Nhưng từ trước đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào về kiểu truyện hôn nhân “người - tiên” trong truyện kể dân gian Việt Nam và Đông Nam Á.Việc nghiên cứu văn học ở các nước t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN MINH THU
KIÓU TRUYÖN H¤N NH¢N NG¦êI – TI£N TRONG TRUYÖN Cæ VIÖT NAM Vµ §¤NG NAM ¸
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 9.22.01.25
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
HÀ NỘI – 2020
Trang 2Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Phạm Thu Yến
Phản biện 1: GS.TS Lê Chí Quế
Trường ĐHKHXH&NV- ĐHQG Hà Nội
Phản biện 2: GS.TS Nguyễn Chí Bền
Viện VHNTQG Việt Nam
Phản biện 3: PGS.TS Trần Đức Ngôn
Trường ĐH Văn Hóa
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường họp tại
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào hồi … giờ … ngày … tháng… năm…
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: Thư viện Quốc Gia, Hà Nội
hoặc Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Trang 3CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
[1] Nguyễn Minh Thu (2017), Kiểu truyện Hôn nhân người – tiên trong truyện kể dân gian
và các nước thuộc khu vực Đông Nam Á – Một diện mạo khái quát”, Tuyển tập công
trình nghiên cứu Ngữ văn học tập 3, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, NXb giáo dục
Việt Nam, ISBN 978- 604-54-3343-0-10569-1 trang 31 -38
[2] Nguyễn Minh Thu (2017), Comparison of type of story related to human – fairy
marrige of tales in folk stories Indonesia, The 7th International Conference on Sciences and Social Sciences 2017, at Rajabhat Maha Sarakham University ICSSS
2017, trang 193 -199 (So sánh kiểu truyện hôn nhân người – tiên trong truyện cổ Indonesia, Hội thảo quốc tế về khoa học và xã hội lần thứ 7 năm 2017, tại Đại học Rajabhat Maha Sarakham)
[3] Nguyễn Minh Thu (2018), Structure of type of story related to “human – fairy
marrige” of tales in VietNam and other Southest Asian Countries, The 5thInternational Conference Language, Society, and Culture in Asian Contexts (LSCAC 2018), at Hue city, VietNam, ISBN 978- 602 -462-248- 0, trang 806 -830 (Cấu trúc kiểu truyện hôn nhân người – tiên trong truyện kể dân gian Việt Nam và một số nước Đông Nam Á khác, Hội thảo ngôn ngữ Quốc tế, Xã hội và Văn hóa trong bối cảnh Châu Á, tại Thành phố Huế, Việt Nam)
[4] Nguyễn Minh Thu (2018), type of story related to “human – fairy marrige” in VietNam
and other Southest Asian Island Countries Mount with Environment, The 3rdEnvironment and Natural Resources International Conference, at Mahidol University pp
168 -177 (Kiểu truyện hôn nhân người – tiên với yếu tố môi trường trong truyện kể của Việt Nam và Đông Nam Á hải đảo, Hội thảo quốc tế về tài nguyên và môi trường lần thứ 3, tại Đại học Mahidol trang 168 -177)
[5] Nguyễn Minh Thu (2018), female bleds and religious beliefs of type of story related
to “human – swan (kinnari) Maiden Marriage” in folk stories Southest Asia, The 3rdEnvironment and Natural Resources International Conference, at Mahidol University trang 178 -184.(Tính nữ và yếu tố tôn giáo trong kiểu truyện hôn nhân người – tiên thiên nga (kinnari) trong truyện cổ dân gian Đông Nam Á, Hội thảo quốc tế về tài nguyên và môi trường lần thứ 3, tại Đại học Mahidol trang 178 -184)
[6] Phạm Thu Yến, Nguyễn Minh Thu (2019), Không gian nước trong Kiểu truyện Hôn
nhân người – tiên Việt Nam và Đông Nam Á biểu tượng thẩm mĩ cùng giá trị du lịch đương đại, Kỷ yếu hội thảo khoa học Quốc tế văn hóa sông nước ở Đông Nam Á bảo tồn và phát triển, Nxb Đại học Cần Thơ, ISBN 978- 604-965-258-5 trang 439 -451
Trang 4MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Việt Nam- một trong những quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á, là nơi giao thoa, chịu ảnh hưởng khá sâu rộng của hai nền văn hóa cổ đại vĩ đại là Trung Hoa và Ấn Độ Trên nền tảng lịch sử của sức mạnh giao lưu đó, người dân Việt Nam từ ngàn đời nay đã tiếp nhận và chuyển giao những yếu tố văn hóa, văn minh của bên ngoài vào truyền thống văn hóa, văn minh của dân tộc mình Một bộ phận quan trọng của văn hóa Việt Nam là văn hóa dân gian với những tác phẩm sử thi, thần thoại, truyện cổ tích, thơ ca dân gian đã không tách rời nền văn hóa dân gian Đông Nam Á nói riêng và nền văn hóa châu Á nói chung mà luôn gắn bó, chứa đựng sâu sắc những nét tương đồng và dị biệt với nền văn hóa đó
