1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CẢU PHÁP LUẬT VỀ THỜI HẠN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

37 703 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Tiễn Áp Dụng Các Quy Định Của Pháp Luật Về Thời Hạn Trong Tố Tụng Hình Sự Và Một Số Kiến Nghị
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại bài luận
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 49,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ luật tố tụng hình sự 1988 là Bộ luật về hình thức đầu tiên của Nhànước ta quy định một cách có hệ thống toàn bộ trình tự, thủ tục điều tra, truy tố,xét xử, thi hành án của các cơ quan

Trang 1

THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CẢU PHÁP LUẬT VỀ THỜI HẠN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Trước khi có Bộ luật tụng hình sjư 1988, một hoạt động tố tụng hình sựđược quy định trong những văn bản dưới luật, hoặc trong những văn bản nội bộcủa các cơ quan pháp luật, gồm những quy định rời rạc, chưa cụ thể, chưa đềcấp hết cả các hoạt động tố tụng

Bộ luật tố tụng hình sự 1988 là Bộ luật về hình thức đầu tiên của Nhànước ta quy định một cách có hệ thống toàn bộ trình tự, thủ tục điều tra, truy tố,xét xử, thi hành án của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành phòng ngừa

và chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân, phục vụ tích cực công cuộc đổi mới trong những năm qua

Tuy nhiên do nhiều lý do, trong đó có lý do Bộ luật được nghiên cứu vàxây dựng ngay trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới nên trong quá trìnhthi hành Bộ luật tố tụng hình sự đã thể hiện những hạn chế và bất cấp Mặc dù

Bộ luật đã sửa đổi, bổ sung ba lần vào tháng 6/1990, tháng 12/1992 và tháng6/2000 nhưng các lần sửa đổi, bổ sung này mới chỉ tập trung vào một số nộidung cấp bách để đáp ứng kịp thời yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn đấu tranhphòng chống tội phạm, chưă có điều kiện để sửa đổi một cách cơ bản và toàndiện nên chưa khắc phục hết các hạn chế và bấp cập đó

Hiện nay, cùng với công cuộc cải cách kinh tế và cải cách hành chính,Đảng và Nhà nước ta đang chủ trương đẩy mạnh cải cách tư pháp và coi đây lànhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa Việt Nam, góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằngdân chủ, văn minh Nhiều tư tưởng quan điểm định hướng về cải cách tư pháptrong các nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 08 - NQTW ngày02/01/20002 của Bộ chính trị "Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháptrong thời gian tới" đã được pháp luật hoá thành những quy định tương ứng củaHiến pháp năm 1992 (sửa đổi), Luật tổ chức Toàn án nhân dân năm 2002, Luật

Trang 2

tổ chức việc kiểm sát nhân dân năm 20002 cần tiếp tục được páhp luật hoá thàhnhững quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; đồng thời những hạn chế bất cậpcủa pháp luật tố tụng hình sự hiện hành cần được khắc phục nhằm đảm bảonâng cao chất lượng của hoạt động tư pháp, bảo đảm tốt hơn quyền tự do dânchủ công dân, bảo đảm sự thống nhất vào đồng bộ giữa các văn bản pháp luật,đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tộiphạm hiện nay Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 ra đời đáp ứng những yêucầu, đòi hỏi đó.

Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định trình tự, thủ tục tiến hành các hoạtđộng khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự Trình tự, thủ tục tốtụng ấy gắn liền với các thời hạn đựơc xác định một cách rõ ràng, đâỳ đủ vàchặt chẽ hơn so với các quy định về thời hạn trước đây

Bộ luật có hiệu lực từ ngày 01/7/2004 cho đến thời điểm nay (tháng5/2005) mới đựơc gần một năm thực hiện Tuy nhiên việc đánh giá thực tiên ápdụng các quy định pháp luật về thời hạn trong tố tụng hình sự (cả trước và saukhi có Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003) có thể rút ra được những kết quả đạtđược, những mặt chưa làm được, qua đó có biện pháp khắc phục, cũng nhưvạch ra phương phướng sửa đổi bổ sung nhằm mục đích hoàn thiện Bộ luật tốtụng hình sư

2.1 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỜI HẠN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ.

