1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá giá trị ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai nhi ở mức bách phân vị thứ ba so với tuổi thai trong chẩn đoán, tiên lượng kết cục thai kỳ thai kém phát triển

7 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 348,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày xác định giá trị ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai nhi ở mức bách phân vị thứ 3 so với tuổi thai trong chẩn đoán và tiên lượng thai kém phát triển.

Trang 1

Nguyễn Trần Thảo Nguyên, Võ Văn Đức, Cao Ngọc Thành

Đại học Y Dược Huế

ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ NGƯỠNG CẮT ƯỚC LƯỢNG

TRỌNG LƯỢNG THAI NHI Ở MỨC BÁCH PHÂN VỊ

THỨ BA SO VỚI TUỔI THAI TRONG CHẨN ĐOÁN,

TIÊN LƯỢNG KẾT CỤC THAI KỲ THAI KÉM PHÁT TRIỂN

Tác giả liên hệ (Corresponding author):

Nguyễn Trần Thảo Nguyên,

email: nguyen.ngtran@gmail.com

Ngày nhận bài (received): 08/06/2018

Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised):

25/06/2018

Ngày bài báo được chấp nhận đăng

(accepted): 29/06/2018

Từ khóa: thai nhẹ cân, thai

kém phát triển, bách phân vị.

Keywords: small-gestational

age, intrauterine growth

restriction, percentile.

Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định giá trị ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai nhi

ở mức bách phân vị thứ 3 so với tuổi thai trong chẩn đoán và tiên lượng thai kém phát triển

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 74 sản phụ có tuần thai ≥ 28 tuần được chẩn đoán thai kém phát triển có trọng lượng thai nhỏ hơn bách phân vị thứ 10 so với tuổi thai, điều trị tại Khoa Phụ Sản, Bệnh viện Đại học Y Dược Huế từ 05/2016 đến 05/2017

Kết quả: Nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3 rd tăng tần suất rối loạn tăng huyết áp thai kỳ so với nhóm ước lượng trọng lượng thai nhi

từ 3rd – 10th Thai phụ có thiếu máu, có tiếp xúc hút thuốc lá thụ động

sẽ tăng nguy cơ thai có trọng lượng dưới bách phân vị thứ ba lần lượt

là 1,18 lần (RR = 1,18, 95% CI (0,58 – 2,38), p = 0.036) và 1,46 ( RR

= 1,46, 95% CI 1,24 – 1,71); Nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi <

3rd tăng nguy cơ bất thường động mạch rốn, ống tĩnh mạch so với nhóm

có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3 rd – 10 th với RR lần lượt là 1,61 và 1,58 Nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3 rd có MPI cao hơn so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi 3 rd - 10 th ( 0,66 ± 0,30 so với 0,51 ± 0,12) Nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3 rd percentile đều tăng nguy cơ kết cục thai kỳ bất lợi so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3 rd - 10 th percentile, bao gồm tăng nguy cơ chỉ số APGAR <

7 ở phút thứ nhất, tăng nguy cơ chỉ số APGAR < 7 ở phút thứ năm, tăng nguy cơ chết tiền sinh so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ

3 rd – 10 th percentile với RR lần lượt là 2,02, 2,25 và 2,31

Kết luận: Nghiên cứu cho thấy có những biến đối về mặt lâm sàng cũng như kết cục thai kỳ ở ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai nhi ngang mức bách phân vị thứ 3 sơ với tuổi thai Điều này sẽ giúp các bác

sĩ lâm sàng có những tư vấn và quản lý thai kỳ nhóm thai có trọng lượng

< 10 th percentile thích hợp hơn.

Từ khóa: thai nhẹ cân, thai kém phát triển, bách phân vị.