1.2 Truyện kể dân gian được nảy sinh, phát triển trên cơ sở cuộc sống muôn hình muôn vẻ của các dân tộc và mang đậm tính chất dân tộc Nhưng nhiều truyện kể còn có tính chất Quốc tế giống nhau cả về kết cấu, môtif, đề tài, nhân vật, hành động truyện…đó là tính lặp lại Vì vậy, khi nghiên cứu văn học dân gian theo phương pháp so sánh - lịch sử, B N Putilốp đã xem “tính lặp lại” như một đặc tính nổi bật của dòng văn học này Tiếp cận truyện kể theo hướng này sẽ giúp thấy được những nguyên tắc sáng tác truyền thống của một thể loại qua cách xây dựng nhân vật, cách xây dựng cốt truyện, cách dẫn dắt, xâu chuỗi những tình tiết, motif trong truyện
1.3 Ở kho tàng truyện kể dân gian thế giới nói chung và các nước trong khu vực Đông
Nam Á nói riêng, kiểu truyện hôn nhân “người - tiên” là một trong những kiểu truyện phổ
biến quen thuộc lôi cuốn hấp dẫn Kiểu truyện này gắn bó chặt chẽ với đặc điểm tự nhiên, địa danh, phong tục tập quán, lễ hội,… liên quan đến đời sống văn hóa dân tộc, quốc gia
Nhận ra sức hấp dẫn của kiểu truyện hôn nhân “người - tiên” trong kho tàng truyện kể dân
gian nên đã có một số công trình nghiên cứu đạt thành tựu lớn ở các nước Châu Á Nhưng
từ trước đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào về kiểu truyện hôn nhân “người -
tiên” trong truyện kể dân gian Việt Nam và Đông Nam Á.Việc nghiên cứu văn học ở các
nước trong khu vực Đông Nam Á, còn có ý nghĩa làm thay đổi nhận thức của giới văn nghệ
và văn học của Việt Nam
1.4 Trong tình hiện nay, các quốc gia trên thế giới đang xích lại gần nhau trong xu
thế hòa bình thì nhu cầu tìm hiểu, trao đổi và giao lưu về kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ngày càng mạnh mẽ, nó chính là động lực phát triển cho nghành du lịch Có nhiều địa danh
của Đông Nam Á được gắn với câu chuyện hôn nhân người – tiên nên nghiên cứu kiểu
truyện hôn nhân “người - tiên” trong cổ Việt Nam và Đông Nam Á có ý nghĩa quan trọng
trong việc bảo tồn lưu giữ các địa danh, phong tục, tập quán tín ngưỡng, các điệu múa, của
các tộc người trong cuộc sống thực tại
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Luận án hướng đến mục đích nghiên cứu đặc điểm kiểu truyện này ở Việt Nam và một số quốc gia ở Đông Nam Á, trên cơ sở đó so sánh, lý giải một số phương diện tương đồng và khác biệt cơ bản trong truyện kể dân gian nói riêng, trong văn hóa của các quốc gia nói chung trong khu vực Đồng thời, với đề tài này, chúng tôi còn có mục đích mong muốn chỉ ra tính thực tiễn
có giá trị của luận án như đáp ứng về nhu cầu du lịch văn hóa tâm linh, bảo tồn những giá trị văn hóa tín ngưỡng, phong tục tập quán của các dân tộc trong khu vực và hướng đến sự hiểu biết về văn hóa giữa các tộc người
Trang 53 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Xác lập khung lý thuyết cơ bản và giới thuyết những khái niệm cơ bản liên quan
đến đề tài kiểu truyện hôn nhân “người - tiên” trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á
3.2 Tập hợp, thống kê số lượng, khảo sát kiểu truyện hôn nhân “người - tiên” trong
truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á
3.3 Chỉ ra diện mạo và đặc điểm của kiểu truyện hôn nhân “người - tiên” trong
truyện cổ Việt Nam
3.4 Từ các đặc điểm của kiểu truyện này trong kho tàng truyện kể Việt Nam nhìn ra đặc điểm của kiểu truyện trong kho tàng truyện cổ Đông Nam Á
3.5 So sánh những điểm tương đồng và khác biệt của kiểu truyện ở Việt Nam và các nước trong khu vực trên phương diện nhân vật, motif, kết cấu…của kiểu truyện Lý giải những nét tương đồng và khác biệt trong truyện kể dân gian nói riêng, trong văn hóa của các quốc gia nói chung từ đặc điểm tự nhiên, địa danh, phong tục tập quán, lễ hội, tư duy nghệ thuật, tâm lý, tính cách của các tộc người trong khu vực
