1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TÁON BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO AASC THỰC HIỆN

115 381 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhận xét và kiến nghị nhằm hoàn thiện các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính do AASC thực hiện
Tác giả Trần Thị Trang
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kiểm toán
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 156,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, việc hoàn thiện các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểmtoán để nâng cao chất lượng và giảm thiểu chi phí cuộc kiểm toán nói chung và kiểm toán báo cáo tài chính nói riêng là

Trang 1

NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TÁON BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO AASC THỰC HIỆN.

I Bài học kinh nghiệm rút ra từ việc áp dụng các kỹ thuật thu thập bắng chứng kiểm toán trong kiểm toán BCTC tại Công ty AASC.

1 Về thiết kế chương trình kiểm toán

2 Về sự kết hợp giữa các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán khác nhau.

3.Về sự kết hợp giữa các khoản mục trong thu thập bằng chứng kiểm toán.

4 Về cách ghi chép trên giấy tờ làm việc.

II Sự cần thiết phải hoàn thiện các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán tại AASC.

III Phương hướng hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán tại AASC.

1 Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán.

1.1 Kiến nghị về việc xác định mức độ trọng yếu, rủi ro và số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập.

AASC đã xây dựng một quy trình đánh giá mức độ trọng yếu thống

nhất trong toàn Công ty gồm 5 bước Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện

kiểm toán với một số khách hàng có quy mô nhỏ KTV chỉ đánh giá ở mức độkhái quát về tính trọng yếu chưa thể hiện đầy đủ trên giấy tờ làm việc Điều

đó đã gây khó khăn cho KTV khi xác định quy mô bằng chứng cần thu thập

Vì vậy, kiểm toán viên AASC cần đánh giá mức độ trọng yếu đối với tất cảcác khách hàng theo đúng quy trình mà Công ty đã xây dựng

1.2 Về việc áp dụng thủ tục phân tích

Tại AASC, thủ tục phân tích sử dụng chủ yếu là phân tích xu hướng và

Trang 2

phân tích xu hướng KTV thường chỉ lập bảng tính và phân tích xu hướng biếnđộng của niên độ này với niên độ trước Thủ tục phân tích để thu thập đượcbằng chứng kiểm toán hiệu lực gồm 3 loại: Kiểm tra tính hợp lý, phân tích xuhướng và phân tích tỷ suất

2 Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán

2.1 Kiến nghị về việc thực hiện chương trình kiểm toán của kiểm toán viên.

Các KTV mặc dù đã phối hợp với nhau trong quá trình thực hiện kiểmtoán, nhưng trên thực tế vẫn có sự trùng lặp nhau hoặc bỏ sót các thủ tục kiểmtoán khi các KTV tiến hành kiểm toán các khoản mục liên quan đến nhau.Vìvậy, trong quá trình thực hiện kiểm toán các trưởng nhóm nên phân côngcông việc các kiểm toán viên theo chu trình kiểm toán thì mỗi KTV được làmcác phần hành kiểm toán có liên quan với nhau

Ngoài ra, trong quá trình kiểm toán thì các KTV chỉ thực hiện kiểmtoán đơn thuần đối với phòng kế toán mà không thực hiện đối chiếu với cácphòng ban khác Ví dụ như đối với Công ty ABC, phòng kế hoạch là phòngtheo dõi bán hàng, xuất hóa đơn và theo dõi công nợ Phòng kế toán ghi nhậndoanh thu hàng tuần theo hóa đơn phòng kế hoạch gửi lên phòng phòng kếtoán Do đó rất dễ bỏ sót đối với các khách hàng mà phòng kế hoạch chưaxuất hóa đơn Vì thế, trong quá trình kiểm toán Công ty nên có sự đối chiếugiữa các phòng ban với nhau

2.2 Kiến nghị về việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ đối với các khoản mục.

Khi đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ đối với các khoản mục KTVchủ yếu dựa trên câu trả lời trong Bảng câu hỏi về hệ thống kiểm soát nội bộ

và KTV đưa ra kết luận dựa trên xét đoán chủ quan của KTV chứ Công tychưa đưa ra tiêu thức để đánh giá Do vậy, KTV nên căn cứ theo tính chất,

Trang 3

soát nội bộ và sử dụng thêm nhiều câu hỏi mở để có được đánh giá chính xáchơn về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với từng khoản mục từ đó có thể hạnchế được các thủ tục kiểm tra chi tiết đối với khoản mục đó.

2.3 Kiến nghị về việc chọn mẫu kiểm toán

Tại AASC, chọn mẫu chủ yếu là theo mẫu số lớn với mức bao quáttổng thể trên 60% là hợp lý và nhận định nghề nghiệp của kiểm toán viên Vớicách chọn mẫu trên, quy mô mẫu sẽ giảm, giúp KTV tập trung vào các khoảnmục trọng yếu Nhưng việc chọn mẫu như thế có thể dẫn đến rủi ro do chọnmẫu sẽ cao do số còn lại không được lựa chọn mà có thể có sai phạm rấtnhiều Vì vậy để hạn chế mức độ rủi ro kiểm toán, KTV nên kết hợp thêmphương pháp chọn mẫu xác xuất theo bảng số ngẫu nhiên (BSNN)

2.4 Kiến nghị về ước tính của kiểm toán viên.

Tại AASC, KTV chỉ thực hiện tính toán các phép tính mà kế toán đơn vị

đã thực hiện mà không đưa ra các ước tính của mình Điều này làm giảm hiệuquả của cuộc kiểm toán nhất là khi phải thực hiện nhiều phép tính mới đánh giáđược tính chính xác của số dư một số tài khoản KTV AASC nên thực hiện

việc tính toán kết hợp với việc xem xét, kiểm tra quá trình tính toán của đơn vị

với việc độc lập ước tính của KTV.

3 Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán

3.1 Kiến nghị về việc tổng hợp bút toán điều chỉnh của kiểm toán viên.

Trong quá trình thực hiện kiểm toán, KTV thấy có sai sót là điều chỉnh

và không quan tâm đến mức sai sót có thể bỏ qua Từ đó, dẫn đến việc đưa rakết luận kiểm toán có quá nhiều bút toán điều chỉnh sai sót mà các sai sót đókhông được coi là trọng yếu Như vậy, khi tiến hành tổng hợp bút toán điềuchỉnh sai sót đối với Công ty khách hàng, KTV nên căn cứ vào tính trọng yếucủa các bộ phận để từ đó đưa ra bút toán điều chỉnh thích hợp

3.2 Kiến nghị về việc so sánh ước tính sai số kết hợp víi ước tính ban

Trang 4

Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán thì các KTV đã tin tưởng rằng sai

số kết hợp nhỏ hơn ước lượng ban đầu về tính trọng yếu Vì thế, rất dễ bỏ sótbút toán điều chỉnh sai sót nếu sai số kết hợp lớn hơn ước lượng ban đầu vềtính trọng yếu

Vì thế, KTV của AASC nên thực hiện Ước tính sai sót của các bộ và sosánh ước tính sai số kết hợp với ước tính ban đầu hoặc xem lại ước lượng banđầu về tính trọng yếu

KẾT LUẬN

LỜI MỞ ĐẦU

Hoạt động kiểm toán nói chung đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới Sựphát triển cả về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia đã làm cho hoạt động kiểmtoán ngày càng phát triển và trở thành nhu cầu không thể thiếu Ở Việt Nam,hoạt động kiểm toán nói chung cũng như hoạt động kiểm toán độc lập nóiriêng là những hoạt động còn mới mẻ với sự tham gia của một số lượng ít cácCông ty kiểm toán trong nước và nước ngoài Tuy nhiên trong xu thế toàn cầuhóa các hoạt động thương mại cùng với sự quan tâm của nhà nước Việt Nam

Trang 5

đã và đang nâng cao về cả số lượng và chất lượng hoạt động của mình, phấnđấu ngang tầm với kiểm toán quốc tế Tất cả tình hình đó hứa hẹn những bướcphát triển toàn diện cho kiểm toán độc lập ở Việt Nam.

Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) làmột trong hai Công ty kiểm toán độc lập đầu tiên ở Việt Nam vào năm 1991.Với bề dày kinh nghiệm lâu năm cùng sự nỗ lực không ngừng của Ban Giámđốc và toàn thể cán bộ trong Công ty, AASC đã thực sự phát triển, đóng gópmột phần đáng kể đối với sự phát triển của ngành nghề kế toán, kiểm toán nóiriêng và sự phát triển của nền kinh tế đất nước nói chung

Một trong những yếu tố hết sức quan trọng góp phần làm nên thànhcông của cuộc kiểm toán đó là bằng chứng kiểm toán Bằng chứng kiểm toán

là cơ sở để kiểm toán viên hình thành nên ý kiến của mình về Báo cáo tàichính được kiểm toán từ đó hình thành nên kết luận kiểm toán Trong đó, các

kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán lại là sự đúc kết, khái quát hóa nhữngkinh nghiệm kiểm toán trên cơ sở phương pháp luận biện chứng và phươngpháp cụ thể khoa học giải tích, về quy hoạch, về xác suất và thống kế toán

Do đó, hệ thống các phương pháp này cần được hoàn thiện không ngừng qua

hoạt động thực tiến kiểm toán Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường hiện nay

thì việc thu thập được bằng chứng kiểm toán thích hợp và đầy đủ càng trở khó

khăn, đòi hỏi bắt kịp với sự đa dạng của thông tin, mức độ tinh vi cuả hành vigian lận

Chính vì vậy, việc hoàn thiện các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểmtoán để nâng cao chất lượng và giảm thiểu chi phí cuộc kiểm toán nói chung

và kiểm toán báo cáo tài chính nói riêng là một vấn đề không thể thiếu đượcđối với AASC cũng như đối với bất cứ một Công ty kiểm toán nào trong quátrình phát triển của mình

Nhận thức được tầm quan trọng của các kỹ thuật thu thập bằng chứngkiểm toán, với những kiến thức đã học ở trường đại học và qua quá trình thực

Trang 6

tập tại Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) em

đã lựa chọn đề tài “ Hoàn thiện các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính tại Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC)”.