2.1.1 Đánh giá chung về việc áp dụng các quy định của pháp luật về thời hạn.

Sau cách mạng tháng Tám thành công, tổ chức Công an đựơc thành lập(19/8/1955), đến năm 1960, Viện kiểm sát nhân dân và Toàn án nhân dân rađời, cả ba cơ quan này là công cụ chuyển chính của chế độ, lập được nhiềuthành tích lớn lao trong công tác giữ vững chính quyền, ổn định trật tự an toàn

xã hội, tích cực đấu tranh phòng và chống mọi loại tội phạm, ngay cả trong thời

kỳ chến tranh ác liệt của hai cuộc kháng chiến Những thàn tích này thể hiện

Trang 3

đẩy đủ kết quả đạt được trong việc áp dụng pháp luật nói chung, trong đó phápluật về thời hạn trong tố tụng hình sự cũng là một nội dung đáng kể.

Suốt một thời gian dài pháp luật tố tụng hình sự được triển khai thực hiệnnhư Luật 103 SL, Luật 005 ngày 20/5/1957 bảo đảm quyền tự do thân thể vàquyết bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật thư tín của nhân dân, Sắc luật số

002 Stl ngày18/6/1957 quy định những trường hợp phạm pháp quả tang, nhữngtrường hợp khẩn cấp…, Nghị dịnh số 301 Ttg ngày 10/7/1957 của Thủ tướngChính phủ quy chi tiết thi hành Luật số 103 - Sl và Sắc luật 002 - Slt, sắc luật

số 02 ngày 15/3/1976 của Chính phủ cách mạnh lâm thời Cộng hoà niềm NamViệt Nam về bắt giam, giữ người, khám nmhà và đồ vật được áp dụng ở vùngmới giải phóng, cùng các văn bản pháp luật tố tụng hình sự liên quan được ápdụng mở miền Bắc xã hội chủ nghĩa và cả hai miền đất nước sau khi thống nhấtcho đến khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 ra đời

Có thể thấy rằng các quy định về thời trong các văn bản trước khi có Bộluật tố tụng hình sự cơ bản được áp dụng đầy đủ, đúng đắn Kết quả to lớn củaviệc áp dụng các văn bản tố tụng hình sự trên là đạt được yêu cầu nhanh chóng,chính xác trong xử lý tôi phạm, dân chủ xã hội chủ nghĩa được nâng cao, củng

cố niềm tin trong nhân dân vào chế độ mới Bao năm sống kiếp nô lệ dưới sự

áp bức của phong thực dân, nhân dân ta mang nặng mặc cảm sợ hãi bị các cơquan pháp luật của chính quyền, luôn trong tâm trạng lo âu; vô cớ bị bắt giam

và giam giữ không biết ngay về … Từ đây "quyền tự do thân thể và quyền bấtkhả xâm phạm đối với nàh ở, đồ vật và thư tín của nhân dân được tôn trọng vàbảo đảm… Việc bắt giam người phạm đến pháp luật Nhà nước, việc khámngười, nhà ở, đồ vật, thư tín phải theo thủ tục quy định" (điều 1,2 Luật gnày24/01/1957)

Việc bắt người trong những trường hợp khẩn cấp và những trường hợpquả tang phải tạm giữ, tạm tha cũng được quy định rõ trong Sắc luật 002 - Sltngày 18/6/1957

Trang 4

Việc áp dụng các quy định pháp luật về thời hạn trong tố tụng hình sựgóp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm, chống lạm quyền, chống tuỳ tiện,ngăn ngừa vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng đến uy tín và hoạt động của các cơquan bảo vệ pháp luật Cùng với việc áp dụng pháp luật hình sự, việc đảm bảođẩy đủ trình tự trong đó có việc thực hiện nghiêm chỉnh các quy định pháp luật

