1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghệ thuật sơn mài ứng dụng của các họa sỹ ở hà nội tt

27 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 263,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để phân biệt sơn mài của làng nghề và sơn mài ƯD của các HS sáng tác một cách rõ ràng hơn trên phương diện lý luận, nghiên cứu sinh NCS chọn đề tài nghiên cứu Nghệ thuật sơn mài của các

Trang 1

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

Nguyễn Thanh Giang

NGHỆ THUẬT SƠN MÀI ỨNG DỤNG

CỦA CÁC HỌA SỸ Ở HÀ NỘI

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Mỹ thuật

Mã số: 9210101

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT

Hà Nội - 2020

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS Nguyễn Lan Hương Người hướng dẫn khoa học 2: PGS.TS Nguyễn Văn Dương

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sản phẩm (SP) chất liệu sơn từ bao thế kỷ trước đã được sử dụng trong sinh hoạt đời sống, sơn được dùng trên các vật dụng và trong tín ngưỡng, tôn giáo, là những đồ thờ, tượng Phật, hoành phi, câu đối, cửa võng

Qua thời gian, lịch sử đã chứng minh đồ sơn gần gũi, gắn bó trong không gian đời sống, văn hóa của người Việt Cho đến thế kỷ XX, đồ sơn tiếp tục phát triển đa dạng hơn, gắn bó với xã hội, con người Việt Nam dưới hình thức là SP trang trí trong mỹ thuật ứng dụng (MTƯD)

và được xác định vai trò, vị trí, giá trị, đồng thời góp một phần không

nhỏ để tạo nên nền tảng văn hóa truyền thống Giai đoạn đầu thế kỷ XX,

chất sơn ta (sơn Phú Thọ) được phát triển, mở rộng để thành chất liệu

mới trong hội họa tạo hình và các SP đồ sơn truyền thống chuyển sang hình thức mới với tên gọi là sơn mài ứng dụng (ƯD) Đặc trưng kế thừa

của nghệ thuật sơn mài ƯD là một dòng chảy từ truyền thống, không đứt đoạn, chỉ chuyển khái niệm từ hàng hóa mỹ nghệ sang MTƯD, gắn bó trong đời sống và có yếu tố thẩm mỹ Nghệ thuật sơn mài ƯD ở Hà Nội được xác định là những SP sáng tạo bởi các HS được đào tạo chính quy

về mỹ thuật và MTƯD Đó là các SP sơn mài nghệ thuật, vừa là biểu tượng hàng hóa và cũng là biểu tượng văn hóa Hai chức năng này song hành phát triển để hình thành hai khuynh hướng sáng tạo của HS: SP được sáng tác đơn chiếc và SP là mẫu cho sản xuất

Trên thực tế, chúng ta được tiếp cận nhiều nhất là các SP thủ công

mỹ nghệ xuất khẩu của làng nghề sơn mài Hạ Thái, Cát Đằng, Bối Khê… qua các hội chợ thủ công mỹ nghệ hoặc các gian hàng trưng bày

và ít có cơ hội tìm hiểu sơn mài qua bàn tay của các HS, bên cạnh các tác phẩm nghệ thuật đang có là tranh hội họa sơn mài Giữa người làm

Trang 4

nghề và nghệ sĩ tạo hình sơn mài có sự giống và khác nhau, thường dễ

có sự nhầm lẫn, bởi vậy, cần có những phân định rõ SP sơn mài nghệ thuật với SP sơn mài là hàng hóa mỹ nghệ thông thường Để phân biệt sơn mài của làng nghề và sơn mài ƯD của các HS sáng tác một cách rõ ràng hơn trên phương diện lý luận, nghiên cứu sinh (NCS) chọn đề tài nghiên cứu Nghệ thuật sơn mài của các họa sỹ ở Hà Nội là cần thiết

trong bối cảnh hiện nay

Cho đến nay, có nhiều học giả đã nghiên cứu về chất liệu sơn mài, sơn mài mỹ nghệ, tranh sơn mài hội họa, tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu một cách hệ thống, sâu rộng về nghệ thuật sơn mài được các

