Lời nói đầuTại Đại hội lần thứ X của Đảng đã xác định mục tiêu và phương hướng tổng quát của 5năm 2006-2010 là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sứcmạnh to
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
………… …………
BÀI TẬP LỚN
TÊN HỌC PHẦN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
ĐỀ TÀI : CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn: PGS TS Nguyễn Thị Thanh Hiếu Sinh viên thực hiện : Doãn Tuấn Sơn
Lớp : Thương mại điện tử 61
Mã sinh viên :11194546
Lớp học phần : Kinh tế chính trị Mác - Lênin_(120)_13
HÀ NỘI – 2020
Trang 2Mục lục
Lời nói đầu 2
I Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về cách mạng công nghiệp và công nghiệp hóa_3
I.1 Khái quát về cách mạng công nghiệp 4
I.1.1 Cách mạng công nghiệp là gì? _4I.1.2 Vai trò của cách mạng công nghiệp đối với phát triển 6
I.2 Công nghiệp hóa và các mô hình công nghiệp hóa 8
I.2.1 Công nghiệp hóa 8I.2.2 Các mô hình công nghiệp hóa tiêu biểu 8
II Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam _11
II.1 Lịch sử quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam _11 II.2 Tính tất yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam 15 II.3 Nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam 17 II.4 Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay 20 II.5 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0_23
II.5.1 Nhiệm vụ của quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa của nước ta trong bốicảnh cuộc cách mạng 4.0 23II.5.2 Những nguy cơ trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 _25II.5.3 Nhiệm vụ của mỗi người trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa củanước ta trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0 25
Kết luận _26 Tài liệu tham khảo _26
Trang 3Lời nói đầu
Tại Đại hội lần thứ X của Đảng đã xác định mục tiêu và phương hướng tổng quát của 5năm 2006-2010 là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sứcmạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới huy động và sử dụng tốt mọinguồn lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển văn hoá; thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội, tăng cường quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủđộng và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị xã hội, sớm đưa nước ta
ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thànhmột nước công nghiệp theo hướng hiện đại”
Thời gian thấm thoát thoi đưa, chỉ còn 2 tháng nữa là năm 2020 sẽ kết thúc, trong đề tàinày chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về tình hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta và xemliệu chúng ta có về đích đúng kế hoạch hay không? Đồng thời hiểu khái quát về quá trìnhcông nghiệp hóa trên thế giới, quan điểm của Mác và Lenin về công nghiệp hóa và áp dụngcho thời kỳ hiện nay
Trang 4I Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về cách mạng công nghiệp
và công nghiệp hóa
Để nghiên cứu chủ nghĩa tư bản, C Mác bắt đầu từ hàng hóa và chỉ ra rằng, chính những quan hệ giá trị - quy luật giá trị là tiền đề kinh tế cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản Với việc phân tích giá trị và quy luật giá trị, C Mác đã chứng minh quan hệ giá trị đã làm cho con người tách khỏi những lệ thuộc cá nhân, gắn kết họ lại trong quan hệ xã hội, tạo lực đẩy cho
sự phát triển kinh tế Quy luật giá trị chính là một sức mạnh kinh tế, chỉ ra hướng phát triển
là nên làm những gì có lợi, theo tiếng gọi của thị trường Nó gợi mở tư duy về tận dụng lợi thế so sánh, nâng cao năng lực cạnh tranh, ưu tiên cho các cực tăng trưởng mà hiện nay chúng ta đang bàn đến trong chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Bộ “Tư bản” của C Mác không chỉ trình bày một trong hai phát kiến lớn nhất của Ông là Học thuyết giá trị thặng dư mà còn trình bày những phạm trù và quy luật của kinh tế thị trường, là bộ sách lớn nhất về “kinh tế thị trường” mà ngày nay những nhà kinh tế học mác- xít cần phải dựa vào để tổng kết thực tiễn kinh tế thị trường hiện đại Những nguyên lý về sản xuất hàng hóa, thị trường, quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, thị trường vốn, tín dụng, tích lũy vốn, tuần hoàn, chu chuyển vốn, quy luật lưu thông tiền tệ cho đến nay vẫn không ai bác bỏ được Nó cũng đã bác bỏ luận điểm cho rằng, cơ chế thị trường
mà chúng ta đang xây dựng để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa không có gì có thể học được ở C Mác, rằng học thuyết kinh tế Mác đã lỗi thời!
C Mác đã dành phần lớn bộ “Tư bản” để phân tích sự vận động của tư bản (cả tư bản cá biệt và tư bản xã hội) trong cơ chế thị trường Luận điểm quan trọng của Ông là sự lớn lên của tư bản, thông qua cơ chế không ngừng biến phần lớn giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm (tích lũy) Với tiêu chí số một là giá trị thặng dư, việc tăng tốc quá trình tuần hoàn và chu chuyển của tư bản, trong đó các yếu tố tăng vòng quay của đồng vốn, không ngừng tích lũy, thay đổi cấu tạo hữu cơ của tư bản, dùng lao động sống để đánh thức tiềm năng của lao động vật hóa,… là yếu tố sống còn đối với mỗi nhà tư bản cũng như nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Nếu gạt bỏ yếu tố tư bản chủ nghĩa, chúng ta có thể thấy rằng, đó là cơ chế đích thực
để phát triển kinh tế Nó còn cho thấy, tăng tích lũy, tăng đầu tư vốn, thay đổi kết cấu kỹ thuật của sản xuất là cơ sở của sự tăng trưởng Và chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay chính là chuyển từ nền kinh tế không có tích lũy (tái sản xuất giản đơn) sang nền kinh tế có tích lũy (tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng và chiều sâu) với quy mô ngày càng lớn Học thuyết tái sản xuất mác-xít cũng gợi mở nhiều điều về mối quan hệ giữa tích lũy với tiêu dùng, giữa tích
tụ và tập trung vốn, cũng như những cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân Thế mà, có ý kiến cho rằng, công cuộc xây dựng đất nước ngày nay, chúng ta không học được gì từ học thuyết kinh tế của C Mác!
