1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hội chứng chuyển hóa ở nam giới các cặp vợ chồng vô sinh

9 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 585,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vô sinh do nam giới chiếm khoảng 50% các cặp vợ chồng vô sinh và có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau. Đề tài nghiên cứu nhằm khảo sát tình trạng rối loạn chuyển hóa ở nam giới các cặp vợ chồng vô sinh và tìm hiểu các yếu tố liên quan.

Trang 1

115 Tập 14, số 04 Tháng 05-2016

115

Lê Minh Tâm, Nguyễn Thị Kiều, Trần Thị Như Quỳnh, Cao Ngọc Thành

Trường Đại học Y Dược Huế

HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA Ở NAM GIỚI

CÁC CẶP VỢ CHỒNG VÔ SINH

Tác giả liên hệ (Corresponding author):

Lê Minh Tâm,

email: leminhtam@hueuni.edu.vn

Ngày nhận bài (received): 03/05/2019

Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised):

20/05/2019

Ngày bài báo được chấp nhận đăng

(accepted): 20/05/2019

Từ khóa: Hội chứng chuyển

hoá, khả năng sinh sản, nam

giới, vô sinh.

Keywords: Metabolic

syndrome, male infertility,

reproductive function.

Tóm tắt Đặt vấn đề: Vô sinh do nam giới chiếm khoảng 50% các cặp vợ chồng vô sinh và có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau Hội chứng chuyển hoá (HCCH) là một vấn đề toàn cầu phổ biến, bao gồm một tập hợp các yếu tố nguy cơ tim mạch như béo phì bụng,

đề kháng insulin, rối loạn lipid máu, dung nạp glucose bất thường

và tăng huyết áp Các rối loạn này có thể liên quan đến khả năng sinh sản của nam giới gồm cả chức năng tình dục và chất lượng tinh trùng Đề tài nghiên cứu nhằm khảo sát tình trạng rối loạn chuyển hoá ở nam giới các cặp vợ chồng vô sinh và tìm hiểu các yếu tố liên quan.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 231 đối tượng nam giới của cặp vợ chồng vô sinh đang điều trị tại Trung tâm Nội tiết Sinh sản và Vô sinh, Bệnh viện Đại học Y Dược Huế (HUECREI) từ 18/5/2017 đến 12/1/2019 Đối tượng được khai thác đầy đủ thông tin về lối sống, đo huyết áp và các chỉ số nhân trắc học, xét nghiệm sinh hóa máu liên quan HCCH Chẩn đoán HCCH theo tuyên bố đồng thuận của International Diabetes Federation (IDF), National Heart, Lung and Blood Insitute (NHLBI), American Heart Association (AHA), World Heart Federation (WHF), International Atherosclerosis Society (IAS), International Association for the Study of Obesity (IASO) năm 2009.

Kết quả: Tỷ lệ mắc HCCH ở nam giới trong nhóm nghiên cứu là 25.1%, nhóm 3 thành tố chiếm tỷ lệ cao nhất với 19,0%, nhóm 4 thành tố chiếm 3,9%, nhóm 5 thành tố chiếm 2,2% Tỷ lệ đối tượng

có tăng triglycerid cao nhất với 60,6%, theo sau đó là tăng glucose máu đói (35,1%), giảm HDL-C (28,1%), tăng vòng eo (24,2%), tăng huyết áp là 9,5% Tuổi lớn (≥35 tuổi), BMI≥23 kg/m 2 , tỷ số vòng bụng/vòng mông > 0,9 là những yếu tố nguy cơ độc lập cho HCCH

Kết luận: HCCH ở nam giới các cặp vợ chồng vô sinh chiếm tỷ lệ đáng kể Chỉ số vòng bụng, vòng bụng/chiều cao, HDL-C có giá trị

Trang 2

1 Đặt vấn đề

Theo Tổ chức Y tế thế giới vô sinh là tình trạng

một cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, mong muốn

có con nhưng không thể có thai sau 12 tháng có

quan hệ tình dục mà không dùng biện pháp tránh

thai nào Theo thống kê 15% cặp vợ chồng có vấn

đề về sinh sản, trong đó vô sinh do yếu tố nam hiện

diện trong 20-50% cặp vợ chồng [33] Báo cáo của

Nguyễn Viết Tiến tại Hội thảo quốc tế “Cập nhật về

hỗ trợ sinh sản” (2013) tại Hà Nội cho thấy kết quả

điều tra ở Việt Nam năm 2010 thì tỷ lệ vô sinh là

7,7%, trong đó nguyên nhân do nam giới chiếm 25

- 40% [2] Vô sinh được xem là một trọng tâm trong

116

Tập 16, số 04 Tháng 06-2019

dự báo khá tốt khả năng mắc HCCH Cần có chiến lược tiếp cận sớm để hạn chế ảnh hưởng của HCCH lên khả năng sinh sản của nam giới.

Từ khoá: Hội chứng chuyển hoá, khả năng sinh sản, nam giới, vô sinh

Abstract

Objectives: Male infertility accounts for about 50% of infertile couples Metabolic syndrome (MS) is very common in the world, results in some cardiovascular risks such as central obesity, insulin resistance, dyslipidemia, abnormal glucose tolerance and hypertension These factors may be related to male fertility in both sexual function and sperm quality This research aimed to investigate metabolic syndrome in the reproductive function in fertile

Methods: The study was conducted on 231 male partner from infertile couples who came to the Hue Center for Reproductive Endocrinology and Infertility, Hue University Hospital from May 18th

in 2017 to January 12th 2019 Diagnosis of MS under the consensus statement of International Diabetes Federation (IDF), National Heart, Lung and Blood Insitute (NHLBI), American Heart Association (AHA), World Heart Federation (WHF), International Atherosclerosis Society (IAS), International Association for the Study of Obesity (IASO) in 2009

Results: The prevalence of MS in male infertility in this group is 25.1%, the group of 3 components accounts for the highest rate with 19.0%, the group of 4 components accounts for 3.9%, the group of 5 components accounts for 2, 2% In which, hypertriglyceridemia is the highest (60.6%), followed by hyperglycemia (35.1%), decreased HDL-C (28.1%), increased waist

≥ 0.5, waist/hip ratio> 0.9 are independent risk factors for MS.

Conclusion: MS in men from infertile couples accounts a considerable incidence WC, WC/H, HDL-C were good predictors for MS It is important to have a strategy for MS screening for MS

in men to improve their fertility capacity.