Ngoài lời mở đầu và kết luận, bài viết gồm 3 phần:

Phần I: Cơ sở lý luận về các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán

trong kiểm toán Báo cáo tài chính

Phần II: Thực trạng việc áp dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng

kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty AASC thực hiện

Phần III: Nhận xét và kiến nghị nhằm hoàn thiện các kỹ thuật thu thập

bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán Báo các tài chính do Công ty AASCthực hiện

Đây là một nội dung lớn, phức tạp, là mối quan tâm của tất cả các Công

ty kiểm toán Do trình độ, thời gian và kinh nghiệm nên khó tránh khỏi nhữngsai sót và hạn chế Em rất mong nhận được ý kiến của các thầy cô, các anh chịđồng nghiệp để bài viết được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của Th.S Bùi ThịMinh Hải và sự chỉ bảo, giúp đỡ nhiệt tình của các anh chị trong Công tyKiểm toán AASC, để em có thể hoàn thành bài viết này

PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH.

I BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN VÀ KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN

1 Bằng chứng kiểm toán

1.1 Khái niệm về bằng chứng kiểm toán

Theo từ điển Tiếng Việt: “Bằng chứng là những vật hoặc việc dùng làmbằng để chứng tỏ việc là có thật” Như vậy, bằng chứng đóng vai trò quan

Trang 7

trọng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực pháp lý Muốn quy kếttội danh cho một tổ chức hoặc cá nhân, các cấp có thẩm quyền phải đưa rađược các bằng chứng xác đáng với tội danh ấy, đó là các bằng chứng pháp lý.Bằng chứng pháp lý là những gì chứng minh được một sự kiện hoặc một quan

hệ pháp luật, chẳng hạn: bằng chứng được xác định bằng vật chứng, lời khaicủa người làm chứng, bị can, bị cáo…Các tài liệu văn bản, sổ sách cũng đượccoi là bằng chứng pháp lý Chủ thể tiến hành thu thập bằng chứng pháp lý là

cơ quan bảo vệ và thừa hanh pháp luật Trong nhiều trường hợp khác nhau,bằng chứng đưa ra phải thỏa mãn rất nhiều tiêu chí (trung thực, khách quan,hợp lý, thuyết phục, có tính liên quan…) thì bằng chứng mới được coi là cóích

Trong lĩnh vực kiểm toán, có nhiều khái niệm khác nhau về bằng chứngkiểm toán Các khái niệm đều là những hướng dẫn cơ bản về bằng chứngkiểm toán, qua đó KTV tiến hành thu thập bằng chứng kiểm toán và căn cứvào đó hình thành nên ý kiến của mình Theo quan điểm thứ nhất: “Bằngchứng kiểm toán là những thông tin và tài liệu mà kiểm toán viên thu thậpđược trong quá trình kiểm toán để làm cơ sở cho những nhận xét, đánh giá vàkết luận của mình về tình hình và kết quả hoạt động cũng như báo cáo tàichính của đơn vị được kiểm toán” Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 250

“Việc đánh giá và xác định hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy địnhnói chung không phải là trách nhiệm nghề nghiệp của kiểm toán viên và công

ty kiểm toán”, vì vậy KTV và Công ty không cần thực hiện các thủ tục kiểmtra khác đối với việc tuân thủ pháp luật và các quy định của đơn vị, nếu nhữngthủ tục đó nằm ngoài phạm vi kiểm toán báo cáo tài chính Qua đây cho thấy,bằng chứng kiểm toán có thể bao gồm các bằng chứng về việc không tuân thủpháp luật của đơn vị được kiểm toán làm ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tàichính, chủ thể thu thập bằng chứng là các KTV và các trợ lý kiểm toán Khác

Trang 8

với bằng chứng kiểm toán, bằng chứng pháp lý quan tâm đến tính tuân thủpháp luật nhưng không xem xét mức độ ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tàichính, chủ thể tiến hành thu thập bằng chứng pháp lý là cơ quan có thẩmquyền được pháp luật quy định (Tòa án, Viện kiểm sát,…) Bằng chứng pháp

lý liên quan đến nhiều lĩnh vực (lĩnh vực pháp lý, lĩnh vực kinh tế, ), nhiềuđối tượng và nhiều mục đích khác nhau Trong khi đó, bằng chứng kiểm toán

có mục đích, đối tượng hẹp hơn, cụ thể hơn (lĩnh vực kiểm toán)

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500 "Bằng chứng kiểm toán làtất cả các tài liệu, thông tin do kiểm toán viên thu thập được liên quan đếncuộc kiểm toán và dựa trên các thông tin này kiểm toán viên hình thành nên ýkiến của mình "

Theo khái niệm này bằng chứng kiểm toán bao gồm cả thông tin nhânchứng và vật chứng mà KTV thu thập làm cớ sở cho nhận xét của mình vềbáo cáo tài chính được kiểm toán Các bằng chứng kiểm toán khác nhau sẽ cóảnh hưởng khác nhau tới việc hình thành kết luận kiểm toán Do đó KTV cầnnhận thức cụ thể về các loại để có thể đánh giá bằng chứng một cách hữu hiệukhi thực hành kiểm toán Sự thành công của cuộc kiểm toán phụ thuộc trướchết vào việc thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán Nếu KTV không thuthập đủ và đánh giá đúng các bằng chứng kiểm toán thì KTV sẽ không đưa rađược nhận định xác đáng về đối tượng kiểm toán

1.2 Vai trò bằng chứng kiểm toán

Bằng chứng kiểm toán có vai trò rất quan trọng, làm cơ sở hình thànhnên ý kiến kết luận kiểm toán Qua đó ta thấy sự thành công của toàn bộ cuộckiểm toán phụ thuộc trước hết vào thu thập và sau đó là đánh giá bằng chứngkiểm toán của KTV Một khi KTV không thu thập đầy đủ và đánh giá đúngcác bằng chứng thính hợp thì KTV khó đặt ra nhận định xác đáng về đốitượng được kiểm toán

Trang 9

Đối với các tổ chức kiểm toán độc lập hoặc cơ quan kiểm toán Nhànước, cơ quan pháp lý, bằng chứng kiểm toán còn là cơ sở đánh giá chấtlượng hoạt động của KTV trong quá trình thực hiện kiểm toán.

Trong trường hợp có xảy ra tranh chấp kiện tụng giữa công ty kiểmtoán với người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính thì bằng chứng kiểmtoán còn là cơ sở để cơ quan chức năng kiểm tra, đánh giá lại công việc củakiểm toán viên và công ty kiểm toán

1.3 Quyết định của kiểm toán viên về thu thập bằng chứng kiểm toán.

Kiểm toán tài chính có đối tượng là các Báo cáo tài chính – bao gồmcác thông tin tài chính tổng hợp liên quan đến toàn bộ hoạt động sản xuất kinhdoanh trong một niên độ tài chính được kiểm toán Với đối tượng kiểm toánrộng như vậy, KTV không thể kiểm tra, đánh giá được tất cả các phiếu thu,phiếu chi đã thanh toán, các hóa đơn của bên bán, các hóa đơn bán hàng,chứng từ vận chuyển…và các loại chứng từ sổ sách có liên quan Do đó, KTVcần phải xác định số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập để có thể đánhgiá toàn diện về đối tượng kiểm toán Quyết định này của KTV về thu thậpbằng chứng kiểm toán có thể chia thành:

1.3.1 Quyết định về thể thức kiểm toán cần áp dụng.

Thể thức kiểm toán là những hướng dẫn chi tiết về quá trình thu thập ởmột loại bằng chứng kiểm toán cá biệt phải thu thập ở một điểm nào đó trongmột cuộc kiểm toán Ví dụ hướng dẫn chi tiết về quá trình thu thập biên bảnkiểm kê vật tư, tiền tại két, các bút toán nhật kí hay các chi tiết trong quá trìnhvận chuyển

Những hướng dẫn này thường đước sắp xếp theo một thứ tự cụ thể giúpKTV sử dụng trong suốt quá trình kiểm toán

1.3.2 Quyết định về quy mô mẫu.

Trang 10

Sau khi đã chọn thể thức kiểm toán, KTV cần xác định quy mô mẫu.Quy mô mẫu có thể gồm từ một vài phần tử đến tất cả các phần tử trong tổngthể đang nghiên cứu Việc quyết định chọn bao nhiêu khoản mục để kiểm soátphải được KTV thực hiện cho từng thể thức kiểm toán Quy mô mẫu với bất

kỳ thể thức sẵn nào đều có khả năng thay đổi từ cuộc kiểm toán này sangcuộc kiểm toán khác

1.3.3 Quyết định về các khoản mục cá biệt cần chọn từ tổng thể.

Xác định xong quy mô mẫu chọn cho từng thể thức kiểm toán, KTVcần xác định các phần tử cá biệt cần kiểm tra cụ thể Ví dụ, KTV quyết địnhchọn 200 phiếu chi đã thanh toán từ tổng thể gồm 3000 phiếu chi để so sánhvới sổ nhật ký chi tiền KTV có thể chọn ra các phiếu thu cụ thể theo cáccách: chọn 200 phiếu chi có số tiền lớn nhất, chọn các phiếu chi một cáchngẫu nhiên, chọn phiếu chi theo phán đoán của KTV hay có thể kết hợp cáccách trên

1.3.4 Quyết định về thời gian hoàn thành các thể thức

Một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính thường của một kì, một năm vàmỗi cuộc kiểm toán thường phải mất vài tháng Việc xác định thời gian củathể thức kiểm toán có thể ngay từ khi kỳ kế toán mà Báo cáo tài chính phảnánh chưa kết thúc; hoặc có thể rất lâu sau khi kỳ kế toán kết thúc Tuy nhiên,thông thường khách hàng muốn công ty kiểm toán hoàn thành kiểm toántrong khoảng thời gian không quá một quý kể từ khi kỳ kế toán kết thúc

1.4 Phân loại bằng chứng kiểm toán

1.4.1 Phân loại bằng chứng kiểm toán theo nguồn gốc hình thành

Theo cách này bằng chứng được phân loại theo độ tin cậy tăng dần nhưsau:

Trang 11

Bằng chứng có độ tin cậy thấp nhất là bằng chứng do đơn vị phát hành

và luân chuyển nội bộ: Phiếu thu, phiếu chi, phiếu nhập kho, phiếu xuất kho,

Bằng chứng có độ tin cậy cao hơn là bằng chứng do doanh nghiệp pháthành và luân chuyển ra bên ngoài đơn vị sau đó quay trở lại đơn vị như Các

