĩa mới, bỏ 41 mục từ hoặc nghĩa cũ, thay hoặc sửa chữa 387 ví dụ
Từ điển tiếng Việt gồm 39.924 mục từ được biên soạn trên cơ sở gần ba triệu
phiếu tư liệu của Viện Ngôn ngữ học
Đại từ điển tiếng Việt do tập thể biên soạn, Nguyễn Như Ý chủ biên, nhà xuất
bản Văn hóa - Thông tin in lần đầu năm 1998, tái bản năm 2000,
nhà xuất bản Tổng hợp TP Hồ Chí Minh Đây là cuốn từ điển cỡ lớn dày 1.892trang khổ lớn (19 x 27cm) với hơn 74.600 mục từ Đây là cuốn từ điển được biênsoạn công phu, có số lượng từ ngữ phong phú, có chú thêm một số từ nguyênthông thường Từ ngữ được giải thích rõ ràng, dễ hiểu, có nhiều thí dụ minh họa;
có chú ý đến những từ ngữ địa phương của cả ba miền Bắc, Trung, Nam; cậpnhật và bổ sung nhiều mục từ phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước
Từ điển từ và ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân, Nhà xuất bản Tổng hợp Tp Hồ
Chí Minh xuất bản năm 2000 Cuốn từ điển này thu thập và giải thích
Trang 28khoảng 54.000 từ ngữ tiếng Việt, có chú giải từ nguyên và trích dẫn nhiều vănthơ minh họa.
- Từ điển tiếng Việt do tập thể biên soạn (Hoàng Phê, Hoàng Thị Tuyền Linh,
Vũ Xuân Lương, Phạm Thị Thủy, Đào Thị Minh Thu, Đặng Thanh Hà), nhà xuấtbản Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học VIETLEX xuất bản năm 2008, tái bản
có bổ sung sửa chữa nhiều lần
Các cuốn từ điển này được biên soạn khá công phu, mỗi cuốn đều mang hơithở của thời đại mình, đồng thời mang đậm dấu ấn của tác giả cũng như vùngphương ngữ mà các tác giả của nó sống và hoạt động Ví dụ, xuất bản gần như
đồng thời, Từ điển Văn Tân (1967) và Từ điển Lê Văn Đức (1970) lại khác rất xa
nhau về phạm vi thu thập các từ ngữ của phương ngữ Nam Bộ Theo số liệu
thống kê của Phòng Từ điển học, Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Lê Văn Đức thu thập khá nhiều từ ngữ của phương ngữ Nam Bộ Nếu lấy Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (Hoàng Phê chủ biên) làm chuẩn để so sánh thì "Từ điển
Văn Tân hơn Từ điển tiếng Việt 9.144 đơn vị; còn Từ điển Lê Văn Đức hơn Từ điển tiếng Việt đến 47.387 đơn vị" [109,tr.195].
Mỗi cuốn từ điển giải thích tiếng Việt nêu trên đều phản ánh trình độ khoa
học kĩ thuật của từng giai đoạn Trong đó, "sự xuất hiện của cuốn Từ điển tiếng
Việt (gồm một tập thể 17 tác giả do Hoàng Phê chủ biên) vào cuối những năm 80
của thế kỉ XX, được nhận Giải thưởng Nhà nước về Khoa học công nghệ năm
2005 đã đánh dấu một bước tiến mới của công việc biên soạn từ điển tiếng Việtngữ văn ở Việt Nam dưới ánh sáng của lí thuyết ngôn ngữ học hiện đại ( ) Đây
là kết quả vận dụng thành quả nghiên cứu của Việt ngữ vào trong biên soạn từđiển tiếng Việt" [51,tr.1] Công trình từ điển này là một thành tựu to lớn củangành ngôn ngữ học Việt Nam Nhiều vấn đề lí thuyết chung như vấn đề chuẩnngôn ngữ, chuẩn chính tả, quan niệm về đơn vị từ vựng và những thao tác mô tảchúng, những phương pháp phân tích ngữ nghĩa, đã được áp dụng trong quyển
từ điển này Theo Nguyễn Văn Khang, điểm nổi bật trong việc vận dụng thành
Trang 29quả nghiên cứu của Việt ngữ học vào biên soạn cuốn từ điển này là: "1 Xâydựng bảng từ trên cơ sở quan niệm về từ trong Việt ngữ học; 2 Giải thích nghĩacủa các đơn vị từ thu thập trong từ điển theo lí thuyết phân tích ngữ nghĩa hiệnđại; 3 Chú sắc thái dùng cho các đơn vị vị từ vựng dựa vào thành quả nghiêncứu của phong cách học tiếng Việt; 4 Chú từ loại dựa vào kết quả nghiên cứucủa ngữ pháp tiếng Việt" [51,tr.1] Quyển từ điển này "đã vừa tiếp thu kinhnghiệm của từ điển học Việt Nam trước đây, vừa cố gắng xây dựng một cấu trúc
