Bài viết trình bày đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành về tránh thai ở học sinh trung học. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang có phân tích trên 400 học sinh trường Trung học phổ thông Nguyễn Bỉnh Khiêm, thành phố Hải Dương.
Trang 1PHỤ KHOA – NỘI TIẾT, VÔ SINH
LÊ VĂN AN, NGUYỄN ĐÀO THANH TÂM, NGUYỄN HOÀNG BÁCH, ALBERTO ALBERTI
hiện nhiều phản ứng PCR riêng cho từng genotype
đặc hiệu rất tốn kém, mất nhiều công sức Phương
pháp dựa trên khuếch đại xuất hiện khá sớm là sử
dụng các mồi chung (degenerate primers), để khuếch
đại một vùng đích của L1 cho nhiều genotype, sản
phẩm khuếch đại được biotine hóa và lai với các
probe đặc hiệu genotype được cố định trên màng
cellulose và nhuộm màu với phức hợp streptavidine
– cơ chất (kỹ thuật lai ngược trên giải giấy) [5], [9]
Hạn chế của khuếch đại dùng mồi chung cho nhiều
genotype khác nhau là hiệu suất khuếch đại không
cao và sản phẩm có thể phản ứng chéo giữa các
genotype Kỹ thuật khuếch đại - lai dot blot do hảng
Việt Á (Tp HCM) dựa trên nguyên lý tương tự được
sử dụng ở một số phòng xét nghiệm ở Việt Nam
để phát hiện 24 genotype HPV gồm 14 genotype
có nguy cơ cao (16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51,
52, 56, 58, 59, 68, 82); 8 genotype nguy cơ thấp
(6, 11, 42, 43, 61, 70, 72, 81) và 02 genotype có
thể nguy cơ cao (53, 66 ) Kỹ thuật này có ưu điểm
phổ phát hiện bao gồm cả nhiều genotype nguy cơ
thấp, vì vậy có thể phát hiện các nhiễm trùng phối
hợp nhiều hơn 01 genotype ở trên một bệnh nhân
Kỹ thuật realtime PCR các genotype nguy cơ
cao của hảng Nurex (Sassari, Italy) dùng trong
nghiên cứu này xác định được 14 type HPV nguy
cơ cao, trong đó cho biết cụ thể hai genotype
HPV16/HPV18 và 12 genotype còn lại chỉ cho
biết mẫu nghiệm có nhiễm HPV thuộc một trong
các genotype nguy cơ cao nằm trong nhóm mix
1 và mix 2, mà không cho biết một genotype cụ
thể Quy trình realtime PCR của một số hảng như
realtime PCR của hảng Abbott và Cobas HPV assay
của hảng Roche (Roche Molecular Diagnostics) xác
định 14 genotype có nguy cơ cao được dùng ở nhiều nơi trên thế giới cho kết quả tương tự [6]
Do dùng các mồi đặc hiệu với các genotype 16/18
và các genotype nguy cơ cao nên kỹ thuật realtime PCR này có ưu điểm là có độ nhạy cao hơn so với các kỹ thuật khác [6] Các nhiễm trùng phối hợp giữa HPV16 hay HPV18 và 12 genotype còn lại trong phực hợp có thể phát hiện được bằng các tín hiệu màu HEX
và FAM Tuy nhiên, Realtime PCR các genotype nguy
cơ cao không xác định các nhiễm trùng phối hợp giữa các genotype nguy cơ cao và các genotype của nhóm nguy cơ thấp Mức độ chính xác của kỹ thuật realtime PCR được kiểm tra bằng giải trình tự ở 7 mẫu dương tính với realtime PCR các genotype nguy cơ cao cho kết quả phù hợp ở Bảng 3, trong đó 2 mẫu thuộc vào mix 1 và mix 2, giải trình tự xác định là HPV 58 và HPV 68 Bảy (07) mẫu không xác định trong realtime PCR genotype nguy cơ cao, giải trình tự phát hiện các genotype nguy cơ thấp như Bảng 3
5 Kết luận
Sử dụng kỹ thuật realtime PCR phát hiện HPV các genotype nguy cơ cao để phát hiện các genotype HPV trên 383 mẫu nghiệm ngoáy cổ tử cung/ âm đạo, tỷ lệ nhiễm HPV nguy cơ cao là 13,8%, trong
đó HPV16 chiếm tỷ lệ là 50,6%, tiếp đến HPV18
là 26,4%, các genotype còn lại là 22,7% Kết quả của realtime PCR được kiểm tra bằng giải trình tự
ở 14 mẫu nghiệm cho thấy có sự phù hợp cao của realtime PCR được sử dụng
Lời cám ơn: Các tác giả cám ơn GS Fransco
Turrini, công ty Nurex, Sassari, Italy đã hổ trợ sinh phẩm trong quá trình thực hiện nghiên cứu này
Tài liệu tham khảo
1 Leto MD, Santos Júnior GF, Porro AM, Tomimori J Human papillomavirus infection:
etiopathogenesis, molecular biology and clinical manifestations Ann Bras Dermatol.; 2011
Mar-Apr; 86(2): 306-17
2 Steben M, Duarte-Franco E Human papillomavirus infection: epidemiology and
pathophysiology Gynecol Oncol 2007 Nov; 107(2 Suppl 1):S2-5
3 Doorbar J, Quint W, Banks L, Bravo IG, Stoler M, Broker TR, Stanley MA The biology
and life-cycle of human papillomaviruses Vaccine; 2012 Nov 20; 30 Suppl 5: F55–F70.
4 Munoz N, Bosch FX, de Sanjose S, Herrero R, Castellsague X, Shah KV, et al
Epidemiologic classification of human papillomavirus types associated with cervical
cancer N Engl J Med; 2003 Feb 6; 348 (6):518-27.