ủy nhiệm chi, các hợp đồng,…

Tiếp đến là bằng chứng do bên ngoài lập, lưu tại đơn vị như hóa đơnbán hàng, sổ phụ ngân hàng,…và bằng chứng do những người bên ngoài cungcấp trực tiếp cho KTV như bảng xác nhận nợ của chủ nợ, bảng xác nhận cáckhoản phải thu của khách nợ,…

Bằng chứng có độ tin cậy cao nhất là bằng chứng do KTV tự khai thác

và đánh giá thông qua kiểm tra, quan sát và phỏng vấn

1.4.2 Phân loại bằng chứng kiểm toán theo loại hình

Bằng chứng vật chất : như là biên bản kiểm kê hàng tồn kho, biên bản

kiểm kê quỹ tiền mặt….Bằng chứng vật chất được đưa ra từ việc kiểm tra trựctiếp để xác minh tài sản có thực hay không Vì thế, bằng chứng vật chất làbằng chứng có độ tin cậy cao nhất

Các bằng chứng tài liệu : là bằng chứng mà KTV thu thập được qua

việc cung cấp tài liệu, thông tin của cá bên liên quan theo yêu cầu của kiểmtoán viên gồm có:

- Các ghi chép kế toán và các ghi chép nghiệp vụ của doanh nghiệp, cácbáo cáo kế toán, các bản giải trình của các nhà quản lý doanh nghiệp…Cácchứng từ, tài liệu do đối tượng bên ngoài doanh nghiệp cung cấp như: Cácvăn bản, các giấy xác nhận, các báo cáo của bên thứ ba có liên quan đến báocáo tài chính của doanh nghiệp được kiểm toán như: cơ quan thuế, hải quan,bên bán, bên mua…Các tài liệu tính toán lại của KTV

Trang 12

Các bằng chứng tài liệu có tính thuyết phục cao nhưng độ tin cậy khôngcao bằng bằng chứng vật chất.

Các bằng chứng thu thập qua phỏng vấn : là bằng chứng KTV thu thập

được thông qua xác minh điều tra bằng cách phỏng vấn những người có liênquan đến tài chính của doanh nghiệp được kiểm toán

KTV phỏng vấn người quản lý, khách hàng, người bán, chủ đầu tư…

để KTV ghi chép về những chi tiết có liên quan đến cuộc kiểm toán

Bằng chứng thu thập qua phỏng vấn là những minh chứng cho những ýkiến của KTV, nhưng độ tin cậy không cao bằng hai loại trên Tuy nhiêntrong quá trình thu thập bằng chứng, KTV sẽ kết hợp nhiều loại bằng chứng

để có tính thuyết phục cao hơn

1.5 Tính chất của bằng chứng kiểm toán

Theo GAAS, bằng chứng kiểm toán phải được thu thập một cách cóhiệu lực và đầy đủ thông qua việc kiểm tra, kiểm soát việc thẩm vấn…để có

cơ sở pháp lý cho các ý kiến về báo cáo tài chính được kiểm toán

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) số 500 quy định: “Kiểmtoán viên và Công ty kiểm toán phải thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểmtoán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến của mình về báo cáo tài chính củađơn vị được kiểm toán”

Như vậy, bằng chứng kiểm toán có ảnh hưởng trực tiếp đến kết luậncủa KTV Do đó, bằng chứng kiểm toán thu thập được phải có tính thuyêtphục

Hai yếu tố quyết định tính thuyết phục của bằng chứng kiểm toán làtính hiệu lực (thích hợp) và tính đầy đủ

1.5.1 Tính hiệu lực

“Giá trị” hay “hiệu lực” hoặc “thích hợp” đều thể hiện chất lượng haymức độ đáng tin cậy của bằng chứng kiểm toán Bằng chứng kiểm toán có giá

Trang 13

trị cao sẽ giúp cho việc chứng thực các báo cáo tài chính được trình bày trungthực Những yếu tố ảnh hưởng đến tính hiệu lực, bao gồm:

Thứ nhất là loại hình bằng chứng kiểm toán: Bằng chứng bằng văn bản

có độ tin cậy cao hơn bằng chứng bằng miệng Ví dụ như “Biên bản kiểm kê”

có được sau khi KTV chứng kiến hoặc tham gia kiểm kê thì có độ tin cậy caohơn bằng chứng thu thập được qua phỏng vấn

Thứ hai là hệ thống kiểm soát nội bộ: Bằng chứng thu được có độ tin

cậy cao hơn khi hệ thống kiểm soát nội bộ tồn tại và hoạt động hiệu quả hơn

Thứ ba là nguồn gốc thu thập bằng chứng kiểm toán: Bằng chứng kiểm

toán có nguồn gốc càng độc lập thì càng có hiệu lực

Thứ tư là sự kết hợp các bằng chứng kiểm toán: Nếu nhiều bằng chứng

cùng xác minh cho một vấn đề thì bằng chứng sẽ có giá trị hơn

1.5.2 Tính đầy đủ.

Số lượng bằng chứng thu thập quyết định tính đầy đủ của bằng chứngkiểm toán Do đó quy mô mẫu mà KTV cần lựa chọn rất quan trọng trongviệc quyết định tính đầy đủ của bằng chứng Đối với một thủ tục kiểm toán đãxác đinh, bằng chứng thu được từ một mẫu 200 cá thể sẽ đầy đủ hơn từ mộtmẫu gồm 100 cá thể Khi đánh giá về “tính đầy đủ” của bằng chứng kiểmtoán, KTV thường xem xét ảnh hưởng của các nhân tố chủ yếu như tính giá trịcủa bằng chứng, tính trọng yếu và mức độ rủi ro của thông tin tài chính để từ

đó xác định quy mô mẫu cần có

Những yếu tố ảnh hưởng đến tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toánbao gồm:

Thứ nhất là tính hiệu lựu của bằng chứng: Bằng chứng có độ tin cậy

càng thấp, số lượng bằng chứng thu thập càng nhiều

Thứ hai là tính trọng yếu: Đối tượng cụ thể được KTV càng trọng yếu

thì bằng chứng kiểm toán thu thập càng nhiều

Trang 14

Thứ ba là mức độ rủi ro: Những khoản mục có khả năng rủi ro cao,

lượng bằng chứng cần phải thu thập càng nhiều

Trong kiểm toán thường xét đến các loại rủi ro sau: Rủi ro tiềm tàng(IR), rủi ro kiểm soát (CR), rủi ro phát hiện (DR) và rủi ro kiểm toán (AR)

- Đánh giá rủi ro tiềm tàng: KTV phải thu thập các bằng chứng kiểm

toán về: ngành nghề kinh doanh của khách hàng, năng lực nhân viên quản lý,

cơ chế tài chính, kế toán của đơn vị được kiểm toán từ đó KTV hiểu được bảnchất ngành nghề kinh doanh và tính chất các nghiệp vụ để đưa ra dự đoán củamình về rủi ro tiềm tàng

- Đánh giá rủi kiểm soát: KTV thực hiện đánh giá ban đầu về rủi ro

kiểm soát thông qua việc đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống kiểm soátnội bộ của khách hàng Do đó, trong giai đoạn này phải thu thập các bằngchứng kiểm toán về môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tụckiểm soát Như vậy sau khi thu thập được những hiểu biết về cách thiết kế,điều hành của hệ thống kiểm soát nội bộ, KTV sẽ đưa ra đánh giá ban đầu vềrủi ro kiểm soát Mức độ rủi ro này sẽ được chứng minh bằng việc thực hiệncác thử nghiệm kiểm soát ở giai đoạn hai của cuộc kiểm toán trước khi KTVđưa ra mức độ rủi ro kiểm soát thích hợp

- Đánh giá rủi ro phát hiện, KTV phải có trách nhiệm thực hiện các thủ tục

thu thập các bằng chứng kiểm toán nhằm kiểm soát rủi ro phát hiện

Giữa các loại rủi ro có mối quan hệ sau:

(1) (2)

AR : Rủi ro kiểm toán mong muốn CR : Rủi ro kiểm soát

IR : Rủi ro tiềm tàng DR : Rủi ro phát hiện

AR = IR x CR x DR

ARDR=

IR x

Trang 15

Quan hệ giữa các loại rủi ro và lượng bằng chứng kiểm toán cần thuthập được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1: Quan hệ giữa các loại rủi ro và số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập

Trường

hợp

Rủi ro kiểm toán

(AR)

Rủi ro cố hữu (IR)

Rủi ro kiểm soát (CR)

Rủi ro phát hiện (DR)

Số lượng bằng chứng cần thu thập

4 Trung bình Trung bình Trung bình Trung bình Trung bình

(*Nguồn: Alvin Arens và James K.Loebbecke,Auditing, NXB Thống Kê,1995)

Qua bảng 1, ta có thể thấy khi rủi ro phát hiện thấp, rủi ro kiểm toáncũng thấp, rủi ro cố hữu và rủi ro kiểm soát ở mức độ cao, lượng bằng chứngkiểm toán cần phải thu thập là đáng kể Ngược lại, khi rủi ro phát hiện ở mứccao, rủi ro kiểm toán cúng đặt ở mức cao, rủi ro cố hữu và rủi ro kiểm soát ởmức thấp, lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập sẽ ít hơn trường hợp trên

2 Kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính

Để thu thập được các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và hiệu lực, KTVcần áp dụng các kỹ thuật nhất định trong quá trình thu thập bằng chứng kiểmtoán Tuỳ theo từng điều kiện, hoàn cảnh, đặc điểm của đối tượng kiểm toán,KTV có thể áp dụng một hoặc một số kỹ thuật thu thập bằng chứng thích hợp

để đạt được mục tiêu đề ra

2.1 Kiểm tra vật chất (kiểm kê)

Kiểm tra vật chất là quá trình kiểm kê ngay tại chỗ hay tham gia kiểm

kê các loại tài sản của doanh nghiệp Đối tượng áp dụng của phương pháp này

Trang 16

là các tài sản có dạng vật chất cụ thể như hàng tồn kho, tài sản cố định, tiềnmặt, giấy tờ thanh toán có giá trị

Kiểm kê được thực hiện thích ứng về thời điểm (định kỳ, đột xuất haythường xuyên) và loại hình (kiểm kê toàn diện, kiểm kê điển hình hay chọnmẫu) tùy thuộc mục đích của từng cuộc kiểm toán Đối với cuộc kiểm toánbáo cáo tài chính cả năm thì kiểm kê phải thực hiện vào cuối năm và kiểm kêtoàn diện Còn đối với cuộc kiểm toán nhằm mục đích chia tách, sát nhập haygiả thể doanh nghiệp thì kiểm kê có thể thực hiện đột xuất và chỉ kiểm kê điểnhình với những tài sản có giá trị lớn…