vĩ mô và cấu trúc vi mô phong phú và khoa học hơn" [109,tr.197]
Từ điển là công cụ tra cứu hữu hiệu cho người sử dụng ngôn ngữ Vì thế,người sử dụng cần từ điển thì từ điển sẽ được biên soạn và ấn hành Đó chính làmối quan hệ cung cầu của thị trường từ điển Từ điển tiếng Việt nói chung, từđiển giải thích tiếng Việt nói riêng, cũng nằm trong quy luật đó Số lượng từ điểntiếng Việt tăng vọt vào thời gian mấy năm trở lại đây Có thể nói, từ điển tiếngViệt đang trong thời kì "trăm hoa đua nở" theo cả nghĩa tích cực lẫn tiêu cực Sựxuất hiện nhiều cuốn từ điển tiếng Việt phản ánh sự phát triển và vị thế của tiếngViệt với tư cách là ngôn ngữ quốc gia và theo đó là nhu cầu của người sử dụngtiếng Việt ở trong nước và trên thế giới đang tăng mạnh Tuy nhiên, sự xuất hiệnnhiều cuốn từ điển tiếng Việt lại gây không ít khó khăn cho người sử dụng vìchất lượng biên soạn từ điển quá chênh lệch hiện nay Với việc xuất hiện không
ít cuốn từ điển tiếng Việt "biên soạn theo kinh nghiệm chủ nghĩa và công nghệtin học như hiện nay chỉ thuần túy chạy theo "cung" không chỉ làm ảnh hưởngkhông tốt đến người sử dụng mà còn phương hại đến sự chuẩn hóa tiếng Việt, cónguy cơ kéo lùi việc ứng dụng lí luận ngôn ngữ học, lí luận từ điển học vào việcbiên soạn từ điển tiếng Việt" [52,tr.84]
1.2 Cơ sở lí luận của việc nghiên cứu tên gọi cây nông nghiệp trong
tiếng Việt
1.2.1 Vấn đề định danh
1.2.1.1 Tên gọi
Trang 30Hiểu một cách đơn giản thì tên gọi là "từ hoặc nhóm từ dùng để chỉ một cánhân, cá thể, phân biệt với những cá nhân, cá thể khác cùng loại" [125,tr.1160].
K Mác, Ph Ăng ghen, V.I Lê nin khi bàn về mối quan hệ giữa khách thể và têngọi đã cho rằng: "Tên gọi là một cái ngẫu nhiên, chứ không biểu hiện được chínhngay bản chất của sự vật" [69,tr.28] Các nhà kinh điển cũng cho rằng: "Tri giáccảm tính cho ta sự vật, tri giác lí tính cho ta tên gọi ( ) Nhưng tên gọi là cái gì?Một phù hiệu dùng để phân biệt, một dấu hiệu đập vào mắt mà tôi đem làmthành đặc trưng của đối tượng để hình dung đối tượng trong tính chỉnh thể củanó" [69,tr.88] Như vậy, chính nhu cầu nhận thức thế giới đã buộc con người phảivượt qua giai đoạn tri giác cảm tính và tiến hành tư duy trừu tượng Con ngườikhông thể tư duy bằng các sự vật, hiện tượng cụ thể như chúng vốn có trong hiệnthực Tên gọi đã tách các sự vật, hiện tượng cụ thể đó ra khỏi thế giới hiện thựccủa chúng, đưa chúng vào trong lí trí của con người dưới dạng các tên gọi nhưnhững đơn vị cơ bản của tư duy trừu tượng Nhờ đó sự vật, hiện tượng được hình
dung một cách rõ ràng "trong tính chỉnh thể của nó" Vì vậy, trong Bút kí triết
học, V.I Lênin cho rằng: "Tên gọi là cái gì đó phổ biến, thuộc về tư duy, làm cho
cái đa dạng trở nên đơn giản" [59,tr.264] Nhờ đó, "tên gọi đã làm cho các sự vật,hiện tượng trở nên có "cá tính" trong tư duy" [8,tr.95] Để tạo ra tên gọi người taphải sử dụng các tín hiệu ngôn ngữ, đó là từ và tổ hợp từ UI.V Rozdextvenxki
đã chỉ ra cách tạo ra tên gọi: "thứ nhất, một dãy âm tố có liên hệ với nhau tạothành từ với mặt bên ngoài của nó, tức là vỏ âm thanh, vỏ ngữ âm của từ, hoặc là
từ ngữ âm; thứ hai, sự vật được gọi bằng từ đó; thứ ba, ý nghĩa mà từ gây ratrong ý thức chúng ta Tất cả ba yếu tố này gắn với nhau" [88,tr.34]
