1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ ngữ chỉ thiên nhiên trong thơ trần đăng khoa

122 542 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, đôi chỗ, những từ ngữ chỉ hoạt động hay đặc điểmcủa thiên nhiên cũng sẽ được chúng tôi phân tích để làm nổi bật giá trị của các từ ngữchỉ thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa.

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ HOA

TỪ NGỮ CHỈ THIÊN NHIÊN

TRONG THƠ TRẦN ĐĂNG KHOA

Ngành: NGÔN NGỮ VIỆT NAM

Mã số: 8.22.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN TÚ QUYÊN

THÁI NGUYÊN- 2020

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu vàkết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bốtrong bất kỳ một công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2020

Tác giả

Nguyễn Thị Hoa

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong và ngoài trường Trường Đại học

Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khóahọc

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn hữu,đồng nghiệp đã động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2020

Tác giả

Nguyễn Thị Hoa

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG v

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Đóng góp mới của luận văn 4

7 Cấu trúc của luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

1.1 Khái quát về thiên nhiên 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Phân loại thiên nhiên 6

1.2 Khái quát về từ loại tiếng Việt 9

1.2.1 Khái niệm 9

1.2.2 Hệ thống từ loại tiếng Việt 9

1.3 Vài nét về tác giả Trần Đăng Khoa và “Tuyển thơ Trần Đăng Khoa” 22

1.3.1 Tác giả Trần Đăng Khoa 22

1.3.2 “Tuyển thơ Trần Đăng Khoa” 24

1.4 Tiểu kết 24

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ NGỮ CHỈ THIÊN NHIÊN TRONG THƠ TRẦN ĐĂNG KHOA 26

2.1 Các từ ngữ chỉ thiên nhiên đích thực 27

2.1.1 Các từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên 28

2.1.2 Các từ ngữ chỉ động vật 30

2.1.3 Các từ ngữ chỉ thực vật 35

2.1.4 Các từ ngữ chỉ thời gian 40

Trang 5

2.1.5 Các từ ngữ chỉ thực thể tự nhiên 43

2.2 Các từ ngữ chỉ thiên nhiên không đích thực trong thơ Trần Đăng Khoa

49 2.2.1 Đại từ nhân xưng 49

2.2.2 Danh từ (cụm danh từ) 51

2.3 Tiểu kết 58

Chương 3: VAI TRÒ CỦA CÁC TỪ NGỮ CHỈ THIÊN NHIÊN TRONG THƠ TRẦN ĐĂNG KHOA 60

3.1 Vai trò trong việc khắc họa toàn cảnh bức tranh làng quê đồng bằng Bắc bộ Việt Nam 60

3.1.1 Thiên nhiên của làng quê đồng bằng Bắc bộ Việt Nam phong phú và đa dạng

60 3.1.2 Thiên nhiên của làng quê đồng bằng Bắc bộ Việt Nam đẹp và sinh động

70 3.2 Vai trò thể hiện tình yêu của tác giả đối với thiên nhiên 72

3.3 Vai trò trong việc góp phần thể hiện phong cách nghệ thuật của tác giả 78

3.3.1 Biện pháp nhân hóa 78

3.3.2 Biện pháp ẩn dụ, hoán dụ 92

3.4 Tiểu kết 96

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Các tiểu loại danh từ 16

Bảng 2.1 Từ ngữ chỉ thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa 26

Bảng 2.2 Số lượng các từ ngữ chỉ thiên nhiên đích thực trong thơ Trần Đăng Khoa 27

Bảng 2.3: Các từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên 28

Bảng 2.4: Số lượng các từ ngữ chỉ động vật 31

Bảng 2.5: Tên gọi các loài động vật 31

Bảng 2.6: Tên gọi các bộ phận cơ thể động vật 34

Bảng 2.7: Số lượng và tần số xuất hiện của các từ ngữ chỉ thực vật 35

Bảng 2.8: Tên các loài thực vật 36

Bảng 2.9: Tên gọi các bộ phận của thực vật 37

Bảng 2.10: Các từ ngữ chỉ thời gian 40

Bảng 2.11: Số lượng và tần số xuất hiện chỉ thực thể tự nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa 43

Bảng 2.12: Các từ ngữ chỉ thực thể tự nhiên gắn liền với bầu trời 43

Bảng 2.13: Các từ ngữ chỉ thực thể tự nhiên gắn liền với mặt đất 45

Bảng 2.14: Các từ ngữ chỉ thiên nhiên không đích thực trong thơ Trần Đăng Khoa

49 Bảng 2.15: Các từ ngữ là đại từ nhân xưng được sử dụng lâm thời để chỉ thiên nhiên 49

Bảng 2.16: Các từ ngữ là danh từ (cụm danh từ) được sử dụng lâm thời để chỉ thiên nhiên 52

Bảng 2.17: Các danh từ thân tộc được dùng lâm thời để chỉ thiên nhiên 52

Bảng 2.18: Các cụm danh từ hỗn hợp được dùng lâm thời để chỉ thiên nhiên 55

Trang 7

1 Lí do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Trang 8

1.1 Nếu giai điệu âm thanh là ngôn ngữ của âm nhạc, mảng khối là ngôn ngữ

của kiến trúc, màu sắc đường nét là ngôn ngữ của hội hoạ thì ngôn ngữ đích thực làchất liệu của tác phẩm văn chương Như Macxi Gorki đã từng nói: Ngôn ngữ là yếu

tố thứ nhất của văn học Muốn khám giá trị của một tác phẩm văn học, yếu tố đầutiên và quyết định chính là ngôn ngữ Ngôn ngữ văn học là một bức tranh đa màu sắc,chứa nhiều điều bí ẩn và hấp dẫn luôn thu hút sự khám phá của người đọc, ngườinghiên cứu Ngôn ngữ vừa là chất liệu tạo nên tác phẩm, nhưng cũng vừa là phươngtiện để qua đó người đọc cảm nhận được cái hay, vẻ đẹp của tác phẩm đó Có lẽ, đó

là một trong những lí do khiến xu hướng dạy theo quan điểm tích hợp ngữ - văn đangđược đề cao như hiện nay Lí thuyết về ngôn ngữ trong đó có lí thuyết về từ loại càngđược quan tâm ứng dụng vào nghiên cứu tác phẩm, góp phần giải mã tín hiệu ngônngữ ở một dạng đặc biệt - ngôn ngữ nghệ thuật Chính vì vậy, khi đi nghiên cứu líthuyết về từ ngữ trong quan hệ với phân tích tác phẩm văn học cũng nằm trong xuhướng chung đó

1.2 Thần đồng thơ Trần Đăng Khoa, cái tên không chỉ được nhắc nhiều trên thi

đàn Việt mà còn có sức lay động đến nhiều bạn bè trên thế giới Từ lâu thơ Trần ĐăngKhoa đã đi vào tiềm thức của bao thế hệ thiếu nhi Những vần thơ trong trẻo, hồnnhiên, ngộ nghĩnh vô cùng tươi vui, gắn bó sâu sắc với con người, cảnh vật, thiênnhiên, quê hương, đất nước trở thành một dấu ấn khó phai mờ trong tâm hồn tuổithơ Đọc thơ Trần Đăng Khoa, ta như được sống với những hình ảnh dung dị nhất vềmột vùng quê yên bình, ấm áp tình người Tất cả những sự vật, sự việc, con ngườidưới con mắt trẻ thơ thông minh đã đi vào thơ một cách sinh động đầy sáng tạo