về thời hạn trong tố tụng hình sự đã góp phần thực hiện nhiệm vụ gảo vệ chế độ

xã hội chủ nghĩa, trật tự an toàn xã hội, quyền lợi hợp pháp của công dân, xử lýnghiêm mịnh chính xách tội phạm, thực hiện chính sách hình sự từng thời kỳcủa Nhà nước Việt Nam dân chủ công hoà trước đây và hiện nay là Nhà nướcCông hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Đồng thời với kết quả to lớn trên đây, các quyền dân chủ của công dânđược tông trọng, dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy, pháp chế xã hội chủnghĩa được tăng cường Đây chính là những kết quả đạt được trong quá trình ápdụng ác quy định pháp luật về thời hạn trong tố tụng hình sự ở thời kỳ trước khi

có Bộ luật tố tụng hình sự

Tuy nhiên, trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự, thực tiễn áp dụng các quyđịnh pháp luật về thời hạn tố tụng hình sự cũng bộc lộ nhiều tồn tại phổ biếnnhư vi phạm các thời hạn về tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố, chuẩn bị xét

xử, không còn là cá biệt

Một bài báo nghiên cứu đăng trên báo Sài Gòn Giải phóng {18, tr, 3} chothấy vào thời điểm chưa ban hành Bộ luật tố tụng hình sự, tại trại tạm giam chíHoà (thành phố Hồ Chí Minh) Trong đợt kiểm tra các trại giam và cải tạo củatỉnh M (cũng vào thời điểm này) đã có 531 người bị giam giữ quá hạn … cá biệt

có một người bị giam 5 ngăm 9 tháng không có căn cứ (giam oan hoàn toàn)

Ở huyện Hoa Lư - tỉnh Hà Nam Ninh (cũ) vào đầu năm 1988 qua kiểmtra cứ 100 người bị bắt giữ thì có đến 78 người đã được trả tự do, như vậy chỉ

có 22 % người bị bắt giữ là bị giam giữ đúng đối tượng và có lẽ là còn trongthời hạn tạm giam, tạm giữ luật định

Trang 5

Tại thành phố Hồ Chí Mình, theo số liệu của Ban thanh tra Công anthành phố Hồ Chí Minh, trong 11 cuộc thanh tra năm 1987 đã phát hiện được 33trường hợp quá hạn tạm giữ, 05 trường hợp quá hạn tạm giam, 45 trường hợpbắt không lệnh, 01 trường hợp gaim không lệnh, 02 trường hợp bắt không đủchứng cứ, 02 trường hợp mới lên rồi bắt giam Các đoàn thanh tra cũng đã kểimdanh, kiểm diện 1293 người bị bắt phát hiện 84 trường hợp vi phạm, trong đó

43 trương hợp qúa hạn tạm giữ và 38 trường hợp qúa hạn tạm giam {21, tr,3}

Trước khi Bộ luật tố tụng hình sự được ban hành, không thể phủ nhậnmột tình hình không mấy sáng sủa là pháp luật tố tụng hình sự nói chung bị viphạm nhiều, địa phương nào cũng xảy ra, thời gian nào cũng có Tất nhiên, tìnhtrạng giam giữ quá hạn, điều tra quá hạn, kéo dài thời gian chuẩn bị xét xử, vìthế không giảm

* Tình hình vi phạm tố tụng hình sự, giam giữ quá hạn để phục vụ công

tác điều tra, truy tố, xét xử, cũng như án tồn đọng, nhiều bản án chậm thi hành

… giảm hẳn từ khi Bộ luật tố tụng hình sự có hiệu lực, đi vào cuộc sống

Các cơ quan tiền hành tố tụng buộc phải đổi tổ chức, phương pháp làmviệc, nề nếp và khoa học hơn, người tiến hành tố tụng phải nâng cao tinh thầntrách nhiệm, trau dồi chuyên môn nghiệp vụ để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụchức năng của mình vì các hoạt động tố tụng hình sự ngoài chịu sự kiểm sát của

cơ quan Viện kiểm sát, còn phải chịu sự giám sát của công dân, của các tổ chứckhác… Bất kỳ một hiểu hiện xem thường pháp luật nói chung, pháp luật tốtụng, cũng có thể bị phát hiện và chịu sự xử lý

