Tiếp đến là thị trờng lao động Malaisia, với trên 97 ngànlao động Việt Nam làm việc chiếm 23.56%, nhng cũng giống nh thị trờng ĐàiLoan, về cơ bản đây là thị trờng tiếp nhận những lao độn
Trang 1Đánh giá thực trạng hoạt động tìm kiếm và mở rộng thị trờng lao động ngoài nớc trong công
ơng trình hợp tác quốc tế về lao động Cụ thể nh sau :
Bảng1 : Lao động xuất khẩu qua các năm (2000-2005)
Nguồn : Số lợng lao động xuất khẩu giai đoạn 2000-2005- Phòng quản lý lao
động ngoài nớc- Cục quản lý lao động ngoài nớc- BLĐTB&XH, năm 2006.
Để tăng tính trực quan khi quan sát sự biến động quy mô XKLĐ của ViệtNam theo thời gian, chúng ta sẽ xem biểu đồ sau:
Biểu đồ 1 : Số lợng lao động xuất khẩu qua các năm (2000-2005)
động sang đó làm việc là 38227 ngời (xem bảng 3)
Tuy nhiên cũng chính sự phụ thuộc quá nhiều vào các thị trờng chính đãkhiến chúng ta không đạt đợc nh ý khi các thị trờng này “trục trặc”, có thể do
Trang 2nhiều nhân cả chủ quan và khách quan Chúng ta có thể thấy điều này trong năm
2004 và 2005, mặc dù có đợc số lợng lao động xuất khẩu cao nhng so với năm
2003 đều còn kém xa Năm 2004 giảm hơn 7500 lao động, năm 2005 giảm 5000lao động so với năm 2003, chủ yếu do chúng ta bị giảm quy mô tại thị trờngMalaisia Trên biểu đồ thể hiện sự chững lại của số lợng lao dộng xuất khẩu từ
2003 tới 2005
1.2 Thị phần các thị tr ờng lao động ngoài n ớc của Việt Nam
Mặc dù có rất nhiều thay đổi và biến động nhng theo Cục Quản lý Lao
động ngoài nớc có thể phân các thị trờng lao động ngoài nớc của Việt Namthành 5 loại chủ yếu:
- 4 thị trờng lao động truyền thống và chủ yếu là : Đài Loan, Nhật Bản, HànQuốc, Malaisia
- Thị trờng lao động các nớc khác nh Qatar, Kuwait, LiBi, Li băng, Arập xê
Nh vậy, đã có những sự khác nhau nhất định về thị phần các TTLĐ ngoàinớc của Việt Nam, xem thêm biểu đồ dới đây:
Biểu đồ 2: Cơ cấu các thị trờng lao động ngoài nớc của Việt Nam 2005)
Đơn vị : %
29.08
5.49 15.91
23.56
Nhat Ban Han Quoc Malaisia Cac nuoc khac
Nguồn : Các thị trờng XKLĐ chủ yếu của Việt Nam giai đoạn 1992-2005- Phòng quản
lý lao động ngoài nớc- Cục quản lý lao động ngoài nớc- BLĐTB&XH, năm 2006.
Có thể thấy, thị trờng tiếp nhận lao động Việt Nam nhiều nhất trong thờigian qua chính là Đài Loan, với trên 120 ngàn lao động Việt Nam làm việc,chiếm 29,08% trong tổng số lao động xuất khẩu của Việt Nam Mặc dù vậy, thịtrờng này lại thờng tiếp nhận lao động phổ thông là chủ yếu, do đó chất lợng lao
động không cao và đơng nhiên số tiền lao động gửi về còn ở mức thấp (tính trênmột đơn vị lao động) Nếu coi lợi ích từ XKLĐ nh một chiếc bánh gốm 5 phần
Trang 3lớn kể trên thì miếng bánh nhận đợc từ các nớc khác (ngoài 4 nớc kể trên) lớn
đứng thứ hai (25.96%) Tiếp đến là thị trờng lao động Malaisia, với trên 97 ngànlao động Việt Nam làm việc chiếm 23.56%, nhng cũng giống nh thị trờng ĐàiLoan, về cơ bản đây là thị trờng tiếp nhận những lao động có chất lợng khôngcao nên mức lơng của ngời lao động không cao so với các thị trờng Nhật Bản vàHàn Quốc hay một số nớc khác Thị trờng Hàn Quốc và Nhật Bản chiếm các vịtrí tiếp theo trong cơ cấu các thị trờng lao động tiếp nhận lao động Việt Nam,tuy vậy đây lại là những thị trờng có mức thu nhập rất cao và vẫn còn rất nhiềutiềm năng
Để thấy rõ hơn “chiếc bánh kinh tế” trong lĩnh vực XKLĐ của Việt Nambiến động cụ thể nh thế nào qua từng năm, chúng ta sẽ xem bảng dới đây:
Bảng 3 : Lao động xuất khẩu theo các thị trờng lao động ngoài nớc 2005)
22784 lao động Nhìn chung, từ 1999 tới nay, lao động của ta sang đó làm việcliên tục tăng, trong đó đạt số lợng đông nhất vào năm 2004 là 37144 ngời vàtrong cả giai đoạn 1992-2005 thì đây là thị trờng mà số lao động Việt Nam sanglàm việc là nhiều nhất trong số các thị trờng hiện có cùng kỳ (với 120.515 lao
động) Mặc dù vậy lao động Việt Nam ở Đài Loan thờng là lao động phổ thông,giúp việc gia đình và phục vụ (chiếm gần 73%) Trong thời gian tới chúng ta sẽtiếp cận với thị trờng này trong các ngành nghề đòi hỏi chất lợng lao động caohơn với mức thu nhập tốt hơn
Trang 4- Thị trờng Nhật Bản bắt đầu chính thức tiếp nhận lao động Việt Nam sanglàm việc là năm 1993, với 164 ngời Cho tới nay, tổng số lao động đã đợc đasang làm tại Nhật là 22768 ngời, mức lao động xuất khẩu cao nhất là 3249 vàonăm 2001 Mặc dù về mặt số lợng thì đây không phải là thị trờng có nhiều lao
