Làm thế nào để tìm được một phương pháp học tiếng Anh chuẩn, giúpcon e mình tiến bộ nhanh, tại sao các bạn học sinh, sinh viên học những hơn chụcnăm tiếng Anh trong trường mà khi ra trườ
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
Khi nhắc tới tiếng Anh, người ta nghĩ ngay đó là ngôn ngữ toàn cầu: làngôn ngữ chính thức của hơn 53 quốc gia và vùng lãnh thổ, là ngôn ngữ chínhthức của EU và là một trong ba ngôn ngữ được nhiều người sử dụng nhất Các sựkiện quốc tế , các tổ chức toàn cầu,… cũng mặc định coi tiếng Anh là ngôn ngữgiao tiếp Đối với Việt Nam, một nước đang đứng trước thời đại phát triển, mởrộng ra với cánh cửa toàn cầu hoá, việc học tiếng Anh càng trở nên quan trọnghơn và cần thiết hơn bao giờ hết Hiểu được điều đó, nên hệ thống giáo dục củaViệt Nam đã đưa tiếng Anh là môn học bắt buộc trên ghế nhà trường từ nhữngnăm tiểu học Nhưng thực trạng học tiếng Anh ở Việt Nam vẫn còn là vấn đề đauđầu của các nhà làm giáo dục cũng như cha mẹ học sinh muốn con e mình giỏitiếng Anh Làm thế nào để tìm được một phương pháp học tiếng Anh chuẩn, giúpcon e mình tiến bộ nhanh, tại sao các bạn học sinh, sinh viên học những hơn chụcnăm tiếng Anh trong trường mà khi ra trường thì đa số lại không giao tiếp đượcbằng tiếng Anh?
Có thể thấy rằng việc dạy và học tiếng Anh trong nhà trường phổ thông đã
có những thay đổi lớn về nội dung cũng như phương pháp giảng dạy để phù hợpvới mục tiêu và yêu cầu đặt ra cho bộ môn này trong chương trình cải cách Quanđiểm cơ bản nhất về phương pháp mới là làm sao phát huy được tính tích cực, chủđộng của học sinh và tạo điều kiện tối ưu cho học sinh rèn luyện, phát triển vànâng cao khả năng, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ vào mục đích giao tiếp chứ khôngphải việc cung cấp kiến thức ngôn ngữ thuần tuý Với quan điểm này, nội dungchương trình sách giáo khoa mới tập trung chú trọng đến việc phát triển đồng bộcác kĩ năng Nghe – Nói – Đọc – Viết, đặc biệt chú trọng rèn luyện ngữ âm chohọc sinh
Trong qúa trình giảng dạy tiếng anh theo chương trình sách mới, bản thân tôinhận thấy rèn luyện kĩ năng nói tiếng anh phát âm đúng là một trong những việctập luyện ban đầu nhằm tiến đến mục tiêu để người khác hiểu được điều màchúng ta đang giao tiếp trực tiếp qua nghe nói Do vậy việc rèn luyện ngữ âm chohọc sinh là điều hết sức quan trọng, đặc biệt là với những em học sinh đầu cấp lớp
6 Vậy thì vì sao cách phát âm chuẩn lại được cho là quan trọng đến như vậy ? Vì
Trang 3cách phát âm tiếng anh chuẩn nó là kỹ năng bổ trợ cấp thiết cho 2 kỹ năng chínhtrong giao tiếp tiếng anh, đó là kỹ năng Speaking Và Listening.
