1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối tương quan giữa kết quả tiêm tinh trùng vào bào tương noãn và sự phân mảnh DNA tinh trùng được đo bằng phương pháp khảo sát cấu trúc nhiễm sắc chất tinh trùng (SCSA)

5 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 408,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày xác định mối tương quan giữa chỉ số phân mảnh DNA tinh trùng (DFI) được đo bằng phương pháp khảo sát cấu trúc nhiễm sắc chất tinh trùng (SCSA) và kết quả tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI).

Trang 1

PHỤ KHOA – NỘI TIẾT, VÔ SINH

Nguyễn Minh Tài Lộc (1) , Mã Phạm Quế Mai (1) , Nguyễn Ấn Bình (2) , Nguyễn Trương Thái Hà (1) , Phan Thị Kim Anh (3) , Dương Nguyễn Duy Tuyền (3) , Nguyễn Thị Quỳnh Tiên (3) , Hồ Mạnh Tường (1)

(1) Trung tâm Nghiên cứu Di truyền và Sức khỏe Sinh sản – CGRH, (2) Đại học Quốc gia TP.HCM, (3) Bệnh viện Đa khoa Mỹ Đức

MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA KẾT QUẢ TIÊM TINH TRÙNG VÀO BÀO TƯƠNG NOÃN

VÀ SỰ PHÂN MẢNH DNA TINH TRÙNG ĐƯỢC ĐO BẰNG PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT CẤU TRÚC NHIỄM SẮC CHẤT TINH TRÙNG (SCSA)

Tác giả liên hệ (Corresponding author):

Nguyễn Minh Tài Lộc,

email: nmtl19111992@gmail.com

Ngày nhận bài (received): 10/10/2016

Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised):

23/10/2016

Ngày bài báo được chấp nhận đăng

(accepted): 30/12/2016

Từ khóa: Khảo sát cấu trúc

nhiễm sắc chất tinh trùng, vô

sinh nam, phân mảnh DNA

tinh trùng, ICSI, sự thụ tinh, sự

mang thai.

Keywords: Sperm chromatin

structure assay, infertile men,

sperm DNA fragmentation,

ICSI, fertilization, pregnancy.

Tóm tắt

trùng (DFI) được đo bằng phương pháp khảo sát cấu trúc nhiễm sắc chất tinh trùng (SCSA) và kết quả tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI)

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu Bệnh nhân: 65 bệnh nhân điều trị ICSI

Kết quả chính thu nhận: DFI và kết quả ICSI

nghĩa thống kê (r = -0,28; p = 0,02) Tỷ lệ thụ tinh ở nhóm bệnh nhân có chỉ số DFI > 15% thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm bệnh nhân

có DFI ≤ 15% (91% so với 84%; p = 0,03) Không tìm thấy sự tương quan

có ý nghĩa thống kê giữa chỉ số DFI và chất lượng phôi Tỷ số nguy cơ (ORs) được ước tính cho kết quả thai sinh hóa không có ý nghĩa thống kê

ở 2 nhóm bệnh nhân có chỉ số DFI > 15% Kết quả tương tự cũng được tìm thấy khi ước tính ORs cho kết quả thai lâm sàng sau 8 tuần.

tinh sau ICSI.

phân mảnh DNA tinh trùng, ICSI, sự thụ tinh, sự mang thai.

Abstract

RELATIONSHIP BETWEEN THE OUTCOMES OF INTRACYTOPLASMIC SPERM INJECTION AND SPERM DNA FRAGMENTATION AS MEASURED BY THE SPERM CHROMATIN STRUCTURE ASSAY (SCSA)

structure assay (SCSA) parameters (DNA fragmentation index – DFI) and intracytoplasmic sperm injection (ICSI) outcomes

Patient(s) and method

Design: Prospective cohort study

Trang 2

70 - 74

1 Đặt vấn đề

Sự toàn vẹn DNA tinh trùng là yếu tố then chốt

trong sự truyền đạt thông tin di truyền từ người cha

Các trường hợp dị tật của tinh trùng tồn tại trong

30% – 50% các trường hợp vô sinh ở nam giới [1]