Trang 5Để nghiên cứu sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, tức là quá trình công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa, C Mác đã nghiên cứu ba giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản trong công nghiệp: hiệp tác giản đơn, công trường thủ công và đại công nghiệp cơ khí (máy móc và công nghiệp lớn) Điểm xuất phát lịch sử của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là số đông người làm việc cùng một lúc, ở cùng một nơi, dưới sự điều khiển của một nhà tư bản Như vậy, nội dung của quá trình sản xuất đã có sự thay đổi trong tổ chức lao động, đó là quá trình lao động xã hội trực tiếp, là hiệp tác Hiệp tác và phân công trong công trường thủ công là hai giai đoạn
kế tiếp nhau của cuộc cách mạng trong lao động, khi kỹ thuật sản xuất còn là thủ công Nó xã hội hóa trực tiếp quá trình lao động và tạo ra sức sản xuất mới của lao động (sức sản xuất xã hội) Quá trình chuyên môn hóa lao động chính là cách thức tăng sức sản xuất cá nhân của con người lên và chuẩn bị những cơ sở cho sự thay đổi trong công cụ lao động Hai giai đoạn này có thể xem như thời kỳ chuẩn bị để “cất cánh” Cuộc cách mạng công nghiệp (công nghiệp hóa) đã đưa chủ nghĩa tư bản sang giai đoạn phát triển thứ ba - giai đoạn đại công nghiệp cơ khí Lúc này, nền sản xuất xã hội đã có được cơ sở vật chất kỹ thuật trong tay mình
là kỹ thuật cơ khí và nhờ kỹ thuật này đã giải phóng sức sản xuất cá nhân khỏi những giới hạn về thể chất tự nhiên của con người, tạo cơ sở để ứng dụng khoa học vào sản xuất, từng bước đưa khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Với quá trình công nghiệp hóa, nền kinh tế được đặt trên cơ sở công nghiệp và cùng với nó là quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất, thực hiện cuộc đại phân công lần thứ hai trong nền sản xuất xã hội, tách công nghiệp ra khỏi nông nghiệp và biến nó thành một ngành sản xuất độc lập Đó là sự bùng nổ
có tính dây chuyền trong quá trình công nghiệp hóa ở một số ngành mới ra đời, kéo theo những ngành khác xuất hiện Nếu kinh tế hàng hóa lấy phân công lao động xã hội là cơ sở, thì chính công nghiệp hóa với những chuyển dịch trong cơ cấu nền sản xuất xã hội là nội dung vật chất của quá trình chuyển sang kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường Đó cũng là nội dung chính của quá trình tăng năng suất lao động xã hội.
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi
để phát triển kinh tế (phương thức sản xuất) thì lực lượng sản xuất là nội dung, là yếu tố động nhất và quyết định nhất, mà trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa của chúng
ta hiện nay thì phải thực hiện nhiều trình độ, từ trình độ cơ khí đến trình độ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0); trong đó phải chú trọng tận dụng thành tựu của cách mạng 4.0, chuyển dịch cơ cấu kinh tế (trong đó có cơ cấu thành phần kinh tế) mới thúc đẩy được lực lượng sản xuất phát triển Chính trên cái nền của lực lượng sản xuất được công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo ra mà từng bước xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp Bằng quan điểm duy vật lịch sử, C Mác cũng đã chỉ ra mối quan hệ giữa cơ sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng, xác định vai trò quyết định của cơ sở kinh tế và tính tích cực, chủ động của kiến trúc thượng tầng Quan hệ này gợi mở ý tưởng về vai trò điều hành của Nhà nước với quá trình phát triển kinh tế mà ở nước ta hiện nay là quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trang 6I.1 Khái quát về cách mạng công nghiệp
I.1.1 Cách mạng công nghiệp là gì?
Cách mạng công nghiệp là những bước phát triển nhảy vọt về chất trình độ của tư liệu
lao động trên cơ sở những phát minh đột phá về kỹ thuật và công nghệ trong quá trình pháttriển của nhân loại kéo theo sự thay đổi căn bản về phân công lao động xã hội cũng như tạobước phát triển năng suất lao động cao hơn hẳn nhờ áp dụng một cách phổ biến những tínhnăng mới trong kỹ thuật – công nghệ đó vào đời sống xã hội
Cho đến nay, loài người đã trải qua ba cuộc cách mạng và đang bắt đầu cuộc cách mạngcông nghiệp lần thứ tư (cách mạng công nghiệp 4.0):
Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất bắt đầu từ giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX tại
nước Anh
Tiền đề của cuộc cách mạng này xuất phát từ sự trưởng thành về lực lượng sản xuất chophép tạo ra bước phát triển đột biến về tư liệu lao động, đầu tiên trong lĩnh vực dệt vải sau
đó lan tỏa ra các ngành kinh tế khác của nước Anh
Nội dung cơ bản của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất là chuyển từ lao động thủcông thành lao động sử dụng máy móc, thực hiện cơ giới hóa sản xuất bằng việc sử dụngnăng lượng nước và động cơ hơi nước
Những phát minh quan trọng tạo tiền đề cho cuộc cách mạng này là: Phát minh máy móctrong ngành dệt như thoi bay của John Kay (1733), xe kéo sợi Jenny (1764), máy dệt củaEdmund Cartwright (1785),… giúp cho ngành công nghiệp dệt phát triển mạnh mẽ Phát minhmáy động lực, đặc biệt là động cơ hơi nước của James Watt là mốc mở đầu quá trình cơ giớihóa sản xuất Các phát minh trong công nghiệp luyện kim của Henry Cort, Henry Bessemer về
lò luyện gang, công nghệ luyện sắt là những bước tiến lớn đáp ứng cho nhu cầu chế tạo máymóc Trong ngành giao thông vận tải, sự ra đời và phát triển của tàu hỏa, tàu thủy… đã tạođiều kiện cho giao thông vận tải phát triển mạnh mẽ
Cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra vào nửa cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX.