Trang 2

SẢN KHOA – SƠ SINH

Abstract

ASSESSMENT OF THE CUT - OFF VALUES OF SONOGRAPHIC ESTIMATED

INTRAUTERINE GROWTH RESTRICTION

Objectives: To identify the value of cut-off sonographic-estimated fetal weight at 3rd percentile in diagnosis and prognosis in pregnancies complicated by fetal growth restriction

Materials & Methods: A cross-sectional study was conducted on 74 cases of intrauterine growth restriction with an estimated fetal weight less than 10th percentile, at Departement of Obstetric and Gynecology of Hue University of Medicine and Pharmacy from 05/2016 – 05/2017

Results: Fetuses with estimated fetal weight below the 3 rd had higher rates of hypertensive disorders of pregnancy; anemia (RR = 1,18, 95% CI (0.58 – 2.38)); secondhand smoke (RR = 1.46, 95% CI (.24 – 1.71)); abnormal umbilical artery Doppler wareforms (RR = 1.61); abnormal ductus venous Doppler wareforms ( RR = 1.58) MPI was higher at the group of fetuses had estimated fetal below the 3 rd percentile ( 0.66 ± 0.30 so với 0.51 ± 0.12) Fetuses with estimated fetal weight below the 3 rd had higher rates of Apgar scores of less than 7 at 1 minute ( RR = 2.02 ); Apgar scores of less than 7 at 5 minutes ( RR = 2.25 ); prenatal death (RR = 2.31)

Conclusions: Studies show that there were differences about clinical and pregnancy outcomes at cut-off of sonographic-estimated fetal weight at 3 rd percentile This will help clinicians in counseling and management of pregnancy with sonographic-estimated fetal weight below 10 th percentile.

Key words: small-gestational age, intrauterine growth restriction, percentile

1 Đặt vấn đề

Thai chậm phát triển trong tử cung là tình trạng

thai nhi thiếu dinh dưỡng xảy ra từ khi còn bào

thai Tỷ lệ thai chậm phát triển khoảng 5-10% trên

tổng số thai kỳ Đây là nguyên nhân đưa đến nhiều

kết cục chu sinh bất lợi, thậm chí ảnh hưởng đến

thời kỳ trưởng thành của thai nhi Thai kém phát

triển có các dạng biểu hiện lâm sàng: thai kém

phát triển, thai nhẹ cân [3], [5], [13] Trên y văn

cũng như trong những hướng dẫn của các Hiệp hội

sản phụ khoa, ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng

thai nhi < 10th percentile được sử dụng để chẩn

đoán thai nhẹ cân và thai kém phát triển [4], [10]

Tuy nhiên, những nghiên cứu cũng như những

bài tổng quan trong những năm gần đây cho thấy

rằng cần có sự phân biệt giữa thai nhẹ cân và thai

kém phát triển, vì trong nhóm thai có ước lượng

trọng lượng < 10th vẫn có những thai nhi chỉ nhẹ cân

đơn thuần, không kèm theo những biến đổi bệnh lý [6], [12], [15] Điều này đặt ra câu hỏi cho những nhà nghiên cứu cũng như bác sĩ sản khoa trong nhận dạng thai kém phát triển Để tiệm cận hơn với nhóm thai kém phát triển thật sự là nhóm thai

có tình trạng hạn chế tăng trưởng kèm những biến đổi trên doppler cho thấy có sự tái phân bố tuần hoàn đáp ứng lại với tình trạng suy dinh dưỡng, thiếu oxy cũng như những biến đổi bệnh lý của bánh nhau hay trong những trường hợp có yếu tố nguy

cơ kèm theo như bệnh lý tiền sản giật, ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd được đưa vào nghiên cứu và những bài tổng quan cập nhật về thai kém phát triển [3], [6] Việc chẩn đoán thai kém phát triển không thể chỉ dựa vào một tiêu chuẩn hoặc cân nặng hoặc biến đổi doppler động mạch rốn, động mạch não giữa hay chỉ số não nhau mà cần có sự kết hợp giữa những tiêu chuẩn này Ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu đánh giá ý nghĩa ngưỡng