Kiểm kê thực tế là sơ sở để lập báo cáo tài chính và cho phép kiểm tra

độ tin cậy của hệ thống kê khai thường xuyên Vì vậy, việc vận dụng kỹ thuậtkiểm kê để thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính

là vô cùng quan trọng Chuẩn mực Quốc tế 501 cũng đã quy định rõ: “Nếuchuyên gia kiểm toán không thể có mặt tại ngày kiểm kê thực tế vì lý do độtxuất, chuyên gia kiểm toán phải thực hiện kiểm kê hoặc tham dự vào mộtbuổi kiểm kê tại thời điểm khác, và nếu cần, phải kiểm tra những biến độngkho trong khoảng thời gian giữa thời điểm cuối năm và thời điểm kiểm kê saunày…Trong trường hợp chuyên gia kiểm toán không thể tham dự vào hoạtđộng kiểm kê, chẳng hạn do tính chất và đặc điểm của hoạt động này, thìchuyên gia kiểm toán phải xác định xem mình có thể thực hiện những thủ tụckiểm toán thay thể nhằm thu thập các bằng chứng đầy đủ và thích hợp về tínhhiện hữu và tình trạng tồn kho, để sao cho không phải đưa ra ý kiến chấp nhậntừng phần vì giới hạn trong phạm vi công việc”

Ký thuật này có ưu điểm cung cấp cấc bằng chứng có độ tin cậy caonhất vì kiểm tra vật chất là quá trình xác minh minh tính có thực của tài sản

và quá trình này hoàn toàn mang tính khách quan Hơn nữa kỹ thuật này thựchiện đơn giản, phù hợp với chức năng xác minh của kiểm toán

Trang 17

Tuy nhiên đối với tài sản cố định như đất đai, nhà xưởng, máy móc…

kỹ thuật kiểm kê chỉ cho biết sự hiện hữu của tài sản, không cho biết quyền sởhữu của đơn vị đối với tài sản đó có thể hiện hữu nhưng lại là tài sản thuêngoài hay đã đem thế chấp…Còn đối với hàng hoá, nguyên vật liệu tồn kho,kiểm kê chỉ cho biết sự tồn tại về số lượng còn chất lượng, tình trạng kỹ thuật,phương pháp đánh giá đúng hay sai thì chưa thể hiện Vì vậy, khi thu thậpbằng chứng khác để chứng minh quyền sở hữu và giá trị của tài sản đó

2.2 Lấy xác nhận

Là quá trình thu thập thông tin từ bên thứ ba độc lập cung cấp để xácminh tính chính xác của thông tin mà KTV nghi vấn và các đối tượng mà

KTV thường gửi thư xác nhận được khái quát trong bảng số 2

- Thư xác nhận (sau khi đã có ký, duyệt của đại diện đơn vị được kiểmtoán) có thể được KTV gửi trực tiếp đền người thứ 3 để nhờ xác nhận thôngtin theo yêu cầu và sau đó được gửi lại theo địa chỉ của KTV

- Thông thường đơn vị được kiểm toán có thể gửi thư nhờ xác nhận đếnngười thứ 3 theo yêu cầu của KTV, nhưng thư trả lời vẫn phải gửi trực tiếp vềđịa chỉ của KTV và KTV phải kiểm soát được toàn bộ việc gửi và nhận củaxác nhận Qui trình nhằm đảm bảo tính độc lập của kỹ thuật xác nhận đối vớiđơn vị được kiểm toán

Bảng 2: Thông tin thường cần phải xác nhận (Trích từ Giáo trình kiểm toán tài chính – Chủ biên GS.TS NGuyễn

Quang Quynh- Nhà xuất bản Tài chính)

Tài sản

Tiền gửi ngân hàng

Khoản phải thu

Phiếu nợ phải thu

Hàng tồn kho gửi trong công ty lưu kho

Giá trị bằng tiền của bảo hiểm nhân thọ

Ngân hàng Khách nợ Người lập phiếu Công ty lưu kho Công ty bảo hiểm

Trang 18

Cổ đông

Các loại thông tin khác

Loại bảo hiểm

Chủ nợ

Ưu điểm của kỹ thuật này là bằng chứng thu được có độ tin cậy cao nếuKTV thực hiện đúng quy trình và đảm bảo các yêu cầu: Thông tin cần phảiđược xác nhân theo yêu cầu của KTV, sự xác nhận phải được thực hiện bằngvăn bản, sự độc lập của người xác nhận thông tin, KTV phải kiểm soát đượctoàn bộ quá trình thu thập thư xác nhận

Tuy nhiên , kỹ thuật này có chi phí thực hiện khá lớn và do phạm vi ápdụng tương đối giới hạn nhất là khi đơn vị được kiểm toán có quy mô lớn,quan hệ rộng, đa quốc gia…Hơn nữa, KTV cũng có quan tâm đến khả năngcác xác nhận của bên thứ ba đã qua sự dàn xếp trước của đối tượng được kiểmtoán

2.3 Xác minh tài liệu

Là quá trình xem xét, kiểm tra đối chiếu các chứng từ sổ sách có liênquan sẵn có trong đơn vị được kiểm toán Kỹ thuật này áp dụng đối với : hoáđơn bán hàng, phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, hoá đơn vận chuyển, sổ sách

kế toán…

Trang 19

Trong kiểm tra tài liệu, bằng chứng kiểm toán thu được phụ thuộc vàomục tiêu kiểm toán hay nói cách khác mục tiêu kiểm toán là cơ sở để lựa chọnthủ tục kiểm tra cụ thể Kỹ thuật này thường được tiến hành theo hai cách:

Thứ nhất, từ một kết luận có trước, KTV thu thập tài liệu làm cơ sở đểkhẳng định cho kết luận đó như có thể kiểm tra các tài liệu, hồ sơ về quyền sởhữu tài sản

Thứ hai, kiểm tra các tài liệu của một nghiệp vụ từ khi phát sinh đếnkhi phản ánh vào sổ sách kế toán, việc kiểm tra tiến hành theo hai hướng:

- Xác minh từ chứng từ gốc lên sổ sách kế toán Hướng xác minh nàyđược áp dụng khi kiểm toán viên thu thập bằng chứng kiểm toán để khẳngđịnh nghiệp vụ kinh tế phát sinh được ghi sổ đầy đủ (mục tiêu đầy đủ)

- Xác minh từ sổ sách kế toán xuống chứng từ gốc Hướng xác minhnày được áp dụng khi kiểm toán viên thu thập bằng chứng kiểm toán về tính

có thật của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh

Kĩ thuật kiểm tra tài liệu tương đối thuận tiện do tài liệu thường sẵn có,chi phí để thu thập bằng chứng kiểm toán là thấp Tuy nhiên độ tin cậy của tàiliệu minh chứng phụ thuộc vào nguồn gốc của bằng chứng Các tài liệu cungcấp có thể bị sửa chữa, tẩy xoá, giả mạo làm mất tính khách quan nên cần có

sự kiểm tra, xác minh bằng các kỹ thuật khác

Trang 20

được kiểm toán để có ấn tượng chung về máy móc thiết bị của đơn vị, quansát tính cũ, mới cũng như sự vận hành của máy móc…

Kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán này thu được bằng chứng có

độ tin cậy cao nhưng chỉ đúng ở thời điểm quan sát Phương pháp này rất hữuích để thu thập bằng chứng kiểm toán nhưng bản thân nó chưa thể hiện tínhđầy đủ Do vậy, cần kết hợp các phương pháp khác Mặt khác, tính hiệu quảcủa phương pháp này phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm của kiểm toán viên

2.5 Phỏng vấn

Phỏng vấn là quá trình KTV thu thập thông tin bằng văn bản hay bằnglời nói qua việc phỏng vấn những người hiểu biết về vấn đề mà KTV cầnquan tâm Việc thu thập được bằng chứng kiểm toán khách quan và đáng tincậy phụ thuộc vào nhiều kỹ thuật và kinh nghiệm phỏng vấn của kiểm toánviên Quá trình phỏng vấn thường bao gồm ba giai đoạn:

Giai đoạn lập kế hoạch phỏng vấn: KTV phải xác định được mục đích,đối tượng và nội dung cần phỏng vấn, thời gian và địa điểm phỏng vấn…

Giai đoạn thực hiện phỏng vấn: KTV giới thiệu lý do phỏng vấn, traođổi về những trọng điểm đã xác định Khi phỏng vấn kiểm toán viên có thể sửdụng câu hỏi đóng hoặc mở

Câu hỏi “mở” giúp được KTV thu được câu trả lời chi tiết và đầy đủ.Loại câu hỏi này được sử dụng khi KTV muốn thu thập thêm thông tin Loạicâu hỏi này thường có các cụm từ “thế nào”, “cái gí”, “tại sao”

Câu hỏi “đóng” loại câu hỏi giới hạn trả lời của người được phỏng vấn.loại câu hỏi này được sử dụng khi kiểm toán viên muốn xác định một vấn đề

đã nghe hoặc đã biết

Giai đoạn kết thúc phỏng vấn Trong giai đoạn này KTV cần đưa ra kếtluận trên cơ sở thông tin đã thu thập được Tuy nhiên KTV cần phải chú ý đến

Trang 21

tính khách quan và sự hiểu biết của người phỏng vấn để có thể kết luận xácđáng về bằng chứng kiểm toán thu thập được.