Các bất thường của tinh trùng bao gồm mật độ

thấp của tinh trùng, tinh trùng di động kém, hình

dạng tinh trùng bất thường sẽ ảnh hưởng lên quá

trình có thai tự nhiên Sự ra đời của kỹ thuật tiêm

tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI) đã giúp cho

những bệnh nhân nam gặp các bất thường nêu

trên được điều trị một cách hiệu quả [2] Tuy nhiên,

các tổn thương liên quan tới DNA tinh trùng (được

tính bằng chỉ số phân mảnh DNA tinh trùng – DFI)

có thể là nguyên nhân dẫn tới thất bại trong các

chu kỳ điều trị ICSI Vấn đề này vẫn là mối quan

tâm của các nhà khoa học và lâm sàng học, nhắm

tới việc nâng cao hiệu quả điều trị vô sinh nguyên

nhân do nam giới

Hiện nay, phương pháp khảo sát cấu trúc

nhiễm sắc chất tinh trùng (SCSA) là một công cụ

hiệu quả trong việc đánh giá sự phân mảnh DNA

tinh trùng SCSA cho phép đánh giá trên 5000 tế

bào tinh trùng/mẫu tinh dịch với thời gian ngắn so

với phương pháp truyền thống (SCD hay COMET)

sử dụng kính hiển vi chỉ đếm 200 – 400 tinh trùng/

mẫu tinh dịch và yêu cầu kinh nghiệm của kỹ thuật

viên Với nhiều ưu điểm như mang tính thống kê

cao, độ bao quát chất lượng mẫu lớn, độ nhạy và

độ đặc hiệu cao nên SCSA được xem là một phương

pháp tiềm năng cho việc đánh giá tổn thương DNA

tinh trùng nhằm giúp bác sĩ đưa ra phương pháp điều trị hiệu quả nhất cho bệnh nhân

Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu cho thấy nguy cơ thất bại thụ tinh xảy ra cao hơn

ở những người đàn ông mang bất thường DNA tinh trùng [3], và những bất thường DNA tinh trùng liên quan mật thiết tới vô sinh ở nam giới [4] Cơ hội mang thai khi một cặp vợ chồng tiến hành bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI) giảm đáng kể khi chỉ

số DFI của người chồng càng gần 30% và gần như bằng không khi chỉ số DFI vượt quá 30% [5] Xa hơn nữa, cần đánh giá ảnh hưởng của sự phân DNA tinh trùng lên kết quả của các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản khác như thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) hay ICSI

Tuy đã có nhiều bằng chứng cho thấy ảnh hưởng của sự phân mảnh DNA tinh trùng lên tỷ lệ thụ tinh, chất lượng phôi, tỷ lệ mang thai và tỷ lệ trẻ sinh sống [6, 7] Tuy nhiên, các nghiên cứu này tập trung chủ yếu ở các nước châu Âu, Hoa Kỳ và Trung Quốc

mà chưa có nghiên cứu nào được thực hiện tại Việt Nam Vì vậy, mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi

là xác định sự tương quan giữa chỉ số phân mảnh DNA tinh trùng (được đo bằng phương pháp SCSA)

và kết quả sau ICSI bao gồm tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ phôi tốt, kết quả thai sinh hóa và kết quả thai lâm sàng

2 Đồi tượng và phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Đây là một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu với kết quả sau ICSI bao gồm tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ phôi tốt,

Patient(s): Sixty-five couples undergoing ICSI

Main outcome measure(s): DFI and ICSI outcomes

= -0.28; p = 0.02) Patients with DFI > 15% had lower ICSI fertilization rates than patients with DFI ≤

15% (91% and 84%; p = 0.03) No significant association was found between DFI and good quality

embryo Odd ratios (ORs) for chemical pregnancy calculated were not significant in 2 groups with

DFI > 15% The such results were seen when calculated ORs for pregnancy (> 8 weeks).

fertilization, pregnancy.