động Việt Nam sang làm việc, nhng đứng trên góc độ kinh tế thì đây là thị trờnglớn, nhiều tiềm năng nhất Bởi thu nhập của lao động làm việc tại Nhật là rấtcao, khoảng 600 - 1000 USD/ tháng, cao hơn nhiều lần so với thị trờng Đài Loan
và Malaisia, do đó lợng ngoại tệ lao động gửi về từ Nhật cũng là rất lớn XKLĐcủa nớc ngoài vào Nhật đều thông qua hình thức tu nghiệp sinh, thị trờng này rất
ít nhận lao động phổ thông, đơn giản mà thờng là lao động có trình độ chuyênmôn và kỹ năng nghề nghiệp cao, lao động chủ yếu làm việc trong các nhà máycông nghiệp
- Thị trờng Hàn Quốc cũng giống thị trờng Nhật, là thị trờng tiếp nhận lao
động nớc ngoài thông qua hình thức tu nghiệp sinh, yêu cầu về trình độ và kỹnăng nghề đối với lao động không cao nh Nhật nhng cũng khá khắt khe Đây lànơi có thu nhập bình quân/đầu ngời rất cao và mức lơng trả cho lao động ngoàinớc cũng rất cao (tơng đơng Nhật Bản hoặc thấp hơn chút ít trong một số ngànhnghề nhất định) do đó lợng ngoại hối mà lao động Việt Nam đa về từ thị truờngnày qua các năm là rất lớn Thị trờng Hàn Quốc tiếp nhận lao động Việt Namsang làm việc theo chơng trình hợp tác lao động từ những năm 90, tổng số lao
động của chúng ta sang đó làm việc trong giai đoạn 1992-2005 là 65936 ngời vàhầu nh năm sau cao hơn năm trớc, trong đó đạt số lợng cao nhất vào năm 2005với 12102 lợt ngời
- Thị trờng Malaisia chính thức tiếp nhận lao động Việt Nam sàng làm việc
là năm 2001 ( mặc dù trớc đó cũng đã có lao động của Việt Nam sang đó làmviệc nhng không mang tính hợp tác chính thức về lao động giữa hai nớc, đóchính xác hơn thì là các thử nghịêm của cả hai phía trớc khi bắt tay ký kết chínhthức chơng trình hiệp tác song phơng về lao động) Bắt đầu từ số rất ít, nhng tớinay Malaisia đã trở thành quốc gia hàng đầu trong việc nhận lao động Việt Namsang đó làm việc mỗi năm, đặc biệt năm 2003, số lao động sang đó làm việc là
38227 lợt ngời, tới nay chúng ta cũng đã đa đợc 97634 lao động sang đó theochơng trình hợp tác lao động của hai bên Lao động Việt Nam sang Malaisia chủyếu làm việc trong các công trờng xây dựng và một số ngành nghề khác, về cơbản là lao động nặng nhọc Trong thời gian tới, ngoài việc tăng số lợng lao độngvào thị trờng này, chúng ta cũng cần hớng tới các nghề có thu nhập cao hơn và
đơng nhiên đòi hỏi về trình độ chuyên môn cũng phải cao hơn
- Các thị trờng khác kể tới ở đây nh: Qatar, Kuwait, LiBi, Li băng, Arập xê
út, Sammoa, Lào, Singapo, Anh, Đức, Canada…Theo thống kê của Cục Quản lýlao động ngoài nớc, tính tới thời điểm năm 2005 thì tổng số lợng lao động ViệtNam sang các thị trờng kể trên (tính từ năm 1992) là 107564 lợt ngời, riêngtrong năm 2001 số lợt lao động sang các thị trờng kể trên là 21204 ngời, đứng
đầu qua các năm Đây là các thị trờng cũng thờng xuyên có biến động, tuy nhiên
ảnh hởng riêng lẻ của chúng không mang tính quyết định tới chiến lợc XKLĐcủa Việt Nam Mặc dù vậy, đây đều là các thị trờng giàu tiềm năng khai thác vàtrong số đó có thể nổi lên nhiều thị trờng mà trong tơng lai Việt Nam sẽ cố gắngbiến chúng trở thành các thị trờng chính của mình
Tuy nhiên, trong thời gian qua Việt Nam cũng đã mất đi một số thị trờngtrong một số thời điểm nhất định, chẳng hạn năm 2005 Malaisia tạm dừng nhậnlao động Việt Nam trong một số lĩnh vực, bởi hiện tợng lao động của chúng ta
bỏ trốn ra ngoài quá nhiều và không kiểm soát đợc Hay năm cuối 2004, Anhcũng đã tạm dừng nhận lao động Việt Nam sang làm việc và nguyên nhân cũnglại xoay quanh vấn đề lao động bỏ trốn…Tất cả nguyên nhân khiến lao XKLĐcha đạt hiệu quả cao nhất, thị trờng bị mất cùng các nguyên nhân của một số
Trang 5hạn chế trong công tác tìm kiếm và mở rộng thị trờng lao động ngoài nớc sẽ đợctrình bày và phân tích trong phần các nguyên nhân còn tồn tại trong công tác tìmkiếm và mở rộng thị trờng lao động ngoài nớc dới đây.
Theo ngành nghề lao động thì mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ lại có những
nhu cầu lao động khác nhau Chẳng hạn, ở thị trờng Đài Loan thì lao động phổthông chiếm đa phần và chủ yếu là lao động giúp việc gia đình hay chúng ta vẫnthờng quen gọi họ là “Ô-sin”, nhng thị trờng Nhật Bản thì lại yêu cầu lao động
có chuyên môn kỹ thuật nhất định Tuy vậy, nhìn chung chúng ta có cơ cấu lao
động theo 4 loại ngành nghề cơ bản từ năm 1992 đến tháng 8/2004 nh sau :
Bảng 4 : Lao động xuất khẩu theo ngành nghề (1992- 8/2004)
Ngành nghề Lao động xuất khẩu
15.26 0.14
CN PVCN&XH XD NN
Nguồn : XKLĐ theo ngành nghề- Phòng thị trờng lao động- Cục quản lý lao động ngoài nớc- BLĐTB&XH, năm 2004.