Key words: Metabolic syndrome, male infertility, reproductive function.

chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản Điều trị vô sinh là một nhu cầu cấp thiết nhằm đảm bảo hạnh phúc gia đình và phát triển hài hòa xã hội

Chẩn đoán nguyên nhân vô sinh và vô sinh nam giới là hết sức cần thiết để thực hiện điều trị Vô sinh do nam giới có thể do khiếm khuyết sinh tinh nguyên phát tại tinh hoàn, do rối loạn vận chuyển tinh trùng, do các bệnh lí nội tiết - rối loạn hệ thống thường liên quan đến suy sinh dục thứ phát và đôi khi không tìm được nguyên nhân Gần đây, các rối loạn chuyển hóa được quan tâm nhiều đến như là một yếu tố đóng góp đóng góp tiềm năng cũng như

là nguyên nhân gây ra tình trạng vô sinh ở nam giới

Trang 3

117 Tập 14, số 04 Tháng 05-2016

117

thông qua việc làm giảm số lượng cũng như chất

lượng tinh dịch đồ, làm giảm ham muốn, rối loạn

cương dương, xuất tinh ngược dòng [18]

Hội chứng chuyển hoá là một vấn đề toàn cầu

phổ biến bao gồm tình trạng béo phì trung tâm, rối

loạn lipid máu, đề kháng insulin và tăng huyết áp

hệ thống Hiệp hội Đái tháo đường quốc tế ước tính

rằng một phần tư dân số thế giới và khoảng 40%

người trưởng thành ở Mỹ mắc hội chứng chuyển

hóa [22] Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra của

Lê Thị Hợp và cộng sự năm 2008 trên 8 vùng sinh

thái trong toàn quốc cho thấy tỉ lệ mắc hội chứng

chuyển hóa là 13,1% trong đó có 10,6 % nam giới

mắc hội chứng này [1] Những người bị hội chứng

chuyển hóa có nguy cơ phát triển bệnh đái tháo

đường týp 2 cao gấp 5 lần, nguy cơ tim mạch cao

gấp 3 lần và nguy cơ tử vong cao gấp 2 lần so với

những người không mắc hội chứng này [22]

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã được thực

hiện và cho thấy rằng nam giới của cặp vợ chồng

vô sinh có tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa, đái

tháo đường týp 2 và bệnh lí tim mạch cao hơn so

với nhóm nam giới có vợ mang thai bình thường

Đồng thời ở những người nam của cặp vợ chồng

vô sinh mắc hội chứng chuyển hóa thì hay gặp

bất thường tinh dịch đồ và chức năng tình dục hơn

những người không mắc [3], [12], [14], [19] Sự

gia tăng tỷ lệ vô sinh dường như song song với sự

gia tăng tỷ lệ béo phì, rối loạn lipid máu và hội

chứng chuyển hóa [11]

Hiện nay, tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào

tìm hiểu về tình trạng rối loạn chuyển hóa và những

yếu tố liên quan ở những nam giới vô sinh Vì vậy để

góp phần bổ sung thêm cho những nghiên cứu sau

này trong việc tìm kiếm nguyên nhân và can thiệp

sớm trong hỗ trợ sinh sản và chăm sóc sức khỏe cho

đối tượng nam giới vô sinh tôi đã tiến hành nghiên

cứu đề tài này nhằm xác định tỷ lệ mắc HCCH và tỷ

lệ rối loạn các thành tốcủa HCCH cũng như tìm hiểu

một số yếu tố liên quan đến HCCH trên những đối

tượng nam giới của cặp vợ chồng vô sinh

2 Đối tượng và phương pháp

nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 231 đối tượng

nam giới của cặp vợ chồng vô sinh đang điều trị

tại Trung tâm Nội tiết Sinh sản và Vô sinh, Bệnh viện Đại học Y Dược Huế (HUECREI) từ 18/5/2017 đến 12/1/2019 Đối tượng có đầy đủ thông tin

về lối sống, đo các chỉ số nhân trắc học và sinh hóa máu gồm: đường máu tĩnh mạch đói và biland lipid máu Có đủ điều kiện sức khỏe và đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH theo đồng thuận của IDF, AHA/NHBLI, WHF, IAS và IASO năm 2009

HCCH được chẩn đoán khi có ít nhất 3 trong 5 yếu tố sau:

- Vòng bụng tăng : tùy theo chủng tộc và địa dư quy định, ở các nước nam Á(Việt Nam) vòng bụng

≥90 cm ở nam và ≥80 cm ở nữ

- Tăng huyết áp (huyết áp tối đa ≥130 mmHg và/hoặc huyết áp tối thiểu ≥85mmHg hoặc đã điều trị tăng huyết áp)

- Tăng glucose máu lúc đói (FPG ≥5,6mmol/L) hoặc đang dùng thuốc điều trị ĐTĐ

- HDL-c<1,03mmol/L ở nam và HDL-c <1,29 mmol/L ở nữ hoặc đã điều trị)

- Triglyceride ≥1,7 mmol/L hoặc đã điều trị)

Các bước tiến hành

Sử dụng bộ câu hỏi thiết kế sẵn để thu thập số liệu về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu, đặc điểm vô sinh, tiền sử hút thuốc lá, sử dụng rượu bia, bệnh mãn tính, chiều cao, cân nặng, vòng bụng và vòng mông, huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu Chỉ số khối cơ thể (BMI) được tính bằng

tính chỉ số vòng bụng/vòng mông, vòng bụng/

chiều cao

Bệnh nhân được yêu cầu nhịn đói qua đêm (ít nhất 8 giờ), sau đó tiến hành xét nghiệm máu với các chỉ số: FPG, HDL-C, LDL-C, triglyceride và cholesterol toàn phần Glucose huyết được xác định bằng phương pháp oxy hóa khử glucose (GOD-PAP), các chỉ số lipid máu: HDL-C, LDL-C, triglyceride và cholesterol tổng số được đo bằng phương pháp enzyme so màu tại Phòng xét nghiệm sinh hóa, bệnh viện Đại học Y Dược Huế

Phương pháp xử lí số liệu

Xử lý theo phương pháp thống kê y học trên máy tình bằng chương trình SPSS ấn bản 20.0 và Excel