Trang 3

cắt ước lượng trọng lượng thai nhi < 3th trong nhận

dạng thai kém phát triển, lí do nghiên cứu chúng

tôi lựa chọn ngưỡng cắt 3th percentile để thực hiện

nghiên cứu “Đánh giá giá trị ngưỡng cắt ước lượng

trọng lượng thai nhi ở bách phân vị thứ ba trong

chẩn đoán và tiên lượng kết cục thai kỳ thai kém

phát triển” với mục tiêu: Xác định ý nghĩa giá trị

ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai nhi ở mức

bách phân vị thứ 3 so với tuổi thai trong chẩn đoán

và tiên lượng thai kém phát triển

2 Đối tượng và phương

pháp nghiên cứu

2.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu

74 sản phụ mang thai đơn thai ≥ 28 tuần có ước

lượng trọng lượng thai nhi trên siêu âm dưới bách

phân vị thứ 10 theo tuổi thai nhập viện và điều trị

tại khoa Phụ Sản - Bệnh viện trường Đại học Y Dược

Huế từ tháng 5/2016 đến tháng 5 năm 2017

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Đa thai

- Sau sinh có trọng lượng trên bách phân vị thứ

10 so với tuổi thai

- Mất dấu trong quá trình theo dõi

2.2 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu mô tả cắt ngang

- Các bước tiến hành

+ Thu thập thông tin bệnh sử và tiền sử: Số

lần mang thai, tiền sử mang thai kém phát triển,

cân nặng trước khi mang thai, tăng cân trong thai

kỳ, hút thuốc thụ động

+ Khám lâm sàng: Xác định tuổi mẹ, chiều

cao, cân nặng mẹ, chỉ số BMI, cân nặng bố, đo huyết

áp, xét nghiệm công thức máu xác định chỉ số HGB;

xác định tuổi thai ngày đầu kỳ kinh nguyệt nếu kinh

nguyệt đều hoặc theo siêu âm trong ba tháng đầu

+ Thực hiện test không đã kích: Xác định

kết quả NST bình thường, nghi ngờ hay bất thường

theo tiêu chuẩn của FIGO [1]

+ Siêu âm hai chiều:

Tiến hành đo các thông số sinh trắc học của thai nhi: đường kính lưỡng đỉnh, chu

vi đầu, chu vi bụng và xương đùi

Trọng lượng thai nhi được tính theo công thức Hadlock dựa trên các thông số sinh

trắc học thai nhi Ghi nhận chỉ số cân nặng và

xác định bách phân vị thai nhi ≤ 3rd percentile,

từ 3rd – 10th theo tiêu chuẩn biểu đồ phát triển INTERGROWTH-21st [10]

Xác định chỉ số AFI: Cạn ối nếu AFI < 2 cm, Thiếu ối nếu 2 cm < AFI < 5cm; Nước ối bình thường: 5 cm < AFI < 25 cm

+ Siêu âm doppler: doppler động mạch rốn, động mạch não giữa, ống tĩnh mạch, chỉ

số hiệu suất cơ tim (MPI); xác định chỉ số PI của doppler động mạch rốn, động mạch não giữa và ống tĩnh mạch; xác định hình thái bất thường của doppler động mạch rốn, ống tĩnh mạch

+ Theo dõi và ghi nhận kết cục thai kỳ:

tuần thai kết thúc thai kỳ; Phương pháp sinh: sinh đường âm đạo, sinh mổ chủ động, mổ cấp cứu;

Trọng lượng thai nhi; Chỉ số Apgar sau sinh ở phút thứ 1 và phút thứ 5; Tình trạng thai nhi: Sống, chết tiền sinh trong buồng tử cung, chết thời kỳ sơ sinh;

Nhập viện điều trị tại đơn vị sơ sinh

2.3 Xử lý số liệu: Phân tích số liệu bằng

phần mềm IBM SPSS Statistic 20.0

3 Kết quả nghiên cứu

3.1 Một số đặc điểm và yếu tố nguy

cơ mẹ có thai kém phát triển

Không có sự khác biệt về trung bình tuổi mẹ

và BMI trước mang thai ở nhóm ước lượng trọng lượng thai nhi nhỏ hơn BPV thứ 3 và nhóm BPV

3rd – 10th (27,7 ± 5,3 vs 26,3 ± 4,7 và 20,2 ± 2,9

vs 19,7 ± 2,3)

BMI trước khi có thai 20,2 ± 2,9 19,7 ± 2,3 Tăng cân trong thai kỳ 10,8 ± 3,7 10,5 ± 4,6 Chiều cao trung bình của mẹ (cm) 150,5 ± 5,5 152,6 ± 5,2 Chiều cao trung bình của bố (cm) 164,3 ± 10,0 164,5 ± 6,0