Tên gọi là sản phẩm của tư duy trừu tượng nên nhìn chung nó phải đảm bảocác yêu cầu như có tính khái quát, tính trừu tượng và mất khả năng gợi đếnnhững đặc điểm, những thuộc tính riêng rẽ tạo thành đối tượng Về mặt ngữnghĩa, tên gọi phải tách hẳn với những dấu vết của giai đoạn cảm tính và có tácdụng phân biệt đối tượng này với đối tượng khác trong cùng một loại hay phân
Trang 31biệt các loại nhỏ trong cùng một loại lớn Mặc dù lí tưởng phải lựa chọn đượcđặc trưng bản chất, tức là là đặc trưng tiêu biểu để gọi tên, nhưng với điều kiệnđặc trưng đó phải bảo đảm giá trị khu biệt tên gọi "Ý nghĩa phản ánh đặc tính
mà ta lấy để gọi tên toàn bộ sự vật chính là ý nghĩa làm căn cứ trong tên gọi.Trong ngôn ngữ học, người ta gọi ý nghĩa ấy là ý nghĩa gốc hay hình thái bêntrong của tên gọi" [38,tr.463] Nhờ các tên gọi mà sự vật, hiện tượng thực tếkhách quan tồn tại trong lí trí của chúng ta, phân biệt được với các sự vật, hiệntượng khác cùng loại và khác loại Vì các tên gọi làm cho tư duy trở nên rànhmạch sáng sủa, cho nên một sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan chỉ thực
sự trở thành một sự vật được nhận thức, một sự vật của tư duy khi nó đã có mộttên gọi trong ngôn ngữ
1.2.1.2 Khái niệm định danh
Định danh (nomination) là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Latin với nghĩa là
tên gọi Thuật ngữ này biểu thị kết quả của quá trình gọi tên của các đơn vị ngôn
ngữ Thuật ngữ định danh được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Theo Từ điển
Bách khoa ngôn ngữ học thì định danh là: "việc tổ chức các đơn vị ngôn ngữ
mang chức năng gọi tên, nghĩa là phục vụ cho việc gọi tên và phân chia các khúcđoạn hiện thực và sự hình thành của những khái niệm tương ứng về chúng dướihình thức của các từ, các tổ hợp từ, các thành ngữ và các câu" [148,tr.336] Do
đó, đơn vị định danh không chỉ là từ mà còn có cụm từ (ngữ), câu, tuy nhiên đốitượng định danh của các đơn vị này là khác nhau Nếu chức năng cơ bản của từ
là định danh và từ dùng để gọi tên sự vật, hiện tượng, trạng thái, quá trình, tínhchất, thì chức năng định danh của câu lại luôn luôn tồn tại ở dạng tiềm ẩn và câudùng để định danh cảnh huống Kolshansky cho rằng: "Định danh (nomination)
là gắn cho một kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm - biểu niệm (significat) phản ánhnhững đặc trưng nhất định của một biểu vật (denotat) - các thuộc tính, phẩm chất
và quan hệ của các đối tượng và quá trình thuộc phạm vi vật chất và tinh thần,nhờ đó, các đơn vị ngôn ngữ tạo thành những yếu tố nội dung của giao tiếp ngôntừ" [dẫn theo 113,tr.161-162]
Trang 32Như vậy, định danh là một trong những chức năng của các đơn vị từ ngữ củangôn ngữ Hiểu một cách đơn giản nhất thì đây chính là chức năng gọi tên: gọitên những đối tượng, thuộc tính hoặc những hành động… Yêu cầu của một têngọi là: 1 Phải khái quát, trừu tượng, phải mất khả năng gợi đến những đặc điểm,những thuộc tính riêng rẽ tạo thành đối tượng vì nó là sản phẩm của tư duy trừutượng Về mặt ngữ nghĩa, nó phải tách hẳn với những dấu vết của giai đoạn cảmtính 2 Các tên gọi có tác dụng phân biệt đối tượng này với đối tượng khác trongcùng một loại hay phân biệt các loại nhỏ trong cùng một loại lớn Sự phân biệtnày phải dứt khoát, có nghĩa là khi đã có tên gọi thì sự vật này, loại nhỏ này cũngtrở thành độc lập với nhau, riêng rẽ với nhau Nhờ có tên gọi mà sự vật có đờisống độc lập trong tư duy [34, tr.190].