Nội dung của cách mạng công nghiệp lần thứ hai được thể hiện ở việc sử dụng nănglượng điện và động cơ điện, để tạo ra các dây chuyền có tính chuyên môn hóa cao, chuyểnnền sản xuất cơ khí sang nền sản xuất điện – cơ khí và sang giai đoạn hóa cục bộ trong sảnxuất
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai là sự tiếp nối cuộc cách mạng công nghiệp lầnthứ nhất, với những phát minh về công nghệ và sản phẩm mới được ra đời và phổ biến nhưđiện, xăng dầu, động cơ đốt trong Kỹ thuật phun khí nóng, công nghệ luyện thép Bessemertrong sản xuất sắt thép đã làm tăng nhanh sản lượng, giảm chi phí và giá thành sản xuất.Ngành sản xuất giấy phát triển kéo theo sự phát triển của ngành in ấn và phát hành sách báo.Ngành chế tạo ô tô, điện thoại, sản phẩm cao su cũng được phát triển nhanh Sự ra đời của
Trang 7những phương pháp quản lý sản xuất tiên tiến của H.Ford và Taylor như sản xuất theo dâychuyền, phân công lao động chuyên môn hóa được ứng dụng rộng rãi trong các doanhnghiệp đã thúc đẩy nâng cao năng suất lao động Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ haicũng đã tạo ra những tiến bộ vượt bậc trong giao thông vận tải và thông tin liên lạc.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba đã bắt đầu từ khoảng những năm đầu thập
niên 60 thế kỷ XX đến cuối thế kỷ XX
Đặc trưng cơ bản của cuộc cách mạng này là sử dụng công nghệ thông tin, tự động hóasản xuất Các mạng công nghiệp lần thứ ba diễn ra khi có các tiến bộ về hạ tầng điện tử, máytính và số hóa vì nó được xúc tác bởi sự phát triển của chất bán dẫn, siêu máy tính (thập niên1960), máy tính cá nhân (thập niên 1970 và 1980) và Internet (thập niên 1990) Cuộc cáchmạng công nghiệp lần thứ ba đã đưa tới những tiến bộ kỹ thuật công nghệ nổi bật trong giaiđoạn này là: hệ thống mạng, máy tính cá nhân, thiết bị điện tử sử dụng công nghệ số vàrobot công nghiệp
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) được nhắc đến lần đầu tiên tại Hội trợ triển lãm
công nghệ Hannover (Đức) năm 2011 và được Chính phủ Đức đưa vào “Kế hoạch hành độngchiến lược công nghệ cao” năm 2012
Gần đây tại Việt Nam cũng như trên nhiều diễn đàn kinh tế thế giới, việc sử dụng thuậtngữ cách mạng công nghiệp lần thứ tư với hàm ý có một sự thay đổi về chất trong lực lượngsản xuất trong nền kinh tế thế giới Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được hình thành trên
cơ sở cuộc cách mạng số, gắn với sự phát triển và phổ biến của Internet vạn vật (Internet ofThings – IoT) Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có biểu hiện đặc trưng là sự xuất hiện củacác công nghệ mới có tính đột phá về chất như trí tuệ nhân tạo, big data, in 3D…
Như vậy, mỗi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện có những nội dung cốt lõi về tư liệuliệu lao động Sự phát triển của tư liệu lao động đã thúc đẩy sự phát triển của văn minh nhânloại Theo nghĩa đó, vai trò của cách mạng công nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng tronthúc đẩy phát triển
I.1.2 Vai trò của cách mạng công nghiệp đối với phát triển
Vai trò của cuộc cách mạng công nghiệp có những ý chính như sau:
Một là, thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất
Các cuộc cách mạng công nghiệp có tác động vô cùng to lớn đến sự phát triển lực lượngsản xuất của các cuốc gia Đồng thời, tác động mạnh mẽ tới quá trình điều chỉnh cấu trúc vàvai trò của các nhân tố trong lực lượng sản xuất xã hội Về tư liệu lao động, từ chỗ máy móc
ra đời thay thế cho lao động chân tay cho đến sự ra đời của máy tính điện tử, chuyển nềnsản xuất sang giai đoạn tự động hóa, tài sản cố định thường xuyên được đổi mới, quá trìnhtập trung hóa sản xuất được đẩy nhanh
Trang 8Cách mạng công nghiệp có vai trò to lớn trong phát triển nguồn nhân lực, nó vừa đặt ranhững đòi hỏi về chất lượng nguồn nhân lực ngày càng cao nhưng mặt khác lại tạo điều kiện
để phát triển nguồn nhân lực Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất đã thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động, gia tăng của cải vật chất, dẫn đến những thay
đổi to lớn về kinh tế xã hội, văn hóa và kỹ thuật C Mác và Ph Anghen đã nhận xét rằng:
“Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại” Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất đã hình thành hai giai cấp cơ bản trong xã hội
là tư sản và vô sản C Mác và Ph Anghen chỉ rõ: “bản thân giai cấp tư sản hiện đại cũng là
sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài, của một loạt các cuộc cách mạng trong phương thức sản xuất và trao đổi” Với việc máy móc thay thế lao động thủ công đã làm gia
tăng thất nghiệp, công nhân phải lao động với cường độ cao, mức độ bóc lột tăng lên làmcho mâu thuẫn đổi kháng giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản ngày càng gay gắt Đây lànguyên nhân làm bùng nổ những cuộc đấu tranh mạnh mẽ của giai cấp công nhân Anh vàocuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, sau đó lan rộng sang các nước khác như Pháp, Đức
Về đối tượng lao động, cách mạng công nghiệp đã đưa sản xuất của con người vượt quánhững giới hạn về tài nguyên thiên nhiên cũng như sự phụ thuộc của sản xuất vào các nguồnnăng lượng truyền thống Các yếu tố đầu vào của sản xuất sẽ thay đổi căn bản Những độtphá của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ làm mất đi những lợi thế sản xuất truyền thống,đặc biệt là từ những nước đang phát triển như nhân công rẻ, dồi dào hay sở hữu nhiều tài
nguyên Về xu hướng tất yếu mang tính quy luật này, C Mác đã dự báo cách đây gần 200
năm: “Theo đà phát triển của đại công nghiệp, việc tạo ra của cải sẽ trở nên ít phụ thuộc vào thời gian lao động và số lượng lao động đã chi phí mà phụ thuộc vào việc ứng dụng khoa học
ấy vào sản xuất” và “Thiên nhiên không chế tạo ra máy móc Tất cả những cái đó đều là sản phẩm của lao động của con người, đều là sức mạnh đã vật hóa của tri thức Sự phát triển của
tư bản cố định là chỉ số cho thấy tri thức xã hội phổ biến, đã chuyển hóa đến mức độ nào thành lực lượng sản xuất trực tiếp, do đó nó cũng là chỉ số cho thấy những điều kiện của chính quá trình sống của xã hội đã phục tùng đến mức độ nào sự kiểm soát của trí tuệ phổ biến”.
Thành tựu của các cuộc cách mạng công nghiệp tạo điều kiện để các nước phát triển tiếptục đi xa hơn trong phát triển khoa học công nghệ và ứng dụng các thành tựu khoa học côngnghệ tiên tiến vào sản xuất và đời sống Đồng thời, tạo cơ hội cho các nước đang và kémphát triển tiếp cận với những thành tựu mới của khoa học công nghệ, tận dụng lợi thế của
những nước đi sau; thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa để bứt phá, rút ngắn khoảng
cách về trình độ phát triển với các nước đi trước
Hai là, thúc đẩy hoàn thiện quan hệ sản xuất
Các cuộc cách mạng công nghiệp tạo sự phát triển nhảy vọt về chất trong lực lượng sảnxuất và sự phát triển này tất yếu dẫn đến quá trình điều chỉnh, phát triển và hoàn thiện quan
hệ sản xuất xã hội và quản trị phát triển
Trang 9Trước hết là sự biến đổi về sở hữu tư liệu sản xuất Ngay từ cuộc cách mạng công nghiệplần thứ nhất, nền sản xuất lớn ra đời thay thế dần cho các sản xuất nhỏ, khép kín, phân tán.Quá trình tích tụ và tập trung tư bản dưới tác động của quy luật giá trị thặng dư và cạnhtranh gay gắt đã đẻ ra những xí nghiệp có quy mô lớn Dưới tác động của cách mạng khoahọc công nghệ, sở hữu tư nhân không còn đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của sản xuất và yêucầu cải tiến kỹ thuật Tư bản buộc phải liên kết lại dưới hình thức công ty cổ phần và sự pháttriển của các loại hình công ty này cho phép mở rộng chủ thể sở hữu tư bản ra các thànhphần khác của xã hội Thực tế trên buộc các nước phải điều chỉnh chế độ sở hữu, thực hiện
đa dạnh hóa sở hữu, lấy sở hữu tư nhân làm nòng cốt đồng thời phát huy sức mạnh và ưuthế tối đa của sở hữu nhà nước và khu vực kinh tế nhà nước Cuộc cách mạng công nghiệplần thứ hai đã nâng cao hơn nữa năng suất lao động, tiếp tục thúc đẩy lực lượng sản xuấtphát triển, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ, từ nông nghiệp sang công nghiệp –dịch vụ, thương mại, đồng thời dẫn đến quá trình đô thị hóa, chuyển dịch dân cư từ nôngthôn sang thành thị Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai đã đẩy nhanh quá trình xã hộisản xuất, thúc đẩy chủ nghĩa tư bản chuyển biến từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạnđộc quyền, làm gia tăng mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn này Đó là tiền đềcho Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, thiết lập nhà nước công – nông đầu tiên trênthế giới, đồng thời hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa sau chiến tranh thế giới thứ 2 Cáchmạng Tháng Mười Nga và sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa đã có ảnh hưởng to lớnđến tiền trình phát triển của xã hội loài người trên phạm vi toàn thế giới
I.2 Công nghiệp hóa và các mô hình công nghiệp hóa
I.2.1 Công nghiệp hóa