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận án là truyện cổ (có nội dung) kể về hôn nhân “người
– tiên” của Việt Nam và Đông Nam Á và tiến hành khảo sát so sánh các motif của kiểu truyện để nhận xét tìm ra những nét tương đồng và khác biệt
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu:
Về phạm vi tư liệu của luận án, chúng tôi khảo sát được 59 truyện cổ của Việt Nam và
47 truyện cổ của một số nước khác thuộc khu vực Đông Nam Á từ các tổng tập, tuyển tập
và trang văn hóa dân gian của các nước trong khu vực
Trong phạm vi nghiên cứu kiểu truyện, chúng tôi không nghiên cứu về nhân vật tiên mang lốt mà chúng tôi nghiên cứu về nhân vật tiên (nữ, nam) xuất hiện trực tiếp ở dáng hình của con người ngay trong lần đầu gặp gỡ
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp thống kê - phân loại
Phương pháp phân tích – tổng hợp
Phương pháp hệ thống cấu trúc
Phương pháp so sánh loại hình
Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Phương pháp nghiên cứu điền dã
6 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Về mặt đề tài:
+ Luận án là công trình đầu tiên tập hợp và nghiên cứu một cách hệ thống về kiểu
truyện hôn nhân “người - tiên” trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á
Về mặt tư liệu: chúng tôi đã chuyển dịch 37 truyện kể của Đông Nam Á có nội dung
hôn nhân “người - tiên” từ tiếng Anh sang Tiếng Việt mà chưa được xuất bản tại Việt Nam
giúp cho người đọc hiểu biết thêm về kiểu truyện này ở Đông Nam Á
- Luận án còn là nguồn tư liệu tham khảo bổ ích cho các giảng viên, giáo viên, học sinh các
trường học, những người có nhu cầu tìm hiểu về hôn nhân “người - tiên” trong truyện cổ
Việt Nam và Đông Nam Á
Về mặt thực tiễn: Gắn địa danh với các câu chuyện có giá trị hiện hữu về mặt du
Trang 6lịch, hiểu sâu bản sắc văn hóa, phong tục, tín ngưỡng, các điệu múa của các tộc người trong khu vực Đông Nam Á để bảo vệ nó trong cuộc sống thực tại
7 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án kết cấu thành 4 chương
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án kết cấu thành 4 chương
Chương 1: Tổng quan lịch sử nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương 2: Nhận diện kiểu truyện hôn nhân người - tiên và Hệ thống nhân vật trong
kiểu truyện hôn nhân người - tiên của Việt Nam và Đông Nam Á
Chương 3: Kết cấu cốt truyện và hệ thống motif trong kiểu truyện hôn nhân người -
tiên của Việt Nam và Đông Nam Á
Chương 4: Lý giải sự tương đồng và khác biệt trong kiểu truyện hôn nhân người -
tiên của Việt Nam và Đông Nam Á
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu về kiểu truyện hôn nhân người - tiên ở Đông Bắc Á
Năm 1932, tác giả Chung Kính Văn đã bước đầu tìm hiểu về Kiểu truyện nàng tiên thiên
Nga Trung Quốc
Năm 1937, tác giả Holmstrom có dẫn chứng cụ thể để chứng minh kiểu truyện Nàng tiên thiên nga phổ biến ở vùng Đông Á qua các nguồn tư liệu của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc
Năm 1987, tác giả Alan L Miller đã viết hai bài nghiên cứu: ở bài thứ nhất "Cấu trúc
và biểu tượng về nàng tiên dệt vải trong huyền thoại Nhật Bản” đã chỉ ra cấu trúc của kiểu
truyện nàng tiên hạc dệt vải và những điều cấm kị Từ việc phân tích cấu trúc nghệ thuật của kiểu truyện, tác giả đã lí giải đặc trưng văn hóa tôn giáo của đất nước Nhật Bản; ở bài thứ
hai “Bàn luận về Nàng Tiên Thiên Nga: Ý nghĩa của truyện dân gian “Người vợ siêu
nhiên” có liên quan đặc biệt đến tôn giáo của Nhật Bản, tác giả Alan L Miller khái quát lại
nội dung kiểu truyện, qua đó, chỉ ra cấu trúc tôn giáo của kiểu truyện
Tiếp theo, năm 2001, luận văn “Nghiên cứu về câu truyện Thiên Nga ở Trung Quốc” tác giả Sơn Gun thuộc trường Đại học Tương Đàm đã chỉ ra nguồn gốc của các loại truyện trinh nữ thiên nga ở Trung Quốc từ góc độ diachronic (lịch đại)
Năm 2015, tác giả Jiang Guifang thuộc Viện Văn hóa và Ngôn ngữ Đông Nam Á, viết luận
văn nghiên cứu về đề tài “Nghiên cứu kiểu truyện Trinh nữ thiên nga của người Tày ở miền Bắc