Tất cả các đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ đều có chức năng biểu nghĩa nhưngphải là một đơn vị cấp độ từ mới có thể định danh Nhưng cũng chỉ có các thực
từ mới có chức năng định danh, còn các thán từ, liên từ, giới từ… không có chức
năng này [8, tr.59] Các tác giả công trình Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ
học cho rằng: Định danh là sự cấu tạo các đơn vị ngôn ngữ có chức năng dùng
để gọi tên, chia tách các đoạn của hiện thực khách quan trên cơ sở đó hình thành những khái niệm tương ứng về chúng dưới dạng các từ, cụm từ, ngữ cú và câu [136, tr.65].
Như vậy, đối tượng của lí thuyết định danh là nghiên cứu, miêu tả những quyluật về cách cấu tạo các đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ, về sự tác động qua lạigiữa tư duy - ngôn ngữ - hiện thực khách quan Cơ sở của sự định danh xuất phát
từ mối quan hệ giữa hiện thực - khái niệm - tên gọi Lí thuyết định danh phảinghiên cứu và miêu tả cấu trúc của đơn vị định danh, từ đó xác định những tiêuchí hoặc những đặc trưng cần và đủ để phân biệt đơn vị định danh này với đơn vịđịnh danh khác Hiện thực khách quan được hình dung như là cái biểu vật củatên gọi, nghĩa là như toàn bộ các thuộc tính được chia tách ra trong các hành viđịnh danh ở tất cả các lớp sự vật do tên gọi đó biểu thị Còn tên gọi được nhận
Trang 33thức như là một dãy âm thanh được phân đoạn ứng với một cấu trúc cụ thể củangôn ngữ đó Chính mối tương quan giữa cái biểu vật và cái biểu nghĩa và xuhướng của mối quan hệ này trong những hành vi định danh cụ thể sẽ tạo nên cấutrúc cơ sở của sự định danh.
1.2.1.3 Đơn vị định danh
Khi xem xét các đơn vị của ngôn ngữ, lí thuyết định danh phân biệt các loạiđơn vị định danh khác nhau Nhìn từ số lượng đơn vị có nghĩa tham gia đơn vịđịnh danh thì có sự phân biệt:
Định danh đơn giản (định danh tổng hợp, định danh cơ sở, định danh bậc 1,định danh trực tiếp): được tạo bởi một đơn vị có nghĩa
Định danh phức hợp (định danh phân tích, định danh miêu tả, định danh bậc
2, định danh gián tiếp): được tạo bởi từ hai đơn vị có nghĩa trở lên
Nhìn từ góc độ ngữ nghĩa thì có sự phân biệt:
- Định danh gốc (định danh bậc một): được tạo bởi những đơn vị tối giản vềmặt hình thái cấu trúc, mang nghĩa đen, được dùng làm cơ sở để tạo ra các đơn vịđịnh danh khác Hồ Lê gọi đây là định danh phi liên kết hiện thực: “gọi tênnhững mẩu nhỏ nhất trong hiện thực mà một cộng đồng ngôn ngữ quan niệm đã
chia cắt ra được và nắm bắt được từ hiện thực” [58, tr.102] Ví dụ như: lúa, ngô,
khoai, bưởi, cam, nhãn, vải, xoài, chuối, chè,… Ở loại định danh này, mối quan
hệ giữa cái biểu hiện (vỏ âm thanh của từ) và cái được biểu hiện (ý nghĩa của từ)
là võ đoán Từ là cái tên gọi sinh ra như một quy ước mà mọi người đều phải
tuân theo Quả vậy, "chúng ta gọi ( ) cây lúa là lúa mà không thể giải thích nổi
lí do vì sao gọi thế; có đi ngược lên tới cội nguồn xa của ngôn ngữ thì nói chungcũng chẳng phát hiện được mối quan hệ một mặt là âm thanh được phát ra, mặtkhác là ý niệm được gợi ra, trong những từ như thế của tiếng Việt, những từ đơn,thành một tiếng gọn, của tổ tiên chúng ta để lại thế và bây giờ chúng ta cứ thếdùng" [117, tr.1089]