2010 Sử dụng phương pháp thống kê mô tả (tần xuất, tỷ lệ, trung bình, trung vị, vẽ biểu đồ) Các biến định lượng được kiểm tra phân phối chuẩn

Trang 4

Tập 16, số 04 Tháng 06-2019

trước khi phân tích và được so sánh bằng kiểm định

t-test( cho phân phối chuẩn) hoặc kiểm định

Mann-Withney ( cho phân phối không chuẩn) Kiểm tra

mối liên quan giữa các biến định tính bằng test

Chi-Square, sau đó sử dụng mô hình hồi quy nhị

phân đa biến cho các yếu tố liên quan đến HCCH

Kết quả được biểu thị qua giá trị của tỷ suất chênh

(Odds Ratio - OR) với khoảng tin cậy 95% của OR

kèm giá trị so sánh biểu thị sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê khi p<0,05, theo 2 phía

Sử dụng đường cong ROC để tìm điểm cắt của

các chỉ số sinh hóa, VB, BMI, tỷ VB/VM, tỷ VB/CC

trong dự đoán sự hiện diện của HCCH

3 Kết quả

Đặc điểm (n=231)Tổng Có HCCH(n=58) HCCH (n=173) pKhông có

Tuổi (năm) 35,27±5,74 36,97±6,38 34,71±5,42 <0,01

Thời gian vô sinh (năm) 3,99±2,84 4,47±3,30 3,83±2,67 0,18

BMI (kg/m 2 ) 23,62±3,20 25.37±3.15 23,03±2,99 <0,01

Vòng bụng (cm) 83,26±8,12 89,95±7,42 81,01±7,07 <0,01

HATT (mmHg) 114,78±10,80 119,30±14,62 113,30±8,80 <0,01

HATTr (mmHg) 72,55±7,16 75,30±8,80 71,60±6,30 <0,01

Triglycerid (mmol/l) 2.38±1.48 3,73±1,61 1,93±1,12 <0,01

HDL-C (mmol/l) 1,24±0,32 1,03±0,24 1,31±0,32 <0,01

Glucose (mmol/l) 5,57±1,08 6,35±1,51 5,30±0,72 <0,01

LDL-C (mmol/l) 3,39±0,84 3,73±0,94 3,28±0,28 <0,01

Cholesterol TP (mmol/l) 5,01±0,94 5,55±1,06 4,83±0,83 <0,01

Bảng 1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Thành tố (n=231)Chung Có (n=58) Không (n=173)HCCH p

n(%) n(%) n(%)

Triglycerid≥1,7(mmol/l) 140(60,6) 57(98,3) 83(48,0) <0,01

HDL-C<1,03(mmol/l) 65(28,1) 37(63,8) 28(16,2) <0,01

Glucose máu≥5,6 (mmo/l) 81(35,1) 46(79,3) 35(20,2) <0,01

Bảng 2 Tỷ lệ mắc HCCH và rối loạn của từng thành tố

Biểu đồ 1 Tỷ lệ mắc HCCH và sự phân bố số thành tố của HCCH

6

Bảng 2 Tỷ lệ mắc HCCH và rối loạn của từng thành tố

Có (n=58) Không (n=173)

Triglycerid≥1,7(mmol/l) 140(60,6) 57(98,3) 83(48,0) <0,01

HDL-C<1,03(mmol/l) 65(28,1) 37(63,8) 28(16,2) <0,01

Glucose máu≥5,6 (mmo/l) 81(35,1) 46(79,3) 35(20,2) <0,01

Biểu đồ 1 Tỷ lệ mắc HCCH và sự phân bố số thành tố của HCCH

Tuổi trung bình là 35.27±5.74 , BMI trung bình là 23.62±3.20 kg/m2 , Những đối tượng

mắc HCCH lớn tuổi hơn và béo hơn so với nhóm không mắc HCCH Tương tự chỉ số

huyết áp tâm thu, tâm trương, Triglycerid, cholesterol TP, HDL-C, LDL-C và glucose máu

đều cao hơn ở nhóm có HCCH so với nhóm không có HCCH (Bảng 1)

Tỷ lệ phổ biến các thành tố của HCCH theo thứ tự là triglyceride (60,6%), tăng đường

máu (35,1%), giảm HDL-C (28,1%), vòng bụng lớn (24,2%) và thấp nhất là tăng huyết

8,6%

25.1%

Không có HCCH

3 thành tố

4 thành tố

5 thành tố

Tuổi trung bình là 35,27±5,74 , BMI trung bình

lớn tuổi hơn và béo hơn so với nhóm không mắc HCCH Tương tự chỉ số huyết áp tâm thu, tâm trương, Triglycerid, cholesterol TP, HDL-C, LDL-C và glucose máu đều cao hơn ở nhóm có HCCH so với nhóm không có HCCH (Bảng 1)

Tỷ lệ phổ biến các thành tố của HCCH theo thứ

tự là triglyceride (60,6%), tăng đường máu (35,1%), giảm HDL-C (28,1%), vòng bụng lớn (24,2%) và thấp nhất là tăng huyết áp (Bảng 2) Tỷ lệ mắc HCCH là 25,1%, trong đó nhóm 3 thành tố chiến tỷ lệ cao nhất 75,9%, nhóm 4 thành tố đạt 15,5%, nhóm 5 thành tố chiếm 8,6% (Biểu đồ 1)

Ở những người mắc HCCH thì rối loạn chuyển hóa phổ biến nhất là tăng Triglycerid máu (98,3%), theo sau

đó là tăng glucose máu (79,3%), giảm HDL-C (63,8%), béo bụng (62,1%), thấp nhất là tăng huyết áp (25,9%) Các tỷ lệ này đều cao hơn so với nhóm nam giới không

có HCCH có ý nghĩa thống kê (p<0,01) (Bảng 1)

Các yếu tố liên quan HCCH(n=58) Không có HCCH (n=137) pn(%) n(%)

Tuổi ≥35<35 36(31,9)22(18,6) 77(68,1)96(81,4) <0,05 BMI (kg/m 2 ) ≥23<23 43(36,1)15(13,4) 76(63,9)79(86,6) <0,01 VB/CC ≥0,5<0,5 49(37,4)9(9,0) 82(62,6)91(91,0) <0,01 VB/VM >0,9≤0,9 37(41,1)21(14,9) 120(85,1)53(58,9) <0,01 Hút thuốc lá KhôngCó* 25(26,6)33(24,1) 104(75,9)69(73,4) 0,66 Uống rượu bia KhôngCó* 50(25,0)8(25,8) 150(75,0)23(74,2) 0,98 Loại vô sinh III 42(26,6)16(21,9) 116(73,4)57(78,1) 0,45 Thời gian vô sinh