5 Molijn A, Kleter B, Quint W, van Doorn LJ Molecular diagnosis of human papillomavirus
(HPV) infections, J Clin Virol.; 2005 Mar; 32 Suppl 1: S43–S51.
6 Park Y, Lee E, Choi J, Jeong S, Kim HS Comparison of the Abbott Real Time High-Risk
Human Papillomavirus (HPV), Roche Cobas HPV, and Hybrid Capture 2 assays to direct sequencing and genotyping of HPV DNA J Clin Microbiol.; 2012 Jul; 50(7):2359-65.
7 Burk RD, Harari A, Chen Z Human papillomavirus genome variants, Virology; 2013
Oct; 445(1-2):232-43
8 Louie KS, de Sanjose S and Mayaud P Epidemiology and prevention of human
papillomavirus and cervical cancer in sub-Saharan Africa: a comprehensive review, Trop
Med Int Health; 2009 Oct;14(10):1287-302.
9 Gravitt PE, Peyton CL, Alessi TQ, Wheeler CM, Coutlee F, Hildesheim A, et al
Improved amplification of genital human papillomaviruses J Clin Microbiol 2000 Jan;38(1):357-61.
10 International human papillomavirus reference center, truy cập tháng 6 năm 2017, tại
địa chỉ: http://www.hpvcenter.se/html/refclones.html.
Nguyễn Ngọc Minh, Đỗ Đức Văn
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ TRÁNH THAI
Ở HỌC SINH TRUNG HỌC
Tác giả liên hệ (Corresponding author):
Nguyễn Ngọc Minh, email: vago.vn@gmail.com Ngày nhận bài (received):
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised):
05/01/2018 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 12/01/2018
Từ khóa: Kiến thức, thái độ,
thực hành, tránh thai, học sinh trung học.
Keyword: Knowledge,
attitudes, practices, contraception, high school students.
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành về tránh thai ở học sinh trung học
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang có phân tích trên 400 học sinh trường Trung học phổ thông Nguyễn Bỉnh Khiêm, thành phố Hải Dương
Kết quả: Gần 80% số học sinh được khảo sát hiểu đúng về nguy cơ
“có thể mang thai dù chỉ quan hệ tình dục một lần”, có tới 82% trong tổng
số học sinh cho rằng “vô sinh” là hậu quả nghiêm trọng của việc phá thai không an toàn Sử dụng bao cao su và thuốc tránh thai khẩn cấp là biện pháp tránh thai được biết đến nhiều nhất (tỷ lệ tương ứng là 80,3%
và 78%) trong khi xuất tinh ngoài âm đạo là biện pháp tránh thai mà học sinh biết đến ít nhất với chỉ 10,7% Trong 400 học sinh được hỏi chỉ có
50 học sinh (12,5%) đã có quan hệ tình dục trước hôn nhân và cũng chỉ 11,3% trong số họ có sử dụng biện pháp tránh thai khi quan hệ tình dục
Kết luận: nghiên cứu này khẳng định một lần nữa những thiếu sót trong việc cung cấp thông tin về phòng tránh thai cho học sinh trung học để giúp các em tiếp cận với đầy đủ kiến thức và có lựa chọn đúng đắn trong vấn đề phòng tránh thai.
Từ khóa: Kiến thức, thái độ, thực hành, tránh thai, học sinh trung học
Abstract
THE KNOWLEDGE, ATTITUDES AND PRACTICE OF CONTRACEPTION AMONG HIGH SCHOOL STUDENTS
Objectives: To assess knowledge, attitudes and use of contraception among high school students
Materials and methods: A cross-sectional descriptive study on 400 students of Nguyen Binh Khiem high school, Hai Duong city
Results: Almost 80 percent of students believed they could be pregnant even sex only one time, up to 82% of students said that infertility is a result of unsafe abortion Most of participants know that using condoms
Trang 2Kiến thức về vấn đề phá thai
Hầu hết HS đã nghe đến việc phá thai chiếm 89,2% và phần lớn cho rằng “vô sinh” là hậu quả nghiêm trọng của việc phá thai (trong đó 77,7%
nam và 85,5% nữ) Trong khi “đau bụng” lại chiếm
tỷ lệ thấp, trung bình 12,5%
3.2 Thái độ của học sinh về tránh thai
Trong tổng số 400 học sinh được hỏi có đến 78% cho rằng “bao cao su là giải pháp cho vị thành niên khi có QHTD” và tỷ lệ khá cao không nghĩ “biện pháp tránh thai chỉ dành cho người đã kết hôn” (68%), gần 80% HS cho biết nên cung cấp một số biện pháp tránh thai cho vị thành niên khi
có QHTD
Phần lớn số HS được khảo sát đồng ý với chương trình truyền trông, giáo dục về SKSS vị thành niên bắt đầu trước tuổi dậy thì (86,3%) và chưa đến 1/5
NGUYỄN NGỌC MINH, ĐỖ ĐỨC VĂN
and emergency contraceptive pills are safety ontraception accounted for 80.3%, 78% while the rate
of coitus interruptus was low (10.7%) Among 400 students, only 50 of them (12.5%) had sex before
marriage and just 11.3% of participants (who had sex before marriage) used contraception when having
sex Conclusion: This study confirms once again the shortcomings in the provision of information about
pregnancy prevention for high school students that can help students more opportunities to arrive on
time and choose effective contraceptive methods.
Keywords: Knowledge, attitudes, practices, contraception, high school students.