Trang 34Định danh phái sinh (định danh bậc hai): là những đơn vị định danh có hìnhthái cấu trúc phức tạp hơn đơn vị gốc, mang nghĩa biểu trưng hóa (dưới hìnhthức ẩn dụ hay hoán dụ) [43, tr.8] Hồ Lê gọi là đây là định danh liên kết hiệnthực: “Để phản ánh hiện thực khách quan một cách đầy đủ, không chỉ gọi têntừng mẩu hiện thực nhỏ nhất mà còn phải gọi tên những tập hợp gồm nhiều mẩu
hiện thực liên kết lại” [58, tr.102] Ví dụ: lúa nếp, lúa tẻ, lúa nương, ngô lai, ngô
đông, nhãn lồng, cam sành, bưởi đường,
1.2.1.4 Các nguyên tắc định danh và cơ chế định danh phức
hợp a Nguyên tắc định danh
Một trong những nguyên tắc cơ bản trong định danh là lựa chọn những đặctrưng (thuộc tính tiêu biểu) mà người ta thường nói là "đập ngay vào mắt" để gọitên Với nguyên tắc này, những đặc trưng được tri nhận để gọi tên sẽ là dấu hiệukhu biệt, giúp người nói liên tưởng và hình dung đầu tiên đến sự vật, hiện tượng.Tuy nhiên, Serebrenikov (1977) cho rằng: "Việc tạo ra từ theo đặc trưng nào đóchỉ là biện pháp thuần túy kĩ thuật ngôn ngữ Đặc trưng được chọn chỉ để tạo ra
vỏ ngữ âm của từ Đặc trưng được chọn để gọi tên hoàn toàn không nói hết bảnchất của đối tượng, không bộc lộ hết tất cả các đặc trưng của nó Ngoài ra, đặctrưng được lựa chọn để gọi tên thậm chí có thể là không căn bản, không quantrọng về mặt thực tiễn” [dẫn theo 114, tr.32 - 33]
V.G Gak đã đưa ra nguyên tắc định danh đó là gắn quá trình gọi tên với hànhphân loại "Nếu như cần phải biểu thị một đối tượng X nào đó mà trong ngônngữ chưa có tên gọi, thì trên cơ sở các đặc trưng đã được tách ra trong đối tượngnày, nó được quy vào khái niệm "A" hoặc "B" mà trong ngôn ngữ đã có cáchbiểu thị riêng cho chúng và nhận tên gọi tương ứng Nhưng đồng thời cũng diễn
ra sự lắp ráp bản thân các từ vào hiện thực: khi thì người ta bỏ đi một cái gì đókhỏi sự hiểu biết ban đầu của mình, khi thì, ngược lại, bổ sung thêm một cái gì
đó vào sự hiểu biết đầu tiên ấy" [dẫn theo 114, tr.165] Như vậy, quá trình địnhdanh một sự vật, tính chất hay quá trình gồm hai bước là quy loại khái niệm của
Trang 35đối tượng được định danh và chọn đặc trưng nào để định danh [dẫn theo 114,tr.166 - 167] Việc chọn đặc trưng bản chất hay không bản chất để định danh mộtkhách thể cũng có nhiều ý kiến khác nhau Như vậy, định danh là cách đặt têncho một sự vật, hiện tượng Hành vi định danh bao giờ cũng gắn với hành viphân loại Quá trình định danh một sự vật, một tính chất hay một quá trình đềugồm hai bước, đó là quy loại khái niệm và chọn đặc trưng khu biệt Nếu mộttrong hai bước này có biến thể thì một vật hay quá trình được định danh sẽ mangnhững tên gọi khác nhau Khi định danh, trong số rất nhiều đặc trưng của một sựvật, hiện tượng, tính chất hay quá trình, người ta chỉ chọn những đặc trưng tiêubiểu, phản ánh những đặc trưng nhất định của một biểu vật Bên cạnh đó, việcchọn các đặc trưng để làm cơ sở định danh cho những đối tượng hay khái niệmthuộc phạm vi đời sống thường nhật có thể có những trường hợp không cần chọnđặc trưng bản chất, miễn là đặc trưng ấy có khả năng khu biệt giúp cho việc nhậndiện đối tượng hay khái niệm cần định danh.