Trang 3

PHỤ KHOA – NỘI TIẾT, VÔ SINH

kết quả thai sinh hóa và kết quả thai lâm sàng liên

quan tới chỉ số DFI khác nhau của bệnh nhân

Thu nhận mẫu tinh dịch từ bệnh nhân

Nghiên cứu này thu nhận 65 mẫu tinh dịch từ

các cặp vợ chồng điều trị vô sinh bằng phương

pháp ICSI tại bệnh viện đa khoa Mỹ Đức từ tháng

04/2015 tới tháng 06/2016

Tiêu chuẩn nhận và loại mẫu

Mẫu tinh dịch sau khi được thu nhận bằng phương

pháp thủ dâm sẽ được đánh giá mật độ, độ di động

và hình dạng tinh trùng theo chuẩn WHO (2010), dữ

liệu được mô tả ở bảng 1 Mẫu tinh dịch tiếp đó được

chia ra, một phần cho việc lọc rửa và tiến hành ICSI,

phần còn lại sẽ được vận chuyển về trung tâm Nghiên

cứu Di truyền và Sức khỏe Sinh sản (CGRH) để tiến

hành đánh giá chỉ số DFI bằng phương pháp SCSA

Quy trình SCSA

Quy trình SCSA được tiến hành như mô tả của

Evenson (2000) [8], và có một số thay đổi nhằm

tối ưu hóa quy trình tại Việt Nam Mẫu tinh dịch

sau khi được pha loãng sẽ được xử lý với dung dịch

HCl loãng (0,08N) trong 30 giây với mục đích biến

tính DNA tinh trùng Sau đó, các tế bào tinh trùng

trong mẫu sẽ được nhuộm với thuốc nhuộm DNA

huỳnh quang acridine orange (AO) trong 30 giây

Sau khi 20,000 tinh trùng/mẫu chạy qua máy đếm

dòng chảy tế bào FCM BD Accuri C6 (BD, Hoa Kỳ),

DNA còn nguyên vẹn sẽ cho tín hiệu màu xanh lá

cây trong khi các DNA bị tổn thương sẽ cho tín hiệu

màu đỏ Chỉ số DFI được tính bằng phần mềm BD

Accuri C6 (ver 1.0, 264.21) với độ chính xác tại

phòng thí nghiệm của chúng tôi > 95% (CV < 5%)

Quy trình ICSI

Quá trình ICSI được tiến hành 40 – 42 giờ sau khi

tiêm hCG theo đúng quy trình thường quy tại bệnh

viện Mỹ Đức Kết quả thụ tinh được đánh giá sau 17 ±

1 giờ sau ICSI dựa vào sự xuất hiện của 2 tiền nhân

Bệnh nhân nam trong cặp vợ chồng đang

điều trị vô sinh bằng phương pháp ICSI có

tuổi từ 20 đến 40 tuổi

Không bị triệu chứng vô tinh (azoospermia),

ít tinh (cryptospermia), các trường hợp thu

nhận tinh trùng từ các phương pháp PESA,

TESA, TESE

Không đang trong quá trình điều trị bệnh

hiểm nghèo

Không mắc các bệnh lây truyền qua đường

tình dục

Chu kỳ điều trị ≥ 2 Tuổi vợ ≥ 38 tuổi

Số nang noãn có kích thước 14 mm trước ngày chọc hút < 8 nang

Số trứng ICSI < 5 trứng

Vợ có bất thường tử cung (Lạc nội mạc tử cung, u xơ tử cung dưới niêm, dị dạng tử cung…)

Niêm mạc tử cung < 7 mm Chỉ định IVM, IUI Trữ phôi toàn bộ

Tiến hành đánh giá chất lượng phôi vào 66 ± 1 giờ sau ICSI trước khi phôi được chuyển vào tử cung của người mẹ Việc đánh giá chất lượng phôi dựa vào đồng thuận alpha (2011) [9] Vào ngày thứ 12 sau thời điểm ICSI, tiến hành xác định kết quả thai sinh hóa dựa vào nồng độ βhCG (βhCG ≥ 5mIU/mL)

và đánh giá thai lâm sàng vào tuần thứ 8 sau ICSI

Phân tích số liệu

Dữ liệu thu được sẽ được phân tích bằng phần mềm R (ver 3.2.4) Chỉ số DFI thu được từ 65 bệnh nhân sẽ được chia ra làm 3 nhóm (DFI ≤ 15%, 15%

< DFI ≤ 30%, DFI > 30%) và được đánh giá mức độ tương quan với tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ phôi tốt Để đánh giá ảnh hưởng của sự phân mảnh DNA tinh trùng lên kết quả thai, nhóm DFI ≤ 15% (nhóm có chất lượng DNA tinh trùng tốt) được sử dụng làm nhóm tham khảo, 2 nhóm còn lại được tính tỷ số nguy cơ (ORs) cho kết quả thai sinh hóa và kết quả thai lâm sàng

3 Kết quả

Tỷ lệ thụ tinh

Tỷ lệ thụ tinh là tỷ lệ giữa số noãn thụ tinh trong tổng số noãn tiến hành ICSI, tỷ lệ thụ tinh trung bình từ 65 cặp vợ chồng là 87,35% ± 12,78% Trong 3 nhóm bệnh nhân, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê được tìm thấy ở nhóm bệnh nhân có chỉ

số DFI ≤ 15% và 2 nhóm còn lại (91% so với 84%;

p = 0,03), kết quả thể hiện ở biểu đồ 1 Khi tiến hành đánh giá mức độ tương quan giữa chỉ số DFI

và tỷ lệ thụ tinh, chúng tôi nhận thấy sự tương quan nghịch có ý nghĩa thống kê (r = -0,28; p = 0,02) nghĩa là chỉ số DFI càng cao thì tỷ lệ thụ tinh có xu hướng giảm, kết quả được thể hiện ở biểu đồ 2