(năm) ≥4 <4 31(27,2)27(23,1) 83(72,8)90(76,9) 0,47 Vòng bụng

(cm) ≥90<90 36(64,3)22(12,6) 153(87,4)20(35,7) <0,01 Huyết áp

(mmHg) ≥130/85<130/85 15(68,2)43(20,6) 166(79,4)7(31,8) <0,01 TG

(mmol/l) ≥1,7<1,7 57(40,7)1(1,1) 83(59,3)90(98,1) <0,01 HDL-C

(mmol/L) <1,03≥1,03 37(56,9)21(12,7) 145(87,3)28(43,1) <0,01 Glucose

(mmol/L) ≥5,6<5,6 46(56,8)12(8,0) 138(92,0)35(43,2) <0,01 LDL-C

(mmol/L) ≥3,3<3,3 39(34,8)19(16,0) 100(84,0)73(65,2) <0,01 Cholesterol

TP(mmol/l) ≥5,2<5,2 35(37,6)23(16,7) 115(83,3)58(62,4) <0,01

Bảng 3 Một số yếu liên quan đến HCCH

Trang 5

119 Tập 14, số 04 Tháng 05-2016

119

*Có hút thuốc lá: là những người đã từng hoặc

hiện tại có hút thuốc

*Có thói quen uống rượu bía: là những người

uống >2 đơn vị cồn/ ngày (1 đơn vị cồn chứa 14g

nồng độ cồn tinh khiết tương đương 354ml bia (5%

cồn) ngày hoặc 150ml rượu vang (12% cồn) hoặc

45ml rượu mạnh (40% cồn)

VB/VM: tỷ số vòng bụng/vòng mông VB/CC:

tỷ số vòng bụng/chiều cao

Nhóm tuổi, BMI, Tỷ số VB/VM, VB/CC, đường

máu đói, HDL-C, LDL-C, Cholesterol TP, triglycerid

có liên quan đến HCCH với p<0,05 Thói quen hút

thuốc lá, rượu bia, loại vô sinh, và thời gian vô sinh

không liên quan đến HCCH với p>0,05 (Bảng 3)

Tuổi và tình trạng béo phì là yếu tố nguy cơ độc lập

của HCCH Nam giới tuổi ≥35 có nguy cơ mắc HCCH

cao gấp 2,11 lần so với nhóm tuổi <35 (OR=2,11

KTC 95%: 1,09-4,10), các chỉ số phản ảnh tình trạng

VM ≥0,9 cũng làm tăng nguy cơ mắc HCCH với OR

(khoảng tin cậy 95%) giảm dần theo thứ tự

2,90(1,16-7,28); 2,24(1,06-4,75); 2,16(1,05-4,45)

Vòng bụng và tỷ số VB/CC có diện tích dưới

đường cong ROC lớn hơn của BMI và tỷ số VB/VM

trong dự báo mắc HCCH

Yếu tố OR KTC 95% p

Bảng 4 Mô hình hồi quy đa biến cho các yếu tố nguy cơ của HCCH

Hình 2 Đường cong ROC của số đo vòng bụng, BMI, tỷ số VB/VM, tỷ số VB/CC cho dự đoán

hội chứng chuyển hóa

9

Hình 2 Đường cong ROC của số đo vòng bụng, BMI, tỷ số VB/VM, tỷ số VB/CC

cho dự đoán hội chứng chuyển hóa

Vòng bụng và tỷ số VB/CC có diện tích dưới đường cong ROC lớn hơn của BMI và tỷ số

VB/VM trong dự báo mắc HCCH

Bàn luận

Tỷ lệ mắc HCCH và rối loạn các thành tố của HCCH

Dựa theo đồng thuận chẩn đoán HCCH năm 2009 của IDF, NHLBI/AHA, WHF,

IAS, IASO, nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ mắc HCCH ở nhóm nam giới của cặp vợ

chồng vô sinh là 25,1% Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Bungum A.B (2018)

nghiên cứu cắt ngang với 2572 nam giới thì tỷ lệ mắc HCCH ở 2 nhóm nam giới không có

con và người đã làm cha lần lượt là 26% và 22% [7], nhưng cao hơn so với các nghiên

cứu của Kristel Ehala-Aleksejev và cộng sự(2018) cho tỷ lệ 17,8% [10], Lotti và cộng

sự(2013) với tỷ lệ 7,7 % mắc HCCH [20], sự khác nhau này có thể do sự lựa chọn đối

tượng nghiên cứu của 2 nghiên cứu trên có nhiều ràng buộc hơn như loại bỏ những đối

tượng vô tinh, thiểu tinh nặng, bất thường Karyotype trong khi nhiều nghiên cứu đã cho

4 Bàn luận

Tỷ lệ mắc HCCH và rối loạn các thành

tố của HCCH

Dựa theo đồng thuận chẩn đoán HCCH năm

2009 của IDF, NHLBI/AHA, WHF, IAS, IASO, nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ mắc HCCH

ở nhóm nam giới của cặp vợ chồng vô sinh là 25,1% Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Bungum A.B (2018) nghiên cứu cắt ngang với

2572 nam giới thì tỷ lệ mắc HCCH ở 2 nhóm nam giới không có con và người đã làm cha lần lượt là 26% và 22% [7], nhưng cao hơn so với các nghiên cứu của Kristel Ehala-Aleksejev và cộng sự (2018) cho tỷ lệ 17,8% [10], Lotti và cộng sự (2013) với tỷ lệ 7,7% mắc HCCH [20],

sự khác nhau này có thể do sự lựa chọn đối tượng nghiên cứu của 2 nghiên cứu trên có nhiều ràng buộc hơn như loại bỏ những đối tượng vô tinh, thiểu tinh nặng, bất thường Karyotype trong khi nhiều nghiên cứu đã cho thấy có sự gia tăng

đề kháng insulin, rối loạn lipid máu trên những nam giới có bất thường tinh dịch đồ hơn là nhóm

có các thông số tinh dịch đồ bình thường[21]

Hơn nữa độ tuổi của nhóm đối tượng nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của Ehala-Aleksejev K và cộng sự (35,27±5,74 so với 32,5±5,7) mà tỷ lệ mắc HCCH thường tăng theo tuổi [23], [25]