Việt Nam” Trong chương đầu tiên, tác giả đã định nghĩa ngắn gọn câu chuyện về "Trinh nữ thiên
nga" của người Yue ở phía bắc đất nước Trung Quốc, và chọn 8 ví dụ điển hình về kiểu truyện của người Tày ở miền Bắc Việt Nam (5 truyện ở phía Đông bắc, 3 truyện ở phía Tây bắc)
Ngoài ra, có một số những bài nghiên cứu về kiểu truyện nàng Tiên Thiên Nga như câu
chuyện nàng Tiên Thiên Nga – Người ngoài hành tinh in trên tạp chí Hăc Long Giang vào năm
1988 (赫哲族天鹅处女型故事的异式- 黑龙江民族丛刊》1988年04期); nguồn gốc kiểu truyện nàng Tiên Thiên Nga được in trên tạp chí Triết học và Khoa học xã hội số 5 năm 2003
và nghiên cứu văn hóa dân gian số 2 năm 2006
Trang 71.1.2 Lịch sử nghiên cứu về kiểu truyện hôn nhân người - tiên ở Đông Nam Á
Năm 1984, bài“Nghiên cứu so sánh bản kể nàng Tiên Thiên Nga của Thái (theo
tiếng Phạn) và Trung Quốc”, tác giả Toshiharo chứng minh nguồn gốc câu chuyện qua góc
độ nhân vật
Vào năm 1995, bài “Nghiên cứu so sánh về văn hoá dân gian của Nhật Bản và
Indonesia”, tác giả James Danandjaja đã so sánh Kiểu truyện Chàng Ngưu và Nàng tiên dệt vải Tác giả chỉ ra đây là kiểu truyện phổ biến được tìm thấy ở Ấn Độ, Tây Ban Nha, Đức,
Pháp, Ả Rập, Ba Tư, Polineia, Micronesia, và Eskimo Tại Inđônêsia, kiểu truyện này xuất hiện ở một số dân tộc bị ảnh hưởng bởi nền văn hoá Hán (Trung Quốc) như Đông Java,
trung tâm Bali và Java với huyền thoại: The Legend of Pasir Kujang, Joko Tarub (Đông Java), Vua Pala (tại Bali)
Năm 2013, bài nghiên cứu “So sánh nền văn hóa dân gian ở các quần đảo: Môtíp câu
chuyện về các thiên thần (hay các nàng tiên) của tác giả NFN Rohim Tác giả đã chỉ ra trong văn hóa Inđônêsia có rất nhiều câu chuyện kể về hôn nhân người - tiên
Năm 2014, Yaswinda Feronica, Rakhmat Soleh, S.S.M.Hum nghiên cứu trực tiếp câu
chuyện Malim Deman dưới góc độ liên văn bản
Năm 2016, tiếp nối những nghiên cứu đi trước, Gs.Tiến sĩ Hamka đã tiến hành
“Nghiên cứu so sánh cấu trúc truyện cổ tích Inđônêsia” trong 12 câu chuyện có cùng cốt kể
về nhân vật là nam đi lang thang trong rừng tình cờ nghe thấy tiếng đùa của các nàng tiên xinh đẹp đang tắm tại các hồ nước
Năm 2017, nhà nghiên cứu Ratu Wardarita và Guruh Puspo Negoro trường đại học
Palembang, Nam Sumatera, Inđônêsia đã so sánh trực tiếp câu chuyện Jaka Tarub
(Inđônêsia) và Tanabata (Nhật Bản) trong kiểu truyện hôn nhân người – tiên cùng nội dung
kể về cuộc hôn nhân giữa chàng trai người trần và nàng tiên ở trên trời
Từ một số những công trình nghiên cứu ở một số nước Đông Nam Á, chúng tôi nhận thấy đây là một kiểu truyện hấp dẫn nên đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên, những nhà nghiên cứu ở nước ngoài chỉ mới tập trung nghiên cứu so sánh từng truyện cụ thể ở các quần đảo khác nhau của Inđônêsia hoặc so sánh truyện của Inđônêsia với Nhật Bản, hoặc so sánh truyện của Thái Lan với Trung Quốc mà chưa có một bài nghiên
cứu nào tìm hiểu về kiểu truyện hôn nhân người - tiên ở Việt Nam và Đông Nam Á
1.1.3 Lịch sử nghiên cứu về kiểu truyện hôn nhân “người - tiên” ở Việt Nam
Năm 1975, các tác giả Hà Văn Thư, Võ Quang Nhơn, Y Điêng trong lời giới thiệu
cuốn “Truyện cổ các dân tộc Thiểu số miền nam” đã viết: “Các dân tộc quan niệm, có một
thời kì trời đất rất gần nhau, người trời có thể xuống trần gian, người trần gian khi cần có thể lên trời
Trực tiếp đi vào nghiên cứu kiểu truyện hôn nhân Người – Tiên theo xu hướng lấy
truyện Ả Chức Chàng Ngưu làm cơ sở đã có các bài báo, luận văn, luận án như:
Năm 1998, tác giả Đinh Gia Khánh có lời nhận xét về Truyện Ả Chức Chàng Ngưu trong cuốn Thần thoại Trung Quốc như sau: “Truyện Ả Chức Chàng Ngưu của ta với truyện
Ngưu Lang Chức Nữ của Trung Quốc là hai dị bản của cùng một truyện rất cổ
Năm 2000, tác giả Nguyễn Thị Nguyệt nghiên cứu luận án “Khảo sát và so sánh một số típ
và môtíp truyện cổ dân gian Việt Nam - Nhật Bản” Tiếp tục tới năm 2002, tác giả Park Yeon
Kwan nghiên cứu “So sánh một số type truyện cổ tích của Việt Nam và Hàn Quốc”
Năm 2001, tác giả Nguyễn Tấn Đắc viết công trình nghiên cứu “Truyện kể dân gian đọc