1 Đặt vấn đề
Quan hệ tình dục (QHTD) sớm và phá thai ở tuổi
vị thành niên tại nhiều nước đang tăng lên ở mức
báo động, đặc biệt là các nước đang phát triển
Hoạt động tình dục của vị thành niên đến sớm và
nhiều hơn so với trước kia tùy thuộc vào từng Quốc
gia và nền văn hóa khác nhau Ở các nước phát
triển như Newzealand có 49% đối tượng vị thành
niên (15-19 tuổi) có QHTD trước hôn nhân, Ở Mỹ
là 46% và Thụy Điển là 54,2% nam VTN đã có
QHTD [1] Tại Indonesia, theo cơ quan kế hoạch
Quốc gia đã đưa ra thông báo hơn một nửa số
thanh thiếu niên ở Jakarta đã tham gia QHTD trước
hôn nhân [2]
Tại Việt Nam, theo kết quả điều tra SAVY 2
năm 2008 có 9,5% thanh niên đã từng có QHTD
trước hôn nhân (tỷ lệ này ở SAVY 1 là 7,6%) Tỷ
lệ nam thanh niên đã từng có QHTD khi chưa lập
gia đình là 13,6%, cao hơn hai lần tỷ lệ này ở nữ
là 5,2% (con số tương ứng ở SAVY 1 là 11,1%
và 4%) Cũng như ở nhiều nước khác trên thế giới
trong giai đoạn hiện đại hóa, tuổi QHTD lần đầu
trung bình của thanh niên có xu hướng giảm từ
19,6 tuổi ở SAVY 1 xuống còn 18,1 tuổi ở SAVY 2
Trong khi đó, kiến thức về mang thai và tránh thai
ở thanh thiếu niên Việt Nam còn rất hạn chế, thanh
thiếu niên chủ yếu biết được thông tin về mang thai
hay kế hoạch hóa gia đình qua các nguồn thông
tin đại chúng Mức độ biết các thông tin này từ nhà
trường, gia đình, nhân viên y tế/dân số hay các cơ
sở tư vấn sức khỏe sinh sản còn rất khiêm tốn [3],
[4] Đề tài “Kiến thức, thái độ, thực hành về tránh thai ở học sinh trung học” được tiến hành với mục đích mô tả kiến thức, thái độ và thực hành trong việc phòng tránh thai nhằm xác định các thiếu sót trong việc tiếp cận vấn đề này đối với học sinh (HS) trung học
2 Đối tượng và phương pháp ngiên cứu
Đối tượng: HS trung học (khối lớp 10, 11, 12) Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt
ngang có phân tích
Cỡ mẫu nghiên cứu: 400 học sinh cả 3 khối
được lựa chọn bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
Địa điểm và thời gian nghiên cứu: nghiên cứu
được tiến hành tại trường Trung học phổ thông Nguyễn Bỉnh Khiêm - Thành phố Hải Dương từ tháng 3/2013 đến tháng 6/2013
Thu thập - xử lý - phân tích số liệu: số liệu được
thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền, khuyết danh Sử dụng phần mềm SPSS để phân tích số liệu Kết quả được trình bày dưới dạng tỷ lệ phần trăm (%), giá trị trung bình, giá trị OR
3 Kết quả nghiên cứu
3.1 Kiến thức của học sinh về các vấn
đề dậy thì và tránh thai Kiến thức của học sinh về dậy thì ở nam và nữ: Nhìn chung tỷ lệ HS nam và HS nữ có hiểu biết
về các dấu hiệu dậy thì thuộc giới tính của mình hơn là giới tính khác Có đến 68,9 % HS cho rằng
“có kinh nguyệt” là biểu hiện quan trọng nhất ở dậy thì nữ và 65,2% nghĩ biểu hiện dậy thì ở nam
là “vỡ giọng, giọng ồm” Trong khi đó số HS biết đến biểu biện “có ham muốn về tình dục” trong tuổi dậy thì ở cả nam và nữ chiếm tỷ lệ không cao (tương ứng 17,5% , 36,5%)
Tuổi hành kinh và mộng tinh lần đầu ở HS nam và nữ: HS nữ hành kinh lần đầu chủ yếu ở
nhóm tuổi từ 13-15 tuổi (65,6%) và 14-16 tuổi là nhóm tuổi mà phần lớn HS nam mộng tinh lần đầu (25,6%) Đáng chú ý, có đến 67,6% HS nam không nhớ tuổi mộng tinh lần đầu trong khi chỉ có 19%
số HS nữ không nhớ hành kinh lần đầu ở tuổi nào
Bố/mẹ là đối tượng mà HS lựa chon chia sẻ về mộng tinh và hành kinh nhiều nhất (41,5%), tiếp đến là bạn bè (6,5%) và anh/chị/em (4,7%) Tỷ
lệ HS không nói với ai chiếm tỷ lệ khá cao 15,3%, đặc biệt là không có HS nào chia sẻ điều này với thầy cô giáo
Kiến thức về mang thai
Kiến thức về tình dục và mang thai của học sinh khá tốt, có 78,7% nữ và 67,6% nam biết đúng “có thể mang thai hay không dù chỉ quan hệ tình dục một lần” Tỷ lệ học sinh biết đúng “Thời điểm nào trong chu kỳ kinh nguyệt bạn gái dễ mang thai nhất” là thấp nhất (nam 16,2% và nữ 28,5%)
Kiến thức về các biện pháp tránh thai
Tỷ lệ khá cao học sinh được khảo sát đã nghe
về biện pháp tránh thai chiếm 87% (nam 82,1% và
nữ 91%) Trong đó sử dụng bao cao su và thuốc tránh thai khẩn cấp là biện pháp tránh thai được biết đến nhiều nhất, lần lượt là 80,3% và 78% Xuất tinh ngoài âm đạo là biện pháp tránh thai mà các đối tượng nghiên cứu biết đến ít nhất với chỉ 10,7%