HS sáng tạo, đặc biệt là ở khu vực Hà Nội Một số những công trình nghiên cứu về nghề sơn, các đồ sơn trang trí, sơn mài ở các làng nghề truyền thống đã được đề cập trong các cuốn sách, kỷ yếu hội thảo cùng

một số bài báo trong các tạp chí mỹ thuật, song sơn mài được sáng tác

nhằm mục đích phục vụ cho đời sống, xã hội, vừa có vẻ đẹp nghệ thuật

vừa hữu dụng của những HS được đào tạo ở các ngôi trường chính quy

về nghệ thuật và MTƯD vẫn còn là một khoảng trống còn ít được đề

cập đến Vì vậy, dưới góc độ chuyên môn của ngành sơn mài, nghệ thuật sơn mài ƯD của các HS ở khu vực Hà Nội cần được nghiên cứu

trên bình diện rộng và sâu Với việc chọn đề tài Nghệ thuật sơn mài ứng

dụng của các họa sỹ ở Hà Nội để làm luận án tiến sĩ, NCS mong muốn

bước đầu đưa ra cơ sở khoa học để nhìn nhận, đánh giá về hình thức, giá trị biểu hiện cũng như phong cách tạo hình và nghệ thuật sử dụng màu sắc, chất liệu của các HS ở Hà Nội Bên cạnh đó, với sự đa dạng của SP sơn mài trong các sáng tác nghệ thuật, trong MTƯD từ trước tới nay, cần thiết phải thấy được một bức tranh toàn cảnh về quá trình phát triển, các giai đoạn sáng tác, các tác giả có tên tuổi và những đóng góp nghệ thuật của họ ở từng thời điểm lịch sử Nghiên cứu là cần thiết để

Trang 5

khẳng định giá trị SP sơn mài nghệ thuật của các HS ở Hà Nội trong

một giai đoạn dài của lịch sử, từ năm 1930 đến năm 2015 Trên phương

diện lý luận nghệ thuật, NSC mong muốn được đóng góp những nghiên

cứu của mình trong lĩnh vực MTƯD nói chung và nghệ thuật sơn mài

ƯD ở Việt Nam nói riêng

2 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu

2.1 M ục đích nghiên cứu

Nghiên cứu những đặc trưng nghệ thuật SP sơn mài ƯD trong đời

sống xã hội qua sáng tác của các HS tiêu biểu ở Hà Nội trong giai đoạn

từ năm 1930 đến năm 2015 Khái quát quá trình vận động và phát triển tiếp

nối từ chất liệu truyền thống đến các ƯD mới, nhằm xác định giá trị thẩm

mỹ, giá trị sử dụng của SP sơn mài được sáng tạo bởi các HS ở Hà Nội

2.2 M ục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu những tác giả và tác phẩm, SP sơn mài được sáng tác

bởi các HS ở Hà Nội trong từng giai đoạn, bao gồm HS trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, HS được đào tạo tại trường đại học Mỹ thuật Công nghiệp (MTCN) ở các thời kỳ và chứng minh những đặc điểm của ngôn ngữ trang trí, tạo dáng SP sơn mài giai đoạn từ năm

1930 đến trước năm 1985 và sau năm 1985 đến năm 2015

- Phân tích những loại hình SP, chức năng ƯD ở từng giai đoạn cũng như đặc điểm nghệ thuật được biểu hiện và những yếu tố khác có liên quan như khuynh hướng sáng tạo, kỹ thuật thể hiện và màu sắc chất

liệu ở mỗi SP sơn mài của HS ở khu vực Hà Nội

- So sánh sự tương đồng và khác biệt giữa sáng tạo của các HS ở

Hà Nội với các SP làng nghề để nghiên cứu những đặc điểm chung và riêng biệt Từ đó, khái quát tính chất và khẳng định nghệ thuật sơn mài