Trong đó, chiếm phần lớn trong cơ cấu LĐXK theo ngành nghề là lĩnh
vực công nghiệp (55.94%), tiếp đến là gần 30% lao động làm việc trong lĩnh vựcphục vụ cá nhân và xã hội, chỉ có hơn 15% lao động trong lĩnh vực xây dựng,
đặc biệt con số không đáng kể lao động trong lĩnh vực nông nghiệp (0.14%) mà
đây lại là lĩnh vực lao động chúng ta khá thuần và quen tay Nếu quy định số lao
động làm việc ở nớc ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp là 1 ngời thì số lao độnglàm việc trên các lĩnh vực xây dựng, phục vụ cá nhân và xã hội, công nghiệp t-
ơng ứng là 103, 200 và 371 ngời Đây quả là một sự chênh lệch và mất cân đối
2 Hiệu quả từ hoạt động mở rộng thị tr ờng lao động ngoài n ớc
2.1 Mức sinh lợi và tích luỹ từ hoạt động XKLĐ trong nền kinh tế quốc dân.
Việt Nam đang là một trong những quốc gia có số l ợng lao động xuấtkhẩu hàng đầu trên thế giới Hiện chúng ta có khoảng trên 400.000 lao động làmviệc tại trên 40 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, hàng năm số lao động
Trang 6này đã gửi về nớc một lợng ngoại tệ đáng kể, đa XKLĐ trở thành một trongnhững ngành gia nhập “câu lạc bộ 1 tỷ USD” ở Việt Nam.
Số tiền thực tế tối thiểu mà một lao động đợc hởng sau một năm (sau khi đãkhấu trừ hết các khoản chi phí ) trong một số ngành nghề thể hiện trong bảng d -
ới đây sẽ cho thấy rõ hơn điều này:
Bảng 5: Số tiền tối thiểu thực tế một lao động nhận đợc trong một năm theo một số nghề nhất định
Nguồn: Số liệu - Cục quản lý lao động ngoài nớc- Bộ LĐ-TB&XH, 2004
Nh vậy, chỉ sau một năm đi lao động tại nớc ngoài thì số tiền mà họ nhận
đợc cũng gấp nhiều lần so với thu nhập từ cùng việc đó trong nớc Chẳng hạn, ở
Đài Loan sau khi lao động một năm, ít nhất ngời lao động cũng gửi về cho gia
đình đợc trên 3000 USD (khoảng 50 triệu đồng), nếu ở Hàn Quốc thì con số này
là 4800 USD (khoảng 80 tiệu đồng) Đặc biệt với các công việc nh thợ hàn ởHàn Quốc thì sau một năm, một lao động có thể gửi về gia đình 120-130 triệu
đồng Đây là những số tiền rất lớn mà nếu những lao động đó, với trình độ vàtay nghề đó sẽ không bao giờ đạt đợc ở trong nớc, thậm chí họ có tích luỹ trongvài chục năm cũng cha chắc đã có đợc nh vậy Để thấy rõ hơn về mức sinh lợicủa XKLĐ trong thời gian từ 2000-2004 chúng ta theo dõi bảng sau:
Trang 7Bảng 6: Hệ số sinh lợi trong các ngành nghề XKLĐ (2000-2004)
Nguồn: Tạp chí - Bản tin thị trờng lao động, số 4 năm 2006.
Hệ số sinh lợi cho biết, khả năng tạo ra thu nhập thuần của ngời lao độngnếu họ đi làm việc ở nớc ngoài sẽ cao hơn so với cùng công việc đó trong nớc
bao nhiêu lần, trong một thời gian nhất định (xem thêm : Các chỉ tiêu đánh giá
hiệu quả kinh tế- xã hội của XKLĐ - Phần I).
Nh vậy có thể thấy, việc ngời lao động đợc đi XKLĐ đã mang lại thu nhập cho
họ cao hơn gấp 6 lần so với cùng công việc đó ở trong nớc Tức là nếu họ làmviệc trong nớc một công việc X nào đó với thu nhập giả sử là 1000.000 đồng/tháng thì giờ đây, nhờ XKLĐ họ làm công việc X đó nhng ở nớc ngoài với sốtiền nhận đợc là hơn 6000.000 đồng/ tháng Đặc biệt trong lĩnh vực nhà hàng-khách sạn thì thu nhập ở ngoài nớc còn cao hơn trong nớc tới 12 lần Đây quảthực là những con số rất lớn và có ý nghĩa đối với ngời lao động
Vì vậy, đời sống của những lao động đi xuất khẩu và gia đình họ đợc cảithiện rất nhiều, Nhà nớc cũng nhanh chóng hơn trong công tác xoá đói giảmnghèo Trong mấy năm trở lại đây, ớc tính lợng ngoại tệ do lao động chuyển vềnớc bình quân từ 1,2- 1,5 tỷ USD, trong đó năm 2004 khoảng gần 1,6 tỷ USD t-
ơng đơng 6,15% tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm 2004
2.2 Hệ số xuất khẩu ròng (hệ số tái tạo ngoại tệ) của hoạt động XKLĐ
Hệ số xuất khẩu ròng ( xem thêm : Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh
tế- xã hội của XKLĐ - Phần I) cho biết khả năng tái tạo ngoại tệ của từng
ngành xuất khẩu, so sánh hệ số XK ròng giữa các ngành cho biết khả năng táitạo ngoại tệ giữa các ngành, đâu là ngành có khả năng xuất khẩu đem lại nhiềungoại tệ nhất (sau khi đã bỏ đi các khoản chi phí bằng ngoại tệ để nhập khẩu cácyếu tố đầu vào và các chi phí khác) Dới đây là tơng quan về hệ số XK ròng củaXKLĐ so với một số ngành nghề xuất khẩu khác của Việt Nam:
Trang 8Bảng 7: Hệ số XK ròng của XKLĐ so với một số ngành nghề xuất khẩu khác
Nguồn: Tạp chí - Bản tin thị trờng lao động, số 4 năm 2006
Lu ý rằng, số ngoại tệ do XKLĐ mang về chúng ta đa ra ở phần trên làngoại tệ “thuần” Trên ý nghĩa hiệu quả vốn lu chuyển ngoại tệ (dòng tiền mang
về vợt so với dòng chi ra), có thể coi 1 USD thu đợc từ XKLĐ có ý nghĩa tơng
đ-ơng nh thu đợc 5,6 USD của hoạt động xuất khẩu hàng hoá thuộc ngành CNnặng, hoặc 8,4 USD trong ngành CN nhẹ và thủ CN… (các hoạt động xuất khẩuhàng hoá này, để thu về 1 USD thờng phải chi ra gấp XKLĐ 5,6 lần hoặc 8,4lần… để nhập khẩu vật t thiết bị và các chi phí khác)
Thật vậy, xét 2 hoạt động xuất khẩu là XKLĐ và xuất khẩu hàng hoá CN nặng: giả sử để thu đợc 1 USD từ hoạt động XKLĐ cần bỏ ra tổng chi phí là x USD (x
Do hệ số XK ròng củaXKLĐ/hệ số XK ròng của CN nặng là 5,6 lần nên hệ số XK
xuất khẩu hàng CN nặng cần bỏ ra tổng chi phí là 5,6x USD, mặt khác nếu bỏ
ra chi phí 5,6x USD chúng ta có thể thu về đợc 5,6 USD từ hoạt động XKLĐ Rõ ràng 1 USD thu đợc từ ghoạt động XKLĐ có ý nghĩa tơng đơng 5,6 USD của hoạt động xuất khẩu hàng CN nặng.