Để giúp các em học sinh lớp 6 ở trường THCS nơi tôi đang giảng dạy vượtqua được trở ngại và học được cách phát âm chuẩn Tiếng Anh nên tôi chọn nộidung sáng kiến “Kinh nghiệm dạy ngữ âm Tiếng Anh cho học sinh khối 6 chươngtrình mới” để nghiên cứu
II Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu:
Là học sinh khối 6 đang theo học chương trình tiếng Anh mới do tôi giảng dạy
- Lớp 6B: 43 em
- Lớp 6D: 42 em
2 Phạm vi nghiên cứu:
Hệ thống các âm trong chương trình sách giáo khoa Anh 6 mới, gồm các âm:
III Mục đích nghiên cứu:
Trong giao tiếp, người đối diện có thể không tìm ra được điểm yếu trong sử dụng
từ ngữ hay ngữ pháp của bạn, nhưng chỉ cần bạn nói 2-4 từ, người ta sẽ biết ngay bạn nói có tốt hay không Do mỗi ngôn ngữ có hệ thống âm khác nhau và chính vì
hệ thống âm khác nhau nên một trong những vấn đề đầu tiên mà người học tiếng Anh đối mặt, đó là phải học những âm mới Giáo viên tiếng Anh ở cấp tiểu học vàtrung học, hầu hết tìm cách giải quyết vấn đề bằng cách “Việt hoá” âm tiếng Anh,người Việt Nam nghe có thể hiểu, nhưng người nước ngoài sẽ không hiểu là gì
Trang 4Một vấn đề nữa về ngữ âm là trọng âm Tiếng Anh là ngôn ngữ đa âm tiết (nhiều
âm trong một từ) và trong mỗi từ chỉ có một trọng âm chính (đôi khi kèm vài trọng âm phụ), khái niệm này không có trong tiếng Việt Vấn đề là nếu không đọctrọng âm, hoặc đọc không đúng trọng âm, người nghe sẽ không thể hiểu bạn nói gì
Vấn đề tiếp theo là âm cuối Phát âm của người Việt Nam “thiếu chuẩn” nhất là ở
âm cuối, đặc biệt khi âm cuối là các âm như /s/, /z/, /k/, /g/… - những âm cuối không tồn tại trong tiếng Việt Xu hướng chung là biến đổi âm hoặc nuốt âm Tóm lại, không nắm được âm, đọc sai trọng âm và bỏ âm cuối là 3 “vấn nạn” khiến người Việt Nam không thể phát âm tiếng Anh chuẩn được
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là làm thế nào để giúp học sinh nhận thức rõtầm quan trọng của ngữ âm trong việc học tiếng Anh và biết cách phát âm chuẩncác âm nằm trong chương trình học Khắc phục tình trạng phát âm sai, thiếu tựnhiên Qua đó các em rèn luyện được cách phát âm đúng chuẩn và ứng dụng vàotrong tiếng anh giao tiếp
IV Phương pháp nghiên cứu
Điều tra thực trạng bằng cách tiến hành khảo sát cách phát âm của học sinhbằng cách quan sát trực tiếp lời nói và thông qua các bản điều tra viết của họcsinh
Tìm hiểu ngữ âm tiếng anh
Giới thiệu kí hiệu phiên âm trong các đơn vị bài học
Tổ chức luyện phát âm bằng các phương tiện nghe nhìn
Tổng kết, so sánh, đối chiếu, rút ra bài học kinh nhiệm
V Điểm mới trong kết quả nghiên cứu:
Đề tài này không những giúp học sinh nắm vững, nắm chắc các phần ngữ
âm trong chương trình sách giáo khoa mà còn cung cấp cho các em những lốithường phạm khi phát âm tiếng anh Bên cạnh đó cung cấp cho học sinh những tàiliệu bản phiên âm quốc tế cũng như ứng dụng các video dạy ngữ âm của những
âm đó của giáo viên bản ngữ Bên cạnh đó cung cấp cho học sinh những dạng bàitập phù hợp theo từng cặp âm để luyện tập phát âm đúng chuẩn
Trang 5Trên cơ sở đó góp phần nâng cao chất lượng bộ môn Tiếng Anh nói riêngcũng như chất lượng giao tiếp tiếng anh của học sinh.