ƯD là một dòng SP có thẩm mỹ và có giá trị trong dòng chảy của MTƯD Việt Nam

Trang 6

- Chứng minh quá trình vận động, phát triển từ ngôn ngữ trang trí truyền thống đến các ƯD mới ở từng SP sơn mài của HS trong quá trình được đào tạo chuyên môn về mỹ thuật và MTƯD ở các trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và MTCN từng thời kỳ

- Khẳng định những đóng góp của HS ở Hà Nội đối với đời sống, trong lĩnh vực MTƯD nói chung cũng như đối với sự phát triển nghệ thuật sơn mài Việt Nam nói riêng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là SP sơn mài ƯD tiêu biểu của HS ở Hà

Nội, trong đó NCS tập trung chủ yếu là SP ƯD của các HS thời kỳ trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, trường MTCN trong các giai đoạn đào tạo ở hệ trung cấp, cao đẳng và đại học Bên cạnh đó còn nghiên cứu một số SP tiêu biểu của các nghệ nhân đã cộng tác giảng

dạy kỹ thuật sơn mài ở Hà Nội Nghiên cứu SP sơn mài được trưng bày

tại bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, bảo tàng trường đại học MTCN, bảo tàng trường Trung cấp dạy nghề Tổng hợp Hà Nội, SP trưng bày trong các triển lãm MTƯD toàn quốc từ năm 2004 đến năm 2014

3.2 Ph ạm vi nghiên cứu :

HS ở khu vực Hà Nội qua các giai đoạn của hai trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và MTCN Không đi sâu nghiên cứu SP sơn mài ở các khu vực khác phía Bắc, hoặc các khu vực miền Trung và miền Nam

của các HS ở Hà Nội trong giai đoạn từ năm 1930 đến 2015 Bên cạnh

đó, luận án nghiên cứu SP sơn mài trong triển lãm MTƯD toàn quốc vào các năm 2004, 2009, 2014

Trang 7

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp điền dã, khảo sát

Khảo sát thực địa tại nơi làm việc của các HS để tìm hiểu về chất

liệu và kỹ thuật sơn mài trong quá trình lao động nghệ thuật của họ

Phương pháp tổng hợp, phân tích các dữ liệu: Thu thập các thông

tin từ nguồn tư liệu hình ảnh các SP của HS đã được chọn lọc trong khu

vực Hà Nội

Phương pháp thống kê phân loại: Thu thập bằng số liệu cụ thể ở

từng loại hình và thể loại SP trong nghiên cứu

Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện các cuộc phỏng vấn trực

tiếp, phỏng vấn sâu để lấy ý kiến từng cá nhân HS Phỏng vấn các lớp

HS kế cận, HS trẻ mới ra trường để tiếp nhận các thông tin mới

Phương pháp so sánh: So sánh, đối chiếu giữa các SP của các HS

với các SP của làng nghề

Phương pháp phân tích mỹ thuật học: Phân tích yếu tố trang trí,

ngôn ngữ tạo hình, kỹ thuật chất liệu và màu sắc sơn mài theo các tiêu chí của mỹ thuật học ở từng SP

Phương pháp tiếp cận liên ngành: Áp dụng phương pháp luận

nghiên cứu sử học, văn hóa học, mỹ học, nghệ thuật học Nghiên cứu sử

học để làm rõ lịch sử từ sơn trang trí cho đến sự phát triển của nghệ thuật sơn mài Nghiên cứu văn hóa học trên cơ sở biến đổi và giao lưu văn hóa nhằm bổ sung các quan điểm gìn giữ những giá trị truyền

thống Nghiên cứu mỹ học nhằm khẳng định vẻ đẹp của SP trên phương

diện thẩm mỹ đời sống Nghiên cứu nghệ thuật học để xây dựng những tiêu chí đánh giá đặc điểm nghệ thuật của SP sơn mài

Trang 8

5 Câu h ỏi và giả thuyết nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu

1 HS ở khu vực Hà Nội đã sáng tạo các SP sơn mài để phục vụ đời sống, những nơi đào tạo cùng sự nghiệp sáng tác của họ như thế nào? Những yếu tố làm nên đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật sơn mài ƯD của các HS ở Hà Nội?