Tại Việt Nam theo hiểu biết của chúng tôi, cho đến nay chưa có đề tài nghiên cứu về HCCH trên những đối tượng nam giới của cặp vợ chồng

vô sinh So với Tỷ lệ mắc HCCH ở nhóm chúng tôi cao hơn nhiều so với nghiên cứu của Lê Thị Hợp và cộng sự năm 2008 nghiên cứu trên 8 vùng sinh thái trong toàn quốc cho thấy tỉ lệ mắc HCCH là 13,1%, tỷ lệ mắc HCCH ở nam giới là 10,6% [1] Sự khác biệt trên có thể nghiên cứu

có tỷ lệ HCCH thấp hơn đa số đều sử dụng tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH của IDF 2005 theo đó yêu cầu bắt buộc có thành tố vòng bụng lớn, hay tiêu chuẩn vòng bụng theo NCEP ATP III thì lớn hơn so với tiêu chuẩn theo đồng thuận mới năm

2009, bên cạnh đó những nghiên cứu trên đều được thực hiện trên quần thể dân số chung, vậy liệu rằng có mối liên hệ nào giữa vô sinh nam giới và HCCH hay không?

Trang 6

Tập 16, số 04 Tháng 06-2019

Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ

thành tố tăng triglycerid cao nhất (60,6%), tiếp

đến là thành tố tăng glucose máu( 35,1%), giảm

HDL-C (28,1%), tăng chu vi vòng bụng(24,2%)

và tăng huyết áp với tỷ lệ thấp nhất (9,5%) Tăng

Triglyceride máu cũng là thành tố hay gặp nhất

và tăng huyết áp cũng là thành tố chiếm tỷ lệ

thấp nhất trong nghiên cứu Selvaraj P và cộng sự

(2019) trên 360 nam giới từ độ tuổi 20-40 [25]

Theo Lotti F và cộng sự tỷ lệ tăng huyết áp cao

nhất, tiếp đến là giảm HDL-C, tăng triglyceride,

tăng vòng bụng và tăng glucose máu cùng gặp

ít nhất [20]

Các rối loạn chuyển hóa riêng lẽ hay phối

hợp trong HCCH đã được quan sát thấy làm giảm

khả năng sinh sản của nam giới Béo phì làm

suy giảm nguồn testosterone ở nam giới, tăng đề

kháng insulin và leptin máu từ đó làm tăng nồng

độ các chất này trong tinh dịch, cũng như tăng

các phản ứng stress oxy hóa ở người béo phì

làm tổn thương mô tinh hoàn, sự gia tăng nhiệt

độ bìu do rối loạn phân bố mỡ tất cả phối hợp

làm giảm số lượng và chất lượng tinh trùng Ở

những người đái tháo đường có ảnh gây khiếm

khuyết trong quá trình tạo ra các steroid từ tế

bào Leydig làm giảm nồng độ testosterone huyết

thanh Bệnh lí thần kinh ĐTĐ gây mất trương lực

của túi tinh, bàng quang, niệu đạo gây thất bại

trong việc phóng tinh và xuất tinh ngược dòng

Rối loạn cương cũng xuất phát từ bệnh lí thần

kinh cùng với bệnh lí mạch máu ĐTĐ Ngoài ra

ảnh hưởng của ĐTĐ đến tình trạng vô sinh nam

thông qua cơ chế bệnh học tương tự như đối với

béo phì vì gần 80% người bệnh tiểu đường tuýp

2 là béo phì và có mối tương quan mạnh mẽ giữa

béo phì, tăng glucose máu và tinh trùng bị dị tật

Rối loạn lipid máu làm tăng stress oxy hóa gây

peroxid hóa màng tinh trùng, tăng huyết áp được

biết đến là một yếu tố nguy cơ cao của rối loạn

cương dương [18] Trong nghiên cứu gần đây

của Lotti F và cộng sự (2012) cho thấy sự không

đồng nhất của mô tinh hoàn liên quan với sự gia

tăng các thành tố của HCCH, testosterone toàn

phần thấp ở những nam giới có HCCH, cũng như

hình thái tinh trùng, sự di dộng tinh trùng tương

quan âm tính với số lượng thành tố của HCCH

[20] Năm 2018, Ehala-Aleksejev K cho thấy

rằng tỷ lệ mắc HCCH ở nam giới vô sinh cao hơn

so với nam giới của cặp vợ chồng không vô sinh (17,8% so với 12%), nồng độ glucose máu cao cũng như mức insulin cao hơn ở nhóm nam giới

vô sinh có HCCH so với nhóm nam giới không vô sinh hay vô sinh mà không có HCCH Lotti F và cộng sự (2012) cho thấy sự gia tăng các thành

tố của HCCH liên quan đến sự giảm đồng nhất của mô tinh hoàn, testosterone toàn phần thấp

ở những nam giới có HCCH, cũng như hình thái tinh trùng, sự di dộng tinh trùng tương quan âm tính với số lượng thành tố của HCCH [20] Nghiên cứu của chúng tôi còn hạn chế ở việc không có nhóm quần thể đối chứng là nhóm nam giới của cặp vợ chồng có khả năng sinh sản bình thường Như vậy đặt vấn đề là nam giới vô sinh

là đối tượng cần sàng lọc chẩn đoán HCCH, can thiệp sớm giúp cải thiện tình trạng sức khỏe chung mà còn hỗ trợ được khả năng sinh sản, tuy nhiên cần có nhiều hơn đề tài nghiên cứu thêm vai trò của HCCH trên chức năng sinh sản nam giới tại Việt Nam

Các yếu tố liên quan đến HCCH

Sự tích lũy các yếu tố nguy cơ trong suốt cuộc sống bao gồm sự thừa năng lượng nạp vào, rối loạn lipid máu, lối sống ít vận động, suy giảm chức năng bài tiết của tế bào β đảo tụy theo tuổi (giảm khoảng 1% mỗi năm) và béo phì làm tăng nguy cơ mắc HCCH tuổi [24] Theo nghiên cứu của chúng tôi nhóm có HCCH tuổi trung bình lớn hơn nhóm không có HCCH (p<0,01) Nhóm tuổi

có liên quan đến hội chứng chuyển hóa, trong

mô hình hồi quy logistic đa biến cũng tìm được mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi và HCCH, có thể kết luận tuổi ≥36 là yếu

tố nguy cơ độc lập của HCCH với OR=2,04 (KTC 95% 1,09-4,10) Theo Hildrum và cộng sự (2007) nghiên cứu trên 10.026 đối tượng từ 20-89 tuổi, cho thấy tỷ lệ mắc HCCH là 11% ở nhóm tuổi 20-29, tăng lên đến 47,2% ở nhóm tuổi 80-89 Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhóm tuổi càng cao tỷ lệ mắc HCCH càng lớn [23], [25] Trong đó có sự tăng dần theo nhóm tuổi về tỷ lệ tăng vòng bụng, tăng huyết áp, tăng glucose máu [17]