Địa vị pháp lý của những người tham gia tố tụng ngày càng được xácđịnh rõ, quyềm và lợi ích pháp của họ đựơc tôn trọng, vì Bộ luật tố tụng hình sựđược xây dựng xuất phát từ quan điểm "lấy dân alfm gốc", từ quan điểm mới về

tố tụng hình sự: có tích cực bảo vệ cái chung, xử lý triệt để tội phạm mới bảo vệtốt quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, ngược lại, có quan tâm bảo vệ cáiriêng mới đảm bảo cho tố tụng hình sự thực hiện được nhiệm vụ, mục đích củamình

Trang 6

Theo báo cáo của các Toà án địa phương, trong năm 1987 cả nước có 159người vô tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trong số đó có người bị kết án tới

20 năm, chung thân hoặc tử hình, sau khi vụ án bị xem xét lại ở cấp phúc thẩmhoặc giám đốc thẩm, tái thẩm thì những người này đã được minh oan Thời gian

đó trong số những người bị bắt tạm giữ, tạm giam chỉ có khoảng 30% bị đưă raxét xử, số còn lại là bắt sai hoặc chuyển sang giải quyết theo ách thủ tục hànhchính, dân sự kinh tế … Số người bị bắt khẩn cấp chiếm tỷ lệ hơn 90% tổng sốnguời bị bắt, nhưng trong năm đầu tiền thi hành Bộ luật tố tụng hình sjư tỷ lệ đógiảm xuống 21% {23,tr,38} Rõ ràng sự ra đời của Bộ luật tố tụng hình sự đãhạn chế tình trạng vi phạm nói trên

Phân tích số liệu thống kê hàng năm từ năm 1989 - 1993 cho thấy:

- Tỷ lệ người bị đưa ra xét xử vơí người bị bắt, giam có chiều hướng tăng(40,30% đến 54,13%)

- Tỷ lệ số người đưa toàn án tuyên không có tội so với tổng số người bịdưa ra xét xử có chiều hướng giảm dần (từ 0,73 % xuốn 0,32%) {24,tr tr.39}

Những số liệu nói trên khẳng định một điều là sau khi Bộ luật tố tụnghình sự 1988 ra đời, việc bắt, giữ, giam người trong tố tụng hình sự cũng nhưviệc truy tố bị cáo ra toà được tiến hành thận trọng hơn Tuy nhiên tình trạng viphạm tới các quyền không còn Theo số liệu của Viện kiểm sát nhân dân tốicao, ở nước ta hàng năm có tới 10% tổng số vụ án được khởi tố đã bị đình chỉ ởgiai đoạn điều tra và 10% bị Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ ở giai đoạnkhởi tố (ssau khi có kết luận điều tra và hồ sơ vụ án đựơc chuyển ssang Việnkiểm sát) Năm 1994 Toàn án cấp phúc thẩm tối cao là 6 bị cáo, số lượng tưngứgn của năm 1995 là 47 bị cáo trong đó cấp tỉnh là 27 bị cáo và cấp phúc thẩmtối cao là 20 bị cáo {25, tr, 39} Theo số liệu trong báo cáo tổng kết phạm mớibảo vệ tốt quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, ngước lại có quan tâm bảo

vệ cái riêng, mới đảm bảo cho tố tụng hình sự hiện được nhiệm vụ, mục đíchcủa mình

Trang 7

Theo báo cáo của các Toà án địa phwng, trong năm 1987 cả nước có 159người vô tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trong đó có người bị kết án tối 20năm, chung thân hoặc tử hình, ssau khi vụ án được xem xét lại ở cấp phúc thẩmhoặc giám đốc thẩm, tái thẩm thì những người này đã được minh oan Thời gian

đó trong số những người bị bắt, tạm giữ, tạm giam chỉ có khảng 30% bị đưa raxét xử, số còn lại là bắt sai hoặc chuyển sang giải quyết theo các thủ tục hànhchình, dân cư, kinh tế … Số người bị bắt khẩn cấp chiếm tỷ lệ hơn 90% tổng sốngừơi bị bắt, nhưng trong năm đầu tiên thi hành Bộ luật tố tụng hình sự đã hạnchế tình trạng vi phạm nói trên