Tỷ lệ phôi tốt

Tỷ lệ phôi tốt là tỷ lệ phôi loại I và phôi loại II (theo đồng thuận alpha, 2011) trên tổng số phôi thu nhận được Tỷ lệ phôi tốt trung bình thu nhận được

là 68,07% ± 31,7% và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ phôi tốt được ghi nhận giữa

3 nhóm bệnh nhân Khi tiến hành đánh giá mức độ tương quan giữa chỉ số DFI và tỷ lệ phôi tốt, chúng tôi cũng không ghi nhận được sự tương quan có ý nghĩa thống kê (p = 0,3), kết quả được thể hiện ở biểu đồ 3

Tỷ lệ thai sinh hóa và thai lâm sàng

Bảng 2 thể hiện tỷ số nguy cơ ORs cho tỷ lệ thai sinh hóa và tỷ lệ thai lâm sàng ở 2 nhóm bệnh nhân có chỉ số DFI > 15% (nhóm DFI ≤ 15% được

Trang 4

70 - 74

sử dụng làm nhóm tham khảo – ref) Tuy nhiên,

chúng tôi vẫn không tìm thấy sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê giữa các nhóm bệnh nhân có chỉ số

DFI khác nhau (p > 0,05)

4 Bàn luận

Nghiên cứu của chúng tôi đã tìm thấy sự tương

quan nghịch có ý nghĩa thống kê giữa chỉ số DFI và

tỷ lệ thụ tinh của các cặp vợ chồng điều trị ICSI Điều

này có nghĩa, khi bệnh nhân có chỉ số DFI càng cao

thì tỷ lệ thụ tinh càng giảm Kết quả nghiên cứu của

chúng tôi phù hợp với một số nghiên cứu khác về sự

tương quan nghịch giữa chỉ số DFI và tỷ lệ thụ tinh

sau ICSI [10 – 13] Chúng tôi không tìm ra được sự

tương quan có ý nghĩa thống kê giữa chỉ số DFI và tỷ

lệ phôi tốt, kết quả này tuy trái ngược với các nghiên

cứu vừa nêu nhưng kết quả này lại tương tự với các

nghiên cứu của các tác giả khác [1, 5, 14]

Một nghiên cứu phân tích tổng hợp (meta –

analysis) được thực hiện bởi Collins (2008) cho thấy

có mối tương quan nghịch giữa chỉ số DFI và tỷ lệ có

thai ở các chu kỳ điều trị IVF/ICSI [15] Tuy nhiên,

nhiều tác giả cho rằng tầm vóc nghiên cứu này chưa

đủ mạnh để cung cấp các chỉ định lâm sàng đối với

các bệnh nhân điều trị IVF/ICSI [16] Kết quả nghiên

cứu của chúng tôi đưa ra tỷ số OR không có ý nghĩa

thống kê cho khả năng có thai Tuy nhiên, có thể

nhận thấy khi chỉ số DFI trên 15% thì khả năng mang

thai sinh hóa của bệnh nhân giảm 3,0% – 4,0%

Dữ liệu nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sự suy

giảm tỷ lệ thụ tinh sau ICSI khi chỉ số DFI tăng Vì vậy,

chúng tôi cho rằng ảnh hưởng của sự phân mảnh

Tuổi chồng 33,2 ± 3,5 27 – 40

Tuổi vợ 31,2 ± 3,1 23 – 38

Mật độ (x106 tinh trùng/mL) 33,1 ± 23,2 1 – 112

Độ di động (%) 28,1 ± 13,0 5 – 60

Biểu đồ dạng tinh trùng (%) 1,2 ± 0,6 0 – 4

Bảng 1: Dữ liệu của bệnh nhân được thu nhận vào nghiên cứu

Nhóm DFI

-15 – 30 29 0,96 (0,80 – 1,14) 0,62 1,05 (0,88 – 1,25) 0,62

> 30 11 0,97 (0,87 – 1,27) 0,59 1,20 (0,94 – 1,53) 0,14

Chú thích: Nhóm bệnh nhân DFI ≤ 15% được dùng làm nhóm chứng (ref) Không có sự

tương quan có ý nghĩa thống kê ở các nhóm bệnh nhân có chỉ số DFI khác nhau (p > 0,05).