Trang 8bằng type và motif ”đã đi sâu nghiên cứu từ góc độ loại hình lịch sử và vận dụng lý thuyết
nghiên cứu cấu trúc luận để chỉ ra mối quan hệ nguồn cội của típ truyện U Thền (dân tộc Thái Việt Nam) với những truyện cùng típ ở các quốc gia Đông Nam Á từ trong văn học Phật giáo
-Năm 2004, tác giả Lại Phi Hùng tiếp nối công trình nghiên cứu “Những tương đồng và
khác biệt trong một số kiểu truyện cổ dân gian ở Lào và Việt Nam”
Năm 2007, Luận văn “Những hình thức thưởng phạt trong truyện cổ tích Việt Nam”, Nguyễn
Thị Ngân Sương đã làm rõ motif kết hôn trong những hình thức thưởng chia làm hai motif nhỏ:
“Người trần kết hôn với Tiên” và “Người trần lấy vợ Thủy Cung”
Năm 2013, trong Luận văn “Motif hôn nhân giữa Người và Thần linh trong truyền thuyết
và cổ tích Việt Nam”, tác giả Phan Ánh Nguyễn, Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh đã
gộp chung kiểu truyện hôn nhân người – tiên vào với kiểu truyện hôn nhân người – thần và gọi
chung là hôn nhân giữa người và thần linh
Những phác họa từ các công trình đi trước, chúng tôi có thể kết luận rằng: Hướng
nghiên cứu về kiểu truyện hôn nhân người - tiên được quan tâm đặc biệt Tuy nhiên, các
nghiên cứu chỉ dừng lại ở phạm vi một, hai quốc gia, một vài tộc người riêng lẻ hoặc chỉ ở
khu vực Đông Bắc Á hay ở một số nước thuộc khu vực Đông Nam Á mà chưa có công trình
nào nghiên cứu trực tiếp về kiểu truyện hôn nhân người – tiên ở Việt Nam đặt trong tương quan với kiểu truyện này ở Đông Nam Á
1.2 GIỚI THUYẾT MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1.2.1 Khái niệm nhân vật “tiên”
“Tiên” là nhân vật có nguồn gốc kì lạ sinh sống ở trên mường trời, có sắc đẹp, có
phép thuật bay từ trời xuống trần gian Nhân vật “tiên” đại diện cho những điều thiện lành giúp con người thỏa mãn hay cũng có thể làm cho con người thất vọng bởi những ước mơ của con người không thực hiện được Nhân vật “tiên” là sản phẩm của trí tưởng tượng và
tư duy thẩm mỹ của người xưa Nhân vật “tiên” được gọi bằng những tên gọi khác nhau
mang tính bản địa như là: “Nữ thần”, “bầy tiên”, “tiên”… các tên gọi này không được giữ nguyên mà nó được chuyển dịch sang tiếng việt nhưng nó đều là những nhân vật mà chúng tôi xếp vào loại hình của chúng tôi
1.2.2 Khái niệm “hôn nhân” và hôn nhân “người - tiên”
Hôn nhân (Marriage) là sự ràng buộc được công nhận về mặt xã hội giữa một người đàn ông và một người đàn bà, và như thuật ngữ này thường được hiểu về mặt văn hóa là nhằm mục đích sinh sản hợp pháp, xây dựng một gia đình hạt nhân, hoặc tạo ra một hộ gia
1.2.3 Khái niệm “kiểu truyện” và “kiểu truyện hôn nhân người – tiên”
Kiểu truyện là tập hợp những truyện có cùng kiểu dạng, có cùng nội dung phản ánh và được cấu thành bởi những motif giống nhau”
Kiểu truyện hôn nhân “người - tiên” là tập hợp những truyện có cùng một kiểu dạng,
cùng một nội dung phản ánh về một mối quan hệ hôn nhân đặc biệt giữa một bên là “người”
Trang 9và một bên là “tiên” với những môtip đồng dạng như: môtíp nàng tiên chim, môtíp gặp gỡ,
môtíp kết hôn - sinh con, môtíp cấm kị và vi phạm lời cấm, môtíp người chồng đi tìm vợ tiên
ở thế giới khác, môtíp đoàn tụ, môtíp chia ly
1.2.4 Khái quát về Đông Nam Á
Khu vực Đông Nam Á hiện nay có 11 quốc gia: Việt Nam, Philippines, Thái Lan, Brunei, Campuchia, Malaysia, Indonesia, Lào, Myanma, Singapore, Đôngtimor
Việt Nam như một Đông Nam Á thu nhỏ mang tất cả những đặc trưng chung của các nước trong khu vực Chính những điểm tương đồng ở điều kiện tự nhiên và điều kiện văn hóa xã hội nên nền văn hóa dân gian của các nước trong khu vực cũng có điểm tương đồng,
trong đó, phải nhắc đến kho tàng văn học dân gian và kiểu truyện hôn nhân người - tiên ở
Việt Nam và các nước Đông Nam Á được nảy sinh từ một “dòng sữa mẹ” nên có nhiều nét chung
1.3 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1 Lý thuyết loại hình học
Theo I.Iuđin đã đưa ra khái niệm loại hình hình học như sau: “Là sự tương đồng, tương tự, sự thống nhất của các hình tượng trong các tác phẩm khác nhau về đề tài, cốt truyện, sắc thái tu từ về nội dung và thể loại”