Trong năm 2003, thu nhập ròng của lao động gửi về nớc khoảng 1500 triệuUSD, tơng đơng 3,83% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả năm Trong khi kimngạch xuất khẩu của một số mặt hàng chủ yếu nh thuỷ sản: 2199,6 triệu USD;giầy dép: 2267,9 triệu USD; dệt may: 3700 triệu USD; gạo: 3800 triệu USD, nh-
ng đây cũng là những mặt hàng hàm chứa chi phí ngoại tệ lớn, với phân tích trênchúng ta thấy, lợi ích thực tế của dòng ngoại tệ mà lao động làm việc ngoài nớckhông hề thua kém các mặt hàng xuất khẩu chủ lực trên, nếu không muốn nói làcao hơn
2.3 Mức tiết kiệm vốn đầu t tạo việc làm nhờ hoạt động XKLĐ
Theo điều tra (thời giá năm 1998) nếu không tính đến giá trị quyền sử dụng đất
để xây dựng địa điểm làm việc thì muốn tạo ra một việc làm trong nớc cần đầu
t tối thiểu số tiền tơng ứng nh sau:
Trang 9Bảng 8 : Số vốn đầu t để tạo ra một việc làm
Đơn vị : Triệu đồng
Lĩnh
vực Trangtrại Sảnxuất
VLXD
CBTP Dệt
may Điện tửgia
dụng
Cơ khíchế tạo Vận tảiô tô
Số tiền 25-30 30- 35 30- 35 35- 40 40- 45 50- 55 60- 65
Nguồn : Tạp chí Bảo hiểm xã hội, 2/2001
Khi chúng ta XKLĐ sang các thị trờng nớc ngoài, có nghĩa là chúng ta đãtạo ra việc làm cho ngời lao động, đồng thời chúng ta lại tiết kiệm đợc cáckhoản tiền không nhỏ để đầu t tạo việc làm mới phải bỏ ra nếu họ làm việc ởtrong nớc Theo đó, càng XKLĐ nhiều (số lợng) thì khoản tiền chúng ta tiếtkiệm đợc lại càng lớn và chi Ngân sách càng giảm, trong khi mục tiêu giải quyếtviệc làm vẫn đợc giải quyết Để có thể lợng hoá cụ thể các con số này, chúng taxem bảng sau:
Từ năm 1996 đến năm 2000, hàng năm XKLĐ đã tiết kiệm đợc lợng vốn đầu
t tạo chỗ làm mới nh sau:
Bảng 9: Số vốn tạo việc làm do XKLĐ qua các năm
Nguồn : Tạp chí Bảo hiểm xã hội, 2/2001
Qua hai bảng trên cho thấy, trong 5 năm từ 1996-2000, nhờ hoạt độngXKLĐ mà chúng ta đã tiết kiệm ít nhất 3.500 tỷ đồng cho đầu t tạo việc làm mới(bình quân trên 700 tỷ đồng/ năm) Trong lĩnh vực đầu t trực tiếp nớc ngoài trên
địa bàn thành phó Hà Nội, thống kê năm 1996 cho thấy, để có thể có một việclàm mới phải đầu t nh sau: Nông nghiệp 60.000 USD; Xây dựng 50.000 USD,Công nghiệp 59.000 USD; Khách sạn- nhà hàng 178.000 USD, các ngành khác
là 237.000 USD ; Tính chung khoảng 102.000 USD cho mỗi lao động (Nguồn:
Tạp chí Kinh tế và Phát triển số 27/1998, trờng ĐH KTQD) ở đây, thu nhập
của ngời lao động cũng chỉ tơng đơng hoặc thấp hơn so với lao động làm việc ởnớc ngoài cùng ngành nghề Nếu làm phép nhân hiệu quả giữa đầu t tạo việc làmkhu vực với tạo việc làm do XKLĐ mang lại mới thấy lợi ích trên là rất lớn.Ngoài hiệu quả kinh tế trên, một bộ phận của nguồn quỹ BHXH Việt Nam đợclao động làm việc ở nớc ngoài đóng góp, góp phần chăm lo lợi ích hợp pháp củangời lao động, thực hiện chính sách lớn của Đảng và Nhà nớc về an toàn, an sinhxã hội (chỉ tính riêng năm 2000, công ty Vinaconex đã đóng BHXH hơn 1 tỷ
đồng)
Ngoài ra, XKLĐ theo hình thức tu nghiệp sinh còn là cơ hội để ngời lao
động đợc qua một lớp đào tạo nghề chứ không không đơn thuần là hoạt độnggiải quyết việc làm và xoá đói giảm nghèo Theo số liệu điều tra của Vinaconex,chỉ trong gần 10 năm, doanh nghiệp này đã đào tạo qua hình thức XKLĐ gần 20ngàn lao động
Nói chung hiệu quả từ hoạt động XKLĐ là rất to lớn và không giống nhau
đối với mỗi thị trờng và bản thân mỗi ngời lao động, nhng có thể khẳng định
Trang 10hoạt động XKLD đã đem lại lợi ích cho cả ba bên là ngời lao động, Nhà nớc vàcác doanh nghiệp trong lĩnh vực XKLĐ.