Kỹ thuật kiểm toán giúp cho KTV thu thập được những bằng chứngchưa có nhằm thu thập được những thông tin phản hồi để củng cố luận cứ củaKTV Tuy nhiên, độ tin cậy của bằng chứng không cao do đối tượng đượcphỏng vấn chủ yếu trong đơn vị được kiểm toán nên thiếu tính khách quan.Bằng chứng thu thập chủ yếu dùng để củng cố cho các bằng chứng khác

2.6 Tính toán lại

Tính toán là quá trình kiểm toán viên kiểm tra chính xác về mặt số họctrong việc tính toán và ghi sổ Kỹ thuật này chỉ quan tâm đến tính chính xácthuần tuý về mặt số học, không chú ý đến sự phù hợp của phương pháp tínhđược sử dụng Do đó, phương pháp này thường được sử dụng cùng với các kỹthuật khác như kiểm toán tài liệu, kiểm tra vật chất, phân tích…

Kĩ thuật tính toán lại cung cấp bằng chứng có độ tin cậy cao về mặt sốhọc Tuy nhiên, các phép tính và phân bổ đôi khi khá phức tạp, tốn thời gianđặc biệt là quy mô của đơn vị kiểm toán là khá lớn, loại hình đa dạng…

2.7 Phân tích

Phân tích là quá trình so sánh đối chiếu đánh giá các mối quan hệ đểxác định tính hợp lý của các số dư trên tài khoản Các mối quan hệ này baogồm quan hệ giữa thông tin tài chính với nhau và các quan hệ giữa các thôngtin tài chính và phi tài chính Đây là kỹ thuật bao trùm nhất để khai thác bằngchứng kiểm toán, là phương pháp áp dụng ở tất cả các chu trình của kiểm toántài chính Phân tích là kỹ thuật chủ yếu của KTV để tìm ra những quan hệ bấtthường hay những thay đổi thực tế khi tiến hành thiết lập những giả thuyết về

sự liên hệ giữa các số liệu, ước tính các số liệu cần kiểm toán và so sánh với

số liệu thực tế, kỹ thuật phân tích thường gồm ba yếu tố: dự đoán, so sánh vàđánh giá:

Trang 22

- Dự đoán là sự ước đoán về số dư tài khoản, giá trị tỷ suất hoặc xuhướng

- So sánh là việc đối chiếu ước đoán trên với số báo cáo

- Đánh giá là việc sử dụng các phương pháp chuyên môn và kỹ thuậtkhác (như phỏng vấn, quan sát) để phân tích và kết luận về các chênh lệch khi

so sánh

Kỹ thuật phân tích được tiến hành theo cách: Kiểm tra tính hợp lý, phântích xu hướng, phân tích tỷ suất

Kiểm tra tính hợp lý thường bao gồm những so ánh chủ yếu như:

So sánh giữa số liệu thực tế của đơn vị với số liệu kế hoạch, dự toán:

Từ kết qua so sánh, việc điều tra những sai biệt lớn giữa số thực tế và số kếhoạch sẽ gíup KTV phát hiện những sai sót trong Báo cáo tài chính hoặc cácbiến động lớn trong tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị

So sánh giữa chỉ tiêu của đơn vị với chỉ tiêu bình quân nghành: Thông

thường, các chỉ tiêu của đơn vị được kiểm toán có sự tương đồng chỉ tiêu củanghành trong một phạm vi nhất định Thí dụ, tỷ lệ lãi gộp trên doanh thu, tỷ lệchi phí nguyên vật liệu chính trong giá thành sản phẩm… Sự so sánh số liệucủa đơn vị với số liệu của ngành làm cho thông tin thu được có đọ tin cậy caohơn hơn việc so sánh đơn thuần trong nội bộ đơn vị Tuy vậy , KTV cần chú ýrằng số liệu của nghành là số trung bình và trên một phạm vi rộng Do đó mứcdao động có thể xảy ra chứa đựng các yếu tố không đồng đều giữa các đơn vị

Nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tin tài chính và thông tin phi tài chính: Với phương pháp sẽ cung cấp cho KTV một quan điểm toàn diện về

đơn vị được kiểm toán Các thông tin phi tài chính như mức thay đổi nhânviên, số liệu thống kê sản xuất luôn bổ sung tính chính xác cho các thông tintài chính Ví dụ, Sự thay đổi số lượng nhân viên sẽ có giá trị khi kiểm toánviên tiến hành đánh gía tính hợp lý của những biến đổi về tiền lương

Trang 23

Bên cạnh đó, KTV cần so sánh số liệu thực tế của đơn vị được kiểmtoán Những chênh lệch này phụ thuộc vào ước tính chủ quan của kiểm toánviên nên việc so sánh này đưa ra nhưng thông tin có độ tin cậy không cao.

So sánh số liệu của doanh nghiệp với kết quả dự kiến của KTV

Phân tích xu hướng

Phân tích xu hướng là sự phân tích những thay đổi theo thời gian của số

dư tài khoản hay loại nghiệp vụ

Phân tích xu hướng thường được kiểm toán viên sử dụng qua so sánhcác thông tin tài chính giữa kỳ này với kỳ trước, so sánh thông tin giữa cáctháng trong kỳ hoặc so sánh số dư hay số phát sinh của các tài khoản cần xemxét giữa các kỳ nhằm phát hiện những biến động bất thường để tập trung kiểmtra xem xét

Phân tích tỷ suất (phân tích dọc)

Phân tích tỷ suất là cách thức so sánh giữa những số dư tài khoản hoặcgiữa những loại hình nghiệp vụ

Phân tích tỷ suât cũng giúp ta so sánh tính hợp lý về tình hình tài chínhcủa một Công ty nào đó với Công ty khác trong cùng một tập đoàn hay vớingành đó Và thông thường phân tích tỷ suất cũng phải tính đến xu hướng của

tỷ suất đó

Phân tích được đánh giá là một thủ tục kiểm toán có hiệu quả cao nhất

vì thời gian ít, chi phí thấp, mà lại có thể cung cấp các bằng chứng về sự đồng

bộ, chuẩn xác và có giá trị về các số liệu kế toán; đồng thời giúp đánh giáđược những nét tổng thể và không bị sa vào các nghiệp vụ cụ thể Tuy nhiênkhi áp dụng thủ tục này cần phải chú ý những vấn đề sau:

- Mối quan hệ bản chất giữa các chỉ tiêu được so sánh: việc phân tích sẽ

vô nghĩa nếu các chỉ tiêu không đồng nhất về nội dung và phương pháp tính,giữa chúng phải có mối quan hệ hay liên hệ nhất định

Trang 24

- Với những khoản mục trọng yếu KTV không chỉ đơn thuần áp dụng

kỹ thuật phân tích, mà còn phải kết hợp với các kỹ thuật khác để tìm bằngchứng kiểm toán thích hợp

- Trong điều kiện hệ thống kiểm soát nội bộ của Công ty khách hàng làyếu kém, KTV phải cẩn thận trong khi phân tích để tìm kiếm bằng chứngkiểm toán và KTV nên kết hợp với các kỹ thuật khác

- Đánh giá chênh lệch khi phân tích của KTV sẽ sai lầm nếu thiếu sựhiểu biết về những mức chuẩn ngành kinh doanh của khách hàng

II THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH.

1 Thu thập bằng chứng kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán

Lập kế hoạch kiểm toán không chỉ xuất phát từ yêu cầu của cuộc kiểmtoán mà còn là nguyên tắc cơ bản trong kiểm toán đã được quy định thànhchuẩn mực và đòi hỏi KTV phải tuân thủ theo đầy đủ nhằm đảm bảo kiểmtoán có hiệu quả và chất lượng Đối với bằng chứng kiểm toán, lập kế hoạchkiểm toán giúp KTV thu thập các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trịlàm cơ sở để đưa ra các ý kiến xác đáng về các báo cáo tài chính, từ đó hạnchế những sai sót, giảm thiểu trách nhiệm pháp lý, nâng cao hiệu quả côngviệc và giữ vững được uy tín của mình đối với khách hàng Quá trình lập kếhoạch kiểm toán thường có 6 bước chủ yếu theo sơ đồ 1

Sơ đồ 1: Các bước lập kế hoạch kiểm toán

Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán

Thu thập thông tin cơ sở

Trang 25

Các công việc chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán bao gồm:

Thứ nhất; Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán

Thứ hai; Nhận diện các lý do kiểm toán của Công ty khách hàng

Thứ ba; Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán

Thứ tư; Ký kết hợp đồng kiểm toán

Để đánh giá khả năng chấp nhận của KTV, KTV sẽ xem xét hệ thốngchất lượng, tính liêm chính của ban giám đốc công ty khách hàng và liên lạcvới các KTV tiền nhiệm Từ những thông tin thu được, KTV có thể cân nhắckhả năng chấp nhận hay tiếp tục kiểm toán cho khách hàng

Tiếp theo, KTV và công ty kiểm toán nhân diện các lý do kiểm toáncủa Công ty khách hàng Thực chất của bước này là xác định người sử dụngbáo cáo tài chính và mục đích sử dụng Việc xác định đối tượng sử dụng vàmục đích sử dụng là hai yếu tố ảnh hưởng tới số lượng bằng chứng phải thuthập và mức độ chính xác của ý kiến đưa ra trong báo cáo tài chính Nếu báo

Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm

Trang 26

cáo tài chính cần được sử dụng rộng rãi thì mức độ trung thực và hợp lý củacác thông tin trên báo cáo tài chính đòi hỏi càng cao Do đó, số lượng và chấtlượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập sẽ tăng lên.

Thông qua việc nhận diện lý do kiểm toán, KTV và công ty kiểm toánước lượng quy mô phức tạp của cuộc kiểm toán, từ đó lựa chọn đội ngũ nhânviên thích hợp để thực hiện cuộc kiểm toán

Bước cuối cùng trong giai đoạn chuẩn bị cho kế hạoch kiểm toán làviệc ký kết hợp đồng kiểm toán Đây là sự thỏa thuận chính thức giữa công tykiểm toán và khách hàng về thực hiện kiểm toán và các dịch vụ có liên quan

Đối với bước thu thập thông tin cơ sở, KTV cần thu thập các thông tin

về ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng KTV có thể thu thậpthông tin cơ sở từ nhiều nguồn khác nhau như: Trao đổi trực tiếp với BanGiám đốc khách hàng, KTV tiền nhiệm, quan sát nhà xưởng hoặc thu thập hồ

sơ kiểm toán chung,…

Kết thúc quá trình tìm hiểu thông tin cơ sở về khách hàng, các bằngchứng kiểm toán được lưu vào hồ sơ kiểm toán năm

Với bước thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng, nếu

thông tin cơ sở giúp cho KTV hiểu được các mặt hoạt động kinh doanh củakhách hàng thì việc thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hànggiúp cho KTV nắm bắt được các quy trình mang tính chất pháp lý có ảnhhưởng đến hoạt động kinh doanh của đơn vị Các bằng chứng cần thu thậptrong giai đoạn này là:

- Giấy phép thành lập và điều lệ công ty;

- Các báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, thanh tra hay kiểm tra củanăm hiện hành hay những năm trước;

- Biên bản các cuộc họp cổ đông, hội đồng quả trị và ban giám đốc;

- Các hợp đồng quan trọng

Trang 27

Để thu được các thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng, KTVthường sử dụng các phương pháp như phỏng vấn, kiểm tra, xem xét tài liệu.