Phân tích số liệu thống kê hàng năm từ năm 1989 - 1993 cho thấy:

- Tỷ lệ số người được toà án tuyên không có tội so với tổng số người bịđưa ra xét xử có chiều hướng giảm dần (từ 0,73 xuống 0,32%) {24,tr.39}

Những số liệu nói trên khẳng định một điều là sau khi Bộ luật tố tụnghình sự 1988 ra đời, việc bắt giam người trong tố tụng hình sự cũng như việctruy tố bị cáo ra toà được tiến hành thận trọng hơn Tuy nhiên tình rạng vi phạmvới các quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sựkhông phải không còn Theo số liệu của Viện kiểm sát ra quyết định chỉ ở giaiđoạn khởi tố (sau khi có kết luận điều tra và hồ sơ vụ án được chuyển sang Việnkiểm sát) Năm 1994 Toà án cấp phúc thẩm đã tuyển 40 bị cáo không phạm tộitrong các cấp tỉnh alf 34 bị cáo và các cấp phúc thẩm tối cao là 6 bị cáo, sốlượng tưng ứng của năm 1995 là 47 bị cáo trong đó cấp tỉnh là 27 bị cáo và cấpphúc thẩm tối cao là 20 bị cáo {25, tr 39} Theo số liệu trong báo cáo tổng kết,của ngành Toàn án, năm 1999 các toà án nhân dân cấp tỉnh tuyên không phạmtội đối với 48 người, các tào phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tuyên khôngphạm tội đối với 6 người Năm 2000 các Toà án nhân đân cấp tỉnh tuyên khôngphạm tội đối với 53 người, các Toà phúc thẩm toàn án nhân đan tối cao cấp tỉnhtuyên bố không phạm tội đối với 45 người Năm 2001 các Toà án nhân đân cấptỉnh tuyên bố không phạm tội với 4 người và các toàn án phúc thẩm toán ánnhân dân tối cao tuyên bố không phạm tội đối với 6 người

Trang 8

Những kết quả mà tố tụng hình sự đạt được từ sau ngày Bộ luật tố tụnghình sự có hiệu lực pản ánh trong số liệu thụ lý và giải quyết án của ác cơ qantiến hành tố tụng, mà trọng tâm là hoạt động của các cơ quan xét xử (biểu số2).

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có hiệu lực từ 01/7/2004 và các toà ánđang tiếp tục triển khai sâu rộng việc đổi mới thủ tục xét hỏi và tranh luận tạiphiên toà trên cơ sở các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và theo tinh thầncải cách tư pháp Việc phán quyết của Toà án căn cứ chủ yếu vào kết quả tranhluận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, quan điểmkiểm sát viên, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác để ra bản

* Tuiy nhiên, việc vi phạm các quy định về thời hạn trong tố tụng hình sựvẫn còn là vấn đề phức tạp kể cả khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và gầnđây là Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và gần đây là Bộ luật tố tụng hình sựnăm 2003 cả hiệu lực

Theo kết luạn của Chánh án toàn án nhân dân tối cao Hôị nghị tổng kếtcông tác ngành toàn án năm 2003, ngành toà án òn nhiều công việc vòn tồn

Trang 9

KẾT QUẢ XÉT XỬ HÌNH SỰ SƠ THẨM TỪ NĂM 1999 ĐẾN

Số bị cáo (%)

Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác năm 2002, 2004 của ngành Toà án nhân dân

đọng bặc búc xúc chưa được xử lý dứt điểm, cần đặc biệt lưu ý đối vớicác trường hợp phải ra lệnh tạm giam, các vụ án đã quá thời hạn luạt định, cácbản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa ra quyết định thi hành án,các đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm bức xúc, kéo dài và số vụ án còn lại ởcác cấp không được để quá thời hạn xét xử do lỗi chủ quan của thẩm phán Một