có thể dựa vào các âm tiết trong từ để quyết định đánh trọng âm
2 Cơ sở thực tiễn
Thông thường khi dạy ngoại ngữ giáo viên thường chú trọng việc dạy ngữpháp, cấu trúc sau đó đến từ vựng Tuy nhiên ngữ pháp không phải là kết quả cuốicùng của việc học ngôn ngữ Quá trình học ngôn ngữ mà ngữ pháp là công cụgiúp người học giao tiếp hiệu quả hơn Vì thế trong các tiết dạy kĩ năng nóithường có kèm theo cấu trúc ngữ pháp và từ vựng, thậm chí trong chương trìnhtiếng anh cũ còn không có tiết luyện nói hay ngữ âm riêng lẽ Song trong thực tếgiữa tiếng anh nói (spoken English) và tiếng anh viết (written English) có khánhiều khác biệt.Tiếng Anh viết đòi hỏi sự chính xác về câu từ, cấu trúc, ngon ngữcũng mang tính học thuật, trong khi đó tiếng anh giao tiếp cần câu từ linh hoạt vàgần gũi, thông dụng hơn
Thực tế hiện nay học sinh chú trọng vào việc học ngữ pháp nhiều vì chủyếu các bài kiểm tra thường đòi hỏi vận dụng ngữ pháp, các bài thi không cóhoặc gần đây có yêu cầu sử dụng ngôn ngữ giao tiếp, điều đó dẫn đến việc họctiếng anh và vận dụng nó vào giao tiếp chưa được giáo viên và học sinh chútrọng Lâu dần học sinh mất dần các kĩ năng giao tiếp Bên cạnh đó, hạn chế vềkhả năng giao tiếp tiếng anh của học sinh có một số nguyên nhân sau:
_ Môi trường sống, môi trường học tập không tạo ra động lực phải giao tiếpbằng Anh ngữ
- Cơ hội tiếp xúc và giao tiếp với người nước ngoài ít hoặc thậm chí khôngcó
- Thiếu kiến thức về giao tiếp tiếng anh thông dụng do nhiều chủ điểm nóitrong nhiều đơn vị bài học chưa gần gũi với lứa tuổi các em
Trang 6- Chưa mạnh dạn, còn rụt rè trong sử dụng tiếng anh thậm chí là với giáoviên và các bạn.
Qua quá trình giảng dạy và đúc rút từ kinh nghiệm thực tiến tôi nhận thấymục tiêu cuối cùng của việc dạy và học tiếng Anh là học sinh có thể giao tiếpđược bằng tiếng Anh Khả năng giao tiếp thể hiện trên hai bình diện: tiếp nhận(nghe và đọc) và sản sinh (nói và viết) ngôn ngữ Tuy nhiên, để đạt được mục tiêucuối cùng đó yếu tố đầu tiên học sinh cần nắm vững là phát âm (pronunciation).Nếu phát âm chính xác thì mọi kĩ năng như nghe, nói, đọc sẽ trở nên dễ dàng hơnrất nhiều Ngược lại, nếu phát âm sai, hoặc không rõ ràng sẽ làm cho người nghehiểu nhầm hoặc thậm chí không hiểu ý của người nói Nếu phát âm(pronunciation) chưa tốt thì kỹ năng Nghe (Listening) và Nói (Speaking) khôngthể như mong muốn
Xuất phát từ thực trạng trên tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài về phươngpháp dạy ngữ âm cho học sinh lớp 6 theo chương trình mới
Exercise 1: Listen and put the word into the correct column:
some don’t hope rode MondayCome post one month homework
Keys:
Don’tHopeRodePostHomework
SomeMondayComeOnemonth
Kết quả làm bài của học sinh:
Trang 7Lớp Sĩ số Đúng 8-10
từ
Đúng 5-7từ
III Các biện pháp tiến hành để giải quyết vấn đề:
1 Nghiên cứu về ngữ âm tiếng anh:
Ngữ âm là gì? Ngữ âm chính là ngữ điệu và âm thanh Ở Việt Nam nói riêng vànhiều quốc gia khác nói chung, những nguowiuf học tiếng anh cảm thấy khó phát
âm chuẩn như người bản xứ vì ngữ điệu và ngữ âm của tiếng anh khác với tiếng
mẹ đẻ của chúng ta Những nhân tố chính gây nên sự khó khăn này có thể được
kể đến như sau:
Thứ nhất là âm tiết Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn âm, nghĩa là mỗi một từ
tiếng Việt là một âm tiết, một tiếng, một khối hoàn chỉnh trong phát âm., trongkhi đó tiếng anh lại là ngôn ngữ đa âm Điều này có nghĩa, nhiều từ trong tiếngAnh không được cấu tạo từ 1 âm tiết, mà từ nhiều âm tiết Nhiều người có thóiquen đọc tiếng Anh như đọc tiếng Việt, tức là đối với các từ tiếng Anh có nhiều
âm tiết cũng bị chia nhỏ thành từng tiếng tách rời, đều bắt nguồn từ sự khác biệtnày
Trang 8Thứ hai là trọng âm Do tính chất đơn âm của tiếng Việt nên khi đọc các từ sẽ
được đọc rõ và đồng đều, thường không nhấn trọng âm Ngược lại, trong tiếngAnh, những từ đa âm tiết thường có một hoặc vài trọng âm Việc đọc đúng trọng
âm sẽ quyết định khả năng người khác có nghe hiểu đúng hay không Có rất nhiều
từ trong tiếng Anh chỉ cần đọc sai trọng âm thì người nghe sẽ hiểu ra một nghĩakhác
Ví dụ với từ “present” gồm 2 âm tiếtNếu nhấn mạnh vào âm tiết đầu sẽ được đọc là /ˈprez.ənt/ là danh từ mang nghĩa
là món quà, hiện tại
Nếu nhấn mạnh vào âm tiết sau sẽ được đọc là /prɪˈzent/ là động từ mangnghĩa là giới thiệu, thuyết trình…
Việc nắm được trọng âm của từ là vô cùng quan trọng Vì thói quen nóitiếng Việt mà chúng ta nhiều khi bỏ qua việc nhấn trọng âm nàyThứ ba là dấu và ngữ điệu Tiếng Việt có dấu (tonal language) Cụ thể trong tiếngViệt có 6 dấu hay 6 thanh khác nhau, việc thay đổi dấu hay thanh sẽ làm thay đổinghĩa của từ Tiếng Anh không có dấu nhưng có trọng âm và ngữ điệu(intonation) Có một số quy tắc về ngữ điệu trong tiếng Anh, việc thay đổi ngữđiệu và thay đổi trọng tâm của câu giúp thể hiện thái độ và ý định của người nói
Thứ tư là nguyên âm và phụ âm Tiếng Việt có không phân biệt rõ ràng
cách đọc cho các nguyên âm đơn ngắn trong khi tiếng Anh có cách đọc nguyên
âm đơn ngắn và dài Việc đọc sai các nguyên âm đơn ngắn – dài có thể khiếnngười nghe hiểu sai nghĩa dẫn tới hiểu sai ý muốn truyền đạt
và khi đọc chúng ta không đọc phụ âm cuối
Trong khi đó Tiếng Anh các phụ âm có thể đứng ở đầu, cuối và giữa của
từ Và chúng ta cần phát âm rõ tất cả các phụ âm đó
Trang 9Why /waɪ/ – tại sao
Wife /waɪf/ – người vợ
Wine /waɪn/ – rượu vang
White /waɪt/ – màu trắng
Nếu bạn bỏ qua các phụ âm cuối thì tất cả các từ trên đều nghe như là /waɪ/
và nghĩa của các từ sẽ bị lẫn lộn với nhau
Chính bởi thói quen nói tiếng Việt nên khi nói tiếng Anh chúng ta cũngthường không chú ý tới các phụ âm cuối dẫn đến người nghe không hiểu đượcchúng ta nói gì, bản thân chúng ta cũng bị bối rối giữa các từ nghe giống nhaunhư ví dụ trên Thêm vào đó, việc bỏ qua phụ âm cuối còn làm ảnh hưởng tới ngữđiệu tiếng Anh