II Những thuận lợi và khó khăn trong công tác tìm kiếm và mở rộng thị tr - ờng lao động ngoài n ớc
1 Những thuận lợi của Việt Nam trong việc tìm kiếm và mở rộng thị tr ờng lao động ngoài n ớc
1.1 Những thuận lợi cơ bản
Sự ổn định về chính trị - xã hội trong những năm gần đây của ViệtNam đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho hoạt động phát triển của cả nềnkinh tế nói chung và hoạt động xuất khẩu lao động, mở rộng thị trờng lao độngnói riêng Cùng với tình hình an ninh, ổn định nh trong nhiều năm trở lại đây, hệthống luật pháp ngày càng trở nên chặt chẽ, tạo ra một hành lang pháp lý thôngthoáng và phù hợp với thông lệ quốc tế, Việt Nam đã trở thành một khu vực hấpdẫn đối với các nhà đầu t Lợng vốn đầu t nớc ngoài trực tiếp vào Việt Nam tăngnhanh qua từng năm Bên cạnh đó, đã có nhiều doanh nghiệp XKLĐ của ViệtNam mạnh dạn thâm nhập thị trờng quốc tế, trong số đó, có nhiều doanh nghiệp
đã có những thành công đầu tiên trong việc khẳng định thơng hiệu của mình Sựphát triển của thơng mại - mậu dịch quốc tế kéo theo những dòng di c về lao
động, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu lao động
Quan hệ hợp tác của nớc ta với các nớc khác trong khu vực và trênthế giới ngày càng đợc mở rộng và phát triển Hiện nay, Việt Nam đã thiết lậpquan hệ ngoại giao với 169 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới Thông qua cácchuyến thăm và làm việc song phơng, vấn đề hợp tác về văn hoá, kinh tế xã hộiluôn đợc đề cấp đến Thông qua những chuyến viếng thăm và làm việc củanhững ngời đứng đầu Nhà nớc, nhiều Bản ghi nhớ, Thoả thuận về hợp tác lao
động đã đợc ký kết, tạo ra khuôn khổ pháp lý cho hoạt động hợp tác về lao động.Bên cạnh đó, việc tham gia vào các tổ chức quốc tế nh ASEAN, AFTA… và tíchcực tiến hành đàm phán gia nhập WTO cũng tạo điều kiện cho Việt Nam trongviệc xúc tiến các hoạt động tìm hiểu chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sáchtiếp nhận lao động nớc ngoài của các nớc cũng nh tranh thủ sự ủng hộ, tạo điềukiện của các tổ chức quốc tế trong việc đa lao động sang làm việc tại các quốcgia
Một điều kiện thuận lợi nữa đối với hoạt động xuất khẩu lao động
đó là sự quan tâm và chỉ đạo sâu sát của Đảng, Chính phủ và sự phối hợp nhịpnhàng, chặt chẽ của các ngành, các địa phơng trong cả nớc trong việc thực hiệnxuất khẩu lao động Hệ thống chính sách, pháp luật về xuất khẩu lao động cũng
nh các văn bản hớng dẫn hoạt động xuất khẩu lao động thờng xuyên đợc điềuchỉnh, hoàn thiện và ban hành nhằm đáp ứng những thay đổi của điều kiện thị tr-ờng Nhà nớc đã thành lập quỹ hỗ trợ XKLĐ và chế độ khen thởng đối vớinhững cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có thành tích trong công tác mở rộng thịtrờng lao động ngoài nớc (ngày 13/09/2004); thành lập hiệp hội XKLĐ ViệtNam (ngày 7/4/2004), đa ra cơ chế thông thoáng cho các doanh nghiệp XKLĐ,
đánh thuế GTGT là 0%… Việc kết hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp, các ngành
và địa phơng trong việc thực hiện hoạt động xuất khẩu lao động, nghiên cứu vàthử nghiệm các mô hình thí điểm, các mô hình có hiệu quả đợc tổng kết, ápdụng thực hiện trên quy mô rộng
Cuối cùng, Việt Nam là một quốc gia có kinh nghiệm trong việctiến hành các hoạt động hợp tác về lao động ở cấp Nhà nớc (hoạt động xuất khẩulao động của ta đã đợc tiến hành từ những năm 80, thông qua các Hiệp địnhChính Phủ ký giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ các nớc xã hội chủ nghĩa
Đông Âu) Điều này là một thuận lợi cho chúng ta khi trong bối cảnh hiện nay,việc hợp tác về lao động lại có xu hớng chuyển sang hớng do Nhà nớc trực tiếp
đứng ra thực hiện (Hàn Quốc đã thực hiện việc thi hành Luật lao động mới trêncơ sở ký kết các Thoả thuận với Chính phủ các nớc phái cử và việc phái cử - tiếp
Trang 11nhận lao động do các cơ quan Nhà nớc/các tổ chức phi lợi nhuận thực hiện; ĐàiLoan cũng bắt đầu có đề nghị Việt Nam nghiên cứu cơ chế hoạt động đa lao
động sang Đài Loan do Nhà nớc trực tiếp đứng ra thực hiện)
1.2 Các thuận lợi cụ thể
Yếu tố thứ nhất, Việt Nam có nguồn lao động dồi dào, ngời lao động cần
cù, thông minh sáng tạo
Với quy mô dân số lớn, vào giữa năm 2004 lực lợng lao động của Việt Nam là43,2 triệu ngời, chiếm 52,7% tổng dân số, bình quan hàng năm dân số bớc vào
độ tuổi lao động khoảng 1,2 triệu ngời/năm Số lao động trẻ từ 15-34 tuổi chiếm
tỷ lệ cao trong lực lợng lao động, năm 2004 tỷ lệ này là 46,8%, đó là nguồncung ứng lớn cho thị trờng lao động trong nớc và xuất khẩu Bên cạnh số lao
động trẻ đang bớc vào độ tuổi lao động, hàng năm còn có khoảng 600.000 lao
động ở thành thị đang thất nghiệp, hàng trăm ngàn lao động mất việc do sắp xếplại doanh nghiệp, do chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp…Trong khi