Nghiên cứu trên những đối tượng nam giới

vô sinh cũng cho kết luận tương tự [7], [20]

Trang 7

121 Tập 14, số 04 Tháng 05-2016

121

Nam giới tuổi lớn hơn có sự suy giảm khả năng

sinh sản so với nam giới trẻ tuổi hơn Theo Ford

và cộng sự việc thụ thai trong thời gian 12 tháng

ở nam giới trên 40 tuổi ít hơn 30% so với nam

giới dưới 30 tuổi Hầu hết sự giảm hoạt động

tình dục, rối loạn chức năng cương dương, kèm

suy giảm thể tích tinh dịch, mật độ giảm vận

động của tinh trùng bất thường hình thái cũng

có sự gia tăng theo tuổi [15] Do vậy có thể tuổi

tác thông qua trung gian là các rối loạn chuyển

hóa ảnh hưởng lên chức năng sinh sản ở nam

giới Nghiên cứu của chúng tôi còn hạn chế là

chưa đánh giá được tác động của các rối loạn

chuyển hóa trên chức năng tình dục và sinh sản

ở nam giới

Béo phì được đánh giá qua các chỉ số BMI,

tỷ số VM/VM, VB/CC, từ lâu đã được biết đến

là yếu tố nguy cơ cho bệnh lí toàn thân đặc biệt

bệnh lí tim mạch, đái tháo đường Gần đây là

đóng vai trò quan trọng trong nguyên nhân ra

ra vô sinh nam giới [18] Trong nghiên cứu của

chúng tôi tỷ lệ mắc HCCH ở nhóm có BMI ≥23 kg/

13,4% Tỷ lệ mắc HCCH ở nhóm có tỷ số VB/VM

>0,9 cũng cao hơn nhóm có VB/VM ≤0,9 (41,1%

so với 14,9%), nhóm có tỷ số VB/CC lớn cũng

làm tăng tỷ lệ mắc HCCH (37,7% so với 9,0%),

các sự khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê với

p<0,05 Nhóm mắc HCCH có giá trị trung bình

các chỉ số trên cao hơn nhóm không có HCCH với

p<0,05 Trong mô hình hồi quy nhị phân đa biến

cho thấy nhóm có chỉ số BMI, tỷ số VM/VM, VB/

CC cao là các yếu tố nguy cơ độc lập với HCCH

Trong đó Tỷ số VB/CC ≥ 0,5 có nguy cơ mắc

HCCH cao nhất với OR=2,9, KTC 95% 1,16-7,28

Diện tích dưới đường cong ROC của chỉ số

vòng bụng (81,2%), tỷ số VB/CC (79,0%) lớn

hơn so với chỉ số BMI (71,6%) và tỷ số VB/VM

(70,5%), như vậy theo nghiên cứu của chúng tôi

giá trị dự báo khả năng mắc HCCH của chỉ số

vòng bụng cao nhất (với điểm cắt 89,5 cm),

tiếp đến là tỷ số VB/CC (điểm cắt 0,54), BMI

mắc HCCH của tỷ số VB/VM thấp nhất (điểm cắt

0,9) Có nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng tỷ

số VB/CC có giá trị hơn các chỉ số khác đánh

giá béo phì khác( BMI, VB/VM) trong dự báo

mắc HCCH [9] Tuy nhiên do cách đo chỉ số vòng bụng khó đo chính xác hơn nên chưa được sử dụng rộng rãi trên lâm sàng so với BMI để đánh giá béo phì Các giá trị điểm cắt về BMI và vòng bụng cũng như tỷ số VB/VM của chúng tôi tương

tự như các giá trị quốc tế được khuyến cáo cho người Châu Á, còn điểm cắt của tỷ số VB/CC chưa được khuyến cáo rõ ràng Các điểm cắt này khác nhau ở một số nghiên cứu khác [26] Trong khi đó kháng insulin là trung tâm của HCCH, nên tôi cũng đề nghị tiếp tục sử dụng các chỉ

số nhân trắc đặc biệt là chỉ số vòng bụng, tỷ số VB/CC để dự báo khả năng mắc HCCH, cũng như khuyến cáo những người có tình trạng béo phì cần thay đổi lối sống tích cực hơn và phòng ngừa các bệnh lí tiểu, đường tim mạch và chuyển hóa Nghiên cứu của chúng tôi còn hạn chế bởi

vì đây là nghiên cứu cắt ngang do đó không thể đánh giá được nhân quả giữa các chỉ số béo phì

và hội chứng chuyển hóa, và được thực hiện trên nhóm đối tượng nhỏ là những người nam của cặp vợ chồng vô sinh

Việc hút thuốc có thể làm tăng nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa Người hút thuốc chủ động thường có tình trạng kháng insulin và tăng insulin máu nghiêm trọng hơn, có thể làm tăng nguy cơ mắc ĐTĐ týp II [31] Tác động của việc hút thuốc

lá đối với chuyển hóa glucose và lipid có thể một phần là do kích thích hệ thần kinh giao cảm [32]

và tăng nồng độ hormone đối kháng insulin, như cortisol và hormone tăng trưởng [30] làm tình trạng kháng insulin trầm trọng hơn có thể gây

ra tích mỡ nội tạng và tăng chu vi vòng eo Ở nam giới mỡ nội tạng tăng khi giảm nồng độ testosterone huyết tương, hút thuốc lá có thể làm giảm nồng độ hoocmon này [5], [6] Ngừng hút thuốc làm giảm triglyceride và cải thiện độ nhạy insulin và LDL-C [16]