1.3 Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thơ ông Tuy nhiên

về phương diện từ ngữ, một phương diện quan trọng ảnh hưởng trực tiếp, ghi dấu trựctiếp bút pháp thi ca của nhà thơ thì chưa được chú ý nhiều Chính vì thế, chúng tôi đã

chọn đề tài “Từ ngữ chỉ thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa” Việc chọn đề tài này

giúp cho chúng ta hiểu biết thêm về cách dùng từ của nhà thơ Trần Đăng Khoa cũngnhư trang bị cho người viết ít nhiều hành trang tiếp cận các tác phẩm khác trong nềnvăn học Việt Nam

Trang 9

2 Lịch sử vấn đề

“Đọc thơ Trần Đăng Khoa” Phạm Hổ thấy có cả một thế giới tình cảm

ở đó Thơ Trần Đăng Khoa chủ yếu viết bằng tình cảm, bằng lòng yêu thương…Yêuthương từ cây cỏ đến loài vật, từ người thân trong nhà đến bà con trong làng Từ Bác

Hồ kính yêu đến các thầy cô giáo, các bạn bè cùng lớp…, các anh bộ đội các cô báccông nhân đào than…Một trong những yếu tố giúp Trần Đăng Khoa có được cáiriêng, từ những quan sát nhỏ đến những tình cảm, những ý nghĩ lớn, đó là

sức liên tưởng phong phú và mạnh mẽ.

Vân Thanh đã khái quát về nội dung và giá trị của thơ Trần Đăng Khoa,

cùng với tình yêu thơ, khao khát được làm thơ mãi mãi: “Thơ Khoa, những dòng thơ tươi mát, hồn nhiên, những dòng ấm áp tình người, đã làm tăng lên trong người đọc tình yêu quê hương và lòng tự hào dân tộc” [76,tr.126] Và chính trong cuốn “Văn học thiếu nhi như tôi đươc biết” Vân Thanh cho rằng Trần Đăng Khoa biết lắng

nghe, quan sát những gì xảy ra xung quanh, làm cho cảnh vật dưới ngòi bút của ông

có hình nét và cả tâm hồn: “Thơ Khoa nắm bắt được nhiều màu sắc âm thanh, hương

vị của thế giới bên ngoài, của thiên nhiên, hoa cỏ, của sinh hoạt quê hương, đồng nội Em biết lắng nghe những gì đã xảy ra quanh mình Cảnh vật dưới ngòi bút của Khoa có cả hình nét và có cả tâm hồn”[76,tr.126] Sống gần gũi với thiên nhiên,

chan hòa tình cảm với con người, Trần Đăng Khoa đã góp nhặt những gì quý giá nhấtcủa cuộc sống vào trong thơ mình Mỗi bài thơ là một câu chuyện thân thương nhưngmang nhiều triết lý

Trần Thị Định, trong khóa luận của mình đã nghiên cứu về “Thế giới nghệ thuật thơ thời niên thiếu của nhà thơ Trần Đăng Khoa qua tập Góc sân và khoảng trời”[28] Khóa luận đã chỉ ra những nét đặc sắc của nhà thơ trong việc sử dụng giọng

điệu, trí liên tưởng tưởng tượng, bên cạnh đó còn là những triết lí, suy tư của tác giảqua tập thơ

Trần Thị Thùy Linh trong luận văn nghiên cứu Thạc sĩ với đề tài “Thơ Trần Đăng Khoa dưới góc nhìn tư duy nghệ thuật” [53] đã làm nổi bật cái tôi trữu tình

trong thơ Trần Đăng Khoa Cái tôi trữ tình xưng em - thể hiện tư duy trẻ thơ hồnnhiên Cái tôi chiến sĩ - thể hiện yếu tố nội cảm, yếu tố luận lí Còn tư duy thơ hướngngoại lại mang nhiều cái tôi của nhiều nhân vật trữu tình khác nhau

Trang 10

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là từ ngữ chỉ thiên nhiên (tức là các từ ngữ cóchức năng định danh) Tuy nhiên, đôi chỗ, những từ ngữ chỉ hoạt động hay đặc điểmcủa thiên nhiên cũng sẽ được chúng tôi phân tích để làm nổi bật giá trị của các từ ngữchỉ thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa

Thực hiện đề tài, chúng tôi nhằm mục đích:

- Xác lập và miêu tả được từ ngữ chỉ thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa vềphương diện ý nghĩa

- Phân tích được giá trị của từ ngữ chỉ thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, chúng tôi đặt ra các nhiệm vụ sau:

- Tổng quan những vấn đề lý luận liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài

- Thống kê, xác lập từ ngữ chỉ thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa

- Phân tích giá trị của từ ngữ chỉ thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thống kê, phân loại

Trang 11

Thống kê, phân loại từ ngữ chỉ thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa, từ đó đưa

ra những số liệu cụ thể về các nhóm từ ngữ chỉ thiên nhiên

- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh nhà trường, đặc biệt

dưới góc nhìn ngôn ngữ học, khi cần đọc - hiểu tác phẩm văn chương

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văngồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Đặc điểm của từ ngữ chỉ thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa Chương 3: Vai trò của từ ngữ chỉ thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa

Trang 12

- Khái quát về thiên nhiên;

- Khái quát về từ loại

Ngoài ra, chúng tôi có điểm qua về tác giả Trần Đăng Khoa và “Tuyển thơ TrầnĐăng Khoa”

1.1 Khái quát về thiên nhiên

Với nhiều cách sử dụng và ý hiểu ngày nay, “tự nhiên cũng nhắc đến địa chất

và thế giới h oang d ã Tự nhiên cũng bao gồm nhiều loại động thực vật sống khác nhau, và trong một số trường hợp liên quan tới tiến trình của những vật vô tri vô giác

- cách mà những kiểu riêng biệt của sự vật tồn tại và làm biến đổi môi trường quanh

nó, tỉ như th ờ i tiết và hoạt động địa chất của Trái Đất, cũng như vật c h ất v à năng lư

ợ ng của tất cả mọi thứ mà chúng cấu thành lên” [58].

Còn nói theo cách hiểu đơn giản, thông dụng thì “thiên nhiên bao gồm tất cả những gì bao quanh con người mà không do bàn tay con người tạo ra Thiên nhiên bao gồm không khí, khí hậu, nguồn nước, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn động thực

vật, các yếu tố địa lý, địa hình…” [58].