Loại hình học trong khoa văn học dân gian là phương pháp nhận thức các hiện tượng và tác phẩm văn học dân gian thông qua việc khám phá các yếu tố cấu thành cũng như quá trình, những mối liên hệ biện chứng trong sự vận động của thời gian và không gian
Chúng tôi vận dụng lý thuyết loại hình học trong nghiên cứu kiểu truyện có nghĩa là tập hợp tất cả những điểm giống nhau để tạo thành sự lặp lại mang tính phổ quát thống nhất
như kiểu, dạng Kiểu truyện hôn nhân người - tiên là tìm ra những đặc điểm giống nhau của
nhân vật “người” và nhân vật “tiên” để xếp chúng vào loại hình giống nhau từ đó gọi là kiểu (type) và qua đó, chỉ ra các đặc điểm của kiểu truyện với các môtíp tương đồng và chỉ ra mối quan hệ của kiểu truyện với điều kiện lịch sử xã hội
1.3.2 Lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa
Tiếp biến văn hoá là quá trình một cá nhân hay khi tiếp xúc trực tiếp và liên tục với
một cộng đồng hay một cá nhân khác (có hoặc không có ý thức) hấp thụ nhiều hay ít nền văn hóa của cộng đồng hay các cá nhân này Tiếp biến thể hiện trội hơn trong quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hoá sự đấu tranh, chọn lọc khi tiếp thu tiếp nhận, tức thể hiện tính chủ động của chủ thể trong quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hoá
Lý thuyết tiếp biến văn hóa được chúng tôi vận dụng trong luận án để lý giải sự biến đổi văn hóa qua sự phân tích điểm tương đồng và khác biệt của kiểu truyện
1.3.3 Lý thuyết địa văn hóa
Địa lí văn hóa là mang tính chất của một phân ngành địa lí học do cách các nhà địa lí văn hóa nghiên cứu về địa điểm và không gian trong mối quan hệ giữa không gian, cảnh quan và các tiến trình xã hội, tiến trình văn hóa
Chúng tôi vận dụng lý thuyết địa văn hóa để thấy được mối liên hệ giữa bản sắc văn hóa của các cư dân và không gian địa lý, hay đúng hơn là những biểu trưng không gian điển hình của cư dân - một cảnh quan vừa được con người nhận thức, vừa mang đậm màu sắc tâm thức, tâm linh
Trang 10Tiểu kết chương 1
Điểm qua tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế, chúng tôi nhận thấy, từ trước
tới nay chưa hề có công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về kiểu truyện hôn nhân “người -
tiên” trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á Đề thực hiện luận án, chúng tôi giới thuyết
về khái niệm tiên, khái niệm kiểu truyện, khái niệm hôn nhân, khái niệm kiểu truyện hôn
nhân người - tiên và vận dụng lý thuyết loại hình học, giao lưu tiếp biến văn học, lý thuyết
địa văn hóa
Chương 2 NHẬN DIỆN KIỂU TRUYỆN VÀ HỆ THỐNG NHÂN VẬT TRONG KIỂU TRUYỆN HÔN NHÂN NGƯỜI - TIÊN CỦA VIỆT NAM VÀ ĐÔNG NAM Á
2.1 NHẬN DIỆN KIỂU TRUYỆN HÔN NHÂN NGƯỜI – TIÊN CỦA VIỆT NAM
VÀ ĐÔNG NAM Á
2.1.1 Nhận diện kiểu truyện hôn nhân người - tiên của Việt Nam
Tình hình tuyển chọn: Đối với nguồn truyện trong nước, chúng tôi có một danh sách tư liệu khá dồi dào để tham khảo và tuyển lựa Đó là những công trình sưu tầm, những tuyển tập truyện cổ của các học giả, các tập thể tác giả đã dày công thu thập, chỉnh lí, biên soạn và
xuất bản từ trước đến nay Chúng tôi đã lựa chọn được 59 truyện thuộc kiểu truyện hôn
nhân “người - tiên”
2.1.2 Nhận diện kiểu truyện hôn nhân người - tiên của Đông Nam Á
Tình hình tuyển chọn: Trong khoảng hơn 30 đầu sách nguồn tư liệu truyện cổ được sử
dụng làm tài liệu tham khảo chính thì chúng tôi tập trung chủ yếu khai thác nguồn truyện ở các tuyển tập: tuyển tập truyện cổ của Khu vực Đông Nam Á, tuyển tập truyện cổ của từng quốc gia, đặc biệt là tuyển truyện có đề tài hôn nhân “người - tiên” ở các nước Đông Nam
Á, Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản của Trung Tâm nghiên cứu Quốc tế Đông và Đông Nam Á của Trường Đại học Philippines Diliman Chúng tôi tuyển lựa được trên 47 truyện
cổ có đề tài hôn nhân “người – tiên” chủ yếu tập trung ở các quốc gia Lào, Thái Lan, Mianmar, Inđônêsia, Malaysia, Philippin)
2.2 HỆ THỐNG NHÂN VẬT TRONG KIỂU TRUYỆN HÔN NHÂN NGƯỜI – TIÊN CỦA VIỆT NAM VÀ ĐÔNG NAM Á