Công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi nền sản xuất xã hội từ dựa trên lao động thủ công là chính sang nền sản xuất xã hội dựa chủ yếu trên lao động bằng máy móc nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
I.2.2 Các mô hình công nghiệp hóa tiêu biểu
Mô hình công nghiệp hóa cổ điển
Công nghiệp hóa của các nước tư bản cổ điển, mà tiêu biểu là nước Anh được thực hiệngắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, nổ ra vào giữa thế kỷ XVIII Côngnghiệp hóa ở nước Anh được bắt đầu từ ngành công nghiệp nhẹ, mà trực tiếp là ngành côngnghiệp dệt là ngành đòi hỏi vốn ít, thu lợi nhuận nhanh Sự phát triển của ngành công nghiệpdệt đã kéo theo sự phát triển của ngành trồng bông và chăn nuôi cừu, để đáp ứng nguyênliệu cho ngành công nghiệp dệt Ngành công nghiệp nhẹ và nông nghiệp phát triển, đòi hỏiphải cung cấp nhiều máy móc, thiết bị cho sản xuất từ đó đã tạo tiền đề cho sự phát triển củangành công nghiệp nặng, mà trực tiếp là ngành cơ khí chế tạo máy
Nguồn vốn để công nghiệp hóa ở các nước tư bản cổ điển chủ yếu do bóc lột lao độnglàm thuê, làm phá sản những người sản xuất nhỏ trong nông nghiệp, đồng thời gắn liền với
Trang 10việc xâm chiếm và cướp bóc thuộc địa Quá trình này đã dẫn đến mâu thuẫn gay gắt giữa tưbản và lao động, làm bùng nổ những cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại nhà tưbản ở các nước tư bản lúc bấy giờ, tạo tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa Mác – vũ khí lýluận của giai cấp công nhân chống lại CNTB Quá trình công nghiệp hóa ở các nước tư bản cổđiển cũng dẫn đến mâu thuẫn giữa các nước tư bản với nhau, đưa đến 2 cuộc chiến tranhthế giới thứ nhất và thứ hai đòi phân chia lại thuộc địa giữa các nước tư bản Ngoài ra, mâuthuẫn giữa các nước tư bản với các nước thuộc địa, trong quá trình xâm chiếm và cướp bócthuộc địa đã dẫn đến phong trào đấu tranh giành độc lập của các nước thuộc địa, thoát khỏi
sự thống trị và áp bức của các nước tư bản
Quá trình công nghiệp hóa của các nước tư bản cổ điển diễn ra trong một thời gia tươngđối dài, từ 60 – 80 năm
Mô hình công nghiệp hóa kiểu Liên Xô cũ
Mô hình này bắt đầu từ những năm 1930 ở Liên Xô sau đó được áp dụng cho các nướcXHCN ở Đông Âu sau năm 1945 và một số nước đang phát triển đi theo con đường XHCN,trong đó có Việt Nam vào những năm 1960 Con đường công nghiệp hóa này thường ưu tiênphát triển công nghiệp nặng Để thực hiện được mục tiêu này đòi hỏi nhà nước phải huyđộng những nguồn lực to lớn trong xã hội, từ đó phân bổ, đầu tư cho ngành công nghiệpnặng, mà trực tiếp là ngành cơ khí, chế tạo máy, thông qua cơ chế kế hoạch hóa tập trung,mệnh lệnh Công nghiệp hóa với mục tiêu và cơ chế nêu trên, đã cho phép trong một thờigian ngắn các nước theo mô hình Liên Xô cũ đã xây dựng được hệ thống cơ sở vật chất – kỹthuật to lớn, hoàn thành được mục tiêu đề ra
Trong số các nhà kinh điển, lịch sử đã trao cho V.I Lê-nin một sứ mệnh đặc biệt, trực tiếp lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Mặc dù chủ nghĩa tư bản đã phát triển ở Nga và nước Nga Sa hoàng có trình độ phát triển công nghiệp đứng thứ năm châu Âu, song chính quyền Xô-viết do V.I Lê-nin lãnh đạo đã phải đứng trước thù trong, giặc ngoài, nội chiến khốc liệt, đẩy nền kinh tế nước Nga trong những năm đầu của chính quyền Xô-viết tới tình trạng kiệt quệ Trong bối cảnh đó, V.I Lê-nin rất nhiều lần nhấn mạnh tới việc phải phát triển đại công nghiệp bằng mọi cách, lấy công nghiệp nặng làm nền tảng vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội Đây thực chất là cuộc cách mạng công nghiệp, xây dựng cơ cấu tái sản xuất mà bộ phận nòng cốt là cơ khí và điện khí Kế hoạch điện khí hóa nước Nga đã ra đời trong hoàn cảnh như vậy Dưới sự lãnh đạo của V.I Lê-nin, những nguồn tài chính, vật chất, trí tuệ trong điều kiện còn khó khăn đã được ưu tiên để xây dựng các nhà máy điện và
cơ khí với khẩu hiệu: “Chủ nghĩa xã hội là chính quyền Xô-viết cộng với điện khí hóa toàn quốc”.
Trong những năm nội chiến (1918 - 1921), nước Nga Xô-viết bắt buộc phải thực hiện chính sách “cộng sản thời chiến”, mà mục tiêu trước hết là giữ vững chính quyền Xô-viết non trẻ Sau khi nội chiến kết thúc vào năm 1921, đứng trước một thực tế so với năm 1913, sản lượng đại công nghiệp giảm bảy lần, vận tải đường sắt giảm bốn lần, sản lượng nông nghiệp
Trang 11giảm hai lần, diện tích gieo trồng giảm 25 triệu héc-ta, số đầu súc vật giảm 30%, V.I Lê-nin
đã đề xướng và lãnh đạo thực hiện “chính sách kinh tế mới” (NEP), một quyết sách nhằm cứu vãn tình hình kinh tế Nga.