Rối loạn tăng huyết áp Cókhông 16 (31,37%) 6 (26,08%) 1,19 0,55 – 35 (68,63%) 17 (73,92%) 2,6 0,65 Hút thuốc thụ

động Cókhông 15 (29,41%) 8 (34,78%) 1,18 0,58 – 36 (70,59%) 15 (65,22%) 2,38 0,036

TS có thai kém phát triển Cókhông 43 (84,31%) 22 (95,65%)8 (15,68%) 1 (4,35%) 1,34 1,00 – 1,80 0,3

Hb < 10 g/dL Thiếu máuKhông thiếu máu 493 220 1,45 1,24 – 1,71 Bảng 3.1 So sánh đặc điểm của mẹ và một số yếu tố nguy cơ

Trang 4

PI trung bình động mạch não giữa nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3th thấp hơn so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi 3rd – 10th Tần suất bất thường doppler ống tĩnh mạch (mất sóng a hoặc đảo ngược sóng a) cao ở nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd với ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd tăng nguy cơ bất thường doppler ống tĩnh mạch gấp 1,58 lần so với nhóm

có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd – 10th, 95% CI (0,35 – 7,02) Không có sự khác biệt về chỉ số PI trung bình ống tĩnh mạch giữa hai nhóm (0,77 ± 0,51 so với 0,80 ± 0,30) Có sự khác biệt

về chỉ số MPI giữa hai nhóm, nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd có MPI cao hơn so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi 3rd - 10th (0,66 ± 0,30 so với 0,51 ± 0,12)

3.3 Kết cục thai kỳ thai kém phát triển

Không có sự khác biệt giữa hai nhóm ở tuần thai kết thúc thai kỳ ( 38,51 ± 2,35 so với 37,65

± 1,80) Có sự khác biệt về phương pháp sinh giữa hai nhóm: nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd tăng nguy cơ mổ lấy thai gấp 1,35 lần so với nhóm có ước lượng trọng lượng từ 3rd

- 10th ( RR = 1,35, 95% CI (0,84 – 2,17), p = 0,26) Nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi

< 3rd tăng nguy cơ có chỉ sô IA < 7 ở phút thứ 1

và chỉ số IA < 7 ở phút thứ 5 so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi 3rd – 10th với RR lần lượt

là 2,02 và 2,25 Nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd tăng nguy cơ nhập viện điều trị khoa

sơ sinh và tăng nguy cơ chết tiền sinh so với nhóm

có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd – 10th với

RR lần lượt là 1,25 và 2,31

Chúng tôi nhận thấy ở nhóm ước lượng trọng

lượng thai nhi < 3rd percentile, tỷ lệ mẹ có rối loạn

tăng huyết áp, tiếp xúc thuốc lá thụ động, tiền sử

thai kém phát triển và có tình trạng thiếu máu thai

kỳ cao hơn nhóm ước lượng trọng thai nhi có BPV

3rd – 10th Thai phụ có thiếu máu, có tiếp xúc hút

thuốc lá thụ động sẽ tăng nguy cơ thai có trọng

lượng dưới bách phân vị thứ ba lần lượt là 1,18 lần

(RR = 1,18 (0,58 – 2,38)) và 1,46 lần ( RR = 1,46

(1,24 – 1,71))

3.2 Một số đặc điểm thai kỳ và siêu

âm doppler

Có sự khác biệt về tần suất test không đả kích

nghi ngờ hoặc bất thường ở nhóm ước lượng trọng

lượng thai nhi < 3rd so với nhóm có trọng lượng

thai từ 3th - 10th ( 90.19% so với 65,22%, p <

0.05) Nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi

< 3rd tăng nguy cơ bất thường NST gấp 1,38

lần so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai

3rd - 10th ( RR = 1,38, 95% CI 1, động mạch rốn

của nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd

cao hơn so với nhóm có ước lượng trọng lượng

01 – 1,89, p < 0.02) PI trung bình thai nhi từ

3rd - 10th ( 1,18 ± 0,49 so với 1,00 ± 0,23); tần

suất bất thường doppler động mạch rốn cũng cao

hơn so với nhóm ước lượng trọng lượng thai nhi

từ 3rd – 10th (49,02% so với 30,43%); nhóm có

ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd tăng nguy cơ

bất thường động mạch rốn gấp 1,61 lần so với

nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd –

10th (RR = 1,61, 95% CI (0,81 – 3,72), p = 0,21)