2 SP sơn mài của các HS ở Hà Nội có được đánh giá như một tác phẩm nghệ thuật và được gọi chung là nghệ thuật ƯD không? Điều gì tạo nên giá trị cốt lõi SP sơn mài ƯD của các HS?

3 Trong bối cảnh toàn cầu hóa với sự phát triển cuộc sống hiện đại, sơn mài ƯD sẽ tiếp tục được duy trì như thế nào trong sự biến đổi

về kỹ thuật và chất liệu cũng như những yếu tố tác động trực tiếp đối với nghề sơn hiện nay?

Giả thuyết nghiên cứu

1 SP sơn mài của các HS ở khu vực Hà Nội trong khoảng thời gian từ năm 1930 đến năm 2015 là nghệ thuật sáng tạo thẩm mỹ và phục vụ đời sống SP của các HS là một dòng riêng không lẫn với các

SP làng nghề đang có trên thị trường Nghệ thuật sơn mài ƯD của các

HS ở Hà Nội có đặc trưng riêng ở tạo dáng, trang trí, màu sắc, kỹ thuật chất liệu kết hợp giữa yếu tố truyền thống và hiện đại, mang phong cách sáng tạo cá nhân Đó chính là những yếu tố làm nên đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật sơn mài MTƯD

2 Các HS ở Hà Nội với khả năng sử dụng chất liệu sơn mài truyền thống đã tạo nên ngôn ngữ đặc trưng riêng, đóng góp cho sự phát triển của MTƯD ở Việt Nam Phong cách cá nhân được biểu hiện và SP sơn mài của các HS ở Hà Nội được đánh giá như một tác phẩm nghệ thuật, tạo nên dòng SP - nghệ thuật ƯD có phân khúc riêng Giá trị cốt lõi SP

Trang 9

là chức năng ƯD trong đời sống ở mỗi thể loại, được biểu hiện trong ngôn ngữ điển hình theo tư duy thẩm mỹ của từng HS

3 Để duy trì và phát triển nghệ thuật sơn mài ƯD, các HS cần tiếp nhận các kỹ thuật và vật liệu mới song hành với bảo tồn kỹ thuật sơn mài truyền thống, được định hướng trên nền tảng kế thừa và phát triển những tinh hoa của các lớp HS đi trước trong nghệ thuật sử dụng chất liệu, trong các sáng tạo mới tùy theo từng không gian ƯD đòi hỏi SP có khả năng đáp ứng và mô hình sản xuất trực tiếp cần sự hỗ trợ của các mẫu TK hiện đại và mới mẻ

6 Những đóng góp mới của luận án

7 Bố cục của luận án

Ngoài phần Mở đầu (09 trang), Kết luận (05 trang), Tài liệu tham

khảo (07 trang) và Phụ lục (68 trang), nội dung chính của luận án được

bố cục thành 03 chương

Trang 10

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát chung về nghệ thuật sơn mài ứng dụng của các họa sỹ ở Hà Nội

(49 trang); Chương 2: Biểu hiện nghệ thuật sơn mài ứng dụng của các

họa sỹ ở Hà Nội (58 trang); Chương 3: Bàn luận về nghệ thuật sơn mài ứng dụng của các họa sỹ ở Hà Nội (41 trang)

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT SƠN MÀI ỨNG DỤNG

CỦA CÁC HỌA SỸ Ở HÀ NỘI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Công trình nghiên cứu nước ngoài

Những cây sơn ở Đông Dương của tác giả người Pháp là

Ch.Crevost và cuốn Sơn và dầu sơn Bắc Bộ, Trung Quốc và Nhật Bản

của Moutier, Les Arts décoratifs au Tokin/ Nghệ thuật trang trí ở Xứ

Bắc của Marcel Bernanose, Nghệ thuật xứ An Nam của Henri Gourdon,

nhà xuất bản (Nxb) Thế giới là những ấn phẩm nước ngoài có nghiên cứu về sơn và chất liệu sơn được ƯD ở Việt Nam