Hiện thực thường được gọi tên theo cách tri nhận của con người Sự gọi tênnày tạo ra các từ, các ngữ cố định, thành một hệ thống từ vựng Định danh ở cấp
độ từ vựng rất quan trọng với con người: “Với khả năng đặt tên sự vật, conngười hoàn toàn chiếm lĩnh được thế giới tự nhiên cả trong tồn tại cảm tính và cảtrong tồn tại lí tính của nó” [8, tr.194] Đỗ Hữu Châu khẳng định: “Nguyên tắctạo thành các tên gọi là nguyên tắc lí do nhưng nguyên tắc chi phối các tên gọitrong hoạt động bình thường của nó là nguyên tắc không có lí do” [8, tr.166].Cách định danh còn cho chúng ta thấy được đặc điểm của loại hình ngôn ngữđó: “Cấu tạo từ như thế nào, tức định danh hiện thực như thế nào, là một tiêu chíquan trọng để phân chia các loại hình ngôn ngữ” [8,tr.125] Thông qua định danhthấy được dấu ấn về hiện thực khách quan Ngôn ngữ phản ánh thế giới hiện thựckhách quan và là chiếc cầu nối với hiện thực Hệ thống từ vựng trong ngôn ngữcàng phong phú chứng tỏ con người nhận thức về thế giới càng sâu sắc
Trang 36Như vậy, dựa trên nguyên tắc định danh, khi có một đối tượng cần định danh,người ta sẽ tiến hành các thao tác sau:
Quy loại đối tượng mới vào nhóm đối tượng nào đó đã có tên trong ngôn ngữ;
Vạch ra những đặc trưng vốn có của đối tượng mới rồi chọn một đặc trưng được coi là tiêu biểu mang tính khu biệt của đối tượng mới với đối tượng khác;
Sử dụng biện pháp cấu tạo từ theo loại hình ngôn ngữ làm phương tiện định danh
Định danh có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống con người Định danhthể hiện rõ quá trình nhận thức của con người về thế giới, vì "chỉ có con ngườimới đặt tên được cho sự vật Với khả năng đặt tên cho sự vật, con người mớihoàn toàn chiếm lĩnh được thế giới tự nhiên cả trong tồn tại cảm tính, cả trongtồn tại lí tính của nó" [8, tr.169]
b Cơ chế định danh phức hợp
Quá trình cấu tạo nên các đơn vị định danh phức hợp có cơ chế nhất định.Theo Hoàng Văn Hành, muốn xác định rõ cơ chế định danh cần phải làm rõ haivấn đề cốt yếu là: a) Có những yếu tố nào tham gia vào cơ chế này và tư cáchcủa mỗi yếu tố ra sao? b) Mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố đó như thế nào
mà khiến ta có thể coi đó là một cơ chế? [40, tr.26]
Sự phân tích cứ liệu trong các ngôn ngữ đơn lập (tiếng Việt là tiêu biểu) cho phép nhận định rằng để có một cơ chế cấu tạo các đơn vị định danh phức hợp có thể vận hành được một cách có hiệu quả thì cần có một số điều kiện Một là, có một hệ những đơn vị làm yếu tố gốc (nguyên tố) Hai là, có một hệ những yếu tố có giá trị hình thái nghĩa là có thể dùng làm phương tiện để tạo lập những đơn vị định danh phức hợp Ba
là, để có đơn vị định danh phức hợp, điều cốt yếu là có một hệ quy tắc vận hành để sử dụng các hình tố làm phương tiện mà tác động vào nguyên tố theo một cách nhất định.
Cơ chế vừa nêu thuộc về hệ thống của ngôn ngữ Nó có tính chất tiềm năng, xét về mặt
lí thuyết Những sản phẩm của cơ chế này trở thành đơn vị định danh được ghi nhận vào vốn từ vựng của ngôn ngữ hay không còn phụ thuộc vào
Trang 37nhân tố thứ tư nữa, một nhân tố không kém phần quan trọng, nhân tố xã hội Đóchính là tính đắc dụng hay không đắc dụng của các đơn vị định danh mới đượcsản sinh đối với cộng đồng bản ngữ [40, tr.26 - 28].
Theo cách hiểu như trên, để tạo ra một đơn vị định danh phức hợp, chúng ta
có hai con đường: ngữ nghĩa và hình thái cú pháp.
Bằng con đường ngữ nghĩa, ta có thể nhân khả năng định danh của đơn vịtổng hợp lên nhiều lần Một từ cùng với một vỏ ngữ âm phát triển ra bao nhiêunghĩa sẽ có bấy nhiêu đơn vị định danh Mỗi một biến thể từ vựng - ngữ nghĩa sẽ
tương ứng với một đơn vị định danh Ví dụ: chân trong chân tay là đơn vị định danh gốc (bậc một) nhưng chân trong "có chân trong ban chủ nhiệm hợp tác xã"
lại là đơn vị định danh phức hợp được tạo ra bằng con đường ngữ nghĩa
Theo con đường hình thái cú pháp, người ta có thể tạo ra hàng loạt các đơn vịđịnh danh phức hợp với các đặc trưng khác nhau về cấu trúc và ngữ nghĩa Theocách này thường có hai quá trình:
Thứ nhất là quá trình tạo từ với các phương thức thường gặp là: Phương
thức suy phỏng: kiểu như bóp - móp, dìm - chìm…; Phương thức láy: kiểu như
bé - be bé, nhỏ - nho nhỏ, mảnh - mảnh mai…; Phương thức ghép: trong phương
thức này có hai cách: ghép đẳng lập (hội nghĩa, hợp nghĩa) (như: khoai sắn, ngô
lúa, gieo trồng, thu hái…) và ghép chính phụ (phân nghĩa, phụ nghĩa) (như: đậu đen, cam đường, nhãn nước, mít dai,…).