Sau khi đã thu thập được các thông tin cơ sở cà thông tin nghĩa vụ pháp

lý của khách hàng, KTV thực hiện các thủ tục phân tích đối với các thông tin

đã thu thập để hỗ trợ cho việc lập kế hoạch kiểm toán nhằm vào các mục tiêu:

- Thu thâp hiểu biết về nội dung các báo cáo tài chính và biến đổi quantrọng về kế toán và hoạt động kinh doanh của khách hàng vừa mới diễn ra kế

từ lần kiểm toán trước

- Tăng cường sự hiểu biết của KTV về hoạt động kinh doanh của kháchhàng và giúp KTV xác định các vấn đề nghi vấn về khả năng hoạt động liêntục của công ty khách hàng

- Đánh giá sự hiện diện các sai số có thể có trên báo cáo tài chínhdoanh nghiệp

Đối với bước đánh giá trọng yếu và rủi ro

Nếu trong các bước trên KTV thu thập các thông tin mang tính kháchquan về khách hàng thì với bước này, KTV căn cứ vào các thông tin thu thậpđược để đánh giá, nhận xét nhằm đưa ra kế hoạch kiểm toán phù hợp

Việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu giúp KTV lập kế hoạch thuthập bằng chứng kiểm toán thích hợp Nếu KTV ước lượng mức trọng yếucàng thấp, số lượng bằng chứng thu thập càng nhiều và ngược lại

Sau khi KTV đã có ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho toàn bộbáo cáo tài chính, KTV thực hiện phân bổ mức ước lượng cho từng khoảnmục trên báo cáo tài chính Mục đích của việc phân bổ là để giúp KTV xácđịnh số lượng bằng chứng kiểm toán thích hợp phải thu thập đối với từngkhoản mục ở mức phí thấp nhất có thể mà vẫn đảm bảo tổng hợp các sai sóttrên báo cáo tài chính không vượt quá mức ước lượng ban đầu về tính trọngyếu

Trang 28

KTV cũng thực hiện đánh giá rủi ro trên toàn bộ báo cáo tài chính vàtheo từng khoản mục dựa trên những thông tin thu thập về khách hàng Trên

cơ sở các mức rủi ro, KTV sẽ tính ra quy mô và các kiểu mẫu bằng chứngkiểm toán phải thu thập đối với mục tiêu kiểm toán

Trong bước nghiên cứu và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và đánhgiá rủi ro kiểm soát, KTV phải có đủ hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộcủa công ty khách hàng để lập kế hoạch kiểm toán và xây dựng cách tiếp cậnkiểm toán có hiệu quả Các bằng chứng kiểm toán cho sự hiểu biết về hệthống kiểm soát nội bộ của công ty khách hàng bao gồm những thông tin vềmôi trường kiểm soát, hệ thống kế toán, các thủ tục kiểm soát và hệ thốngkiểm toán nội bộ (nếu có) Để thu thập những bằng chứng này, kiểm toán viênthường vận dụng các phương pháp như:

- Phỏng vấn ban giám đốc và nhân viên công ty khách hàng

- Dựa vào hiểu biết trước đây của kiểm toán viên

- Xem xét các quy định, chế độ, điều lệ của công ty khách hàng

- Quan sát các mặt hoạt động của công ty khách hàng

- …

Các bước nêu trên nhằm lập kế hoạch kiếm toán chiến lược Kế hoạchkiểm toán chiến lược là định hướng cơ bản cho một cuộc kiểm toán dựa trênhiểu biết về tình hình hoạt động của công ty khách hàng và trọng tâm củacuộc kiểm toán

Sau khi đã triển khai các bước thực hiện trong kiểm toán chiến lược,KTV lập kế hoạch kiểm toán chi tiết và chương trình kiểm toán cụ thể

2 Thu thập bằng chứng kiểm toán trong giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán

Trang 29

Đây là giai đoạn KTV thực hiện thu thập bằng chứng căn cứ theo kếhoạch và chương trình kiểm toán đã xây dựng Để thực hiện kiểm toán, KTVtriển khai thực hiện các thủ tục kiểm toán sau:

2.1 Thử nghiệm kiểm soát

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500 qui định: “Thử nghiệm kiểmsoát là việc kiểm tra để thu thập bằng chứng kiểm toán về sự thiết kế phù hợp

và vận hành hữu hiệu của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ”

Cụ thể, các bằng chứng kiểm toán phải chứng minh được:

+ Thiết kế các hoạt động kiểm soát cụ thể của khách thể kiểm toánthích hợp để ngăn ngừa, phát hiện và sửa chữa các sai phạm trọng yếu

+ Hoạt động kiểm soát được triển khai theo đúng yêu cầu của thiết kếtrong thực tế Bằng chứng về sự vận hành hữu hiệu này liên quan đến cáchthức áp dụng các hoạt động kiểm soát về tính nhất quán trong quá trình ápdụng và đối tượng áp dụng hoạt động đó

Các kỹ thuật cụ thể dược áp dụng trong kiểm tra hệ thống kiểm soát nội

bộ bao gồm:

+ Điều tra: Bao gồm quan sát thực địa và xác minh thực tế kể cả chữ kýtrên các chứng từ hoặc báo cáo kế toán Quan sát thực địa là biện pháp trựctiếp của người kiểm tra trên hiện trường

+ Phỏng vấn: là cách đưa ra những câu hỏi và thu thập những câu trảlời của các nhân viên của khách thể kiểm toán để hiểu rõ về những nhân viênnày và xác nhận họ đã thực hiện các hoạt động kiểm soát

Điểm cần lưu ý khi thực hiện kỹ thuật này: Các câu hỏi đưa ra cần ngắngọn, rõ ràng, dễ hiểu và linh hoạt Quan sát cho phép người kiểm tra có đượcnhận thức trực diện về đối tượng kiểm toán và qua đó có thể thu thập bằngchứng kiểm toán tin cậy khi KTV trực tiếp quan sát hiện tượng Người kiểmtra cũng có thể xác minh lại các yếu tố quan trọng của chứng từ đặc biệt là

Trang 30

điều tra chữ ký của người có thẩm quyền để có bằng chứng có tính hiệu lựccủa hoạt động kiểm soát Với những câu trả lời, người phỏng vấn cần chú ýlắng nghe có hiệu quả và cần có thái độ hoài nghi thể hiện ở việc không chấpnhận ngay những câu trả lời quan trọng song cũng không được bác bỏ ngay.Nếu nhận được những câu trả lời không phù hợp hoặc người phỏng vấn hiểulầm vấn đề đặt ra thì cần tiếp tục đặt ra những câu hỏi bổ sung.

+ Kiểm tra từ đầu đến cuối: là sự kết hợp giữa các kỹ thuật phỏng vấn,điều tra và quan sát theo trật tự diễn biến qua từng chi tiết của nghiệp vụ cụthể đã được ghi lại trong sổ cái, kiểm tra từ đầu đến cuối đòi hỏi sự kết hợpnhiều kỹ thuật để xác minh một nghiệp cụ cụ thể phát sinh đến khi ghi vào sổcái: Kỹ thuật này rất tốn công nên chỉ được thực hiện với một số nghiệp vụtrọng yếu

+ Kiểm tra ngược lại: theo thời gian là biện pháp kiểm tra một nghiệp

vụ từ sổ cái ngược lại đến thời điểm bắt đầu phát sinh nghiệp vụ đó Ưu điểmcủa phương pháp này là cung cấp bằng chứng kiểm toán thích hợp về hiệu lựccủa thiết kế và hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ

Việc áp dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán cần tôn trọngnhững nguyên tắc cơ bản sau:

Một là, phải thực hiện đồng bộ các kỹ thuật Một kỹ thuật cụ thể riêng

rẽ thường không hiệu lực và không thể đáp ứng yêu cầu đầy đủ và tin cậy củabằng chứng kiểm toán Chẳng hạn, phỏng vấn và câu trả lời vào những điềungười phỏng vấn muốn nghe Do vậy, nếu không quan sát, đối chiếu, phântích kỹ lưỡng có thể vô tình dẫn người được phỏng vấn đi chệch hướng, thậmchí có thể hướng họ vào những câu trả lời không đúng thực tế

Hai là, việc lựa chọn những kỹ thuật kiểm tra chủ đạo phải thích ứngvới loại hình hoạt động cần kiểm tra Chẳng hạn, với một hệ thống kiểm soátnội bộ áp dụng thủ tục kiểm soát qua phân chia nhiệm vụ và thực hiện lại các

Trang 31

thủ tục tại nguồn thứ hai và bằng hình thức đối chiếu thì biện pháp chỉ đạocủa kiểm tra hệ thống kiểm soát nội bộ thường là “thực hiện lại” hoặc “kiểmtra từ đầu đến cuối”

Ba là, cần đảm bảo tính kế thừa và phát triển các kỹ thuật kiểm tra hệthống kiểm soát nội bộ Để xem cấu thành bằng chứng kiểm toán đầy đủ vàđáng tin cậy về thiết kế và hoạt động của hệ thống kiếm soát nội bộ, trước hết

có thể xem xét bằng chứng kiểm toán này đã thu được từ những năm trước

Cơ sở của sự thừa kế này là tính ổn định tương đối của một số hoạt độngtrong hệ thống kiểm soát nội bộ đã được đánh giá mức rủi ro kiểm soát (CR)

dư tài khoản năm trước Thông thường việc dự đoán thay đổi so với nămtrước sẽ có hiệu quả khi số dư năm trước đã đạt được kiểm toán Khi đó đểloại ra khỏi mô hình những biến độc lập không thay đổi so với năm trước.Chẳng hạn, có thể tính doanh thu năm nay của một khách sạn từ tỷ lệ thuêphòng trong năm, tổng số phòng và giá thuê phòng Khi kết hợp được biếnđộc lập có liên quan, mô hình sẽ cho ta nhiều thông tin hơn và vì vậy dự đoán

sẽ chính xác hơn Ngược lại, nếu mô hình và dự đoán đơn giản hóa nhiều

Trang 32

cũng đồng nghĩa với đơn giản hóa các phép so sánh cả mức hạn của bằngchứng kiểm toán.