Như vậy, có thể nói, thiên nhiên là cái nôi sản sinh ra sự sống, giúp cân bằng hệsinh thái và là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên để phục vụ cho cuộc sống và sảnxuất sinh hoạt của con người

Trang 13

1.1.2 Phân loại thiên nhiên

Căn cứ vào khái niệm về thiên nhiên ở trên, có thể xác lập các phạm trù thuộcthiên nhiên như sau:

- Các hiện tượng tự nhiên;

- Động vật;

- Thực vật;

- Thời gian;

- Thực thể tự nhiên

1.1.2.1 Các hiện tượng tự nhiên

Có thể thấy “Hiện tượng tự nhiên là những hiện tượng khí tượng phức hợp, bao gồm nhiều yếu tố trong khí quyển gây ra” [58] Các hiện tượng tự nhiên điển hình mà chúng ta có thể kể ra đó là: mưa, gió, bão, dông, sấm, sét, tuyết, sóng…

Ở mỗi hiện tượng tự nhiên khác nhau, lại do những yếu tố khác nhau trong hiệntượng khí tượng gây ra

VD: dông hay còn được viết là giông được hình thành khi có khối không khí

nóng ẩm chuyển động, là hiện tượng bao gồm chớp kèm theo sấm do đối lưu rất mạnhtrong khí quyển gây ra Nó thường kèm theo gió mạnh, mưa rào, sấm sét dữ dội, thậmchí cả mưa đá, vòi rồng Ở những vùng vĩ độ cao, có khi còn có cả tuyết rơi

Sét hay tia sét là hiện tượng phóng điện trong q u y ểnkhí gi ữa các đám mây vàđất hay giữa các đám mây mang các điện tích khác dấu, đôi khi còn xuất hiện trongcác trận phun trào núi lửa hay bão bụi (cát)

Mưa là một hiện t ư ợng tự nhiên, xảy ra do sự n g ư ng tụ của h ơi n ư ớc t rên bầutrời, dưới dạng những đám mây, khi gặp điều kiện lạnh, tạo thành giọt nước, nặng hơnkhông khí, và rơi xuống mặt đất, tạo thành cơn mưa

Nhưng cũng có những hiện tượng tự nhiên xảy ra, mà con người chưa giải thích

được như: ánh sáng lạ xuất hiện trước động đất, sét hình cầu…

Qua những ví dụ trên cho ta thấy, tất cả các hiện tượng tự nhiên kì thú đó đều dothiên nhiên tạo ra Mà con người muốn giải thích nó đều phải thông qua các nghiêncứu của khoa học tự nhiên như: vật lí học, hóa học

Trang 14

về động vật, ta thấy, động vật được chia thành nhiều nhóm nhỏ, một vài trong số đó

là động vật có x ư ơ n g sống (ví dụ: chi m , khỉ, cá sấu, chó, mèo, c á … ); động vật thânm

ề m ( ví dụ: t r ai, hàu, bạch t u ộc, mự c , và ố c s ê n … ); độ n g vật ch â n k hớp (ví dụ: cuốn chiếu, rết, c ôn trùn g , nhện, bọ cạp, t ôm h ù m , tôm … ); giun đốt (ví dụ: giun

Bên cạnh những động vật đơn bào có kích thước hiểm vi, còn có các động vật

rất lớn như: trai tượng (vỏ dài 1,4 m; nặng 250 kg), voi châu Phi (nặng 4 tấn; cao 3m), cá voi xanh (nặng 150 tấn; dài 33m)…

Một số động vật được con người thuần hóa thành vật nuôi Từ khi được conngười thuần dưỡng, chúng đã khác nhiều với tổ tiên hoang dại và biến đổi thànhnhiều loại, đáp ứng các nhu cầu khác nhau của con người

Ví dụ: Gà nuôi có tổ tiên là loài gà rừng nhỏ nhắn còn đang sống ở rừng nhiệt

đới Nhưng gà nuôi đã biến đổi rất nhiều về màu lông, kích thước, về chiều cao vàkhác xa với tổ tiên của chúng

Chính vì vậy, có thể nói các loài động vật sống ở nhiều môi trường khác nhau vàthích nghi với môi trường đó

1.1.2.3 Thực vật

“Thực vật là những s i nh vật có khả năng tạo cho mình chất di n h dư ỡ ng từ những h ợ p c h ất vô cơ đ ơn giản và xây dựng thành những phần tử p hức tạp nhờ quá trình n g h ợp qua , diễn ra trong lục l ạ p của thực vật” (theo Bách khoa toàn thư -

Wikipedia)

Như vậy, thực vật chủ yếu là các sinh vật tự dưỡng Thực vật không có khảnăng ch u y ể n động tự do ngoại trừ một số th ự c vật hiển vi có khả năng chuyển độngđược Thực vật còn khác ở động vật là chúng phản ứ ng rất chậm với sự kích thích, sự

Trang 15

9phản ứng lại thường phải đến hàng ngày và chỉ trong trường hợp có nguồn kích thíchkéo dài.

Trang 16

Thực vật là một nhóm chính các sinh vật, bao gồm các sinh vật rất quen thuộc

như: cây, hoa, cây cỏ, dương xỉ, rêu… Vào thời điểm năm 2007, có khoảng 300.000

loài đã được nhận dạng, trong đó 258.650 loài thực vật có hoa và 15.000 loài rêu

Chính vì vậy, chúng tôi thấy định nghĩa của W i k i ped i a ( Bách khoa toàn thư

mở) là hợp lí, khi nói rằng: “Thời gian là k h á i n i ệ m đ ể diễn tả trình tự xảy ra của các sự kiện, biến cố và khoảng kéo dài của chúng Thời gian được xác định bằng số lượng các chu y ể n đ ộn g c ủa các đối tượng có tính lặp lại và thường có một thời điểm mốc gắn với một sự kiện nào đó” [60] Khái niệm này đã được đông đảo mọi

người tán thành

Cho đến bây giờ, chúng ta thấy rõ thời gian chỉ có một chiều duy nhất đó là từ

quá khứ đến hiện tại và tương lai Thời gian được tính bằng ngày, đêm, sáng, tối, năm…

1.1.2.5 Thực thể tự nhiên

Đây là một khái niệm rất rộng và trừu tượng “Thực thể là một cái gì đó tồn tại như tự chính nó, như một chủ thể hoặc như một khách thể, một cách thực sự hay một cách tiềm năng, một cách cụ thể hay một cách trừu tượng, một cách vật lý hoặc không Nó không cần là sự tồn tại vật chất Nói riêng, vật trừu tượng và trừu tượng pháp lý được coi như là các thực thể” [61].

Qua đó, chúng ta có thể hình dung thực thể tự nhiên là một cái gì đó tồn tại như

tự chính nó, mà không hề có bàn tay con người tác động vào Thực thể tự nhiên có thể

gắn liền với bầu trời như: mây, mặt trời, mặt trăng, sao… nhưng cũng có khi thực thể

tự nhiên gắn liền với mặt đất như: núi, sông, đồi, biển, than, đá, cát…

Trang 17

Việc phân loại từ có thể được thực hiện dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau Căn

cứ vào ý nghĩa, có thể chia từ thành: từ đơn nghĩa, từ đa nghĩa Căn cứ vào cấu tạo, cóthể từ chia thành: từ đơn, từ phức (gồm từ ghép, từ láy) Căn cứ vào phạm vi sử dụng,

có thể chia từ thành: từ toàn dân, từ địa phương Căn cứ vào nguồn gốc, có thể chia từthành: từ thuần Việt và từ vay mượn…

Trong ngữ pháp học, còn có cách phân loại từ dựa đồng thời vào ý nghĩa ngữpháp và hình thức ngữ pháp (theo nghĩa rộng, được hiểu là toàn bộ đặc điểm hoạtđộng ngữ pháp của từ) Cách phân loại này cho ta những phạm trù ngữ pháp haynhững lớp từ được gọi là từ loại…

Vậy “từ loại là những lớp từ được phân định dựa vào những đặc điểm chung về

ý nghĩa và hình thức ngữ pháp” [54].