Một số đặc điểm thai kỳ trên lâm

th

th - 10 th

NST Bình thườngNghi ngờ/ Bất thường 46 (90,19%) 15 (65,22%)5 (9,81%) 8 (34,78%) 1,38 1,01 – 1,89 0,02

Nước ối Bình thườngThiểu ối/Cạn ối 36 (70,59%) 17 (73,91%) 1,12 0,50 – 15 (29,41%) 6 (26,09%) 2,53 0,76

Động mạch

rốn

PI 1,18 ± 0,49 1,00 ± 0,23

1,61 0,81 – 3,72 0,21

Bình thường 26 (50,98%) 16 (69,56%) Bất thường Tăng trở

kháng/Mất sóng tâm trương/ Đảo ngược sóng tâm trương

25 (49,02%) 7 (30,43%)

ĐM não giữa PI 1,53 ± 0,51 1,69 ± 0,40

Ống tĩnh

mạch

Bình thường 44 (86,27%) 21 (91,30%)

1,58 0,35 – 7,02 0,05

Mất sóng a / Đảo ngược sóng a 7 (13,72%) 2 (8,70%)

PI 0,77 ± 0,51 0,80 ± 0,30

Bảng 3.2 So sánh một số đặc điểm thai kỳ trên CTG và siêu âm

Tuần thai 38,51 ± 2,35 37,65 ± 1,80 Trọng lượng thai (gr) 2155 ± 470 2330 ± 304 Phương pháp

sinh

Sinh AD 18 (35,29%) 12 (52,17%) 1,35 (0,84

– 2,17) 0,26

Mổ chủ động/Mổ cấp cưu 33 (64,70%) 11 (47,83%)

IA phút thứ 1 < 7 điểm>= 7 điểm 18 (35,29%) 4 (17,39%) 2,02 (0,77 33 (64,71%) 19 (82,60%) – 5,32) 0,19

IA ở phút thứ 5 < 7 điểm>= 7 điểm 46 (90,20%) 22 (95,65%)5 (9,80%) 1(4,35%) 2,25 (0,27 – 18,22) 0,17 Nhập viện

khoa sơ sinh Cókhông 25 (49,02% 9 (39,13%) 1,25 (0,70 26(50,98%) 14 (60,87%) – 2,24) Chết tiền sinh CóKhông 49 (96,08%) 23 (100%)2 (3,92%) 0 (0,00%) 2,31 (0,12 – 46,24) Bảng 3.3 So sánh kết cục thai kỳ

Trang 5

dưới 3 th percentile và nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3 rd percentile -

10 th percentile

Với ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd percentile, bảng 3.2 cho thấy có sự khác biệt về một số đặc điểm trên NST, nước

ối cũng như biến đổi doppler động mạch rốn, động mạch não giữa, ống tính mạch và chỉ số MPI Với ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng <

3rd percentile, nhóm < 3rd percentile cho thấy các yếu tố trên lâm sàng có xu hướng trầm trọng hơn khi so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi

từ 3rd – 10th percentile

90,19% các trường hợp có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd percentile có NST nghi ngờ hoặc bất thường Nhóm ước lượng trọng lượng thai <3rd percentile tăng nguy cơ bất thường NST gấp 1.38 lần so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi 3rd – 10th percentile (RR = 1,38, 95% CI (1,01 – 1,89), p = 0,02) Liên quan đến chỉ số nước ối, nhóm có ước lượng trọng lượng <

3rd tăng nguy cơ bất thường nước ối gấp 1.12 lần

so với nhóm 3rd – 10th (RR = 1,12, 95% CI (0,50 – 2,53), p = 0,76) NST và chỉ số nước ối là hai yếu tố trên lâm sàng ảnh hưởng rất nhiều đến thái