Từ khi nào một bạn nam có thể làm bạn nữ có thai 112 62,6 128 57,9 > 0,05
Từ khi nào một bạn nữ có thể
có thai 79 44,1 157 71 < 0,001 Thời điểm nào trong chu kỳ
kinh nguyệt bạn gái dễ mang thai nhất 29 16,2 63 28,5 > 0,05
Có thể mang thai hay không dù chỉ QHTD một lần 121 67,6 174 78,7 < 0,05
Bảng 1 tỷ lệ HS hiểu biết về tình dục và mang thai
Biểu đồ 1 Tỷ lệ HS hiểu biết về các biện pháp tránh thai
3
Có thể mang thai hay không dù chỉ QHTD một
Kiến thức về tình dục và mang thai của học sinh khá tốt, có 78,7% nữ và 67,6% nam biết đúng “có thể mang thai hay không dù chỉ quan hệ tình dục một lần” Tỷ lệ học sinh biết đúng “Thời điểm nào trong chu kỳ kinh nguyệt bạn gái dễ mang thai nhất” là thấp nhất (nam 16,2% và nữ 28,5%)
Kiến thức về các biện pháp tránh thai
Tỷ lệ khá cao học sinh được khảo sát đã nghe về biện pháp tránh thai chiếm 87% (nam 82,1% và nữ 91%) Trong đó sử dụng bao cao su và thuốc tránh thai khẩn cấp là biện pháp tránh thai được biết đến nhiều nhất, lần lượt là 80,3% và 78% Xuất tinh ngoài âm đạo là biện pháp tránh thai mà các đối tượng nghiên cứu biết đến ít nhất với chỉ 10,7%
74,3 85,1 70,4 84,2
15,7 9,6 11,2 16,8 8,6
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90
Bao cao su Thuốc tránh
hàng ngày
Dụng cụ tử
Nam Nữ
Biểu đồ 1 Tỷ lệ HS hiểu biết về các biện pháp tránh thai
Kiến thức về vấn đề phá thai
Hầu hết HS đã nghe đến việc phá thai chiếm 89,2% và phần lớn cho rằng “vô sinh” là hậu quả nghiêm trọng của việc phá thai (trong đó 77,7% nam và 85,5% nữ) Trong khi “đau bụng” lại chiếm tỷ lệ thấp, trung bình 12,5%
15,6
30,8 22,9 44,8
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90
Dính buồng tử
Nam Nữ
Tỷ lệ %
Biểu đồ 2 Tỷ lệ HS hiểu biết hậu quả của phá thai
Thái độ của học sinh về tránh thai
Bảng 2.Thái độ của HS về các biện pháp tránh thai
Quan điểm
Hoàn toàn đồng ý (%)
Đồng
ý (%)
Không đồng ý (%)
Hoàn toàn không đồng ý (%)
Không nhớ/không biết (%)
Bao cao su là giải pháp cho vị thành niên khi có quan hệ tình dục
157 (39,2) 155 (38,8) 35 (8,8) 14 (3,5) 39 (9,7) Biện pháp tránh thai chỉ dành cho 22 50 173 99 56
Biểu đồ 2 Tỷ lệ HS hiểu biết hậu quả của phá thai
3
Có thể mang thai hay không dù chỉ QHTD một
Kiến thức về tình dục và mang thai của học sinh khá tốt, có 78,7% nữ và 67,6% nam biết đúng “có thể mang thai hay không dù chỉ quan hệ tình dục một lần” Tỷ lệ học sinh biết đúng “Thời điểm nào trong chu kỳ kinh nguyệt bạn gái dễ mang thai nhất” là thấp nhất (nam 16,2% và nữ 28,5%)
Kiến thức về các biện pháp tránh thai
Tỷ lệ khá cao học sinh được khảo sát đã nghe về biện pháp tránh thai chiếm 87% (nam 82,1% và nữ 91%) Trong đó sử dụng bao cao su và thuốc tránh thai khẩn cấp là biện pháp tránh thai được biết đến nhiều nhất, lần lượt là 80,3% và 78% Xuất tinh ngoài âm đạo là biện pháp tránh thai mà các đối tượng nghiên cứu biết đến ít nhất với chỉ 10,7%
74,3 85,1 70,4 84,2
15,7 9,6 11,2 16,8 8,6
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90
Bao cao su Thuốc tránh
hàng ngày
Dụng cụ tử
Nam Nữ
Biểu đồ 1 Tỷ lệ HS hiểu biết về các biện pháp tránh thai
Kiến thức về vấn đề phá thai
Hầu hết HS đã nghe đến việc phá thai chiếm 89,2% và phần lớn cho rằng “vô sinh” là hậu quả nghiêm trọng của việc phá thai (trong đó 77,7% nam và 85,5% nữ) Trong khi “đau bụng” lại chiếm tỷ lệ thấp, trung bình 12,5%
15,6
30,8 22,9 44,8
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90
Dính buồng tử
Nam Nữ
Tỷ lệ %
Biểu đồ 2 Tỷ lệ HS hiểu biết hậu quả của phá thai
Thái độ của học sinh về tránh thai
Bảng 2.Thái độ của HS về các biện pháp tránh thai
Quan điểm
Hoàn toàn đồng ý (%)
Đồng
ý (%)
Không đồng ý (%)
Hoàn toàn không đồng ý (%)
Không nhớ/không biết (%)
Bao cao su là giải pháp cho vị thành niên khi có quan hệ tình dục
157 (39,2) 155 (38,8) 35 (8,8) 14 (3,5) 39 (9,7) Biện pháp tránh thai chỉ dành cho 22 50 173 99 56
(%)
Đồng ý (%)
Không đồng ý (%)
Hoàn toàn không đồng
ý (%)
Không nhớ/không biết (%)
Bao cao su là giải pháp cho
vị thành niên khi có quan hệ tình dục.