2.2.1 Nhân vật trong kiểu truyện hôn nhân người - tiên của Việt Nam
2.2.1.1 Nhân vật kết hôn
a, Nhân vật “ người” là nam
Về nguồn gốc xuất thân: Thường các nhân vật nam ở kiểu truyện hôn nhân người – tiên của
Việt Nam có số phận bất hạnh sinh ra trong hoàn cảnh nghèo khổ, mồ côi
Về ngoại hình: Nhân vật được miêu tả là những con người có hình dạng xấu xí hoặc
những chàng trai có thân thể cường tráng, tuấn tú
Về hành động nhân vật: Nhân vật thường có hành động là rời nhà ra đi: có thể là đi làm rẫy, kiếm củi hay bắn chim trong rừng sâu… rồi tình cờ gặp được các nàng tiên đang tắm, vui đùa dưới nước, nhân vật nam đã trộm cánh của nàng tiên rồi ép buộc phải kết hôn với mình
Trang 11Về danh tính của nhân vật nam: Không có tên riêng chiếm 42/59 truyện kể của các dân tộc ở Việt Nam hoặc cách gọi tên mang nét chung giản dị nói lên địa vị của nhân vật trong
xã hội là những con người mồ côi
Về phẩm chất: Những con người chăm chỉ, hiền lành lương thiện
a, Nhân vật “ tiên” là nữ
Về nguồn gốc: Nàng tiên còn có nguồn gốc từ trên trời
Về tên riêng của nàng tiên: Nàng tiên thường không có tên riêng thường chỉ đặt mang tính chất chung chung (51/59 truyện của Việt Nam)
Về hành động: Nàng tiên yêu mến cảnh sắc trần gian nên xuống dạo chơi ngắm cảnh hoặc các nàng tiên thường tự nguyện đến với con người ở dưới trần gian, thương con người
nghèo khổ nên đã trở thành vợ của họ Số các nàng tiên xuống trần gian ở các dân tộc khác nhau, trong các bản kể con số một được nhắc tới nhiều nhất (27 /59 truyện ) ở các dân tộc
khác nhau:
2.2.1.2 Nhân vật cản trở hôn nhân:
a, Nhân vật “ Vua cha”
Trong quan hệ với nhân vật kết hôn còn có nhân vật Vua trời, Ngọc hoàng, Dàng là cha đẻ của nàng tiên Họ là những vị Vua ở trên trời, họ đưa ra những khó khăn thử thách bắt nhân vật nam phải hoàn thành nhằm gây trở ngại cho việc đi đến kết hôn với nàng tiên Nhân vật Vua cha có thái độ thù hằn nhằm chia rẽ thậm chí giết con rể tương lai nhưng
cũng có những vị Vua cha đưa ra thử thách bằng món ăn, thử tài khéo léo, thử tài thông
minh…
b, Nhân vật “kẻ tình địch”
Nhân vật tình địch là những kẻ đi cướp người vợ tiên của chàng trai người trần Nhân vật thực hiện hành động cướp vợ tiên là những kẻ có thế lực đại diện cho cái ác, cái xấu đáng bị lên án, tiêu diệt Nhân vật này gây cản trở cho cuộc hôn nhân “ người – tiên” bằng một số những hành động tàn ác thậm chí có thể gây chết cho chàng trai Nhân vật kẻ tình
địch là những người sống ở dưới trần gian đại diện cho công lý, cho một thể chế chính trị
vậy mà những tên này xuất hiện với bộ mặt háo sắc, tham lam, tàn bạo, mượn uy quyền để làm điều phi đạo lý, làm cho trăm dân căm giận, chúng gạ đổi vợ, cướp vợ
2.2.1.3 Nhân vật những đứa trẻ - con của “người - tiên”
Những đứa trẻ ra đời thường là sợi dây kết nối để gắn chặt hôn nhân giữa “tiên và người trần” Nhưng, trong kiểu truyện này, đứa trẻ được ra đời cũng là sự báo hiệu hôn nhân
sẽ gặp điều trắc trở vì chúng quấy khóc trong lúc người bố đi vắng, chúng chỉ cho mẹ chỗ dấu đôi cánh Người mẹ tiên bay trở về trời, những đứa trẻ đã theo cha đi tìm mẹ xuất hiện trong câu chuyện chàng trai trộm cánh
Nhóm truyện nàng tiên tự nguyện đến với con người, đứa trẻ sinh ra chỉ là nhân vật chức năng không phải là sợi dây hàn nối tình cảm mà tác giả dân gian đã mượn nhân vật đứa trẻ để giải thích về sự ra đời của địa danh, giải thích phong tục, tín ngưỡng…
2.2.2 Nhân vật trong kiểu truyện hôn nhân người - tiên của Đông Nam Á
2.2.2.1 Nhân vật kết hôn
a, Nhân vật “người” là nam
Về nguồn gốc xuất thân: Chàng trai trong truyện kể của Đông Nam Á có nguồn gốc
Trang 12xuất thân cao quý chiếm tỷ lệ cao (36/47 truyện) là chàng hoàng tử con Vua
Về tên tên riêng của nhân vật (24 /47 truyện): Rất được coi trọng, được đặt tên là nhân
vật chính thường gợi về địa vị và khẳng định vai trò của mình đối với cộng đồng
Về hành động nhân vật: Nhân vật thường có hành động là rời nhà ra đi (có 32/47 truyện của Đông Nam Á)
b, Nhân vật “tiên” là nữ
Về nguồn gốc: Các nàng tiên từ trên bầu trời xuống trần gian dạo chơi, tắm rửa, đùa