Quá trình thứ hai để tạo các đơn vị định danh phức hợp bằng con đường cúpháp là quá trình từ vựng hóa những tổ hợp Đó là quá trình chuyển hóa những tổhợp thành những đơn vị mang thành ngữ tính Tính thành ngữ của các đơn vịnày biểu hiện ở tính bền vững về mặt hình thái cấu trúc và tính bóng bẩy về mặtngữ nghĩa với những mức độ khác nhau Có hai loại tổ hợp thường được từ vựnghóa: tổ hợp tự do và tổ hợp cố định [40, tr.28- 29]
Định danh phức hợp theo con đường hình thái cú pháp bằng phương thức ghépchính phụ (phụ nghĩa) (dù là tạo từ hay từ vựng hóa tổ hợp tự do) cũng chính là
Trang 38gắn việc khu biệt tên gọi với việc phân loại Quá trình này gồm hai bước: quyloại khái niệm của đối tượng được định danh và lựa chọn đặc trưng để định danh.[40, tr.30-43].
cả ở bình diện lí luận đại cương lẫn miêu tả cụ thể Tuy nhiên, do chỗ mỗi nhànghiên cứu xuất phát từ góc độ và mục đích nghiên cứu riêng của mình, cho nên,đến nay các nhà nghiên cứu vẫn không thể đi đến một quan niệm, một cách hiểuchung về từ Nói chung, không có định nghĩa nào về từ làm mọi người thoả mãn.Hiện nay có tới trên 300 định nghĩa khác nhau về từ Tuy cùng là một loại thực thể
ở trong một ngôn ngữ xác định, song người nghiên cứu lại có thể xem xét từ từnhiều góc độ khác nhau: từ góc độ ngữ âm, chính tả; từ góc độ ngữ pháp; từ góc độngữ nghĩa; từ góc độ lô gich; từ góc độ từ điển học Mỗi góc độ như vậy từ đượcxem xét khác nhau Song, nếu nhìn nhận một cách tổng quát có thể thấy rằng phầnlớn các nhà Việt ngữ học [11, 41, 56, 58, 96] đều cho rằng để nhận diện từ, nhấtthiết phải dựa vào ba tiêu chí: "a Tính nhất thể về ngữ âm; b Tính hoàn chỉnh vềngữ nghĩa; c Tính độc lập về cú pháp (khi hoạt động trong lời nói" [41, tr.22] ĐỗHữu Châu đã xác định: "Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bấtbiến, có một ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức (hoặc kiểu cấu tạo) cấutạo nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từvựng và nhỏ nhất để tạo câu" [11, tr.139]
1.2.2.2 Phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt
Trang 39Muốn tạo ra các từ phải có các yếu tố cấu tạo từ và các phương thức cấu tạo từ.Phương thức cấu tạo từ là những cơ chế, những quá trình xử lí các nguyên liệu hình
vị để cho ra các từ của ngôn ngữ Mỗi cơ chế hay mỗi phương thức cấu tạo đòi hỏinhững nguyên liệu - hình vị thích hợp để tạo thành từ "Mỗi phương thức cấu tạo cócách xử lí riêng các hình vị nguyên liệu, cho nên các từ được cấu tạo nên do mỗiphương thức nào đấy sẽ có những đặc trưng đồng nhất, phân biệt với những từ sảnsinh theo phương thức khác" [11, tr.84] Để tìm hiểu cấu trúc của từ và các phươngthức cấu tạo từ tiếng Việt, luận án sử dụng "cách tiếp cận động được diễn đạt theo
mô thức "yếu tố - cơ chế" [tr.11] mà các tác giả công trình [41] đã lựa chọn
a Đơn vị cấu tạo từ
Luận án chấp nhận quan niệm của Đỗ Hữu Châu về đơn vị cấu tạo từ trongtiếng Việt: "các yếu tố cấu tạo từ tiếng Việt hay hình vị là những hình thức ngữ