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi, có 40,6%

đối tượng hút thuốc lá, tỷ lệ mắc HCCH ở nhóm nam giới hút thuốc lá cao hơn so với nhóm nam giới không hút thuốc lá (26,6% so với 24,1%), tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p>0,05 Theo Kan Sun và cộng sự (2012) dựa trên dữ liệu từ 13 nghiên cứu thuần tập tương lai (56.691 người tham gia; 8.688 trường hợp mắc hội chứng chuyển hóa), những người hút thuốc

Trang 8

Tập 16, số 04 Tháng 06-2019

chủ động có nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa

tăng 26% so với những người không hút thuốc, có

mối liên quan đáng kể giữa hút thuốc chủ động

và nguy cơ mắc hội chứng chuyển hóa (RR=1,26,

KTC 95%: 1,10 -1,44) [27] Hút thuốc lá ở nam

làm tăng nguy cơ xuất hiện HCCH (OR=1,5; 95%

Cl:1,1-2,2) , đồng thời là yếu tố nguy cơ độc lập

cho sự phát triển của hội chứng chuyển hóa , liên

quan đến LDL-C, tăng chu vi bụng và tăng mức

độ TG, theo Bermudez V (2018) [6]

Nghiên cứu của chúng tôi còn hạn chế vì dữ

liệu về tình trạng hút thuốc dựa trên tự khai, nguy

cơ mắc hội chứng chuyển hóa có thể bị đánh giá

thấp nếu người tham gia không báo cáo hợp lý

thói quen hút thuốc lá Cần đánh giá thêm độ

tin cậy của thói quen hút thuốc do bệnh nhân tự

báo cáo bằng đánh giá tương quan với giá trị

carbon monoxide thở ra [13] Định nghĩa có thói

quen hút thuốc lá của chúng tôi khác so với một

số nghiên cứu khác

Tác động của rượu, bia đối với HCCH chưa

rõ ràng Tiêu thụ rượu mức độ từ nhẹ đến trung

bình, đặc biệt tiêu thụ rượu trong bữa ăn tác

động có lợi đến HCCH cũng như giảm nguy cơ

tim mạch và tử vong, trong khi đó uống rượu

mức độ nặng hay tiêu thụ rượu ngoài bữa ăn có

liên quan đến nguy cơ gia tăng các bệnh lí trên

Tác dụng bảo vệ tim mạch của việc uống rượu

có thể hoạt động thông qua một loạt các cơ chế,

bao gồm tác dụng chống viêm, ức chế kết tập

tiểu cầu và thay đổi chuyển hóa lipid giảm thấp

các chất chỉ điểm viêm như fibrinogen, protein

phản ứng C (CRP), bạch cầu và tốc độ lắng máu

(VSS) Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tiêu

thụ rượu vừa phải làm giảm nồng độ IL-6, IL-8,

TNF-α , làm tăng giải phóng oxit nitric từ nội mô,

tăng HDL-C [28]

Theo nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ mắc

HCCH ở những người có thói quen uống rượu

bia là 25,8% không khác biệt nhiều so với nhóm

không uống rượu ( 25,0%), p>0,05 Một phân

tích tổng hợp gần đây đã cho thấy rằng so với

những người không uống rượu, người tiêu thụ đồ

uống có cồn nhẹ (≤5g/ngày) có liên quan đến

nguy cơ mắc hội chứng thấp hơn (RR = 0,86,

KTC 95% 0,75 -0,99), trong khi tiêu thụ quá mức

(>35g/ngày) có nguy cơ cao hơn (RR = 1,84, KTC

95% 1,34-2,52) [28] Theo Bruna Angelo Vieira (2016) tiêu thụ nhẹ đồ uống có cồn trong bữa ăn

có liên quan nghịch với hội chứng chuyển hóa (≤4 ly/tuần: OR = 0,85, KTC95% 0,74-0,97; 4 đến 7 ly/tuần: OR = 0,75, KTC 95% 0,61-0,92),

so với kiêng hoặc uống thường xuyên Mặt khác, tiêu thụ nhiều rượu hơn và tiêu thụ ngoài bữa

ăn có liên quan đáng kể đến hội chứng chuyển hóa (7 đến 14 ly/tuần: OR = 1,32, KTC 95% 1,11-1,57; ≥14 ly/tuần: OR = 1,60, 95 % CI 1,29-1,98), p<0,05 [29] Một nghiên cứu khác

đã điều tra ảnh hưởng của thời điểm tiêu thụ đối với các bữa ăn đối với các thành phần hội chứng chuyển hóa báo cáo: tỷ lệ tăng huyết áp ở người

Ý không uống rượu (42,8%) và người Mỹ (40,4%) cao hơn so với những người uống rượu trong bữa

ăn (36,6% và 39,8%), nhưng không cao hơn so với những người uống rượu bên ngoài bữa ăn (42,8% và 41,4%) [8]

Hạn chế của nghiên cứu chúng tôi là không phân loại được các đồ uống có cồn vì mỗi loại được cho là có ảnh hưởng khác nhau lên chuyển hóa cũng như không đánh giá thời điểm uống rượu chủ yếu có liên quan đến bữa ăn hay không cũng không phân mức độ sử dụng chất có cồn nên kết quả có thể khác nhau đồng thời đánh giá tác động của nó lên chuyển hóa còn chưa chi tiết rõ ràng

Sử dụng rượu bia và thuốc lá ngoài việc tác động tiêu cực lên chuyển hóa toàn thân cũng đã được chứng minh làm suy giảm chất lượng tinh dịch đồ [4], [10] Do đó tư vấn bỏ thuốc lá, hạn chế lượng rượu tiêu thụ cần được thực hiện cho toàn dân đặc biệt là nhóm nam giới vô sinh

5 Kết luận

Tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa ở nam giới các cặp vợ chồng vô sinh chiếm tỷ lệ đáng kể

Số đo vòng bụng ≥90 cm và tỷ số vòng bụng/ chiều cao ≥ 0,54 có giá trị dự báo khá tốt nguy

cơ mắc hội chứng chuyển hóa, giá trị dự báo cao hơn so với chỉ số BMI và tỷ số vòng bụng/ vòng mông ở nhóm nam giới đến khám vô sinh Cần có chiến lược tiếp cận sớm hơn để hạn chế ảnh hưởng của HCCH lên khả năng sinh sản của nam giới

Trang 9

123 Tập 14, số 04 Tháng 05-2016

123

Tài liệu tham khảo

1 Lê Thị Hợp, Lê Bạch Mai,Nguyễn Công Khẩn (2008), "Tình trạng

béo phì và hội chứng chuyển hóa ở Việt Nam", Tạp chí Dinh dưỡng

và thực phẩm 4

2 Nguyễn Viết Tiến (2013), ”Cập nhật về hỗ trợ sinh sản”, Báo cáo tại

hội thảo quốc tế, Hà Nội,

3 Sanjay Kumar, et al (2015), "Association of Male Infertility to

Metabolic Syndrome and Other Related Disorders", Journal of Integrative

Nephrology and Andrology 2 (4).107-116.