độ xử trí của các nhà lâm sàng đối với thai kỳ nói chung và thai kém phát triển nói riêng Bất thường NST và/hoặc bất thường nước ối là biểu hiện tình trạng biến đổi bệnh lý của thai kém phát triển giai đoạn muộn Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy đây là hai thông số có giá trị để kết hợp với yếu tố trọng lượng trong chẩn đoán và xử trí thai kém phát triển thật sự

Các biến đổi doppler động mạch rốn và động mạch não giữa phù hợp với quá trình biến đổi hệ tuần hoàn của thai kém phát triển đáp ứng với tình trạng suy dưỡng, thiếu oxy Nhóm có trọng lượng < 3rd percentile tăng PI trung bình doppler động mạch rốn, giảm PI trung bình doppler động mạch não giữa so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd – 10th percentile Liên quan doppler ống tĩnh mạch, đây là một trong những vị trí doppler được sử dụng để đánh giá thay đổi cấp tính tình trạng suy sụp của thai nhi [11] Tỷ lệ bất thường về mặt hình thái doppler ống tĩnh mạch cao ở nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd khi so với nhóm có ước lượng

4 Bàn luận

4.1 Đặc điểm mẹ và một số yếu tố

nguy cơ

Liên quan các đặc điểm của mẹ: Khi so với

nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd –

10th, nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi <

3rd không có sự khác biệt về tuổi trung bình của

mẹ, BMI trước khi có thai, tăng cân trong thai kỳ

cũng như chiều cao trung bình của bố và mẹ (bảng

3.1) Trên y văn và những nghiên cứu khác, đây là

những yếu tố nguy cơ của thai nhẹ cân và thai kém

phát triển nói chung Một số nghiên cứu khác khi so

sánh các đặc điểm này giữa nhóm có trọng lượng

< 5th và nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ

5th – 10th không có sự khác biệt [8]

Khi đánh giá những yếu tố nguy cơ khác, sự khác

biệt có ý nghĩa giữa nhóm có ước lượng trọng lượng

thai < 3rd percentile và nhóm từ 3rd – 10th về rối loạn

tăng huyết áp, hút thuốc thụ động, tiền sử thai kém

phát triển và thiếu máu với Hb < 10 g/dL (bảng 3.1)

Những yếu tố nguy cơ như thiếu máu trong thai kỳ,

rối loạn tăng huyết áp, hút thuốc lá thụ động hay tiền

sử thai kém phát triển sẽ làm trầm trọng nguy cơ thai

nhẹ cân trên sản phụ tuổi lớn, chiều cao bố mẹ thấp,

có thể đưa đến thai kém phát triển thật sự

So sánh với một số nghiên cứu khác:

4.2 Một số đặc điểm thai kỳ trên lâm

sàng và siêu âm trước sinh khi so sánh

nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi

Malgorzata

Mlynarczyk

và cs [7] 2017 Hồi cứu

Tuổi trung bình của mẹ:

< 5 th : 26,8 ± 5,9; 5 th - 9 th : 26,5 ± 5,9;

BMI trước khi có thai:

28,7 ± 8,5 so với 27,8 ± 9,0

Zhang-Rutledge

Kathy và cs

[14]

2017 Hồi cứu 254

So sánh nhóm < 5th và nhóm 5-10 th : Tuổi trung bình của mẹ:

27,8 ± 5,6 so với 28,2 ± 5,4;

BMI trung bình:

27,3 ± 7,5 so với 26,4 ± 6,3

Kathy

Zhang-Rutledge và

cs [14] 2017 Hồi cứu 254

So sánh nhóm ước lượng trọng lượng thai <

5 th và nhóm từ 5 th – 10 th : Rối loạn tăng huyết áp: RR = 1,79 Malgorzata

Mlynarczyk

và cs [7] 2017 Hồi cứu 834

So sánh nhóm ước lượng trọng lượng thai <

5 th và nhóm từ 5 th – 9 th : Rối loạn tăng huyết áp: OR = 1,78; Tiền sử sinh thai nhẹ cân: OR: 1,02