1.1.2 Công trình nghiên cứu trong nước

1.1.2.1 Một số công trình nghiên cứu về nghề sơn

Nghề sơn cổ truyền Việt Nam của tác giả Lê Huyên, Vietnamese

nghệ miền Bắc của tác giả Trương Minh Hằng; Nghề sơn truyền thống tỉnh Hà Tây của tác giả Nguyễn Xuân Nghị; Làng nghề sơn quang Cát Đằng (truyền thống và biến đổi) của tác giả Nguyễn Lan Hương là các

cuốn sách tổng hợp những nét hoạt động nghề đặc trưng tại các làng nghề ở miền Bắc, những nghiên cứu đề cập đến lịch sử, hoạt động sản xuất SP sơn mài tại các làng nghề

Trang 11

1.1.2.2 Công trình nghiên cứu về kỹ thuật - chất liệu sơn mài và những yếu tố liên quan đến nghề sơn

Kỹ thuật sơn mài của Phạm Đức Cường, Kỷ yếu hội thảo Sơn ta và nghề sơn truyền thống Việt Nam của Trường đại học Mỹ thuật - Viện

Mỹ thuật, với nhiều bài hội thảo và những nhận định về kỹ thuật và chất liệu sơn mài có liên quan đến các vấn đề nghiên cứu

1.1.2.3 Công trình nghiên cứu về các họa sỹ

Họa sỹ Nguyễn Khang, Lê Quốc Lộc, Nguyễn Văn Y, những con đường kiến tạo nghệ thuật; Mỹ thuật ứng dụng Việt Nam đương đại -

trúc sư Phạm Gia Yên là những cuốn sách nói về các hoạt động sáng tạo

và các SP sơn mài của các HS Tuy nhiên chưa có nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật sơn mài ƯD của các HS ở Hà Nội

1.2 Cơ sở lý luận

1.2.1 h i ni m ngh thuật s n mài ứng ụng

1.2.1.1 Khái niệm về mỹ thuật ứng dụng

Mỹ thuật ứng dụng: Chức năng của MTƯD là kết hợp các yếu tố

nghệ thuật với yếu tố vật liệu và công nghệ, để hình thành những SP mang tính thẩm mỹ, tính công năng

trường đại học MTCN Halle, cộng hòa dân chủ Đức cộng tác với trường Trung cấp Mỹ nghệ trong mục đích trao đổi học tập đầu những năm

1960 MTCN có thể được coi là hoạt động đào tạo về MTƯD trong lĩnh vực TK SP với chức năng phục vụ đời sống ở các thể loại và loại hình

1.2.1.2 Sơn mài ứng dụng

Sơn trang trí: Đồ sơn đặc biệt phát triển rực rỡ trong giai đoạn thế

kỷ XVII - XIX với sự đa dạng và phong phú của nhiều chủng loại Có thể gọi các SP đó là sơn trang trí truyền thống

Trang 12

Sơn mài: Từ sơn trang trí truyền thống, thay đổi kỹ thuật và thêm

các vật liệu khác hỗ trợ chuyển sang tên gọi mới là sơn mài Nghệ thuật

sơn mài ƯD: Là hoạt động sáng tạo SP với chất liệu sơn mài, có thể tạo

ra tác phẩm độc lập hoặc TK mẫu cho sản xuất và xuất khẩu SP sơn

mài ƯD: các SP được thể hiện qua bàn tay và tư duy TK của các HS

TK SP với chất liệu sơn mài được nhận định: nhằm tạo nên những SP

với sự đa dạng, phong phú về kiểu dáng và hình thức trang trí, vừa có giá trị nghệ thuật và có tính hữu dụng