đó, tình trạng thiếu việc làm trong nớc hoặc việc làm có thu nhập quá thấp nênrất nhiều ngời có nhu cầu đi XKLĐ để có thêm thu nhập và tích luỹ vốn pháttriển sản xuất, kinh doanh, giải quyết việc làm cho ngời thân trong gia đình vàthoát khỏi đói nghèo Khi đó nguồn cung lao động xuất khẩu là rất dồi dào, trẻkhoẻ
Lao động Việt Nam có u điểm là cần cù, thông minh, sáng tạo, năng động và cókhả năng tiếp thu nhanh cấc công việc khác nhau (điều này rất lợi thế trong việcxúc tiến, đa dạng hoá thị trờng- theo ngành nghề) Đặc biệt, khi có động lực vềkinh tế thì họ có thể lao động bất kể ngày đêm và có thể hoàn thành công việcvới năng suất cao…Vì vậy, không ít lao động Việt Nam đợc chủ sử dụng lao
động nớc ngoài đánh giá cao, bớc đầu tạo uy tín trên thị trờng lao động quốc tế,
đợc nhiều nớc chấp nhận Đây sẽ là một lợi thế to lớn trong khi Việt Nam đàmphán, tìm kiếm hợp đồng
Yếu tố thứ hai, Thị trờng lao động quốc tế đang có nhu cầu lớn về sử dụng
lao động nớc ngoài với những ngành nghề phù hợp khả năng của lao độngViệt Nam
Tại rất nhiều quốc gia hiên nay, xu thế già hoá dân số đã dẫn đến tình trạngthiếu lao động trầm trọng, họ đang có nhu cầu khá lớn về sử dụng lao động nớcngoài Đa số nhu cầu về ngành, nghề, việc làm thờng tập trung vào những lĩnhvực yêu cầu về trình độ lao động không quá cao, phù hợp với khả năng và trình
độ của lao động nông thôn Việt Nam nh: lắp ráp điện tử, dệt, da, may mặc, lao
động dịch vụ, giúp việc gia đình, chăm sóc ngời bệnh, trồng và khai thác nôngnghiệp, lâm nghiệp…hoặc những ngành nghề thuộc lĩnh vực 3D (độc hại, nguyhiểm, khó khăn) mà lao động bản địa ít quan tâm Tuy nhiên, ở một số quốc gia,nhu cầu ngành nghề kỹ thuật cao hơn nh cơ khí, xây dựng, phần mềm tin học,lao động trên biển, đánh bắt hải sản…vẫn còn rất cao, chúng ta cũng có cơ hộitiếp cận nhng nhìn chung thị trờng cung ứng lao động của ta cha thực sự đáp ứng
đợc
Một số nớc châu á nh Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaisia, Lào là nhữngthị trờng mà ta đã đa đi xuất khẩu sang một lợng lao động khá lớn mà vẫn đang
có khả năng tiếp nhận thêm nhiều lao động Việt Nam Đây cũng là những nơi có
điều kiện làm việc, phong tục tập quán khá phù hợp với lao động Việt Nam,quan hệ hợp tác giữa nớc ta với khu vực này đang phát triển tốt đẹp Lao độngViệt Nam ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan có thu nhập cao, lao động ởMalaisia, Lào thu nhập ổn định, tuy thấp hơn các thị trờng trên nhng so vớitrong nớc cũng cao hơn nhiều lần
Thị trờng Trung Đông và Châu Phi cũng có nhu cầu về lao động nớc ngoàithông qua các dự án xây dựng, một số nớc Vùng Vịnh cũng đã bắt đầu nhận laolao động Việt Nam Với các thị trờng này, tuy xa, điều kiện khí hậu, môi trờng
Trang 12khắc nghiệt nhng Việt Nam có thể cung ứng lao động cho các công ty nớc ngoàinhận nhận thầu công trình tại khu vực này.
Ngoài cấc thị trờng trên, nhiều nớc Châu Âu, Châu Mỹ cũng đang trong tìnhtrạng thiếu hụt lao động nên có nhu cầu khá lớn về lao động ngoài nớc Các nớctrong khối UE chủ trơng sử dụng lao động chất lợng cao nên khả năng tiếp cậnnhững thị trờng này còn hạn chế, mặc dù thu nhập của lao động làm việc tại đâyrất hấp dẫn Hiện nay chúng ta đang nghiên cứu, tìm hiểu để ký kết hiệp địnhhợp tác quốc tế về lao động đối với những thị trờng này Chắc chắn với sự nỗ lựccủa chúng ta, trong tơng lai không xa, lao động của chúng ta sẽ sang làm việc tạicác thị trờng này với số lợng đông đảo
Để có cái nhìn cụ thể hơn về thuận lợi trong hoạt động xúc tiến tìm kiếm thị trờng lao động mới của Việt Nam, cũng nh tiềm năng của các thị trờng lao
động ngoài nớc nói trên chúng ta sẽ phân tích trong phần sau (III Phân tích
và đánh giá một số thị trờng lao động tiềm năng)
2 Những hạn chế và thách thức trong việc xúc tiến mở rộng thị tr ờng lao
động ngoài n ớc
2.1 Hạn chế và thách thức
Các bên liên quan trong công tác xuất khẩu lao động nói chung và tìmkiếm, mở rộng thị trờng đã có những nỗ lực nhất định Tuy nhiên vẫn cònnhững hạn chế nhất định, do đó cha phát huy đợc hết khả năng và tiềm năngtrong công tác mở rộng thị trờng lao động mới nhằm đẩy mạnh hiệu quả XKLĐ.Chúng ta vẫn có “độ ỳ” nhất định không chỉ trong hoạt động tìm kiếm và mởrộng thị trờng mà còn cả trong nhiều vấn đề khác, dờng nh đó là một thuộc tính
đã ăn khá sâu vào chúng ta mà chắc phải mất thời gian chúng ta mới có thể cảithiện đợc, tất nhiên điều đó phải bắt đầu từ việc tự đổi mới và tự thấy đợc sự cầnthiết của đổi mới trong t duy của chúng ta, nếu so với sự năng động và nhạy bén
về thị trờng của các nớc có hoạt động XKLĐ hiệu quả nh Philippin, Thái Lan,Trung Quốc…thì chúng ta còn kém xa Dới đây là số liệu về XKLĐ của TháiLan sang các thị trờng nớc ngoài giai đoạn 1996- 6/2001
Bảng 10: Lao động Thái Lan xuất khẩu sang các nớc (1995- 6/2001)
Nguồn: 1 Tạp chí Kinh tế Châu á - TBD, số 5(34), tháng 10-2001.