2 Hướng dẫn học sinh các kí hiệu phiên âm trong tiếng anh.
Khi học ngoại ngữ một quy tắc cơ bản bắt buộc là người học phải nắm chắccác kí hiệu phiên âm và quy tắc phát âm Chính vì vậy ngay từ tiết học đầu tiêncủa chương trình tiếng anh 6 tiết introduction, tôi đã dành thời gian giới thiệu chocác em về các kí hiệu phiên âm wuoocs tế mà các em sẽ được học trong quá trìnhhọc tiếng anh
Trang 103 Tổ chức triển khai thực hiện:
Để học sinh không cảm thấy nhàm chán và căng thẳng trong các giò luyện ngữ
âm, tôi đã tận dụng tối đa các phương tiện dạy học hiện đại cũng như ứng dụngcông nghệ thông tin vào dạy học bằng cách sử dụng máy chiếu, bảng tương tácđiện tử, đài catsset, đường truyền Internet cho một số bài giảng trực tuyến
Sưu tầm các bài giảng phát âm của các giáo viên bản ngữ hoặc những video ngắnhướng dẫn phát âm chuẩn các âm trong chương trình sách giáo khoa tiếng anh 6,như trang http://www.tienganh123.com.phat-am-tieng-anh-co-ban hoặchttp://bbclearnenglish.com
Việc học và luyện phát âm thường được tiến hành trong các tiết “A closer look 1”theo các cặp âm trong sách giáo khoa hoặc kết hợp trong phần dạy từ vựng, cũng
có thể áp dụng trong các tiết khác khi phát hiện lỗi sai phát âm của học sinh.Ngoài ra phần luyện tập thêm thường được dạy vào giờ phụ đạo hoặc bồi dưỡng
4 Các giải pháp cụ thể:
* Một số thủ thuật dạy phát âm áp dụng trên lớp
1 Minimal pairs bingo
1 bảng bingo với các cặp âm tương đồng trong đó có 1 ô trống Trò chơi sẽbắt đầu ở ô trống và học sinh nào có 5 ô được gọi sẽ thắng và được đọc các ôbingo ở vòng sau
Hoạt động này giúp học sinh tập nghe sự khác nhau giữa các cặp từ, nhậnbiết các từ trên bảng bingo và luyện phát âm khi trở thành người thắng cuộc đểgọi ô bingo
2 Odd One Out
Đặt hai từ có phát âm giống nhau và một từ có phát âm gần giống vào mộthàng Giáo viên có thể tổ chức trò chơi theo nhóm, theo cặp hoặc từng cá nhân đểmỗi học sinh đều có cơ hội tham gia Hoạt động này có thể được kết hợp vớinhững trò chơi như cờ caro – khi tìm ra được từ có âm khác biệt, người chơi đượcquyền đi một nước cờ
3 Run and Grab
Giáo viên ghi hoặc dán hai cặp từ có âm tương đồng lên bảng, đọc mộttrong hai từ và học sinh chạy nhanh lên bảng để chạm vào từ đúng Nếu chọnđúng, học sinh này sẽ đọc tiếp cặp từ tiếp theo
4 Basket Ball
Giáo viên đưa ra các từ như trong Odd one Out, lớp học được chia ra làm 2đội Mỗi khi một học sinh tìm ra được từ với phát âm khác những từ còn lại, học
Trang 11sinh đó có cơ hội ném bóng (hoặc món đồ khác) vào 1 thùng xốp hoặc rổ để ghiđiểm cho đội mình.
5 Total Physial Response
Giáo viên đưa ra những cử chỉ cho từng âm tiết khác nhau và cho học sinhghi nhớ Sau đó, giáo viên đọc từng âm tiết hoặc giơ thẻ ghi từ có âm đó để họcsinh thực hiện cử chỉ và làm theo Cá lớp có thể cùng tham gia hoạt động này
7 Fruit Salad
Trò chơi gốc: Giáo viên xếp học sinh thành vòng tròn với một học sinhngồi giữa Học sinh ngồi giữa nói một màu và những học sinh đang mặc cùngmàu phải hoán đổi vị trí cho nhau Người ngồi giữa cũng sẽ giành chỗ trống nênđến cuối lượt sẽ có một người không có chỗ
Phiên bản phát âm: thay vì màu quần áo, giáo viên hãy xếp hai học sinhthành một cặp từ có âm tiết tương đồng VD: giáo viên cho học sinh A từ Bee,học sinh B từ Pea, khi người ở giữa đọc 1 trong 2 từ trên thì học sinh A và B phảiđổi chỗ thật nhanh
Giơ thẻ: Giáo viên đọc một từ trong số flashcard và học sinh giơ thẻ
flashcard tương ứng Học sinh nên được khuyến khích đọc từ trong thẻ
Trang 12Bắt cặp: Học sinh lấy một flashcard và đi trong lớp để tìm người có lá
giống mình Hoạt động này giúp học sinh giao tiếp với bạn bè cũng như ghi nhớcác cách đọc âm tiết
Vượt cạn: Giáo viên đặt các thẻ flashcard lên sàn từ đầu đến cuối phòng.