157 (39,2) (38,8)155 (8,8)35 (3,5)14 (9,7)39 Biện pháp tránh thai chỉ dành
cho người đã kết hôn (5,5)22 (12,5)50 (43,2)173 (24,8)99 (14)56 Cần phải cung cấp một số
biện pháp tránh cho vị thành niên nếu họ có quan hệ tình dục
137 (34,3) (45)45 (5,5)22 (2,2)9 (13)53
Bảng 2.Thái độ của HS về các biện pháp tránh thai
Trang 3số HS cho rằng chương trình này có thể khuyến
khích HS có QHTD sớm hơn Đáng chú ý là 26,3%
không nghĩ rằng “chương trình giáo dục SKSS vị
thành niên chỉ được coi là đầy đủ nếu nó chú ý đến
nhu cầu của cả nam giới và nữ giới”
3.3 Thực hành của học sinh về tránh thai
Hành vi quan hệ tình dục: Kết quả nghiên cứu
chỉ ra rằng số HS đã từng có QHTD chiếm tỷ lệ
thấp 12,5% và cũng chỉ 11,3% trong số họ có sử
dụng biện pháp tránh thai khi QHTD
Biện pháp tránh thai được sử dụng khi QHTD
Kết quả nghiên cứu cho thấy bao cao su là biện
pháp tránh thai được sử dụng nhiều nhất (28 lần
chiếm 7%) và sử dụng viên thuốc tránh thai khẩn
cấp là ít nhất (0,8%)
4 Bàn luận
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi dậy thì
trung bình ở nam là 14,8 và ở nữ là 13,7 Tuổi
NGUYỄN NGỌC MINH, ĐỖ ĐỨC VĂN
(%)
Đồng ý (%)
Không đồng ý (%)
Hoàn toàn không đồng
ý (%)
Không nhớ/không biết (%)
Chương trình truyền thông,
giáo dục về sức khỏe sinh sản
vị thành niên nên bắt đầu từ
trước tuổi dậy thì.
203 (50,7) (35,5)142 (5)20 (3)12 (5,8)23 Chương trình giáo dục sức
khỏe sinh sản vị thành niên
có thể khuyến khích học sinh
có quan hệ tình dục sớm hơn.
30 (7,5) (11,5)40 (36,2)145 (35,8)143 (9)36 Chương trình giáo dục sức
khỏe sinh sản vị thành niên
chỉ được coi là đầy đủ nếu
nó chú ý đến nhu cầu của cả
nam và nữ.
81 (20,2) (36,8)147 (22,5)90 (3,8)15 (16,7)67
Bảng 3 Thái độ của HS về truyền thông giáo dục sức khoẻ sinh sản (SKSS)
Dụng cụ tử cung 0 0 1 0,5 1 0,25
Thuốc tránh thai hàng ngày 8 4,4 3 1,4 11 2,75
Bao cao su 15 8,4 13 5,8 28 7
Thuốc tiêm tránh thai 1 0,6 1 0,5 2 0,5
Thuốc uống tránh thai
khẩn cấp 1 0,6 2 0,9 3 0,75
Xuất tinh ngoài âm đạo 6 3,4 3 1,4 9 2,25
Tính vòng kinh 4 2,2 0 0 4 1
Biện pháp khác 3 1,7 1 0,5 4 1
Không sử dụng 141 78,7 197 89 338 84,5
Tổng Số 179 100 221 100 400 100
Bảng 4 Tỷ lệ các biện pháp tránh thai mà HS đã sử dụng khi QHTD
dậy thì trung bình muộn hơn so với nghiên cứu của
Đỗ Thu Hồng (ở nam là 13,8, ở nữ là 13) [5], sớm hơn của Đinh Anh Tuấn (ở nam là 15,67, ở nữ là 14,49) [6] và sớm hơn nghiên cứu SAVY 2 (ở nam
là 15,52, ở nữ là 14,21) [7] Điều này cũng giống như nhiều tác giả khác nhận xét là tuổi dậy thì có
xu hướng giảm đi, nữ thường dậy thì sớm hơn nam
1 năm Có đến 69,8% HS biết ít nhất một dấu hiệu dậy thì ở nữ trở lên và 65,2% HS biết ít nhất một dấu hiệu dậy thì ở nam trở lên Tỷ lệ này cao hơn
so với nghiên cứu của Đỗ Thu Hồng (68,3%) và Nguyễn Văn Nghị (57,8%) [8] Như vậy khi được hỏi về các dấu hiệu dậy thì ở chính giới tính của học sinh thì các em trả lời đúng các dấu hiệu dậy thì của giới tính mình tốt hơn các em HS giới tính khác Mặt khác, đây cũng là một câu hỏi tế nhị, rất nhiều bạn đã ngại ngùng khi nói đến các dấu hiệu dậy thì của người khác giới, nhất là các bạn gái, nên có thể đối tượng biết nhưng vẫn trả lời là
“không biết” Chia sẻ về vấn đề mộng tinh và hành kinh lần đầu tiên, bố/mẹ là đối tượng được học sinh lựa chọn đông nhất (41,5%) Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Đỗ Thu Hồng
Trong khi nghiên cứu của A.Ab Rahman & cộng
sự tại Malaysia người đầu tiên HS chia sẻ về mộng tinh và hành kinh lần đầu lại là bạn bè, chiếm tỷ
lệ rất cao 64,4% [9] Theo kết quả một cuộc khảo sát trực tuyến tại Mỹ năm 2010 (có 829 ông bố và
1113 bà mẹ đã tham gia) cho biết tỷ lệ chia sẻ về các vấn đề tình dục, giới tính giữa họ và con cái của họ rất thấp nên đã khuyến nghị hỗ trợ thông tin liên lạc giữa cha mẹ và con về chủ đề tình dục (cả con trai cũng như con gái) [9]
Đã có sự khác biệt giữa nghiên cứu ở Việt Nam
và nước ngoài, có thể ở nước ta cha, mẹ thường gần gũi với con cái hơn Như vậy, bố mẹ là người rất quan trọng và cần phải có nhận thức tốt về sức khỏe sinh sản vị thành niên/thanh niên, đặc biệt là các đặc điểm của giai đoạn dậy thì của các em