1.2.2 Lý thuyết p ụng

1.2.2.1 Thuyết Ích mỹ: Để giải thích cái đẹp của kiến trúc, tác giả

Uông Chính Chương trong Cuốn Mỹ học kiến trúc, Nxb Xây dựng, năm

2002 có đưa ra các loại giải thích, trong đó có thuyết “Ích mỹ” với ý nghĩa đẹp và có ích lợi hiệu quả Thuyết “Ích mỹ” cần vận dụng để chứng minh sự kết hợp giữa vẻ đẹp của đồ vật và lợi ích sử dụng, liên

hệ với lý luận nghệ thuật sơn mài ƯD đây là một cơ sở lý thuyết phù hợp

1.2.2.2 Hệ thống lý luận về Lịch sử, Phương pháp luận Design:

Cơ sở phương pháp luận design của Lê Huy Văn giúp bổ trợ cho tạo hình với ý nghĩa là tạo dáng công nghiệp, biểu hiện cụ thể phương diện của MTƯD và vấn đề này được khoa học hóa để trở thành những

nguyên lý cơ bản trong quan điểm về TK SP

1.2.2.3 Các quan điểm Hình thái học nghệ thuật: Giúp khẳng định

khái niệm sơn mài ƯD là các SP trang trí trong không gian, là nghệ thuật tĩnh, bao gồm các vật thể có thể tích, tạo nên những biểu cảm, mang ngôn ngữ trang trí của đường nét và màu sắc Từ khái niệm đó sẽ giúp chứng minh đặc trưng, tính chất của SP sơn mài

1.2.3 Một số lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu

hình và mỹ thuật ứng dụng

Trang 13

Có thể so sánh giữa nghệ thuật tạo hình và nghệ thuật ƯD trên cả

ba phương diện: Nguyên lý sáng tạo, phương thức thể hiện và giá trị SP

để thấy rõ những sự tương đồng và khác biệt Mỹ thuật tạo hình xây

dựng cá tính của nghệ sỹ, MTƯD cần sáng tạo của nghệ sỹ để làm phong phú cuộc sống trên mọi vật liệu và chất liệu

1.2.3.2 Về hình thức trang trí nói chung

Dựa trên quan điểm Hình thái học nghệ thuật, sơn mài ƯD được

định nghĩa với có tính chất tạo nên các SP không gian, là nghệ thuật tĩnh, bao gồm các vật thể có thể tích, tạo nên những biểu cảm, mang ngôn ngữ trang trí của đường nét và màu sắc là những đồ vật trong không gian, thoát ly với nghệ thuật miêu tả mới thích hợp với ngôn ngữ chất liệu sơn, với tạo dáng và màu sắc của sơn mài

1.2.3.3 Sự tương đ ng và khác biệt sản phẩm sơn mài ở các làng nghề và sơn mài ứng dụng của các họa sỹ Hà Nội

Sự tương đ ng: Hai dòng SP đều bao gồm các thể loại: khay, hộp,

lọ, đĩa, bát, tranh trang trí, chân đèn, bình phong… theo các chức năng

ƯD riêng

Sự khác biệt: SP xuất khẩu của các làng nghề có chất lượng không

đồng đều, một vài SP với thẩm mỹ chưa cao Sự khác nhau trên phương diện mẫu mã SP cũng tạo nên sự khác biệt khá rõ nét SP sơn mài MTƯD của các HS luôn đề cao ý tưởng sáng tạo, kiểu dáng và hình thức trang trí

1.3 Khái quát về sản phẩm sơn mài ứng dụng của các họa sỹ

từ năm 1930 đến năm 2015

1.3.1 Giai đoạn t năm 1930 đến trước năm 1945

Tiêu biểu trong giai đoạn từ năm 1930 đến trước năm 1945 phải kể đến sơn mài Phạm Hậu Phạm Hậu là một người đầu tiên tổ chức sản xuất SP sơn mài theo hợp đồng được nhận từ thầy Tardieu Ông Tardieu

đã tìm đến Đông Ngạc để chuyển cho Phạm Hậu hợp đồng của hãng

Ngày đăng: 02/11/2020, 18:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w