2 Phòng thị trờng lao động- Cục Quản lý lao động ngoài nớc- Bộ
Đôi khi có những thị trờng chúng ta đã chiếm lĩnh đợc nhng lại để tuộtmất trong thời gian sau đó vì nhiều nguyên nhân, điều đó ảnh hởng tới uy tín củaViệt Nam trong hoạt động XKLĐ, gây cản trở không nhỏ cho công tác xúc tiến,
mở rộng các thị trờng mới tiếp theo (thị trờng Anh, Malaisia, Đài Loan…) Kểcả những thị trờng mới có đợc thì cũng còn nhỏ bé, chúng ta cha tiếp cận đợcvới các thị trờng thực sự lớn và đầy tiềm năng
Thị trờng tiếp nhận lao động Việt Nam tuy đang từng bớc đợc mở rộng song cònhạn chế về thị phần, chỉ mới tập trung vào những lĩnh vực, nghề lao động giản
đơn, lơng thấp, ĐKLĐ nặng nhọc, độc hại, lao động dịch vụ và giúp việc gia
đình, cha tạo đợc những thị trờng ổn định với số lợng lớn và thu nhập cao
Trang 13Hiện nay, việc tìm kiếm và phát triển thị trờng XKLĐ còn gặp nhiều khó khăn.Nhà nớc chỉ ký những hiệp định khung hoặc thông báo chung thông tin về nhucầu tiếp nhận lao động của các nớc, còn việc tìm và ký kết hợp đồng lao động
cụ thể về số lợng, chất lợng lao động, ngành nghề làm việc, nơi làm việc, chế độquyền lợi đối với ngời lao động…các doanh nghiệp XKLĐ phải tự thân vận
động, quan hệ với đối tác, môi giới để thoả thuận ký hợp đồng So với các nớc
có XKLĐ thì Việt Nam là nớc đi sau, các hợp đồng XKLĐ của chúng ta thờngnhỏ lẻ, không tập trung Đối với những thị trờng lao động lớn có thu nhập cao,doanh nghiệp XKLĐ Việt Nam cha đủ khả năng và điều kiện để tiếp cận đợc.Một vấn đề đáng quan tâm nữa ảnh hởng tới tiến độ xúc tiến thị trờng XKLĐmới của các doanh nghiệp đó là phí môi giới Bới vì phần lớn các doanh nghiệpcủa nớc cung ứng lao động không thể và không có khả năng biết trớc đợc doanhnghiệp, công ty nào ở nớc ngoài cần bao nhiêu lao động, do đó bắt buộc phảiqua môi giới và trả phí Mặc dù cả nwocs sở tại và nớc cung ứng lao động đềucông khai công bố không có phí môi giới thì thực tế vẫn dễn ra và không ai làmkhông công cho ai cả Việc không thừa nhận thực tế này đang gây ảnh hởng lớn
đến việc tìm và phát triển thị trờng XKLĐ và diến biến xung quanh loại phíngầm trên thì không ai kiểm soát đợc
Dới đây là những tồn tại và thách thức cụ thể với các bên liên quan trong việctìm kiếm và mở mới thị trờng XKLĐ ngoài nớc:
2.1.1 Nhà nớc và cơ quan quản lý nhà nớc về lao động
Việc thực hiện đờng lối chủ trơng của Đảng về XKLĐ của các cấp ngành liênquan còn chậm chạp, nhiều nơi còn cha hiểu đúng vấn đề Điều đó đã làm mấtnhiều cơ hội cũng nh lợi thế cạnh tranh của Việt Nam trên thị trờng lao độngquốc tế
Cơ chế chính sách đối với XKLĐ và quản lý Nhà nớc về XKLĐ còn thiếu và chatheo kịp với sự phát triển của tình hình XKLĐ thực tế đang diễn ra, nh thiếu cácchính sách về đầu t phát triển thị trờng, chính sách đào tạo cho lao động xuấtkhẩu, chính sách quản lý lao động làm việc ở ngoài nớc, chính sách về hỗ trợ vàquản lý XKLĐ sau khi hoàn thành hợp đồng về nớc… đặc biệt là các chính sáchkhuyến khích việc phát triển, mở rộng thị trờng XKLĐ ngoài nớc, nếu có thìcũng rất chung chung
2.1.2 Chất lợng lao động và khả năng cạnh tranh của lao động xuất khẩu
Hiện nay, phần lớn ngời đi lao động xuất khẩu là những ngời lao động cha có việclàm ổn định hoặc có việc làm nhng thu nhập thấp; đại bộ phận là thanh niên nôngthôn cha qua đào tạo nghề, cha đợc sống và làm việc trong môi trờng công nghiệp.Chúng ta đều biết thật là khó khăn khi chúng ta đi phát triển thị trờng và tìm kiếmkhách hàng trong khi sản phẩm của chúng ta định chào bán lại không thực sự cótính cạnh tranh cao Sau đây là một số yếu kém tồn tại từ phía ngời lao động:
- Thứ nhất, trình độ tay nghề của ngời lao động còn thấp Theo thống kêcủa Bộ Lao động, Thơng binh và Xã hội, tỷ lệ lao động đợc đào tạo tay nghềtrong tổng số lao động tham gia XKLĐ còn thấp, năm 2002 là 25%, năm 2003
là 35,5% Năm 2004, mặc dù có 90% LĐXK đợc đào tạo nhng chỉ có gần 50%trong số đó đợc đào tạo nghề trớc khi đi, số còn lại đợc đào tạo tại nơi làm việc
- Thứ hai, khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ kém Đây cũng là nguyênnhân gây nên bất đồng, thiếu hiểu biết lẫn nhau trong quan hệ giữa lao độngxuất khẩu Việt Nam và chủ sử dụng, làm giảm hiệu quả lao động, dễ nảy sinhtiêu cực, tạo tâm lý e ngại khi tuyển dụng lao động của Việt Nam
- Thứ ba, nhận thức của ngời lao động còn hạn chế, ý thức tổ chức và chấphành luật pháp nớc sở tại của một bộ phận lao động xuất khẩu cha cao Vấn đềđỏng lo ngại nhất và làm đau đầu cỏc nhà quản lý là hiện tượng lao động bỏtrốn, vi phạm hợp đồng Theo bỏo cỏo, tỷ lệ lao động Việt Nam bỏ hợp đồng
Trang 14cao hơn nhiều so với lao động xuất khẩu của cỏc nước trong khu vực Ở NhậtBản, tỷ lệ bỏ hợp đồng là 30-40%, Hàn Quốc 25-30%, Đài Loan trờn 9% Đếnthỏng 7/2005, Đại sứ Vương quốc Anh tại Việt Nam đó dừng cấp thị thực cholao động Việt Nam vỡ tỷ lệ lao động Việt Nam ở Anh vi phạm quỏ cao.