Kiến thức về tình dục và mang thai của HS tương đối tốt, có tới 62,6% HS nam biết đúng “Từ khi nào một bạn nam có thể làm bạn nữ có thai” và 71% HS
nữ biết đúng “Từ khi nào một bạn nữ có thể có thai”
Tỷ lệ này cao hơn hẳn nghiên cứu của Đỗ Thu Hồng (42,5%) [5] và Nguyễn Văn Nghị (33,5%) [8] Có thể do nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện tại trường trung học phổ thông nên kiến thức của các em
về mang thai cao hơn của các tác giả trên Để khảo sát sâu hơn kiến thức của đối tượng về sự thụ thai, một câu hỏi được đưa ra là “Theo bạn, QHTD vào thời điểm nào thì người phụ nữ dễ có thai nhất” với nhiều đáp án khác nhau, trong đó đáp án đúng là thời điểm giữa hai kỳ kinh: Có 22,4% đối tượng đã trả lời đúng câu này, tỷ lệ trả lời đúng khá cao so với SAVY
2 (13%) [7] và thấp hơn nghiên cứu của Đinh Anh Tuấn (38,5%) [6] Tỷ lệ trả lời đúng có sự khác biệt giữa nam và nữ (HS nam trả lời đúng là 16,2% và HS
nữ trả lời đúng là 28,5%), tỷ lệ này tương đồng trong SAVY 2 (tỷ lệ nam trả lời đúng câu này chỉ bằng khoảng 40% nữ) [7] và trong nghiên cứu của A.Ab Rahman & cộng sự (điểm số kiến thức trung bình của
nữ về mang thai cao hơn đáng kể so với nam giới) [10] Sự khác biệt trong các nghiên cứu của chúng tôi so với tác giả Đinh Anh Tuấn có thể là do chúng tôi tiến hành trên vị thành niên chưa lập gia đình nên kiến thức của đối tượng nghiên cứu về mang thai thấp hơn (trong nghiên cứu của Đinh Anh Tuấn ĐTNC đã kết hôn là 12,2%) Hiểu biết về thời điểm có thai của
HS nữ cao hơn HS nam có thể do khi mang thai ngoài
ý muốn thì nữ giới thường phải chịu hậu quả nặng nề hơn nam giới nên các em nữ dành nhiều thời gian tìm hiểu về vấn đề này Với câu hỏi “Có thể mang thai hay không dù chỉ QHTD một lần” có sự tương đồng trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Nghị (32%) [8],
và nghiên cứu của A.Ab Rahman & cộng sự (30,4%) [10] Tuy nhiên trong nghiên cứu này tỷ lệ lại khá cao 73,1% Có lẽ, nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành tại một trường trung học phổ thông thuộc đô thị loại 2 nên các yếu tố kinh tế, xã hội cũng có thể tác động nhiều đến hiểu biết của các em về mang thai
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ HS đã nghe về biện pháp tránh thai khá cao (87%) Tỷ lệ này thấp
so với nghiên cứu của D.S Correria và cộng sự (2009) tại Brazil là 95,5% [11] cao hơn nghiên cứu của Đỗ Thu Hồng là 81,7% [5] và của Nguyễn Văn Nghị là 61,2% [8] Sự khác biệt này có thể do sự khác biệt
về độ tuổi trong từng đối tượng nghiên cứu Các biện pháp tránh thai mà HS biết nhiều nhất là Bao cao su (80,3%) và thuốc tránh thai khẩn cấp (78%) Trong điều tra SAVY1 tỷ lệ này lần lượt là 93% và 42%, trong điều tra SAVY 2 tỷ lệ này là 93,5% và 42% Tỷ
lệ này trong nghiên cứu của tác giả Đinh Anh Tuấn là 93,4% và 65,4% còn trong nghiên cứu của Đỗ Thu Hồng là 63,1% và 58,3% Còn trong nghiên cứu của
D.S Correria và cộng sự cho thấy thuốc tránh thai khẩn cấp là biện pháp tránh thai mà HS biết đến nhiều nhất 72,4% [11], tương đồng với nghiên cứu của R Ahern và cộng sự với tỷ lệ 69,6% [12] Như vậy có thể thấy rằng kết quả nghiên cứu của chúng tôi khá tương đồng với nghiên cứu D.S Correria &
cộng sự và nghiên cứu của R Ahern & cộng sự Tuy nhiên lại thấp hơn so với nghiên cứu của Đinh Anh Tuấn, SAVY 1 và SAVY khi các nghiên cứu này cho
tỷ lệ trên 90% đối tượng biết về bao cao su Điều khác biệt này có thể lý giải là do trong điều tra SAVY 1 và SAVY 2 các điều tra viên đọc từng biện pháp tránh thai cho đối tượng nghe và chọn nên có thể kết quả cao hơn của chúng tôi Các biện pháp tránh thai còn lại như viên thuốc tránh thai hàng ngày, dụng cụ tử cung, xuất tinh ngoài âm đạo, tính vòng kinh… đều cho thấy tỷ lệ đối tượng biết đến khá thấp Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của một số tác giả như Nguyễn Văn Nghị, Đinh Anh Tuấn và Đỗ Thu Hồng Có lẽ học sinh có xu hướng tìm hiểu nhiều hơn đến bao cao su và thuốc tránh thai khẩn cấp vì đây là các biện pháp tránh thai phù hợp hơn với lứa tuổi và hoàn cảnh sống của các em [6]