Theo định nghĩa này, Nguyễn Văn Lộc đã dựa vào sự giống nhau vào đặc điểmchung về ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của các từ để phân tách ra thành từng loại

1.2.2 Hệ thống từ loại tiếng Việt

Dựa vào tiêu chí xác định từ loại khác nhau mà có nhiều tác giả phân loại thànhcác nhóm từ khác nhau Chúng tôi theo tác giả Lê A [1,tr.25] chia từ thành hai loạilớn

sau:

- Thực từ (bao gồm các từ loại danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ);

- Hư từ (bao gồm các từ loại phụ từ, quan hệ từ, trợ từ, thán từ, tình thái từ).

Do đề tài tìm hiểu các từ ngữ chỉ thiên nhiên (tức là các từ ngữ có chức năng

định danh) nên trong chương này, chúng tôi tìm hiểu sâu hai từ loại liên quan đến đối

tượng nghiên cứu của đề tài, đó là danh từ, đại từ và điểm một chút về hai từ loại động từ và tính từ Đây là hai từ loại liên quan đến việc mô tả đặc điểm của các từ

ngữ chỉ thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa

Trang 18

1.2.2.1 Danh từ

a Về ý nghĩa khái quát

Theo Lê A, “Danh từ có ý nghĩa khái quát chỉ sự vật (bao gồm các thực thể nhưngười, đồ vật, cây cối, các vật thể tự nhiên, các hiện tượng xã hội và các khái niệmtrừu tượng thuộc phạm trù tinh thần)” [1,tr.26]

VD: người, học sinh, công nhân, tu hú, bàn, ghế, chuối, đồi, chính phủ, công ti, tình yêu, vấn đề, phương pháp, ý kiến…

b Về khả năng kết hợp

+ Danh từ có thể kết hợp với các từ chỉ số, chỉ lượng ở phía trước

Ví dụ:

(1) vài suy nghĩ, mấy vấn đề, v.v

+ Danh từ kết hợp được với các đại từ chỉ định: này, kia, ấy, đó, nọ… ở phía sau.

(5) Nhân dân thành phố Thái Nguyên đang mít tinh.

- Làm vị ngữ (nhưng rất ít trường hợp) Khi làm vị ngữ, trước danh từ thường có

thêm từ là, của, bằng.

VD:

(6) Tôi là sinh viên.

(7) Sách của tôi.

Trang 19

(8) Bàn bằng gỗ.

Trường hợp đặc biệt, danh từ làm vị ngữ không cần kết hợp với từ là, của, bằng

như trong ví dụ sau:

(9) Tôi người Hà Nội

(10) Em quê Bắc Giang.

d Các tiểu loại danh từ

- Danh từ riêng

+ Về ý nghĩa:

Danh từ riêng là lớp danh từ dùng để gọi tên riêng của mỗi cá thể sự vật, như:

tên một người, tên một địa điểm (Trần Vân Hương, Hoàng Linh Trang, Hà Nội, Trường Sơn, Mê Công, v.v…).

+ Về hoạt động ngữ pháp:

* Danh từ riêng ít có khả năng kết hợp với từ chỉ số lượng ở phía trước và cácyếu tố phụ ở phía sau để lập thành nhóm vì: nó chỉ cá thể chứ không chỉ toàn bộ.VD:

(13) Những Điện Biên Phủ đang gọi chúng ta ở phía trước.

▪ Khi có hiện tượng trùng tên, tức là một tên gọi ứng với nhiều cá thể

VD:

(14) Ở đây có ba Hương, bạn gặp Hương nào?

▪ Khi người nói muốn nhấn mạnh một đặc điểm vốn có của sự vật để tỏ thái độ,tình cảm Trong trường hợp này, định ngữ sau danh từ riêng là định ngữ miêu tả chứkhông phải là định ngữ hạn định

VD:

(15) Bác Hồ vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta.

Trang 20

▪ Danh từ riêng không kết hợp với đại từ chỉ định này, kia, ấy ở phía sau Trường

hợp sau tên riêng có từ này (kiểu như Hoa này ) là lối gọi tên có tác dụng dẫn xuất

gây sự chú ý trong lời thoại trực tiếp

* Danh từ riêng thường kết hợp về phía trước với danh từ chung chỉ phạm vihoặc loại sự vật của tên riêng

VD: Từ ghế là một tên chung cho tất cả các sự vật do con người tạo ra, có chân,

có mặt phẳng, để con người có thể ngồi lên đó Các cá thể ghế có thể khác nhau vềcác phương diện: hình dáng, kích thước, chất liệu nhưng đều được con người gọi tên

Danh từ tổng hợp không kết hợp trực tiếp với số từ (chính xác), không kết hợp

được với danh từ chỉ đơn vị cá thể (con, cái, chiếc,…) nhưng có thể kết hợp với các phụ từ chỉ tổng thể (tất cả, cả, toàn thể, hết thảy ) và các danh từ chỉ đơn vị tổng thể (bộ, đàn, tốp, đống…).

Trang 21

VD: Chúng ta không thể nói:

(18) hai bạn bè (-)

(19) ba nhà cửa (-)

(20) chiếc quần áo (-)

(21) cây tre pheo (-)

Danh từ không tổng hợp gồm các tiểu loại sau:

* Danh từ trừu tượng:

Trang 22

٧ Các tiểu loại của danh từ đơn vị:

▫ Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên:

Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên chỉ dạng tồn tại tự nhiên của sự vật Chúng vừa có

ý nghĩa chỉ đơn vị, vừa có ý nghĩa chỉ loại sự vật Vì vậy, các danh từ chỉ đơn vị tựnhiên còn được gọi là loại từ hay danh từ chỉ loại, danh từ loại thể

VD:

(30) Chỉ người: đứa, thằng, con, người, anh, chị

(31) Chỉ động vật, thực vật: con, cây, quả, cái, chiếc

▫ Danh từ chỉ đơn vị đo lường, tính toán:

Trang 23

Danh từ chỉ sự vật đơn thể là các danh từ chỉ người, động vật, thực vật, đồ vật và

cả các hiện tượng tự nhiên hay xã hội

Ví dụ:

▫ Chỉ người: chú, cô, anh, em, bộ đội, giáo viên, chủ tịch, bác sĩ…

Trong danh từ chỉ người còn có thể chia thành:

Danh từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ, như: giáo viên, công nhân, bác sĩ, hiệu trưởng, giám đốc…

Danh từ chỉ quan hệ thân tộc, như: ông, bà, bố, mẹ, cô, dì, chú, bác, anh, chị, em , cháu, chắt…