NEP đã chuyển hướng sự chú trọng vào những ngành làm cơ sở cho công nghiệp, thay vì tập trung sức phát triển công nghiệp nặng, trước hết là phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn V.I Lê-nin cho rằng, phải khôi phục và phát triển kinh tế nông nghiệp, thay đổi quan hệ nhà nước với nông dân Chính sách cộng sản thời chiến xóa bỏ kinh tế tư nhân và thủ tiêu kinh tế hàng hóa ở nông thôn đã triệt tiêu động lực phát triển của nền kinh tế, vi phạm quan
hệ chính trị giữa giai cấp công nhân với nông dân V.I Lê-nin cho rằng, nền tảng vững chắc của chuyên chính vô sản chính là liên minh công - nông Nếu để mất nông dân, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ gặp khó khăn, thậm chí thất bại Vì vậy, khôi phục kinh tế nông thôn, tôn trọng lợi ích kinh tế của nông dân là cơ sở kinh tế của khối liên minh công - nông, là tạo ra nền tảng xã hội, chính trị cho chuyên chính vô sản.
Trong chính sách kinh tế mới, việc phát triển kinh tế hàng hóa, chấn hưng nông nghiệp, chính sách tô nhượng và chủ nghĩa tư bản nhà nước là những giải pháp để phát triển kinh tế
ở những giai đoạn đầu, nhằm đưa nền kinh tế tới đại công nghiệp, v.v Đây là một trong những cơ sở để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn mà Đảng ta đã xác định.
Tuy nhiên, khi tiến bộ khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, hệ thống cơ sở vật chất –
kỹ thuật to lớn ở trình độ cơ khí hóa, đã không thích ứng được, làm kìm hãm việc ứng dụngnhững tiến bộ kỹ thuật mới, đồng thời với cơ chế kế hoạch hóa tập trung mệnh lệnh đượcduy trì quá lâu đã dẫn đến sự trì trệ, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự khủnghoảng và sụp đổ của Liên Xô và hệ thống XHCN ở Đông Âu
Mô hình công nghiệp hóa của Nhật Bản và các nước công nghiệp mới (NICs)
Rút kinh nghiệm từ quá trình công nghiệp hóa của các nước tư bản cổ điển và các nướcXHCN cũ, Nhật Bản và các nước nước công nghiệp hóa mới (NICs) như Hàn Quốc, Singapore
đã tiến hành công nghiệp hóa theo con đường mới Chiến lược công nghiệp hóa của cácnước này, thực chất là chiến lược công nghiệp hóa rút ngắn, đẩy mạnh xuất khẩu, phát triểnsản xuất trong nước thay thế hàng nhập khẩu, thông qua việc tận dụng lợi thế về khoa học,công nghệ của các nước đi trước, cùng với việc phát huy nguồn lực và lợi thế trong nước, thu
hút nguồn lực từ bên ngoài để tiến hành công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa Kết quả là
trong một khoảng thời gian ngắn, trung bình 20 – 30 năm đã thực hiện thành công quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa Từ thực tiễn Nhất Bản và các nước công nghiệp hóa mới chothấy, trong thời đại ngày nay các nước đi sau nếu biết khai thác tốt lợi thế trong nước và tậndụng, tiếp thu những nguồn lực, đặc biệt là những thành tựu khoa học, công nghệ mới, hiệnđại của các nước tiên tiến, thì sẽ giúp cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa được thựchiện nhanh chóng, hiệu quả Việc tiếp thu và phát triển khoa học, công nghệ mới của cácnước kém phát triển có thể thực hiện bằng các con đường cơ bản như:
Trang 12- Một là, thông qua đầu tư nghiên cứu, chế tạo và hoàn thiện dần dần trình độ côngnghệ từ trình độ thấp đến trình độ cao, con đường này thường diễn ra trong thời gian dài, vàtổn thất nhiều trong quá trình thử nghiệm.