Bảng 2: Tỷ số nguy cơ cho thai sinh hóa và thai lâm sàng sau khi chuyển phôi của các cặp

vợ chồng ở các nhóm có chỉ số DFI khác nhau

Biểu đồ 1: Tỷ lệ thụ tinh ở các nhóm bệnh nhân có chỉ số DFI khác nhau

Chú thích: Nhóm bệnh nhân có chỉ số DFI ≤ 15% có tỷ lệ thụ tinh cao hơn 2 nhóm bệnh nhân có chỉ số DFI > 15% có ý nghĩa thống kê (p = 0,03)

Biểu đồ 2: Sự tương quan giữa chỉ số DFI và tỳ lệ thụ tinh sau ICSI

Chú thích: Mối tương nghịch giữa chỉ số DFI và tỷ lệ thụ tinh (hệ số tương quan r = -0,28 và

p = 0,02) Phương trình hồi quy y = -0,38x + 95.

Biểu đồ 3: Sự tương quan giữa chỉ số DFI và tỷ lệ phôi tốt sau ICSI

Chú thích: Không tìm ra sự tương quan giữa chỉ số DFI và tỷ lệ phôi tốt sai ICSI (p = 0,3 > 0,05).

DNA tinh trùng sẽ tồn tại ở giai đoạn sớm trong quá trình thụ tinh, khi quá trình này phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng của hai giao tử Chính vì điều này, các bệnh nhân có mức độ phân mảnh DNA tinh trùng cao khó có thể thụ tinh và mang thai tự nhiên

Sau khi thụ tinh, hợp tử sẽ được nuôi cấy và phát triển thành phôi trước khi được chuyển vào tử cung người mẹ Trong giai đoạn này, quá trình phát triển của hợp tử còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chất

Trang 5

PHỤ KHOA – NỘI TIẾT, VÔ SINH

lượng phòng nuôi cấy, chất lượng môi trường nuôi

cấy, chất lượng của noãn… nên chúng tôi cho rằng

cỡ mẫu chưa đủ độ lớn để đánh giá ảnh hưởng của

sự phân mảnh DNA tinh trùng lên chất lượng phôi

Sau khi được chuyển vào tử cung người mẹ,

phôi sẽ làm tổ và phát triển thành thai (thai sinh

hóa ở tuần thứ 2 và thai lâm sàng ở tuần thứ 8

sau ICSI) Trong giai đoạn này, tuổi của người mẹ,

số phôi chuyển là các yếu tố ảnh hưởng tới khả

năng thành công của một chu kỳ ICSI [17] Trên

cơ sở đó, chúng tôi so sánh tỷ lệ những trường hợp

phát triển từ giai đoạn thai sinh hóa tới giai đoạn

thai lâm sàng ở những phụ nữ trẻ (tuổi ≤ 30) và ở

những phụ nữ lớn tuổi hơn (tuổi > 30) Kết quả cho

thấy nhóm phụ nữ trẻ, tỷ lệ này cao hơn có ý nghĩa

thống kê so với nhóm phụ nữ trên 30 tuổi (100%

và 68%; p < 0,05) Như vậy, bên cạnh chỉ số DFI

thì tuổi của người vợ cũng đóng vai trò quan trọng

trong sự phát triển của thai

Bên cạnh các kết quả sau ICSI, chúng tôi tiến

hành phân tích mối liên hệ giữa chỉ số DFI và

các chỉ số tinh dịch đồ như mật độ tinh trùng, độ

di động và hình dạng của tinh trùng Tuy nhiên, không có chỉ số tinh dịch đồ nào tương quan có ý nghĩa thống kê với chỉ số DFI (p > 0,05) Vì vậy, các chỉ số tinh dịch đồ không thể phản ánh được chất lượng DNA tinh trùng và cần các phương pháp chẩn đoán tổn thương DNA tinh trùng nhằm tìm ra phương pháp điều trị hợp lý cho bệnh nhân

Vì SCSA là một khảo nghiệm không xâm lấn với độ nhạy và độ đặc hiệu cao nên SCSA là một công cụ hữu dụng nhằm đánh giá chỉ số DFI cho nam giới [8] Từ kết quả DFI – SCSA, bác sĩ có thể chọn được phương pháp điều trị hiệu quả cho bệnh nhân, đồng thời, khuyến khích bệnh nhân cải thiện chất lượng sống để có thể cải thiện chỉ số phân mảnh DNA tinh trùng