Phần lớn HS cho rằng bao cao su là giải pháp tốt khi có quan hệ tình dục (78%) Kết quả cao hơn so với nghiên cứu của Đỗ Thu Hồng, khi tỷ lệ này chỉ đạt 47,4% [5] Đó là do nghiên cứu của tác giả Đỗ Thu Hồng diễn ra tại trường trung học
cở sở nên số HS đã có quan hệ tình dục rất thấp, thậm chí là chưa có Để khảo sát thái độ đối với các biện pháp tránh thai chúng tôi đã đưa ra một quan điểm: “Bạn có đồng ý sử dụng biện pháp tránh thai chỉ dành cho người đã kết hôn” trong
đó có tới 68% HS không đồng tình nhưng vẫn thấp hơn trong nghiên cứu của Đinh Anh Tuấn (90%) [6] Như vậy đối tượng nghiên cứu cho thấy họ có thái độ tích cực đối với các biện pháp tránh thai,
có thể là do các biện pháp tránh thai ngoài tác dụng tránh thai còn phòng tránh được các bệnh lây qua đường tình dục Với câu hỏi “Bạn có đồng ý cần cung cấp một số biện pháp tránh thai cho đối tượng vị thành niên nếu họ không kiềm chế được,
có quan hệ tình dục trước hôn nhân” có tới 79,3%
HS đồng ý Tỷ lệ này ở nghiên cứu của Đỗ Thu Hồng là 52% Điều này cho thấy nhu cầu quan hệ tình dục đã xuất hiện ở học sinh trung học cở sở và tăng lên ở học sinh trung học phổ thông
Trang 4PHỤ KHOA – NỘI TIẾT, VÔ SINH
NGUYỄN NGỌC MINH, ĐỖ ĐỨC VĂN
Số HS đã có quan hệ tình dục trong nghiên
cứu này chiếm 12,5% (trong đó nam 14,5% và
nữ 9,5%) Tỷ lệ này theo kết quả điều tra SAVY
2 ở nhóm tuổi 18 - 21 tuổi là 12,3% và ở nhóm
tuổi 14 - 17 tuổi là 1,65% [4] Nghiên cứu của M
Larson & cộng sự (2007) tại các trường trung học
ở Thụy Điển (học sinh 18 tuổi đang học tại các
trường trung học) cho thấy có đến 78% HS đã quan
hệ tình dục [13] Nghiên cứu của A.T Owolabi &
cộng sự (2005) tại 5 trường trung học ở Nigeria tỷ
lệ này là 63% HS [14] Nghiên cứu của A.M.Karim
(2003) ở Ghana (đối tượng từ 12 - 24 tuổi chưa lập
gia đình) cho thấy 38,5% có quan hệ tình dục trước
hôn nhân [15] Các nghiên cứu của chúng ta cho
thấy tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có quan hệ tình dục
trước hôn nhân thấp hơn rất nhiều nghiên cứu của
một số tác giả nước ngoài, điều này cho thấy quan
niệm và thái độ về tình dục của trẻ vị thành niên ở
các nước như Thụy Điển, Nigeria, Ghana cởi mở
hơn Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy “vô sinh”
là hậu quả của phá thai không an toàn có số người
biết đến cao nhất (82%) Đây cũng là hậu quả mà
đối tượng nghiên cứu biết đến nhiều nhất trong
nghiên cứu của Đinh Anh Tuấn (78,3%) [6] và Đỗ
Thu Hồng (38,9%) [5] Các hậu quả khác của phá
thai không an toàn như: Nhiễm khuẩn, thủng tử
cung, dính buồng tử cung, băng huyết được biết
đến rất thấp dưới 50% Kết quả của 3 nghiên cứu
là khá tương đồng, có thể hiện nay vô sinh đang
là một thực trạng đáng báo động vì thế chủ đề này xuất hiện khá nhiều trên các phương tiện truyền thông nên đối tượng biết đến nhiều nhất
5 Kết luận
Quan khảo sát trên trên 400 học sinh trường Trung học phổ thông Nguyễn Bỉnh Khiêm, thành phố Hải Dương, chúng tôi phát hiện:
- Gần 80% số học sinh được khảo sát hiểu đúng
về nguy cơ “có thể mang thai dù chỉ quan hệ tình dục một lần”, 82% trong tổng số học sinh cho rằng
“vô sinh” là hậu quả nghiêm trọng của việc phá thai không an toàn
- Sử dụng bao cao su và thuốc tránh thai khẩn cấp là biện pháp tránh thai được biết đến nhiều nhất (tỷ lệ tương ứng là 80,3% và 78%) trong khi xuất tinh ngoài âm đạo là biện pháp tránh thai mà học sinh biết đến ít nhất với chỉ 10,7%
- Có 50 học sinh (12,5%) đã có quan hệ tình dục trước hôn nhân và cũng chỉ 11,3% trong số họ có
sử dụng biện pháp tránh thai khi quan hệ tình dục
Như vậy, nghiên cứu này khẳng định một lần nữa những thiếu sót trong việc cung cấp thông tin
về phòng tránh thai cho học sinh trung học để giúp các em tiếp cận với đầy đủ kiến thức và có lựa chọn đúng đắn trong vấn đề phòng tránh thai
Tài liệu tham khảo
1 J.Anne và S.Smith (2007), Adolescent: Sexuality and sexual assault-why they
think they know it all, and why we still have so much to learn, FAMSACA, Melbourne.
2 Hans David Tampubolon (2010), Indonesia sees pre-marital sex active among
teenager McClatychy - Tribune Business News, truy cập ngày 01/11/2011, tại trang.
3 Bộ Y tế và Tổng Cục Thống Kê (2003), Điều tra quốc gia về vị thành niên,
thanh niên SAVY1.