▫ Chỉ động vật: trâu, bò, lợn, gà, bồ câu, cá, cào cào…

▫ Chỉ thực vật: vải, mít, hoa, cỏ, cây, nhãn, sầu riêng…

VD:

(39) vài quyển sách, bốn cái mũ, năm bác sĩ, v.v

Trong sử dụng, có những danh từ chỉ sự vật đơn thể chuyển thành danh từ đơn

vị Khi đó ý nghĩa của chúng thay đổi (nghĩa sự vật đơn thể → nghĩa đơn vị) và cáchdùng

cũng thay đổi (kết hợp gián tiếp với số từ → kết hợp trực tiếp với số từ)

Trang 24

Tóm lại, có thể hình dung các tiểu loại danh từ qua bảng sau đây:

Bảng 1.1 Các tiểu loại danh từ

Danh từ tổng hợpDanh từ

khôngtổng hợp

Danh từ trừu tượngDanh từ chỉ sự

vật cụ thể

Danh từ chỉ đơn vịDanh từ chỉ sự vật đơn thểDanh từ chỉ chất liệu

1.2.2.2 Đại từ

a Khái niệm

Đại từ là những từ dùng để xưng hô, thay thế và chỉ trỏ Đại từ không trực tiếpbiểu thị khái niệm sự vật, hiện tượng hay hành động, trạng thái, tính chất, mà dùng đểthay thế cho những từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng, hành động, trạng thái, tính chất Khithay thế cho từ loại nào, đại từ mang ý nghĩa của từ loại đó

Ví dụ:

(44) Tôi là sinh viên.

(45) Nó học giỏi Lan cũng thế.

Trong hai ví dụ trên, tôi, nó và thế là các đại từ Ở ví dụ (45), từ thế được dùng

để thay cho cụm động từ học giỏi cho nên nó cũng mang ý nghĩa của cụm động từ

này

Trang 25

b Các tiểu loại đại từ

Có nhiều tiêu chí để phân chia đại từ thành các tiểu loại

- Căn cứ vào chức năng thay thế

Dựa vào tiêu chí này, đại từ được chia thành 3 loại:

+ Đại từ thay thế cho danh từ:

Đó là các đại từ như: tôi, tao, nó, mày, chúng nó, v.v

+ Đại từ thay thế cho động từ, tính từ:

Đó là các đại từ như: thế, vậy, như thế, như vậy, v.v

Ví dụ:

(48) Nó yêu thơ Tôi cũng vậy.

Các đại từ này có đặc điểm ngữ pháp giống như động từ, tính từ, cho nên chức năng phổ biến của chúng là làm vị ngữ

+ Đại từ thay thế cho số từ:

Đó là các đại từ như: bao nhiêu, bao, bấy nhiêu, v.v

Các đại từ này có đặc điểm ngữ pháp giống như số từ

Dựa vào tiêu chí này, có thể chia đại từ thành 3 loại:

+ Đại từ xưng hô

Đại từ xưng hô thay thế cho danh từ, biểu thị các vai trong hoạt động giaotiếp

Tiếng Việt có các đại từ xưng hô dùng theo các ngôi như sau:

Trang 26

Ngôi thứ nhất (tương ứng với tôi, tao, tớ, mình… chúng tôi, chúng tao,

Ngôi thứ hai (tương ứng với mày, cậu, bay… chúng mày, chúng bay,

các cậu…

cương vị người nghe)

Ngôi thứ 3 (tương ứng với nó, hắn, thị, y… chúng nó, họ, chúng…cương vị người được nói đến)

Trang 27

đây:

Tuy nhiên, nói đến đại từ xưng hô trong tiếng Việt, cần lưu ý một số điểm sau

Thứ nhất: Trong các đại từ xưng hô của tiếng Việt, có những từ chuyên ngôi và kiêm ngôi Những từ chuyên ngôi là những từ chỉ dùng cho một ngôi Ví dụ như: tôi,

tớ, mày Còn từ kiêm ngôi là những từ được dùng cho nhiều ngôi Chẳng hạn:

Từ mình có thể được dùng để chỉ ngôi thứ nhất và cũng có thể được dùng cho

ngôi thứ hai

Ví dụ:

(50) Hôm qua mình đến chỗ cậu nhưng cậu không có nhà.

Từ mình trong ví dụ (50) được dùng để chỉ ngôi thứ nhất

(51) Mình đọc hay tôi đọc?

Từ mình trong ví dụ (51) lại được dùng để chỉ ngôi thứ hai.

Thứ hai: Cần phân biệt từ xưng hô ngôi thứ nhất số nhiều bao gộp và từ xưng hô

ngôi thứ nhất số nhiều không bao gộp Từ xưng hô ngôi thứ nhất số nhiều bao gộp là

từ mang ý nghĩa chỉ một nhóm người, kể cả người nghe và lấy người nói làm trungtâm

(bao gộp vai nói và vai nghe)

Ví dụ:

(52) Hà ơi, chúng mình đi học đi.

Từ chúng mình trong ví dụ (52) là đại từ bao gộp, bao gồm cả ngôi thứ nhất và

ngôi thứ hai

(53) Hà ơi, chúng mình về đây, chào bạn nhé.

Từ chúng mình trong ví dụ (53) chỉ ngôi thứ nhất, số nhiều, không bao gộp.

Trang 28

+ Đại từ chỉ định

Đại từ chỉ định thường là những từ chỉ định các đối tượng được phản ánh trongthực tại

Đại từ chỉ định được chia thành:

Đại từ chỉ định thời gian: bấy giờ, bây giờ, nãy, bấy…

Đại từ chỉ định không gian: này, kia, ấy, đó, đây, nọ…

Đại từ chỉ định khối lượng, số lượng, lượng: tất cả, cả, cả thảy, tất thảy

Đại từ chỉ định tính chất, trạng thái: thế, vậy

+ Đại từ nghi vấn

Đại từ nghi vấn thường là những từ dùng để hỏi về thời gian, không gian, sốlượng, con người…

Đại từ nghi vấn được chia thành:

Đại từ nghi vấn chỉ người, sự vật: ai, gì, sao, nào…

Đại từ nghi vấn chỉ thời gian: bao giờ, bao lâu, nào…

Đại từ nghi vấn chỉ không gian: đâu

Đại từ nghi vấn chỉ số lượng, khối lượng: mấy, bao nhiêu

1.2.2.3 Động từ

a Về ý nghĩa khái quát

“Động từ có ý nghĩa khái quát chỉ hoạt động, trạng thái, tình thái hay quan hệ,nói chung là chỉ những dạng thức vận động, biến chuyển của sự vật về vật lý, tâm lý

và sinh lý” [1,tr.31]

Ví dụ: ăn, uống, ngủ, đi, nằm, đứng, thổi, v.v…

b Về khả năng kết hợp

- Động từ có khả năng kết hợp về phía trước với các yếu tố phụ sau đây:

+ Nhóm các yếu tố phụ chỉ yêu cầu, mệnh lệnh như: hãy, chớ, đừng.

+ Nhóm yếu tố phụ chỉ thời gian: đã, sẽ, vừa, vừa mới.

+ Nhóm yếu tố phụ chỉ sự tiếp diễn kéo dài: vẫn, cứ, còn.