Thêm vào đó, lao động của chúng ta lại thiếu khả năng tự chịu trách nhiệm trớchành vi của mình và trớc pháp luật
- Thứ t, ngời lao động cha có tác phong làm việc công nghiệp: tác phonglàm việc chậm chạp, rề rà, thiếu dứt khoát và đặc biệt là độ bền thể lực của lao
động Việt Nam là thấp; ngời lao động cha chuẩn bị tốt tâm lý đi làm thuê ở nớcngoài, cha nhận thức rõ quan hệ chủ và thợ
- Thứ năm, lao động Việt Nam có một số đặc điểm là: nhẹ dạ, cả tin, dễ bịcám dỗ; coi trọng quá mức lợi ích cá nhân trớc mắt, ít quan tâm đến lợi ích lâudài của cộng đồng lao động Việt Nam ở nớc sở tại, làm phơng hại đến hình ảnhngời lao động Việt Nam trên thị trờng lao động quốc tế
2.1.3 Doanh nghiệp XKLĐ và hoạt động của các doanh nghiệp XKLĐ
Doanh nghiệp XKLĐ của chúng ta hiện nay tuy nhiều nhng chất lợng của cácdoanh nghiệp trong lĩnh vực XKLĐ nói chung và công tác xúc tiến tìm kiếm thị tr-ờng mới nói riêng còn nhiều vấn đề đáng bàn:
Việc tìm kiếm và mở rộng thêm nhiều thị trờng mới của các doanh nghiệp rấthạn chế, nếu có thì quy mô cũng còn khá nhỏ lẻ và cha thực sự tiềm năng, hoạt
động còn thiếu tính chuyên nghiệp Theo báo cáo của Bộ Lao động – Thơngbinh và Xã hội, trong số 141 doanh nghiệp XKLĐ, chỉ có 18 doanh nghiệp hoạt
động có tính chuyên doanh, đó là doanh nghiệp có chức năng hoạt động XKLĐ
là nhiệm vụ chính Nhiều doanh nghiệp có quy mô quá nhỏ (cả về nhân sự vànguồn vốn), trong số các doanh nghiệp XKLĐ nói trên có 89 doanh nghiệp bìnhquân hàng năm chỉ đa đợc dới 20 lao động ra nớc ngoài, họ không có đủ nănglực để đầu t xây dựng cơ sở đào tạo, tiếp cận thị trờng
Bên cạnh nhiều doanh nghiệp mạnh và có uy tín trong hoạt động XKLĐ vẫncòn nhiều doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, thậm chí còn vi phạm cácquy định pháp luật Một số DN thực hiện chưa nghiờm quy định về tuyển chọnlao động để người lao động phải qua trung gian, mụi giới làm tăng chi phớ chongười lao động Thậm chớ, cú DN cũn bỏn chỉ tiờu, chuyển sang làm mụi giớituyển dụng lao động cho DN khỏc, hoặc bỏn tư cỏch phỏp nhõn cho cỏc đơn vịkhụng cú chức năng về xuất khẩu lao động Những điều này gõy rối thịtrường ,tạo điều kiện cho cỏc hành vi tiờu cực tồn tại, phỏt triển
Hậu quả của cạnh tranh khụng lành mạnh giữa cỏc doanh nghiệp đổ hết lờn đầungười lao động Ở nước ngoài là tăng phớ mụi giới, hoa hồng, giảm tiền lương vàchế độ đối với người lao động để tranh hợp đồng cung ứng lao động Ở trong nước,tăng phớ tuyển dụng cho cỏn bộ địa phương để tuyển được lao động đưa sang cỏcthị trường lương thấp Trước đõy, để tuyển một lao động ở huyện, xó chỉ chikhoảng 300.000-500.000 đồng hoặc khụng phải mất tiền Nhưng hiện cỏc doanhnghiệp đẩy mức phớ từ 700.000-1.500.000 đồng để tuyển một lao động
Tất cả những điều trên gây ảnh hởng không nhỏ tới uy tín của các doanhnghiệp XKLĐ Việt Nam khi chúng ta tìm kiếm, đàm phán và mở rộng thị trờngmới Mặt khác điều đó cũng đồng nghĩa với việc giảm uy tín và tiếng nói củachính phủ Việt Nam trên thị lao động trờng quốc tế, ngày nay vị thế của cácdoanh nghiệp chính là bộ mặt kinh tế của một đất nớc
Mặc dù không có số liệu cụ về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệpXKLĐ, tuy nhiên bảng xếp hạng dới đây cũng là bức tranh chung mà thế giới