Học sinh cố giữ chân ko đạp ra ngoài thẻ và phải đi đến cuối phòng, đọc to mỗithẻ đạp lên
10 Minimal Pairs Math
Giáo viên cho mỗi từ tương ứng với một số và đọc các từ cùng với dấu(cộng trừ nhân chia), học sinh ghi lại phép tính này và đưa ra đáp án cuối
Mặc dù hoạt động và trò chơi có thú vị đến đâu thì khâu học hỏi và luyệntập vẫn là qua trọng nhất Hy vọng là những hoạt động này có thể giúp học sinhcủa bạn làm quen với phát âm một cách tự nhiên hơn Thỉnh thoảng hãy lặp lạicách phát âm, cặp từ có âm tương đồng và tổ chức các hoạt động để kiến thứcphát âm sẽ in sâu trong trí nhớ học sinh
5 Mô tả qua các bài học cụ thể:
UNIT 1: a) Nguyên âm đôi /əʊ/ (Diphthong /əʊ/)
1 Cách phát âm
Khi phát âm nguyên âm đôi /əʊ/ , cần
chuyển từ phát âm âm /ə/ đến phát âm
âm /ʊ/ :- lưỡi nâng lên và lùi về phía sau- môi
chuyển từ hơi mở đến hơi tròn môi- phần âm /
ə/ được phát âm dài và to hơn so với phần
Trang 13ago (adv) trước đây
b) Nguyên âm ngắn /ʌ/ (Short vowel /ʌ/)
1 Cách phát âm
Trang 14So với nguyên âm dài /ɑ:/, khi phát
âm nguyên âm ngắn /ʌ/ :- lưỡi sẽ nâng cao
hơn một chút- phần sau lưỡi cũng nâng cao
hơn- miệng thu hẹp hơn- phát âm rất ngắn
Hãy xem ví dụ sau: nguyên âm dài /ɑ:/ có trong từ “dark” , còn nguyên âmngắn /ʌ/ có trong từ “duck” Để chuyển nguyên âm dài /ɑ:/ trong “dark” thànhnguyên âm ngắn /ʌ/ trong “duck” , các bạn cần nâng cao lưỡi và phần sau củalưỡi hơn một chút, miệng thu hẹp hơn, rút ngắn khoảng cách giữa 2 phụ
âm /d/ và /k/ và phát âm: “duck” Ký hiệu phiên âm: /ʌ/
Trang 15UNIT 3: a) Phụ âm /p/ (Consonant /p/)
1 Cách phát âm
Khi phát âm phụ âm /p/ , các bạn
cần:- dùng hai môi chặn luồng khí trong
miệng, ngạc mềm nâng lên- bật mạnh
luồng khí ra khỏi miệng- không làm rung
dây thanh trong cổ họng khi phát âm
Hãy xem ví dụ sau: âm /p/ có trong từ pull, nhưng không có trong từ bull các bạn sẽ được học trong bài học sau.Ký hiệu phiên âm: /p/Các từ ví dụ:
b) Phụ âm /b/ (Consonant /b/)
1 Cách phát âm
Phụ âm /b/ được phát âm tương tự
như phụ âm /p/:- dùng hai môi chặn
luồng khí trong miệng, ngạc mềm được
nâng lên- bật luồng khí ra khỏi miệng
(yếu hơn so với âm /p/)NHƯNG - làm
rung dây thanh trong cổ họng khi phát
âm
Trang 16Phân biệt âm /p/ và âm /b/ bằng cách đặt một tờ giấy trước miệng khi phátâm: Khi phát âm âm /p/ tờ giấy sẽ di chuyển còn với âm /b/ thì không Các bạncũng có thể đặt tay lên cổ họng để cảm nhận độ rung của dây thanh.
Âm /p/ không làm rung dây thanh còn âm /b/ thì có làm rung dây thanh.Ký hiệuphiên âm: /b/Các từ ví dụ:
viên thuốc pill (n) – bill (n) hóa đơn
bạn đồng lứa peer (n) – beer (n) bia
mũ lưỡi trai cap (n) – cab (n) xe taxi