- Hai là, tiếp nhận chuyển giao công nghệ hiện đại từ nước phát triển hơn, con đườngnày đòi hỏi phải có nhiều vốn và ngoại tệ, chịu sự phụ thuộc vào nước khác
- Ba là, xây dựng chiến lược phát triển khoa học, công nghệ nhiều tầng, kết hợp cả côngnghệ truyền thống và công nghệ hiện đại Kết hợp vừa nghiên cứu vừa chế tạo vừa tiếp nhậnchuyển giao công nghệ từ các nước phát triển hơn, con đường vừa cơ bản, lâu dài, vững chắcvừa đảm bảo đi tắt và bám đuổi theo các nước phát triển hơn
Nhật Bản và các nước công nghiệp hóa mới (NICs), đã sử dụng con đường thứ ba để tiếnhành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kết hợp với những chính sách phát triển đúng đắn vàhiệu quả, từ đó đã thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trongkhoảng thời gian ngắn và đã gia nhập vào nhóm các nước công nghiệp phát triển Con đườngcông nghiệp hóa, hiện đại hóa của Nhật Bản và các nước công nghiệp hóa mới (NICs) là gợi ýtốt cho Việt Nam trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốcdân
II Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
II.1 Lịch sử quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam
Thời kỳ Pháp thuộc
Quá trình công nghiệp hóa tại Việt Nam bắt đầu từ thời Pháp thuộc Quá trình này tiếntriển chậm Nền công nghiệp Việt Nam nhỏ bé và không hoàn chỉnh với các cơ sở sản xuấtlớn là của tư bản Pháp còn công nghiệp bản địa chỉ gồm những doanh nghiệp nhỏ hoạt độngtrong lãnh vực sản xuất hàng tiêu dùng và các hộ gia đình sản xuất tiểu thủ công nghiệp.Người Pháp xây dựng một số cơ sở công nghiệp khai khoáng, cơ khí, công nghiệp chế biếnnông lâm sản, công nghiệp nhẹ nhưng vẫn chưa hình thành nền tảng công nghiệp hoàn chỉnhtại Việt Nam, trong khi Nhật Bản đã xây dựng khá nhiều cơ sở công nghiệp tại các thuộc địacủa họ như Triều Tiên, Mãn Châu Công nghiệp thời Pháp thuộc đã cung cấp một số sảnphẩm và kỹ thuật mới như: điện, xi măng, diêm, bia, xà phòng, thuốc lá, thuỷ tinh, ô tô, xeđạp, tàu điện, tàu hoả, các sản phẩm cơ khí Một số sản phẩm quen thuộc được sản xuấttheo quy trình mới như nước máy, giấy, vải, thuốc lá Nền kinh tế xuất hiện một số kỹ thuật
có thể coi là hiện đại vào thời kỳ đó tạo ra một năng suất mới trong sản xuất và đời sống như
kỹ thuật khai thác hầm mỏ, kỹ thuật chế biến lâm sản, tốc độ và chất lượng của giao thôngliên lạc, kỹ thuật và chất lượng xây dựng Công nghiệp đã góp phần mở rộng thị trườngtrong nước và thị trường nước ngoài, một bộ phận dân cư trong nước, nhất là dân thành thịlàm quen với những sản phẩm hiện đại phương Tây như điện, xà phòng, nước máy, thuốc lá,
xi măng… Một số ngành sản xuất cổ truyền như lúa gạo, cà phê, chè, gỗ có khả năng mở
Trang 13rộng sản xuất, để bước đầu vươn ra thị trường quốc tế Công nghiệp còn tạo ra một đội ngũcông nhân và kỹ thuật viên Việt Nam tiếp thu kỹ thuật phương Tây.
Công nghiệp thời Pháp thuộc sử dụng nhân công giá rẻ nên có tỷ suất lợi nhuận caonhưng sản lượng rất thấp Công nghiệp mang tính chất thâm dụng lao động do nó chú trọngkhai thác lao động giá rẻ của dân bản xứ hơn thâm dụng tư bản để nâng cao năng suất và sảnlượng Cho đến 1931, trong tổng giá trị sản phẩm quốc nội của Đông Dương là 750 triệu đồngĐông Dương, công nghiệp chỉ chiếm có 105 triệu, tức chỉ đạt 14% Trong thập kỷ 1930, côngnghiệp đã có một bước tiến xa hơn: tăng gấp đôi so với những gì Pháp đã làm ở đây trongvòng 70 năm (1860-1930) Đến năm 1938, trong tổng sản phẩm quốc nội của Đông Dương là
1014 triệu đồng Đông Dương, công nghiệp chiếm 233,08 triệu, tức 22% Chỉ có một tỷ lệ nhỏdân cư Việt Nam được hưởng những thành tựu của sự phát triển công nghiệp Điện, nướcmáy, xà phòng, đường sắt, đường nhựa và điện tín vẫn còn xa lạ với nông thôn, người nghèo.Tính tới năm 1940, lượng điện tiêu thụ trên đầu người tại Việt Nam chỉ bằng 1/107, lượng sắtthép sử dụng bằng 1/10 so với nước Pháp
Nền kinh tế Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp với phương thức sản xuất khôngthay đổi trong hàng ngàn năm Quan hệ sản xuất tại nông thôn vẫn là quan hệ địa chủ – táđiền như thời Trung cổ, còn tại thành thị, chủ nghĩa tư bản chỉ mới manh nha xuất hiện.Người Việt có mức sống rất thấp, nghèo đói phổ biến trên toàn đất nước, đặc biệt ở miềnBắc và miền Trung Ở nông thôn tồn tại mâu thuẫn giữa địa chủ và tá điền còn ở thành thị có
sự tương phản giữa tầng lớp tư sản, quan chức cao cấp và thị dân lớp dưới Người Pháp xâydựng một số cơ sở hạ tầng cơ bản tại An Nam Hệ thống kinh tế mà Pháp đầu tư tại An Namnhư các đồn điền cao su, mỏ than, các thành phố lớn, đường sắt, cảng biển là để phục vụ chocông cuộc khai thác thuộc địa của họ chứ không phải để phục vụ lợi ích của dân bản xứ Dùngười Pháp đã mang những yếu tố hiện đại vào nền kinh tế Việt Nam nhưng nhìn tổng thểnền kinh tế Việt Nam vẫn đang trong tình trạng tiền tư bản, bán Trung cổ