4 Bộ Y Tế và Tổng cục thống Kê (2008), “Điều tra quốc gia về vị thành niên,
thanh niên SAVY2”.
5 Đỗ Thu Hồng (2010), Kiến thức, thái độ về SKSS vị thành niên và một số yếu
tố liên quan của học sinh trường THCS Tân Triều - Thanh Trì - Hà Nội, Luận văn
thạc sỹ y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng.
6 Đinh Anh Tuấn (2011), Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành về sức
khỏe sinh sản của người lao động trẻ di cư tại khu công nghiệp Đình Trám - Bắc
Giang, Luận văn thạc sỹ Y học, Học viện Quân Y.
7 Bộ Y Tế và Tổng cục thống Kê (2008), Điều tra quốc gia về vị thành niên,
thanh niên SAVY2.
8 Nguyễn Văn Nghị (2011), Nghiên cứu quan niệm, hành vi tình dục và sức
khỏe sinh sản ở vị thành niên huyện Chí Linh - Hải Dương, Luận án tiến sỹ Y tế
công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng.
9 E K & Koo Wilson, H P, (2010), “Mothers, fathers, sons, and daughters: gender
differences in factors associated with parent-child communication about sexual topics”, Reprod Health, 7, tr p 31.
10 A Ab Rahman, Ab Rahman, R., Ibrahim, M I., Salleh, H., Ismail, S B., Ali, S H.,
Muda, W M., Ishak, M & Ahmad, A, (2011), “Knowledge of sexual and reproductive health among adolescents attending school in Kelantan, Malaysia”, Southeast Asian
J Trop Med Public Health, 42(3), tr p 717-25.
11 D S Correia, Pontes, A C và các cộng sự (2009), “Adolescents: contraceptive
knowledge and use, a Brazilian study”, ScientificWorldJournal, (9), tr 37-45.
12 R Ahern, Frattarelli, L A., Delto, J & Kaneshiro, B, (2010), “Knowledge and
awareness of emergency contraception in adolescents”, J Pediatr Adolesc Gynecol, 23(5), tr p 273-8.
13 M Larsson, Tyden, T và các cộng sự (2007), “Contraceptive use and
associated factors among Swedish high school students”, Eur J Contracept Reprod Health Care, 12(2), tr 119-124.
14 A T Owolabi, Onayade, A A và các cộng sự (2005), “Sexual behaviour of
secondary school adolescents in Ilesa, Nigeria: implications for the spread of STIs including HIV/AIDS”, J Obstet Gynaecol, 25(2), tr 174-8.
15 A M Karim, Magnani, R J và các cộng sự (2003), “Reproductive health risk
and protective factors among unmarried youth in Ghana”, Int Fam Plan Perspect, 29(1), tr 14-24.
Lê Long Hồ (1) , Phạm Dương Toàn (1) , Vương Thị Ngọc Lan (2)
(1) Bệnh viện Mỹ Đức, (2) Đại học Y Dược TP.HCM
KẾT QUẢ THỤ TINH ỐNG NGHỆM CỦA NHÓM BỆNH NHÂN “TIÊN LƯỢNG THẤP”
THEO PHÂN LOẠI POSEIDON
Tác giả liên hệ (Corresponding author):
Lê Long Hồ, email: bsho.ll@myduchospital.vn Ngày nhận bài (received): 22/12/2017 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised):
05/01/2018 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 12/01/2018
Từ khóa: phân loại
POSEIDON, đáp ứng kém, tiên lượng thấp, tỷ lệ thai diễn tiến, thụ tinh ống nghiệm.
Keyword: POSEIDON
stratification, poor response, low prognosis, ongoing pregnancy rate, in-vitro fertility.
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ thai diễn tiến cộng dồn khi điều trị thụ tinh ống nghiệm của các bệnh nhân tiên lượng thấp theo phân loại POSEIDON
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu thực hiện trên các bệnh nhân thụ tinh ống nghiệm được chẩn đoán
là tiên lượng thấp theo phân loại POSEIDON (I, II, III, IV), từ tháng 01/2014 đến tháng 12/2016 tại IVFMD, Bệnh viện Mỹ Đức Các trường hợp không chọc hút noãn và xin noãn bị loại khỏi nghiên cứu
Kết quả: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm phân loại theo POSEIDON về các đặc điểm cơ bản và đáp ứng buồng trứng
Tỷ lệ thai diễn tiến cộng dồn sau khi sử dụng toàn bộ phôi từ một chu
kỳ KTBT của nhóm I là 28,2%, nhóm II là 18,9%, nhóm III là 11,9% và nhóm IV là 16,5% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm phân loại với P < 0,001
Kết luận: Nghiên cứu bước đầu ghi nhận khả năng phân loại của tiêu chuẩn POSEIDON khá tốt ở đặc điểm đáp ứng buồng trứng và kết quả thai của nhóm bệnh nhân có “tiên lượng thấp” Kết quả nghiên cứu là
cơ sở để thực hiện các nghiên cứu tiến cứu tiếp theo nhằm đưa ra các chiến lược điều trị cá thể hóa, cải thiện cơ hội thành công cho nhóm bệnh nhân tiên lượng thấp này.
Từ khóa: phân loại POSEIDON, đáp ứng kém, tiên lượng thấp, tỷ lệ thai diễn tiến, thụ tinh ống nghiệm
Abstract
IVF OUTCOMES IN “LOW PROGNOSIS” PATIENTS CLASSIFIED FOLLOWEDTHE POSEIDON
STRATIFICATION
Objectives: To identify the cumulative ongoing pregnancy rate in low prognosis IVF patients classified followed by POSEIDON stratification
Materials and methods: This was a retrospective cohort study conducted on low prognosis IVF patients classified by POSEIDON