âm cố định, bất biến, nhỏ nhất (hay tối giản) với dạng chuẩn tối thiểu là một âmtiết, tự thân có nghĩa (nghĩa miêu tả hay nghĩa tương liên) có thể chịu tác độngcủa các phương thức tạo từ để tạo ra từ" [11, tr.154] Tác giả đã lấy chức năngngữ nghĩa làm nguyên tắc để phân loại hình vị tiếng Việt Theo đó, bước đầu tiênhình vị được phân thành hình vị "sơ cấp" và hình vị "thứ cấp" "Hình vị sơ cấp lànhững hình vị bình thường, tồn tại riêng rẽ, độc lập đối với nhau và là những
"nguyên liệu" đi vào các phương thức cấu tạo từ Hình vị thứ cấp là những hình
vị được tạo ra từ các hình vị sơ cấp, là hình vị sơ cấp đã biến đổi nhiều hay ít cảhình thức ngữ âm và ý nghĩa" [11, tr.155] "Hình vị sơ cấp có thể một âm tiết màcũng có thể nhiều âm tiết lại có thể phân chia thành hình vị tự do và hình vị hạnchế, hay phân loại thành hình vị thực và hình vị hư" [tr.155]
Đồng quan điểm với Đỗ Hữu Châu, các tác giả công trình Từ tiếng Việt: Hình
thái - Cấu trúc - Từ láy - Từ ghép - Chuyển loại [41] khẳng định rằng: "Khi lấy
ngữ nghĩa làm tiêu chí phân loại hình vị, các nhà nghiên cứu chú ý đến tính chấtnghĩa của hình vị Dựa vào đó, hầu hết các nghà nghiên cứu Việt ngữ học đều
Trang 40cho rằng tiếng Việt có ba loại hình vị Đó là hình vị thực, hình vị hư và hình vị
hệ thống" [41, tr.34]
b Phân loại từ tiếng Việt về mặt cấu tạo
Xem xét vấn đề cấu tạo từ trên quan điểm đồng đại, các tác giả công trình Từ
tiếng Việt: Hình thái - Cấu trúc - Từ láy - Từ ghép - Chuyển loại đã khẳng định
"cấu tạo từ là một cơ chế" hoạt động trong điều kiện: "Cần có một hệ những đơn
vị làm thành tố của từ là các hình vị ( ) Cần có một hệ những yếu tố có giá trịhình thái (gọi là hình tố) là những yếu tố thuần túy hình thức dùng làm phươngtiện để kết nối các thành tố trong quá trình tạo lập từ ( ) Cần có một hệ quy tắccấu tạo từ chính là sự vận dụng các hình tố tác động vào các hình vị theo nhữngcách khác nhau để tạo nên những kiểu từ khác nhau" [41, tr.54 - 55] Hệ quả cuốicùng của cơ trình cấu tạo từ là các từ được hình thành theo những mô thức nhấtđịnh, ứng với những kiểu nghĩa nhất định
Luận án chấp nhận quan niệm của các tác giả này, coi cấu tạo từ là một cơ chế
và nguyên tắc phân loại từ về mặt cấu tạo mà Đỗ Hữu Châu sử dụng là nguyêntắc ngữ nghĩa Theo đó, "sự phân loại các từ tiếng Việt, xét về mặt cấu tạo, phảitạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hiện ra cơ chế ngữ nghĩa thống nhất trongnhững từ cùng thuộc một kiểu loại" [11, tr.169] Việc phân loại từ, theo Đỗ HữuChâu, được thực hiện theo ba bước
Bước thứ nhất, các từ sẽ được phân chia theo số lượng các hình vị tạo nênchúng Kết quả ở bước này sẽ cho các từ đơn và các từ phức "Từ đơn là những
từ được cấu tạo theo phương thức từ hóa, là những từ chỉ có một hình vị" [11,
tr.169] Ví dụ: bưởi, cam, quýt, vải, nhãn, chuối, ngô, khoai, sắn, lúa (từ đơn
được cấu tạo từ một hình vị) "Từ đơn có thể là một âm tiết, cũng có thể nhiều
âm tiết" [11, tr.170] Những từ đơn nhiều âm tiết có thể gốc Việt, như chôm
chôm, đu đủ, gốc các ngôn ngữ ít người sống trên đất Việt Nam như mắc cọoc, séng cù, blẩu sang bua, ble blu, blin xa, khẩu buộp, gốc vay mượn các thứ
tiếng nước ngoài như cà phê, cao su, ca cao, mắc ca, ki uy, măng cụt, Về