Xem xét tính độc lập và tin cậy của dữ liệu tài chính và nghiệp vụ:

Tính độc lập và tin cậy của dữ liệu tài chính và nghiệp vụ sử dụng trong

mô hình có ảnh hưởng trực tiếp tới tính chính xác của dự đoán và tới bằngchứng kiểm toán thu được từ thủ tục phân tích Để đảm bảo tính độc lập của

dữ liệu cần chi tiết hóa các dự tính Các dự tính càng chi tiết thì độ tin cậycàng cao do tính độc lập với tài khoản được dự tính tăng lên

Ước tính giá trị và so sánh với giá trị ghi sổ

Dựa theo mô hình và trên cơ sở dữ liệu độc lập và tin cậy có thể sosánh ước tính này với giá trị ghi sổ Phép so sánh này cần chú ý tới những xuhướng sau:

+ Tính thường xuyên của việc đánh giá mối quan hệ đang được nghiêncứu: Mối quan hệ này càng được đánh giá thường xuyên thì tính nhất quáncũng như độ tin cậy của mối quan hệ trong phân tích càng cao

+ Tính biến động tất yếu và biến động bất thường: Khi so sánh giá trịhàng tháng với nhau, chênh lệch phát sinh có thể là biến động tất yếu theomùa và theo đó không thể có giá trị bất biến hàng tháng Để có chênh lệch,cần so sánh với tháng cùng kỳ năm trước hoặc số tổng cộng trong cả năm Cóthể giữa giá trị ước tính và thực tế không có chênh lệch đáng kể Thôngthường đây là kết quả của cả quá trình chi tiết hóa ước tính và cả quá trình tìmhiểu tình hình kinh doanh của khách hàng trong bước lập kế hoạch kiểm toán

Phân tích nguyên nhân chênh lệch

Chênh lệch phát sinh có thể do số dư tài khoản này hay loại hìnhnghiệp vụ được kiểm toán chứa đựng sai sót nhưng cũng có thể chênh lệchđược hình thành từ chính ước tính trong phân tích Do đó, lời giải thích cầnđược tìm hiểu từ những nhân viên của khách thể kiểm toán, ít nhất là những

Trang 33

minh chứng cho những vấn đề quan trọng Nếu qua tiếp xúc vẫn không có lờigiải thích hợp lý thì cần xem xét lại giả định và dữ liệu đã sử dụng để ướctính Nếu vẫn còn chênh lệch qua xem xét quá trình triển khai thủ tục phântích thì lời giải thích và bằng chứng cần được giải quyết qua thủ tục kiểm trachi tiết.

2.3 Kiểm tra chi tiết

Kiểm tra chi tiết là việc áp dụng các kỹ thuật cụ thể của trắc nghiệm tincậy thuộc trắc nghiệm trực tiếp số dư để kiểm toán từng khoản mục hoặcnghiệp vụ tạo nên số dư khoản mục hay loại nghiệp vụ

Quá trình kiểm tra chi tiết gồm nhiều bước, các kỹ thuật kiểm toán cần

áp dụng chủ yếu trong các bước sau:

+ Lựa chọn các khoản mục chính: Các khoản mục chính là nhữngkhoản mục mà dựa trên đánh giá, kinh nghiệm và sự hiểu biết tình hình kinhdoanh của khách hàng KTV thấy chúng là khoản mục không phát sinh thôngthường không dự đoán trước được hay dễ sai phạm KTV thu thập bằngchứng kiểm toán bằng cách điều tra kỹ các khoản mục chính

+ Thực hiện các kỹ thuật kiểm tra chi tiết trên khoản mục đã chọn

Có thể áp dụng các kỹ thuật kiểm toán thích hợp đối với một khoảnmục lựa chọn để tiến hành kiểm tra chi tiết nhằm xác định khả năng tồn tạinhững chênh lệch đến mức đòi hỏi điều tra và theo dõi các kỹ thuật kiểm trachi tiết gồm có:

Xác nhận: Xác nhận số dư và những nghiệp vụ bằng một nguồn bên

ngoài

Cũng cần phải xác định xem liệu những thủ tục kiểm toán khác có cầnthiết hay không

Để cho xác nhận được tốt phải trải qua hàng loạt các công việc :

- Lập các câu hỏi xác nhận hay yêu cầu khách hàng lập

Trang 34

- Kiểm tra các câu hỏi xác nhận và xem xét tính chính xác của nhữngcâu hỏi này và bỏ chúng vào phong bì ghi địa chỉ của KTV để trả lại, gửi lạicho ban phúc đáp

- Điều tra những câu hỏi xác nhận đã gửi đi nhưng bị gửi trả lại bằngcách kiểm tra địa chỉ và tìm kiếm bằng chứng kiểm toán có tính minh chứngcho thấy khách hàng vẫn còn tồn tại

- Thực hiện biện pháp theo dõi thích hợp đối với những tài khoảnkhông được trả lời, cân nhắc tới khả năng gửi thư xác nhận lớn thứ hai và thứba

Kiểm tra thực tế: Thông thường những thủ tục kiểm toán bao gồm quá

trình quan sát những thủ tục kiểm kê của khách hàng và trực tiếp kiểm kêchọn mẫu và đối chiếu với hồ sơ kho

Khi thực hiện kiểm kê kho tại đơn vị được kiểm toán để đạt hiệu quảcao kiểm toán viên phải chú ý tới các yếu tố :

- Tính chất của hệ thống thông tin và các hoạt động kiểm soát đối vớihàng tồn kho

- Địa điểm lưu giữ hàng tồn kho và tầm quan trọng của hàng tồn kho ởmỗi địa điểm

- Rủi ro tiềm tàng liên quan đến hàng tồn kho

- Các hoạt động kiểm soát và hướng dẫn kiểm kê kho mà Ban Giámđốc đưa ra để giảm rủi ro đáng kể

- Khả năng cần tới sự trợ giúp của các chuyên gia

Khi hàng tồn kho do bên thứ ba quản lý thì thông thường xác nhậnđược lấy trực tiếp từ bên thứ ba về chất lượng và số lượng của hàng tồn kho

3 Thu nhập bằng chứng kiểm toán giai đoạn kết thúc kiểm toán

Trong giai đoạn này, trước khi công bố Báo cáo kiểm toán, KTV cầnxem xét thu thập them những bằng chứng về những vấn đề sau:

Trang 35

Xem xét các khoản nợ ngoài ý muốn

Nợ ngoài ý muốn là một khoản nợ tiềm ẩn trong tương lai đối với mộtthành phần từ bên ngoài về một số tiền chưa biết lúc sinh ra từ các hoạt động

đã xảy ra

Các thủ tục kiểm toán chung :

- Thẩm vấn Ban quản trị (bằng lời nói hay bằng văn bản) về các khảnăng của các khoản nợ ngoài ý muốn chưa ghi sổ

- Xem lại các báo cáo năm hiện hành và báo cáo năm trước của cơquan thuế nội địa về các khoản nộp thuế lợi tức

- Phân tích phí tổn pháp lý của kỳ được kiểm tra và xem xét lại các hóađơn, bảng kê từ nhà tư vấn pháp lý để tìm dấu hiệu nợ ngoài ý muốn

- Thu nhập một bản xác nhận từ tất cả các luật sư chính có cung cấpdịch vụ pháp lý cho công ty khách hàng về tình trạng của vụ kiện đang chờxét xử hoặc các khoản nợ ngoài ý muốn khác SAS 12 (AU 337) có tác dụngyêu cầu Ban quản trị cho phép các luật sư cung cấp thông tin về khoản nợngoài ý muốn cho các KTV và động viên các luật sư hợp tác với các KTVtrong việc thu thập thông tin về các khoản nợ ngoài ý muốn

- Thu thập các thư tín dụng đang hiệu lực vào ngày lập bảng cân đối tàisản và thu thập bảng xác nhận vế số dư đã sử dụng và chưa sử dụng

- Đánh giá các khoản nợ ngoài ý muốn thì KTV phải đánh giá tầm quantrọng của các khoản nợ tiềm ẩn đó và bản chất của sự công khai cần thiết trênbáo cáo tài chính

Xem xét lại các sự kiện phát sinh sau niên độ

KTV có trách nhiệm xem xét lại các nghiệp vụ và các sự kiện xảy rasau ngày lập bảng cân đối để xác định liệu có điều gì xảy ra mà có thể ảnhhưởng đến cách đánh giá hoặc công khai các báo cáo đang được kiểm toán

Trang 36

hay không Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 560 đã chỉ rõ KTV phải xem xétcác sự kiện phát sinh sau niên độ trên các khía cạnh sau:

- Xem xét các biện pháp của Ban Giám đốc các nhà lãnh đạo doanhnghiệp đã áp dụng nhằm bảo đảm rằng tất cả các sự kiện xảy ra sau ngày lậpbáo cáo tài chính đều được xác định

- Xem xét các biên bản đại hội cổ đông, biên bản họp Ban Giám đốc,các biên bản thẩm tra, thanh tra, biên bản họp hội đồng quản trị của thời kỳsau ngày lập bảng cân đối kế toán kể cả những vấn đề đã được thảo luận tạicác cuộc họp đó mà chưa ghi trong các biên bản

- Xem xét các báo cáo tài chính gần nhất của đơn vị cũng như các vănbản khác, nếu cần, như báo cáo về ngân sách và các báo cáo quản lý khác

- Yêu cầu đơn vị hoặc luật sư của đơn vị về các vụ kiện, tranh chấp đãcung cấp trước đó

- Trao đổi với Ban Giám đốc đơn vị xem có bất kỳ sự kiện xảy ra saungày lập Báo cáo tài chính nào đã phát sinh có khả năng gây ảnh hưởng đếncác báo cáo tài chính như:

+ Hiện trạng của các khoản mục đã được hạch toán trên cơ sở số liệutạm tính, sơ bộ hay số chưa xác định;

+ Những cam kết, khoản vay hay bảo lãnh mới ký;

+ Bán hay dự kiến bán tài sản;

+ Cổ phiếu hoặc trái phiếu mới ban hành, thỏa thuận sáp nhậphay;thanh lý đã ký hay dự kiến

+ Các tài sản bị trưng dụng hay bị phá hủy như thiên tai, hỏa hoạn, tịchthu…

Để có được bằng chứng về các sự kiện phát sinh sau niên độ, KTVthường sử dụng các kỹ thuật sau:

Trang 37

Một là phỏng vấn ban quản trị về sự hiện diện của các khoản nợ ngoài

ý muốn tiềm ẩn hay các am kết, các trhay đổi đáng kể về tài sản hoặc kết cấuvốn của Công ty,…