Trang 6

SẢN KHOA – SƠ SINH

trọng lượng từ 3rd – 10th percentile Nhóm có

ước lượng trọng lượng thai nhi< 3th, tăng nguy cơ

bất thường hình thái doppler ống tĩnh mạch gấp

1.58 lần so với nhóm có ước lượng trọng lượng từ

3rd – 10th percentile ( RR = 1,58, 95% CI (0,35 –

7,02), p = 0,05) Tuy nhiên, chỉ số PI trung bình

của hai nhóm không có sự khác biệt đáng kể (

0,77 ± 0,51 so với 0,80 ± 0.30 )

Một chỉ số doppler được nghiên cứu trong

một vài năm gần đây trong nhóm thai kỳ nguy

cơ cao như song thai, đái thao đường thai kỳ…

trong đó có thai kém phát triển là chỉ số MPI [2]

Trong nghiên cứu chúng tôi, MPI trung bình cao

hơn ở nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi <

3rd khi so với nhóm có ước lượng thai nhi từ 3rd -

10th (0,66 ± 0,30 so với 0,51 ± 0,12) Giá trị MPI

trung bình ở hai nhóm đều cao hơn giá trị MPI

trung bình khoảng 0,36 ở thai kỳ bình thường đã

được ghi nhận trong các nghiên cứu, tương tự so

với một số nghiên cứu khác [2]

Với những ghi nhận được trong nghiên cứu

của chúng tôi, có thể dựa vào chỉ số PI, biến đổi

hình thái doppler động mạch rốn, PI động mạch

não giữa, biến đổi hình thái doppler ống tĩnh

mạch và chỉ số MPI trong nhận dạng chẩn đoán

thai kém phát triển Cần có số liệu nghiên cứu

thêm về PI doppler ống tĩnh mạch và các chỉ số

khác của doppler ống tĩnh mạch trong nhóm thai

kém phát triển

4.3 Kết cục thai kỳ khi so sánh nhóm

có ước lượng trọng lượng thai nhi dưới

bách phân vị thứ ba và nhóm có ước

lượng trọng lượng thai nhi từ bách phân vị

thứ ba đến bách phân vị thứ 10

Kết cục thai kỳ được thể hiện ở bảng 3.3 Kết

quả nghiên cứu của chúng tôi cho với nhóm có

ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd percentile đều

tăng nguy cơ kết cục thai kỳ bất lợi so với nhóm

có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd - 10th

percentile Nhóm có ước lượng trọng lượng thai

nhi < 3rd percentile tăng nguy cơ chỉ số APGAR <

7 ở phút thứ nhất, tăng nguy cơ chỉ số APGAR <

7 ở phút thứ năm, tăng nguy cơ chết tiền sinh so

với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd

– 10th percentile với RR lần lượt là 2,02, 2,25 và 2,31 Ngoài ra, nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3th tăng nguy cơ mổ lấy thai, nguy cơ nhập viện điều trị khoa sơ sinh

Mặc dù những nghiên cứu khác có sự khác biệt về mặt phương pháp nghiên cứu so với nghiên cứu chúng tôi, tuy nhiên kết quả ghi nhận được cho thấy với những thai kỳ có trọng lượng càng thấp càng có khuynh hướng biến đổi những thông số trên lâm sàng xấu đi cũng như kết cục thai kỳ bất lợi hơn

Với kết quả ghi nhận được, đặc biệt là tỷ lệ chết tiền sinh cao ở nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi dưới 3rd percentile, là yếu tố quan trọng để cân nhắc hướng xử trí cũng như tư vấn cho sản phụ trong những trường hợp này

5 Kết luận

Với ước lượng trọng lượng thai nhi ở ngưỡng cắt 3th percentile, nghiên cứu cho thấy có những biến đối về mặt lâm sàng cũng như kết cục thai

kỳ khi so với nhóm từ 3th – 10th percentile Điều này sẽ giúp các bác sĩ lâm sàng có những tư vấn

và quản lý thai kỳ nhóm thai có trọng lượng <

10th percentile thích hợp hơn Cần đặc biệt cân nhắc đối với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd percentile

Malgorzata Mlynarczyk

và cs [7] 2017 Hồi cứu 834

So sánh nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 5 th và nhóm 5-10: APGAR < 7 ở phút thứ 5:

OR = 1,58;

Chết sơ sinh : OR = 4,05

Zhang-Rutledge Kathy và cs [14]

2017 Hồi cứu 254

So sánh nhóm có ước lượng trọng lượng < 5 và nhóm từ 5 – 10: APGAR < 7 ở phút thứ nhất: OR = 2,05; APGAR < 7 ở phút thứ 5: OR

= 1,78; nhập viện sơ sinh: 1,73; chết sơ sinh: 3,68.