+ Nhóm các yếu tố phụ chỉ sự diễn ra đồng thời hay tương tự của hoạt động:

cũng, đều, cùng.

+ Nhóm các yếu tố chỉ sự phủ định: không, chưa, chẳng.

Trang 29

+ Ngoài ra, những động từ chỉ trạng thái tình cảm như vui, buồn, tức, giận,

yêu, ghét…còn có thể kết hợp với nhóm yếu tố phụ chỉ mức độ như: rất, hơi, quá.

- Về phía sau, động từ có khả năng kết hợp rất phong phú và đa dạng

Xét về mặt từ loại, phía sau của động từ có thể là thực từ hoặc hư từ

Ví dụ: đọc sách, chơi bóng (thực từ); ăn xong, làm rồi (hư từ)

Xét về mặt cấu tạo, phía sau của động từ có thể là từ, cụm từ hay cụm chủ

vị Ví dụ: ăn cơm (từ), đọc sách tiếng Việt (cụm từ), khiến nó buồn (cụm

a Về ý nghĩa khái quát

“Tính từ chỉ tính chất, đặc điểm của sự vật, của hoạt động, trạng thái” [1,tr.34]

Ví dụ: nhanh, chậm, đắng cay, ngọt, xanh, đỏ, tím, vàng, v.v…

b Về khả năng kết hợp

Khả năng kết hợp của tính từ có nhiều điểm giống với động từ; kết hợp với hầu hết các phó từ về phía trước Tuy nhiên, có một số điểm khác biệt sau đây:

Trang 31

Ví dụ:

(72) Cái bút đẹp này là của tôi.

- Làm trạng ngữ:

Ví dụ:

(73) Xa xa, từng đàn chim đang bay về.

1.3 Vài nét về tác giả Trần Đăng Khoa và “Tuyển thơ Trần Đăng Khoa”

1.3.1 Tác giả Trần Đăng Khoa

1.3.1.1 Cuộc đời

Trần Đăng Khoa sinh ngày 26 tháng 4 năm 1958, quê ở làng Trực Trì, xã QuốcTuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Ông là một nhà thơ, nhà báo, biên tập viêntạp chí Văn Nghệ Quân Đội, hội viên Hội nhà văn Việt Nam Hiện nay, ông đang giữchức vụ Bí thư đảng ủy, Phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam

Trần Đăng Khoa có một người anh trai là nhà thơ, nhà báo Trần Nhuận Minh

-tác giả của các tập thơ: Nhà thơ và hoa cỏ, Bản xô nát hoang dã, 45 khúc đàn bầu của

kẻ vô danh… , nguyên là Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh Ông có

một người chị gái là Trần Thị Bình hiện đang sống ở quê và một người em gái TrầnThị Thuý Giang ở Cẩm Phả - Quảng Ninh

Trần Đăng Khoa nhập ngũ ngày 26 tháng 2 năm 1975, khi đang học lớp 10Trường phổ thông cấp 3 Nam Sách, quân số tại Tiểu đoàn 691 Trung đoàn 2Quân tăng cường Hả i H ư n g Sau khi thống nhất đất nước, việc bổ sung quân chochiến trường không còn cần thiết nữa, ông về Q u â n c h ủn g Hả i q u ân S au đó TrầnĐăng Khoa theo học Tr ư ờ ng V i ế t v ăn Ng u y ễn Du v à được cử sang học tại V iệ n V ă n họ

c T hế g i ớ i M Gor ki t huộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội N ga Khi trở về nướcông làm biên tập viên Tạp chí Văn nghệ quân đội Từ tháng 6 năm 2004, khi đã mangquân hàm thượng tá Qu ân i nhđộ ân dâ n V iệ t N a m , ông chuyển sang công tác tại Đàitiếng nói Việt Nam, giữ chức Phó Trưởng ban Văn học Nghệ thuật, sau đó là Trưởngban Văn học Nghệ thuật Đà i Tiế ng n ói Vi ệt N a m Năm 2008, khi Đài tiếng nói ViệtNam thành lập Hệ phát thanh có hình VOVTV (tiền thân của Kênh truyền hình VOV

và nay là Kênh truyền hình Văn hóa

- Du lịch Vietnam Jouney), Trần Đăng Khoa được phân công làm Giám đốc đầu tiêncủa hệ này Đến khoảng giữa năm 2011, chức vụ này được chuyển giao cho ông Vũ

Trang 32

Hải - Phó Tổng Giám đốc của Đà i ki êm n hi ệm đ ể Trần Đăng Khoa chuyển sang làmPhó Bí

Trang 33

thư thường trực Đảng ủy Đài Tiếng nói Việt Nam V OV Hiện nay ông là Phó Chủ tịchHội Nhà văn Việt Nam khóa IX.

1.3.1.2 Sự nghiệp sáng tác

Nhiều thế hệ độc giả cho đến tân bay giờ vẫn không thể quên những bài thơ như:

“Hạt gạo làng ta”, “Mẹ ốm”, “Cây dừa” … Với giọng thơ trong sáng, tự nhiên, sự

quan sát tinh tế và cảm xúc dạt dào về gia đình, về quê hương, đất nước trong hồn thơcủa ông đã tạo nên sự yêu thích từ độc giả

Từ khi còn nhỏ, ông đã được nhiều người cho là “thần đồng thơ” Mới lên 8,

nhưng ông đã có bài đăng báo Năm 1968, khi đó nhà thơ lên 10, tập thơ đầu tiên:

“Góc sân và khoảng trời” được xuất bản bởi nhà xuất bản Kim Đồng - tập thơ gắn

liền với tên tuổi của ông nhất Ngay khi ra đời, tập thơ đã tạo nên một tiếng vang lớntrong làng thơ ca Việt Nam lúc bây giờ Có lẽ tác phẩm được nhiều người biết đếnnhất, phải kể đến tác phẩm: “Hạt gạo làng ta” sáng tác 1968, được Xuân Diệu hiệuđính, sau lại được nhạc sĩ Trần Viết Bính phổ nhạc năm 1971

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Trần Đăng Khoa đã cho ra mắt rất nhiều tậpthơ khác nhau như:

“Từ góc sân và nhà em” sau được đổi thành“Góc sân và khoảng trời”, (năm

1968), tái bản khoảng hơn trăm lần, được dịch và xuất bản ở 42 nước trên thế giới

“Thơ Trần Đăng Khoa”, tập 1 (năm 1970),

“Thơ Trần Đăng Khoa”, tập 2 (năm 1976)

“Cánh cò trắng muốt” (năm 1973)

“Trường ca khúc hát người anh hùng” (năm 1974)

“Bên cửa sổ máy bay” (năm 1986)

“Tuyển thơ Trần Đăng Khoa” (năm 2016).

Ngoài ra Trần Đằng Khoa còn một số tác phẩm thuộc thể loại khác: tiểu thuyết,bình luận văn chương, truyện ngắn, bút ký, ghi chép, tản văn… Trong đó, có nhữngtác phẩm được độc giả đặc biệt quân tâm như:

“Chân dung và đối thoại” tiểu luận phê bình (năm 1998).