Năm 1945, Việt Nam giành được độc lập rồi rơi vào tình trạng hỗn loạn Toàn bộ nềnkinh tế trong đó có công nghiệp ngưng trệ Năm 1947, chiến tranh Đông Dương bùng nổ.Công nghiệp chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh Các ngành công nghiệp khai khoáng,công nghiệp chế biến, công nghiệp nhẹ đều ngừng phát triển, thậm chí suy thoái Một số nhà
tư sản dân tộc tản cư ra vùng kháng chiến Công nghiệp thời kỳ này hoạt động cầm chừng.Hàng công nghiệp chủ yếu được nhập khẩu
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954 và hiệp định Geneve tháng 7năm 1954 thì Việt Nam bị chia làm hai vùng tập trung quân sự, sau đó do không có tổngtuyển cử theo hiệp định nên quốc gia bị chia cắt làm hai miền Miền Bắc Việt Nam một mặt đilên xây dựng chủ nghĩa xã hội và mặt khác trợ giúp Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền NamViệt Nam tiến hành cuộc kháng chiến tại miền Nam Việt Nam Trong khi đó, Miền Nam ViệtNam thành lập chính phủ riêng với trợ giúp tài chính và quân sự từ Mỹ và quốc tế, tiến hànhxây dựng nền kinh tế theo hướng thị trường ở miền Nam Việt Nam
Trang 14Thời kỳ bị Đế quốc Mỹ xâm lược
Tại miền Bắc, việc xây dựng chủ nghĩa xã hội gặp rất nhiều khó khăn và thách thức Gần
100 năm đô hộ của Pháp đã làm cho nền kinh tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc
có xuất phát điểm rất thấp Sự phát triển kinh tế thời chiến gặp nhiều khó khăn do các chiếndịch ném bom của Mỹ Hơn nửa triệu người chết, các thành phố, các cơ sở công nghiệp, hệthống cơ sở hạ tầng, làng mạc ruộng đồng bị tàn phá nặng nề Trong khi đó, Đảng Cộng sảnViệt Nam muốn thực hiện cuộc kháng chiến trường kỳ nhằm thống nhất Việt Nam đồng thờicông nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa miền Bắc Miền Bắc thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ Inhằm xây dựng nền tảng công nghiệp cho nền kinh tế, phát triển nông nghiệp đủ sức đápứng nhu cầu của xã hội Trong thời kỳ này miền Bắc chú trọng phát triển công nghiệp nặngbằng cách đầu tư vào các ngành điện, cơ khí, luyện kim, hoá chất, vật liệu xây dựng Cácchiến dịch ném bom của Mỹ làm gián đoạn quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam Dân chủCộng hòa Sau Sự kiện Vịnh Bắc Bộ ngày 2/8/1964 Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc Việt Nam.Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tháng 3/1965 nhận
định: "trong cuộc chiến tranh cách mạng yêu nước của nhân dân cả nước chống đế quốc Mỹ,
miền Nam vẫn là tiền tuyến lớn, miền Bắc vẫn là hậu phương lớn, những nhiệm vụ của miền Bắc là vừa xây dựng, vừa trực tiếp chiến đấu, vừa chi viện cho tiền tuyến miền Nam Hướng tích cực nhất để làm thất bại âm mưu của địch là tập trung lực lượng của cả nước để đánh bại hoàn toàn địch ở miền Nam" Ngày 2/3/1965 Mỹ bắt đầu Chiến dịch Sấm Rền ném bom
phá hủy cơ sở hạ tầng, các cơ sở công nghiệp, các lực lượng phòng không của Việt Nam Dânchủ Cộng hòa kéo dài cho đến ngày 1/11/1968 Trong suốt thời gian này nền kinh tế miềnBắc chịu thiệt hại nặng nề, không thể tiếp tục phát triển Sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòachấp nhận đàm phán với Mỹ để kết thúc Chiến tranh Việt Nam, Mỹ chấm dứt ném bom Nềnkinh tế miền Bắc bước vào giai đoạn phục hồi Cơ sở hạ tầng được xây dựng lại, các nhà máyđược sửa chữa và tiếp tục hoạt động, sản xuất nông nghiệp cũng được khôi phục
Tại miền Nam, chính quyền Việt Nam Cộng hòa dưới sự lãnh đạo của Tổng thống NgôĐình Diệm thực hiện các kế hoạch kinh tế 5 năm nhằm phát triển công nghiệp để giảm nhậpkhẩu, tăng xuất khẩu, tiết kiệm ngoại tệ Trọng tâm của chính sách công nghiệp Việt NamCộng hòa là chế tạo những sản phẩm tiêu thụ thông dụng bằng cách phát triển công nghiệpnhẹ để cung cấp cho thị trường trong nước và công nghiệp chế biến nông sản Sau khi NgôĐình Diệm bị lật đổ, từ năm 1965, đường lối sản xuất thay thế nhập khẩu bị gác lại Việt NamCộng hòa từ bỏ việc phát triển kinh tế theo kế hoạch để thay thế bằng chính sách kinh tế tự
do, nhà nước can thiệp một cách hạn chế vào nền kinh tế Một số ngành công nghiệp non trẻnhư dệt, sản xuất đường bỗng dưng không được bảo hộ nữa nên gặp khó khăn Nhưng một
số ngành khác lại có cơ hội phát triển đa phần là các ngành nhanh có lợi nhuận và dễ thựchiện Số lượng các cơ sở sản xuất nhỏ, ít vốn nhưng có tỷ suất lợi nhuận cao hoạt động bằngcách nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài về chế biến phát triển mạnh làm nguồn ngoại tệcủa Việt Nam Cộng hòa bị hao hụt và nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa hoàn toàn phụ thuộcvào nguyên liệu nhập khẩu Muốn nhập khẩu cần có ngoại tệ mà nguồn ngoại tệ chủ yếu làviện trợ Mỹ vì xuất khẩu của Việt Nam Cộng hòa không đủ bù đắp cho nhập khẩu do đó nền