Julia Unterscheiter

và cs [12] 2013 Tiến cứu đa trung tâm 1116

Có mối liên quan giữa kết cục thai

kỳ bất lợi với trọng lượng ước lượng thai nhi < 3rd centile Savchev và

Nghiên cứu bệnh chứng

Nhóm chứng:

132;

Nhóm bệnh 132

So sánh nhóm EFW < 3rd với nhóm

từ 3rd – 10th: tỷ lệ mổ lấy thai: 30,0% sơ với 15,3%;

Trang 7

Tài liệu tham khảo

1 Ayres-de-Campos D., Arulkumaran S., Figo Intrapartum Fetal Monitoring

Expert Consensus Panel FIGO consensus guidelines on intrapartum

fetal monitoring: Physiology of fetal oxygenation and the main goals of

intrapartum fetal monitoring, Int J Gynaecol Obstet 2015; 131(11):5-8.

2 Cruz-Martinez R et al Changes in myocardial performance index and

aortic isthmus and ductus venosus Doppler in term, small-for-gestational

age fetuses with normal umbilical artery pulsatility index Ultrasound Obstet

Gynecol 2011;38(4):400-5.

3 Figueras F., E Gratacos Update on the diagnosis and classification

of fetal growth restriction and proposal of a stage-based management

protocol Fetal Diagn Ther 2014; 36(2):86-98.

4 Figueras F., E Gratacos.An integrated approach to fetal growth

restriction Best Pract Res Clin Obstet Gynaecol 2017;38:48-58.

5 Kiserud T et al The World Health Organization fetal growth charts:

concept, findings, interpretation, and application Am J Obstet Gynecol

2018; 218(2S): S619-S629.

6 McCowan L M., F Figueras, N H Anderson Evidence-based national

guidelines for the management of suspected fetal growth restriction:

comparison, consensus, and controversy.Am J Obstet Gynecol 2018;

218(2S):S855-S868.

7 Mlynarczyk M et al The clinical significance of an estimated fetal weight

below the 10th percentile: a comparison of outcomes of <5th vs 5th-9th

percentile Am J Obstet Gynecol 2017; 217(2): 198 e1-198 e11.

8 Olusanya B O.Intrauterine growth restriction in a low-income country:

Risk factors, adverse perinatal outcomes and correlation with current WHO Multicenter Growth Reference.Early Hum Dev 2010; 86(7):439-44.

9 Savchev S et al.Estimated weight centile as a predictor of perinatal

outcome in small-for-gestational-age pregnancies with normal fetal and maternal Doppler indices Ultrasound Obstet Gynecol 2012; 39(3):299-303.

10 Stirnemann J et al International estimated fetal weight standards

of the INTERGROWTH-21(st) Project Ultrasound Obstet Gynecol 2017;49(4):478-486.

11 Thanooja S et al.Correlation between Doppler and Perinatal Outcome

in IUGR Babies Journal of Medical Science And clinical Research 2017;(03):19599-19607.

12 Unterscheider J et al Optimizing the definition of intrauterine growth

restriction: the multicenter prospective PORTO Study Am J Obstet Gynecol 2013; 208(4):290 e1-6.

13 Unterscheider J., K O’Donoghue, F D Malone Guidelines on fetal

growth restriction: a comparison of recent national publications Am J Perinatol 2015; 32(4):307-16.

14 Zhang-Rutledge K et al Significance and Outcomes of Fetal Growth

Restriction Below the 5th Percentile Compared to the 5th to 10th Percentiles

on Midgestation Growth Ultrasonography J Ultrasound Med 2018.

15 Zhang J et al Defining normal and abnormal fetal growth: promises

and challenges”, Am J Obstet Gynecol 2010; 202(6):522-8.

Ngày đăng: 02/11/2020, 21:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w