5 Kết luận

Có sự tương quan nghịch giữa chỉ số DFI và tỷ lệ thụ tinh ở các bệnh nhân điều trị ICSI Dựa vào kết quả này, có thể đưa xét nghiệm phân mảnh DNA tinh trùng ứng dụng trên lâm sàng để góp phần tiên lượng kết quả điều trị

Tài liệu tham khảo

1 Larson-Cook KL, Brannian JD, Hansen KA, Kasperson KM, Evenson

DP Relationship between the outcomes of assisted reproductive

techniques and sperm DNA fragmentation as measured by the sperm

chromatin structure assay Fer & Ster 2003 Oct; 80(4):895-902

2 Nagy ZP, Liu J, Joris H, et al The result of intracytoplasmic sperm

injection is not related to any three basic sperm parameters Hum Reprod

1995; 10:1123-9

3 Sakkas D, Urmer F, Bianchi PG, et al Sperm chromatin abnormalities

can influence decondensation after intracytoplasmic sperm injection Hum

Reprod 1996; 11:837-43

4 Giwercman A, Linsteddt L, Larsson M, Bungum M, Spano M &

Rylander L Sperm chromatin structure assay as an independent predictor

of fertility in vivo: a case – control study Int J Androl 2010; 33:221-227

5 Bungum M, Humaidan P, Axmon A, Spano M, Bungum L, Giwercman

A Sperm DNA Integrity assessment in prediction of assisted reproduction

technology outcome Hum Reprod 2007; 22:174-179

6 Zhang Z, Zhu L, Jiang H, Chen H, Chen Y & Dai Y Sperm DNA

fragmentation index and pregnancy outcome after IVF or ICSI: a

meta-analysis J Assist Reprod Genet 2015; 32:17-26

7 Niu ZH, Shi HJ, Zhang HQ, Zhang AJ, Sun YJ & Feng Y Sperm

chromatin structure assay results after swim-up are related only to embryo

quality but not to fertilization and pregnancy rates following IVF Asian J

Androl 2011, 13:862-866

8 Evenson DP & Jost L Sperm chromatin structure assay is useful for

fertility assessment Method in Cell Science 2000; 22(2-3):169-189

9 Alpha Scientists in Reproductive Medicine and ESHRE Special

Interest Group of Embryology The Istanbul consensus workshop on

embryo assessment: preceedings of an expert meeting Hum Reprod 2011; 26(6):1270 – 1283

10 Virro MR, Larson-Cook KL & Evenson DP Sperm chromatin

strucrure assay (SCSA) parameters are related to fertilizatiom, blastocyst development, and ongoing pregnancy in in vitro fertilization and intracytoplasmic sperm injection cycles Fer & Ster 2004; 81:1289-1295

11 Check JH, Graziano V, Cohen R, Krotec J & Check ML Effect of

an abnormal sperm chromatin structure assay (SCSA) on pregnancy outcome following (IVF) with ICSI in previous IVF faliures Arch Androl 2005; 51:121-124

12 Zini A, Meriano J, Kder K, Jarvi K, Laskin CA & Cadesky K Potential

adverse effect of sperm DNA damage on embryo quality after ICSI Hum Reprod 2005; 20:3476-3480

13 Jiang HH, HeXJ, Song B & Cao YX Sperm chromatin integrity test

for predicting the outcomes of IVF and ICSI Zhonghua Nan Ke Xue 2011; 17:1083-1086

14 Dar S, Grover SA, Moskovstev SI, Swanson S, Baratz A & Librach

CL In vitro fertilization – Intracytoplasmic sperm injection outcome in patients with a markedly high DNA fragmentation index (> 50%) Fer & Ster 2013; 100:75-80

15 Collins JA, Barnhart KT & Schlegel PN Do sperm DNA integrity tests

predict pregnancy with in vitro fertilization? Fer & Ster 2008; 89:823-831

16 Oleszczuk K, Giwercman A & Bungum M Sperm chromatin structure

assay in prediction of in vitro fertilization outcome Andrology 2016; 4:290-296

17 Hồ Mạnh Tường, Vương Thị Ngọc Lan, Phạm Việt Thanh, Nguyễn

Thị Ngọc Phượng Tiêm tinh trùng vào bào tương noãn: Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ thành công Y Học TpHCM 2002; 6:361-364

Ngày đăng: 02/11/2020, 21:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w