nghịch
Về hành động: Những nàng tiên thường bước xuống từ cầu vồng
Nhân vật tiên có danh tính rõ ràng: Họ giống như người phàm trần (có 28 /47 truyện của
Đông Nam Á) Những nàng tiên này thường là nàng tiên thứ bảy - người con gái út xinh đẹp
từ trên trời bay xuống chiếm (33/47 truyện của Đông Nam Á)
2.2.2.2 Nhân vật cản trở hôn nhân
a, Nhân vật “ Vua cha”
Nhân vật Vua cha khi biết con rể lên đến trời không có thái độ thù hằn tìm cách giết chết con rể hoặc chia rẽ mà nhân vật này đã đưa ra những thử thách khác nhau để con rể
chứng minh tài năng của mình Vua cha lại muốn thử tài chinh phục tự nhiên của con rể (9/47 truyện), thử thách tìm ra người vợ trong số những cô gái giống nhau
b, Nhân vật kẻ “tình địch”
Cuộc chiến đấu giữa hai kẻ tình địch trong câu chuyện của một số nước Đông Nam Á hải đảo chỉ mang tính chất chiến đấu thân thiện đặt ra luật đấu không đẩy người chồng của nhân vật tiên đến chỗ chết
Các câu chuyện của Philippin thì cuộc chiến đấu của những người tình địch là liên minh giữa các bộ tộc và thể hiện sức mạnh của người anh hùng
2.2.2.3 Nhân vật những đứa trẻ - con của “người - tiên
Những đứa trẻ cũng vô tình đã chỉ bộ cánh cho mẹ biết Truyện kể của Đông Nam Á, ít kể
về cuộc hành trình của những người con đi tìm mẹ (3/19 truyện), không có những hành động gián tiếp chia lìa hạnh phúc của cha và mẹ như câu chuyện của Việt Nam
2.2.3 Nhận xét
2.2.3.1 Điểm tương đồng về hệ thống các nhân vật trong truyện kể của Việt Nam và Đông Nam Á
Bảng 2.2.3.1: Thống kê điểm tương đồng về hệ thống các nhân vật trong
truyện kể của Việt Nam và Đông Nam Á
Điểm tương đồng
Nhóm truyện kể của Việt Nam và Đông Nam Á
Hệ thống nhân vật trong
kiểu truyện
Nhân vật “người” là nam
Nguồn gốc xuất thân: Tầng lớp thấp: nghèo khổ, bất hạnh tầng lớp cao quý: Vua, quan…
Về ngoại hình: Nhân vật được miêu tả là những con người có hình dạng xấu xí hoặc chàng trai khôi ngô tuấn tú
Về hành động: Gặp các nàng tiên đang tắm, vui đùa dưới nước, trộm cánh của nàng tiên rồi ép buộc phải kết hôn
Trang 13Nhân vật “tiên” là nữ
Nguồn gốc xuất thân: Con gái của Vua trời từ trên trời bay xuống trần gian thường hóa thân vào loài chim
Hành động: Có tình cảm quyến luyến với gia đình
Nhân vật “ Vua cha”
Nguồn gốc: Những vị Vua trên trời
Hành động: Đưa ra những thử thách để nhân vật nam chứng minh về tài năng và sự thủy chung của mình đối với người vợ tiên
Nhân vật “kẻ tình địch” Hành động: Cướp người vợ tiên
Nhân vật “những đứa trẻ”
Nguồn gốc: Kết quả hôn nhân “người – tiên”
Hành động: Những đứa trẻ chỉ cho mẹ bộ cánh gây cản trở đến hôn nhân của cha mẹ
Kết luận:
Từ bảng khảo sát trên, ta thấy có rút ra một số kết luận như sau:
+ Kiểu nhân vật nam trong kiểu truyện hôn nhân người – tiên của Việt Nam và Đông
Nam Á được tác giả dân gian xây dựng với chức năng kết hôn, họ là những người hiền lành
lương thiện, họ mơ ước có được cuộc sống hạnh phúc và họ xứng đáng được người vợ tiên xinh đẹp
+ Những thử thách của nhân vật “ Vua cha”, tác giả dân gian phản ánh “khái quát phong tục thử tài kết hôn vốn có truyền thống xa xưa của việc cưới hỏi theo lối cổ của nhiều dân tộc có trải qua chế độ mẫu hệ
+ Nhân vật những đứa trẻ sự hòa trộn dòng máu của con người và nàng tiên đóng vị trí vai trò quan trọng trong cuộc hôn nhân “người – tiên” nhằm giải thích địa danh, phong tục tín ngưỡng…
2.2.3.2 Điểm khác biệt về hệ thống các nhân vật trong truyện kể của Việt Nam và Đông Nam Á
Bảng 2.2.3.2: Thống kê điểm khác biệt về hệ thống các nhân vật trong truyện kể
của Việt Nam và Đông Nam Á
+ Những người mồ côi chủ yếu tập trung ở các truyện của dân tộc Tày - Thái (9 truyện)
- Con người vô danh, không tên không tuổi (41/59 truyện)
- Xuất thân: Tầng lớp cao quý, là những chàng Hoàng tử con Vua
(36/47 truyện)
- Về ngoại hình: Nhân vật được miêu tả là những con người có hình dạng xấu xí, hay chàng Hoàng tử khôi ngô tuấn tú, tài năng
- Những con người có danh tính (31/47 truyện)
Nhân vật “tiên” là - Về danh tính: Chỉ đặt tên mang - Về danh tính: Đề cập tới tên