4 Anifandis G., et al (2014), "The impact of cigarette smoking

and alcohol consumption on sperm parameters and sperm DNA

fragmentation (SDF) measured by Halosperm((R))", Arch Gynecol

Obstet 290 (4).pp 777 - 82.

5 Bassey I E., Gali R M.,Udoh A E (2018), "Fertility hormones and

vitamin E in active and passive adult male smokers in Calabar, Nigeria",

PLoS One 13 (11).pp e0206504.

6 Bermudez V., et al (2018), "Cigarette smoking and metabolic

syndrome components: a cross-sectional study from Maracaibo City,

Venezuela", F1000Res 7 pp 565.

7 Bungum A B., et al (2018), "Risk of metabolic disorders in childless

men: a population-based cohort study", BMJ Open 8 (8).pp e020293.

8 Della Valle E., et al (2009), "Drinking habits and health in

Northern Italian and American men", Nutr Metab Cardiovasc Dis 19

(2).pp 115 - 22.

9 Dong J., et al (2019), "Optimal Cut-off Point of Waist to Height Ratio in

Beijing and Its Association with Clusters of Metabolic Risk Factors", Curr

Med Sci 39 (2).pp 330 - 336.

10 Ehala-Aleksejev K.,Punab M (2018), "The effect of metabolic

syndrome on male reproductive health: A cross-sectional study in a group

of fertile men and male partners of infertile couples", PLoS One 13 (3).

pp e0194395.

11 Eisenberg M., et al (2016), Diabetes, medical comorbidities and

couple fecundity,

12 Elsamanoudy A.Z., et al (2016), "Spermatozoal cell death-inducing

DNA fragmentation factor-α-like effector A (CIDEA) gene expression and

DNA fragmentation in infertile men with metabolic syndrome and normal

seminogram", Diabetology & metabolic syndrome 8 pp 76 -76.

13 Frei M., et al (2012), "Assessment of smoking behaviour in the dental

setting A study comparing self-reported questionnaire data and exhaled

carbon monoxide levels", Clin Oral Investig 16 (3).pp 755 - 60.

14 Guo D., et al (2017), "Hypertension and Male Fertility", The world

journal of men's health 35 (2).pp 59 - 64.

15 Harris Isiah D., et al (2011), "Fertility and the aging male", Reviews

in urology 13 (4).pp e184 - e190.

16 He Y., et al (2009), "Combined effects of tobacco smoke exposure

and metabolic syndrome on cardiovascular risk in older residents of

China", J Am Coll Cardiol 53 (4).pp 363 - 71.

17 Hildrum Bjørn, et al (2007), "Age-specific prevalence of the metabolic

syndrome defined by the International Diabetes Federation and the National Cholesterol Education Program: the Norwegian HUNT 2 study", BMC public health 7 pp 220 - 220.

18 Kumar S., et al (2015), "Association of Male Infertility to Metabolic

Syndrome and Other Related Disorders", Journal of Integrative Nephrology and Andrology 2 (4).pp 107-116.

19 Leisegang K., et al (2014), "Effect of the metabolic syndrome on

male reproductive function: a case-controlled pilot study", Andrologia 46 (2).pp 167 - 76.

20 Lotti F., et al (2013), "Seminal, ultrasound and psychobiological

parameters correlate with metabolic syndrome in male members of infertile couples", Andrology 1 (2).pp 229 - 39.

21 Mansour R., et al (2017), "Increased insulin resistance in men with

unexplained infertility", Reproductive BioMedicine Online 35 (5).pp 571 - 575.

22 O'Neill S.,O'Driscoll L (2015), "Metabolic syndrome: a closer look at

the growing epidemic and its associated pathologies", Obes Rev 16 (1).

pp 1-12.

23 Pico S M., Bergonzoli G.,Contreras A (2019), "Risk factors

associated with the metabolic syndrome in Cali, Colombia (2013): A case-control study", Biomedica 39 (1).46-54.

24 Razzouk L.,Muntner P (2009), "Ethnic, gender, and age-related

differences in patients with the metabolic syndrome", Curr Hypertens Rep

11 (2).pp 127 - 32.

25 Selvaraj P.,Muthunarayanan L (2019), "Prevalence of Metabolic

Syndrome and Associated Risk Factors among Men in a Rural Health Centre Area in Tamil Nadu", J Lifestyle Med 9 (1).pp 44 - 51.

26 Sinaga M., et al (2018), "Optimal cut-off for obesity and markers of

metabolic syndrome for Ethiopian adults", Nutr J 17 (1).pp 109.

27 Sun Kan, Liu Jianmin,Ning Guang (2012), "Active smoking and risk of

metabolic syndrome: a meta-analysis of prospective studies", PloS one 7 (10).pp e47791-e47791.

28 Sun K., et al (2014), "Alcohol consumption and risk of metabolic

syndrome: a meta-analysis of prospective studies", Clin Nutr 33 (4).pp

596 - 602.

29 Vieira B A., et al (2016), "Timing and Type of Alcohol Consumption

and the Metabolic Syndrome - ELSA-Brasil", PloS one 11 (9).pp

e0163044-e0163044.

30 Wilkins J N., et al (1982), "Nicotine from cigarette smoking increases

circulating levels of cortisol, growth hormone, and prolactin in male chronic smokers", Psychopharmacology (Berl) 78 (4).pp 305 - 8.

31 Willi C., et al (2007), "Active smoking and the risk of type 2 diabetes:

a systematic review and meta-analysis", Jama 298 (22).pp 2654 - 64.

32 Williamson D F., et al (1991), "Smoking cessation and severity of

weight gain in a national cohort", N Engl J Med 324 (11).pp 739 - 45.

33 World Health Organization Department of Reproductive Health and

Research (2010), Laboratory Manual for the Examination and Processing

of Human Semen, Geneva,

Ngày đăng: 02/11/2020, 22:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w