“Đảo chìm” tiểu thuyết mini (năm 2000)

“Hầu chuyện thượng đế” (năm 2017)

Trang 34

Trần Đăng Khoa 3 lần được nhận giải thưởng thơ của Báo Thiếu niên tiền phong(các năm 1968, 1969, 1971); giải nhất Báo Văn nghệ (1982); giải thưởng Nhà nước vềvăn học nghệ thuật (2001); giải thưởng Sunthorn Phu trao cho các nhà thơ Đông Nam

Á có những cống hiến xuất sắc trong lĩnh vực văn học nghệ thuật năm 2013

1.3.2 “Tuyển thơ Trần Đăng Khoa”

“Tuyển thơ Trần Đăng Khoa” in 2016, tái bản lần 2, Nhà xuất bản Văn học.

Tuyển tập đã chọn lọc những tác phẩm tiêu biểu nhất trong tất cả những tập thơ củaTrần Đăng Khoa Đặc biệt, cùng với thơ còn có những mảng kí ức, những trang hồi

kí, những cuộc trao đổi của nhà thơ xung quanh “chuyện bếp núc” trong nghề Nhiều

bí mật lần đầu được nhà thơ hé mở Tập sách hấp dẫn, thích hợp với nhiều đối tượngbạn đọc, từ những người làm công tác nghiên cứu đến các em học sinh, sinh viên vànhất là với những bạn nhỏ đang học làm thơ Tuyển thơ này sẽ đem lại cho các emnhỏ rất nhiều những kinh nghiệm thú vị

Bởi vậy mà nhà văn Đình Kính cho rằng: “thơ Trần Đăng Khoa không còn xa

lạ, nhưng tự dưng lại muốn đọc lại Mà mỗi lần đọc lại, vẫn còn thấy thích, không nhàm

một chút nào vẫn là một miền riêng, không trộn lẫn” [46].

Nhà văn Đình Kính đã ví von thơ Trần Đăng Khoa như: “cô gái làng mộc mạc, không son phấn, không giả vờ ưỡn ẹo làm duyên, làm dáng phô khoe cơ thể, như là một thứ duyên thầm đằm thắm, nền nã, nhiều nét đồng bãi Vẻ đẹp toả ra một cách tự nhiên, hồn hậu, chân chất, tuần khiết, đằm lắng…” [46] Quả không hề sai, vì khi đọc

tuyển thơ, độc giả tìm thấy mình trong đó, với những trò chơi dân gian, những âmthanh quên thuộc của làng quê, và đặc biệt tìm thấy tuổi thơ của chính mình

1.4 Tiểu kết

Trong chương này, chúng tôi đã trình bày những nền tảng lý thuyết liên quanđến đối tượng nghiên cứu của đề tài Đó là các vấn đề như:

- Khái quát về thiên nhiên Theo đó, thiên nhiên được chia thành 5 loại:

+ Các hiện tượng tự nhiên;

+ Động vật;

Trang 35

+ Thực vật;

+ Thời gian;

+ Thực thể tự nhiên

- Khái quát về từ loại Từ loại được chia thành hai loại lớn là thực từ và hư từ,

trong đó, có 4 từ loại liên quan đến đối tượng nghiên cứu đề tài như danh từ, đại từ, động từ, tính từ.

Trần Đăng Khoa là nhà thơ lớn, đã khẳng định được tên tuổi và vị trí của mìnhtrong nền văn học Việt Nam đương đại Những nền tảng lý thuyết trên sẽ là cơ sở đểchúng tôi tìm hiểu những từ ngữ chỉ thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa, để từ đấythấy được tài năng của ông trong việc sử dụng ngôn từ

Trang 36

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ NGỮ CHỈ THIÊN NHIÊN

TRONG THƠ TRẦN ĐĂNG KHOA

Các từ ngữ chỉ thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa có thể được xem xét dướinhiều góc độ, như: đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ý nghĩa, v.v… Song, do dung lượngcủa luận văn cũng như mục đích nghiên cứu của đề tài, trong chương này, chúng tôichỉ tìm hiểu đặc điểm của các từ ngữ chỉ thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa xét

về phương diện ý nghĩa

Kết quả thống kê cho thấy, trong Tuyển thơ Trần Đăng Khoa, có 702 từ ngữ chỉthiên nhiên, với tần số xuất hiện 3086 lần Theo sự phân tích của chúng tôi, các từ ngữnày được chia thành hai loại:

- Các từ ngữ chỉ thiên nhiên đích thực;

- Các từ ngữ chỉ thiên nhiên không đích thực

Có thể hình dung điều này qua bảng thống kê sau đây:

Bảng 2.1 Từ ngữ chỉ thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa

Các từ ngữ chỉ thiên nhiên đích thực là các từ ngữ có ý nghĩa trực tiếp chỉ thiên

nhiên Đó là các từ như: mây, mưa, hoa, lá, mùa xuân, v.v…

Các từ ngữ chỉ thiên nhiên không đích thực là các từ ngữ vốn được dùng để chỉđối tượng này nhưng lâm thời được dùng để chỉ thiên nhiên và phải dựa vào văn cảnhmới xác định được ý nghĩa đích thực của chúng Ví dụ:

Mày ngủ chưa hả trầu?

Tao đã đi ngủ đâu.

(Đánh thức trầu)

Trang 37

Mày là đại từ nhân xưng ngôi thứ 2, thường được dùng để chỉ con người Nhưng

ở câu thơ này, nó có ý nghĩa chỉ cây trầu Và muốn hiểu đúng nghĩa của từ này, taphải dựa vào văn bản, cụ thể là bài thơ Những từ như vậy sẽ được chúng tôi xếp vàocác từ ngữ chỉ thiên nhiên không đích thực

2.1 Các từ ngữ chỉ thiên nhiên đích thực

Theo tư liệu đã thống kê, trong thơ Trần Đăng Khoa có 663 từ ngữ chỉ thiênnhiên đích thực, chiếm tỉ lệ 94.4% trong tổng số các từ ngữ chỉ thiên nhiên Xét vềphương diện ý nghĩa, các từ ngữ chỉ thiên nhiên đích thực được chia thành 5 loại:

- Các từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên;

- Các từ ngữ chỉ động vật;

- Các từ ngữ chỉ thực vật;

- Các từ ngữ chỉ thời gian;

- Các từ ngữ chỉ thực thể tự nhiên

Có thể hình dung điều này qua bảng thống kê sau đây:

Bảng 2.2 Số lượng các từ ngữ chỉ thiên nhiên đích thực

trong thơ Trần Đăng Khoa

lượng Tỉ lệ %

Tần số xuất hiện

Từ ngữ chỉ

Trang 38

Trần Đăng Khoa

2.1.1 Các từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên

Theo tư liệu đã thống kê, trong tổng số 663 từ ngữ chỉ thiên nhiên đích thực/702

từ ngữ chỉ thiên nhiên, có 59 từ ngữ chỉ các hiện tượng tự nhiên, chiếm tỉ lệ 8.4%(59/702), với tần số xuất hiện là 479 lần, chiếm tỉ lệ 15.52% (479/3082) Đó là các từ

ngữ như: bão, gió, chớp, mưa, sét, sóng, tuyết, v.v…

Có thể hình dung các từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên trong thơ Trần Đăng Khoaqua bảng thống kê dưới đây:

Bảng 2.3: Các từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên

STT HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN XUẤT HIỆN STT TẦN SỐ HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN XUẤT HIỆN TẦN SỐ

Trang 39

29 hơi sương 1 59 vệt nắng 1

Nhìn vào bảng thống kê trên, ta thấy các từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên trong thơTrần Đăng Khoa có số lượng không nhiều (59 từ ngữ) Tuy nhiên, tần số xuất hiệncủa các từ ngữ này tương đối lớn (479 lần) Thêm vào đó, tần số xuất hiện của chúngcũng không đồng đều Có những từ được tác giả sử dụng nhiều lần ngay trong mộtbài thơ hoặc xuất hiện trong nhiều bài thơ Nhưng cũng có những từ ngữ chỉ xuất hiện

1 lần Chẳng hạn:

Từ gió được xuất hiện 112 lần/190 bài thơ Và ở mỗi bài thơ, sự xuất hiện của từ này cũng không giống nhau Có những bài, từ gió xuất hiện với số lượng đậm đặc Chẳng hạn trong bài Đập cửa Diêm vương, từ gió xuất hiện 19 lần (19/112) Trong Khúc hát người anh hùng (Khúc hai), từ gió được xuất hiện 7 lần (7/112) Nhưng trong bài Nửa đêm tỉnh giấc, từ gió chỉ xuất hiện 1 lần.

Hay trong bài Mưa, từ mưa đã xuất hiện 7 lần (7/73) Nhưng trong bài Nghe thầy đọc thơ, từ mưa chỉ xuất hiện 1 lần (1/73) Tuy nhiên, cũng có rất nhiều từ ngữ chỉ xuất hiện 1 lần duy nhất (1/190 bài thơ) như: hơi sương, thủy triều, tia chớp, v.v…

Xét về mặt ý nghĩa, các từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên xuất hiện trong thơ TrầnĐăng Khoa tương đối đa dạng Nó dường như bao quát được hết tất cả các hiện tượng

thiên nhiên có trong cuộc sống hàng ngày, từ mưa, gió, sấm, chớp, bão, nắng, hạn hán,

v.v…

Ví dụ:

(1) Nghe trăng thở động tàu dừa

Rào rào nghe chuyển cơn mưa giữa trời

(Nghe thầy đọc thơ)

(2) Nghe hàng chuối vườn em

Gió trở mình trăn trở

(Nửa đêm tỉnh giấc)

(3) Bố em đi làm về

Trang 40

Đội sấm Đội chớp Đội cả trời mưa

(Mưa)

…Trong thơ Trần Đăng Khoa, có những bài thơ xuất hiện rất nhiều các từ ngữ chỉcác hiện tượng tự nhiên khác nhau

Ngang trời - như nổi sóng

Nhà máy nào vừa dựng Khói bay trắng một miền

(Đi tàu hỏa)

Có thể nhận thấy, bài thơ Đi tàu hỏa trong ví dụ (4) đề cập đến 4 hiện tượng tự nhiên Đó là nắng, dông bão, nắng gió, sóng.

Sự xuất hiện nhiều hay ít các từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên trong thơ TrầnĐăng Khoa phụ thuộc vào ý đồ nghệ thuật của tác giả cũng như nội dung tư tưởng màtác phẩm cần thể hiện

2.1.2 Các từ ngữ chỉ động vật

Theo tư liệu đã thống kê, trong tổng số 663 từ ngữ chỉ thiên nhiên đíchthực/702 từ ngữ chỉ thiên nhiên, có 149 từ ngữ chỉ động vật, chiếm tỉ lệ 21.22%(149/702), với tần số xuất hiện là 359 lần, chiếm tỉ lệ 11.63% (359/3082) Đó là các

Ngày đăng: 02/11/2020, 23:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A (chủ biên) (2014), Giáo trình Tiếng Việt 3, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tiếng Việt 3
Tác giả: Lê A (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2014
2. Trần Thanh Ái (2003), Về vấn đề đề - thuyết, T/c Ngôn ngữ và đời sống, Số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề đề - thuyết
Tác giả: Trần Thanh Ái
Năm: 2003
3. Diệp Quang Ban (1972), Xung quanh việc phân biệt câu ghép với câu đơn, T/c Ngôn ngữ, Số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xung quanh việc phân biệt câu ghép với câu đơn
Tác giả: Diệp Quang Ban
Năm: 1972
4. Diệp Quang Ban (1987), Câu đơn tiếng Việt, Nxb GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu đơn tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1987
5. Diệp Quang Ban (1989), Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông, tập 2, Nxb ĐH &THCN, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông, tập 2
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb ĐH &THCN
Năm: 1989
6. Diệp Quang Ban (1992), Bàn góp về quan hệ chủ - vị và quan hệ phần đề- phần thuyết, T/c Ngôn ngữ, Số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn góp về quan hệ chủ - vị và quan hệ phần đề- phần thuyết
Tác giả: Diệp Quang Ban
Năm: 1992
7. Diệp Quang Ban (1998), Một số vấn đề về câu tồn tại trong tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về câu tồn tại trong tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
8. Diệp Quang Ban (1998), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và liên kết trong tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
9. Diệp Quang Ban (2000), Thử điểm qua việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt trong nửa thế kỷ qua, T/c ngôn ngữ, Số 9, tr. 41-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử điểm qua việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt trong nửa thế kỷ qua
Tác giả: Diệp Quang Ban
Năm: 2000
10. Diệp Quang Ban (2010), Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
11. Lê Biên (1996), Từ loại tiếng Việt hiện đại, ĐHQGHN, Trường ĐHSP, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Lê Biên
Năm: 1996
12. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại, Nxb KHXH, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1975
13. Nguyễn Tài Cẩn (1996), Ngữ pháp tiếng Việt, (Tiếng - từ ghép - đoản ngữ, Nxh ĐHQG HN, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Năm: 1996
14. Nguyễn Tài Cẩn, Stankevich N.V. (1973), ”Góp thêm một số ý kiến về vấn đề hệ thống đơn vị ngữ pháp, T/c Ngôn ngữ, Số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T/c Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn, Stankevich N.V
Năm: 1973
16. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1981
17. Đỗ Hữu Châu (1998) Các bình diện của từ và từ Tiếng Việt, NXB Khoa Học Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Khoa Học XãHội
18. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
19. Đỗ Hữu Châu (2005), Đỗ Hữu Châu tuyển tập (Tập 1,tập 2), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Hữu Châu tuyển tập (Tập 1,tập 2)
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
20. Đỗ Hữu Châu (chủ biên) (1993), Bùi Minh Toán, Đại cương ngôn ngữ học, tập 1, Nxb GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, tập1
Tác giả: Đỗ Hữu Châu (chủ biên)
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1993
21. Hoàng Cao Cương (1985), Bước đầu nhận xét về đặc điểm ngữ điệu tiếng Việt, T/c Ngôn ngữ, Số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nhận xét về đặc điểm ngữ điệu tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Cao Cương
Năm: 1985

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w