Hai là kiểm tra tài liệu Kiểm toán viên sẽ xem xét lại các báo cáo nội

bộ được lập sau ngày lập bảng cân đối tài sản, tập trung vào các biến độngtrong kinh doanh hay môi trường doanh nghiệp đang hoạt động

Ba là xác nhận Khi thu thập xác nhận từ các luật sư về các khoản nợngoài ý muốn, để khảo sát các sự kiện tiếp theo sau cho đến ngày viết báo cáokiểm toán, KTV yêu cầu các luật sư ghi ngày và gửi thư xác nhận vào ngày

dự kiến hoàn thành công việc nghiệp vụ

Đánh giá kết quả

Vào giai đoạn hoàn thành tất cả các thủ tục kiểm toán đặc thù cho cáclĩnh vực kiểm toán, điều cần làm là hợp nhất tất cả các kết quả vào một kếtluận chung Cuối cùng KTV phải quyết định liệu đã được tập hợp đủ để đảmbảo cho kết luận của báo cáo tài chính được trình bày phù hợp với các nguyêntắc kế toán dược thừa nhận, áp dụng nhất quán với các báo cáo của năm trướchay chưa

KTV thường áp dụng thủ tục phân tích soát xét để đánh giá tính đồng

bộ và xác thực của thông tin tài chính thu thập được Mõi diễn biến bấtthường của các thông tin này so với số liệu của đơn vị, số liệu kế hoạch, sốliệu năm trước, số bình quân ngành, các thông tin tài chính khác và các thôngtin không có tính chất tài chính đều phải được giải thích thấu đáo Thủ tục nàygiúp KTV xác định những bộ phận cần phải thu thập thêm bằng chứng để làmvững chắc thêm ý kiến của KTV; đồng thời hạn chế tính phiến diện của cácthủ tục kiểm toán áp dụng riêng lẻ cho từng bộ phận

Khi đánh giá kết quả cần chú ý đến mố số khía cạnh sau:

- Đánh giá tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán

Trang 38

- Thu thập thư giải trình của Ban Giám đốc: theo chuẩn mực kiểm toán

số 580, KTV phải thu thập bằng chứng về việc Giám đốc đơn vị được kiểmtoán thừa nhận trách nhiệm của mình trong việc lập và trình bày báo cáo tàichính trung thực, hợp lý, phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành(hoặc được chấp nhận) và đã phê duyệt báo cáo tài chính KTV sử dụng cácgiải trình của Giám đốc như là bằng chứng kiểm toán

- Xem xét lại các tư liệu kiểm toán: toàn bộ giấy tờ của nhón kiểm toán

được soát xét lại bởi những người có nhiều kinh nghiệm để phát hiện nhữngsai sót và đánh giá lại những lời nhận xét và kết luận của người thực hiện

- Sự soát xét độc lập Sự soát xét này do một người không tham gia vàomột hợp đồng kiểm toán để bảo đảm cuộc kiểm toán tiến hành hợp lý, các kếtluận do KTV thực hiện là xác đáng

Lập báo cáo kiểm toán và thư quản lý

Giai đoạn kết thúc kiểm toán, KTV lập bút toán điều chỉnh gửi chokhách hàng Khách hàng và Công ty kiểm toán sẽ đạt được sự thỏa thuậntrong chung về các bút toán điều chỉnh và số liệu của Báo cáo tài chính đượcphát hành Sau khi có được sự thỏa thuận, nhóm kiểm toán phát hành Báo cáokiểm toán Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 700, KTV có thể đưa ramột trong các loại ý kiến về Báo cáo tài chính sau:

- ý kiến chấp nhận toàn phần, ý kiến chấp nhận từng phần;

- ý kiến từ chối ( hoặc ý kiến không thể đưa ra được ý kiến);

- ý kiến không chấp nhận (hoặc ý kiến trái ngược)

Để giúp đơn vị khách hàng chấn chỉnh công tác quản lý tài chính kếtoán và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ, KTV và Công ty kiểm toán pháthành thư quản lý cùng với báo cáo kiểm toán Cũng theo chuẩn mực kiểmtoán Việt Nam số 700, thư quản lý mô tả về từng sự kiện cụ thể, gồm: hiện

Trang 39

trạng thực tế, khả năng rủi ro, kiến nghị của KTV và ý kiến của người quản lýliên quan đến sự kiện đó.

PHẦN II THỰC TRẠNG VIỆC ÁP DỤNG CÁC KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CÔNG TY AASC THỰC HIỆN

I TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY AASC.

1 Quá trình hình thành và phát triển của AASC.

Trước những năm 90 hoạt động kiểm toán ở Việt Nam chủ yếu là do nhànước tiến hành thông qua công tác kiểm tra kế toán Chỉ khi nền kinh tế nước

ta chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đặcbiệt là từ khi có Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã tạo nên nhu cầu về

Trang 40

loại hình kiểm toán độc lập Trước yêu cầu đó, hoạt động kiểm toán tại ViệtNam bắt đầu hình thành với sự ra đời của nhiều Công ty Kiểm toán Việt Nam.Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán cũng ra đời tronggiai đoạn này.

Ngày 13/05/1991 được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ theo giấyphép số 957/PPLT, Bộ Tài Chính đã ký quyết định thành lập Công ty Dịch vụ

kế toán, tên giao dịch là ASC (Accounting Service Company) Trong thời đầuhoạt động, Công ty chỉ cung cấp dịch vụ kế toán

Sau hơn hai năm hoạt động, Công ty ngày càng nhận thức được mốiquan hệ không thể tách rời giữa kế toán và kiểm toán, được phép của Bộ TàiChính Công ty đã bổ sung thêm loại hình dịch vụ kiểm toán Công ty ASCđược đổi tên thành Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán(Auditing and Accounting Financial Cosnultancy Servvice Company) theoquyết định số 164 TC/QĐ/TCCB của Bộ Tài Chính ngày 14/09/1993 Hiện tạitrụ sở chính của Công ty đặt tại số 1 Lê Phụng Hiểu, quận hoàn Kiếm, HàNội

Để mở rộng phạm vị hoạt động, đáp ứng nhu cầu thị trường và đảm bảochất lượng dịch vụ thống nhất cho toàn Công ty, AASC đã thành lập các chinhánh và văn phòng đại diện tại các thành phố lớn trong cả nước:

- Tháng 3/1992, Công ty thành lập chi nhánh đầu tiên tại thành phố HồChí Minh

- Tháng 4/1993, Công ty thành lập các chi nhánh ở Vũng tàu và ĐàNẵng Năm 1995, được phép của Bộ Tài Chính hai chi nhánh của Công ty tạithành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng tách ra thành Công ty Kiểm toán và Tưvấn Sài Gòn (AFC) và Công ty Kiểm toán Đà Nẵng (DAC)

- Ngày 14/4/1995, Công ty chính thức thành lập và cho đi vào hoạtđộng chi nhánh tại Thanh Hóa Ngày 2/2/1996, Công ty thành lập Thêm chinhánh Quảng Ninh

Ngày đăng: 23/10/2013, 12:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Quan hệ giữa các loại rủi ro và số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập - NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TÁON BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO AASC THỰC HIỆN
Bảng 1 Quan hệ giữa các loại rủi ro và số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập (Trang 15)
Bảng 2: Thông tin thường cần phải xác nhận - NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TÁON BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO AASC THỰC HIỆN
Bảng 2 Thông tin thường cần phải xác nhận (Trang 17)
Sơ đồ 3: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán - NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TÁON BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO AASC THỰC HIỆN
Sơ đồ 3 Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán (Trang 47)
Sơ đồ 4: Quy trình kiểm toán tại Công ty AASC - NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TÁON BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO AASC THỰC HIỆN
Sơ đồ 4 Quy trình kiểm toán tại Công ty AASC (Trang 48)
Sơ đồ 6: Cơ cấu tổ chức của Công ty ABC - NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TÁON BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO AASC THỰC HIỆN
Sơ đồ 6 Cơ cấu tổ chức của Công ty ABC (Trang 50)
Bảng 6: Một số tỷ suất của Công ty ABC - NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TÁON BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO AASC THỰC HIỆN
Bảng 6 Một số tỷ suất của Công ty ABC (Trang 56)
Bảng 7 : Bảng tính mức trọng yếu tại Công ty ABC - NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TÁON BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO AASC THỰC HIỆN
Bảng 7 Bảng tính mức trọng yếu tại Công ty ABC (Trang 57)
Bảng 8:  Phân bổ mức trọng yếu cho các khoản mục - NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TÁON BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO AASC THỰC HIỆN
Bảng 8 Phân bổ mức trọng yếu cho các khoản mục (Trang 58)
Bảng 9: Bảng câu hỏi đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty XYZ - NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TÁON BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO AASC THỰC HIỆN
Bảng 9 Bảng câu hỏi đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty XYZ (Trang 64)
Bảng 11: Một số tỷ suất của Công ty XYZ - NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TÁON BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO AASC THỰC HIỆN
Bảng 11 Một số tỷ suất của Công ty XYZ (Trang 66)
Bảng 12: Bảng  câu hỏi đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ vềkhoản mục  tiền  tại Công ty ABC - NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TÁON BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO AASC THỰC HIỆN
Bảng 12 Bảng câu hỏi đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ vềkhoản mục tiền tại Công ty ABC (Trang 71)
Bảng 14: Biên bản kiểm kê quỹ tiền mặt tại Công ty ABC - NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TÁON BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO AASC THỰC HIỆN
Bảng 14 Biên bản kiểm kê quỹ tiền mặt tại Công ty ABC (Trang 73)
Bảng cân đối kế toán (Trích) - NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TÁON BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO AASC THỰC HIỆN
Bảng c ân đối kế toán (Trích) (Trang 84)
Bảng 18: Bảng câu hỏi về hệ thống kiểm sóat nội bộ  đối với khoản   mục doanh thu tại Công ty ABC - NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TÁON BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO AASC THỰC HIỆN
Bảng 18 Bảng câu hỏi về hệ thống kiểm sóat nội bộ đối với khoản mục doanh thu tại Công ty ABC (Trang 92)
Bảng 19: Phân tích doanh thu trong mối quan hệ với chi phí tại Công ty XYZ - NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TÁON BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO AASC THỰC HIỆN
Bảng 19 Phân tích doanh thu trong mối quan hệ với chi phí tại Công ty XYZ (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w