Trang 10

số Toà án còn chậm ra quyết dịnh tạm giam đối với một số bị cáo mà thời hạntạm giam đối với họ đã hết Toàn ngành Toàn án còn hơn 200 trường hợp đểquá hạn giam Việc phát hành bản án của một số Toà án cấp phúc thẩm cònchậm, chưa đáp ứng được yêu cầu, làm cho việc ra quyết định thi hành án hình

sự bị chậm so với quy định của pháp luật

Thi hành án hình sự là một trong những công tác quan trọng của quá trìnhtiến độ tố tụng Quyết định về hình phạt tù cũng như các quyết định khác củaToà án chỉ có tác dụng giáo dục riêng vào phòng ngừa chung khi được thi hànhnghiêm túc Tuy nhiên công tac thi hành án hình sự chưa đựơc quan tâm chỉ đạo

và thực hiện nghiêm túc, tương xướng với vị trí của nó trong quá trình tiến hành

tố tụng

Năm 1999, tồn tại chủ yếu trong công tác thi hành án hình sự là việcnhiều Toà án không kiẹp thời giao bản án, chuyển bản án nên không kịp raquyết định Hồ Chí Minh có 464 bản án chưa kịp đánh máy nên không kịp raquyết ịnh thi hành án đúng thời hạn, tuy nhiên không thể vì lý do trên để viphạm quy định của pháp luật Ngoài ra các Toà án còn vi phạm điểm b khoản 1Điều 226 Bộ luật tố tụng hình sự 1988 Nhiều Toà án ra quyết định thi hành ánphát tu khi đang còn thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp(Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh có 96 quyết định, Toà án nhân dân tỉnh ĐồngNao có 224 quyết định, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh có 46 quyết định), viphạm khoảng 3 Đêìu 226 Bộ luật tố tụng hình sự 1988: ra quyết dịnh thi hành

án quá chậm (toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai: 1004 quyết định quá 45 ngày, cóquyết định thi hành án phát tù chậm, có quyết định chậm 3 tháng: Toàn án nhândân tỉnh Quảng Ninh có 37 quyết định thi hành án phát tù chậm {1}

Năm 2000 còn 1.150 trường hợp chậm ra quyết định thi hành án phát tùtrong đó chậm ra quyết định tới 3 tháng là 893 người, trên 3 tháng là 257 ngườivà121 người Toàn án chưa ra quyết dịnh thi hành án {2}

Năm 2001, theo báo cáo thống kê thi hành án hình sự của 41 Toà án nhândân cấp tỉnh trên cả nước, số người bị phạt tù nhưng chưa thi hành án là 2.982

Trang 11

người và Toà án nhân dân các cấp chưa ra quyết định thi hành án 875 người(Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn có 96 trường hợp, Toà án nhân dân tỉnh BìnhThuận có 91 trường hợp, Toàn án nhân dân tỉnh Bắc Giang có 87 trường hợpchậm ra quyết định thi hành án hình sự){3}.

Đến năm 2003 "nhận thức rõ tầm quan trọng và ý nghĩa của công tác thihành án hình sự nên các Toà án đều cố gắng phối hợp với Cơ quan công an vàViện kiểm sát dần đưa công tác này vào nề nếp Nhìn chung các Toà án đa chútrọng đến việc ra quyết định thi hành án Theo số liệu chưa đẩy đủ, số bị cáo tạingoại mà Toà án đã ra quyết định thi hành nhưng chưa thi hành án là 5.314người, chưa ra quyết định thi hành án phát là 1.905 người" {5, tr.10}

Năm 2004, Các Toà án thường xuyên phối hợp với Viện kiểm sát vàCông an rà soát, đôn đóc việc thực hiện các quyết dịnh của Toà án về thi hành

án hình sự, vì vậy đã ra quyết định thi hành án sự đối với 69.188 người bị kết ántrong tổng số 70.033 người bị kết án mà bản án đã có hiệu lực páhp luật, đạt tỷ

lệ 98,8% Số còn lại chưa ra quyết định thi hành án là 845 người, trong đó phầnlớn còn trong thời hạn luật định {12, tr.9}

Thực trạng vi phạm các quy định pháp luật về thời hạn trong tố tụng hình

sự trước và ssau khi có Bộ luật tố tụng hình sự có thể đựơc nhóm thành các loạinhư sau:

Trang 12

phương này hay địa phương khác Thời gian trước khi có Bộ luật tố tụng hình

sự thì vi phạm nhiều hơn, liên tục hơn, ít có điều kiện giám sát, ngăn chăn hơn

so với khi Bộ luật tố tụng hình sjư 1988 ra đơì Từ khi Bộ luật tố tụng hình sựnăm 2003 được triển khai, thời gian thi hành mới được 09 tháng, chưa có điềukiện để tổng kết việc áp dụng các quy định về thời hạn Song có thể thấy, cùngvới sự phát triển của kinh tế - xã hội, ý thức tuân thủ pháp luật tố tụng hình sựtrong đó có các quy định pháp luật về thời hạn của các cơ quan tiến hành tốtung, người tiến hành tố tụng và cả những người tham tha tố tụng đã đựơc nănglên môt bước, là nhân tố bảo đảm cho việc thực hiện nghiên chỉnh các quy địnhpháp luật tố tụng sự trong thời gian tới

2.1.2 Nguyên nhân vi phạm các quy định về thời hạn.

Đi tìm nguyên nhân vi phạm các quy định về thời hạn cũng là một thực tếhết sức khó khăn, vì những lẽ tế nhị, các cơ quan tiến hành tố tụng không côngkhai đưa ra những đánh giá có khả năng nhận hết trách nhiệm về phần mìnhtrong việc vi phạm, hoặc có đánh giá cung trong một phạm vi thông tin hep.Thực tế do bảo đảm mục đích quan hệ phối hợp tố tụng, các cơ quan tiến hành

tố tụng tránh "đụng chạm", tránh phê phán lẫn nhau

Tuy nhiên có thể thấy tình hình vi phạm các quy định của pháp luật vềthời hạn trong tố tụng hình sự do các nguyên nhân sau đây

2.1.2.1 Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành hiện chưa hoàn thiện

Chỉ một thời gian ngắn sau khi có hiệu lực, Bộ luật tố tụng hình sự năm

1988 đã bộc lộ thiếu sót trong các quy định và chế định, buộc phải sửa đổi bổsung 3 lần (các năm 1990, 1992 và 2000) Trên cơ sở tổng kết gần 15 năm thihành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, đồng thời nghiên cứu, tham khảo cóchọn lọc kinh nghiệm về tố tụng hình sự các nước, bộ luật tố tụng hình sự năm

2003 đã sửa đổi, bổ sung những điều khoản cụ thể Riêng về nội dung thời hạntrong tố tụng hình sự, nhiều quy định được sửa đổi, một số quy định được bổsung cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn đấu tranh chống và phòng ngừa tộiphạm trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, vẫn còn những quy định kjhông phù

Trang 13

hợp với thực tiễn, hoặc không gắn với một thời hạn xác định, làm cho người ápdụng pháp luật trở lên lúng túng, tạo điều kiện cho việc vận dụng chủ quan, viphạm các quy định về thời hạn.

Pháp luật tố tụng hình sự hiện nàh chưa hoàn thiện là đúng với quy luậtkhác, vì trước những biến đổi to lớn và nhanh chóng của đất nước, trên tất cảcác lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội, pháp luật chung, pháp luật tố tụng hình

sự nói riêng cần phải có những thay đổi cho phù hợp là cả một quá trình

Nhưng xem xét thực trạng vi phạm pháp luật, chính bản thân pháp luật tốtung hình sự những quy định thiếu sót, không phù hợp với thực tiễn lại lànguyên nhân dẫn đến vi phạm, nhất là vi phạm những quy định pháp luật vềthời hạn

Phân tích trong Bộ luật tố tụng hiện hành, dù mới được sửa đổi, bổ sung

cơ bản toàn diện,bắt đầu có hiệu lực thi hành từ 1 tháng 7 năm 20004, vẫn cóthể tìm thấy những khiếm khuyết nhất đinh

* Quy định về thời hạn không phù hợp với thực tiễn

- Quy định về tạm giữ và thời hạn tạm giữ tại điều 86 và điều 87 Bộ luật

tố tụng hình sự, có nhiều điểm không phù hợp với thực tiễn:

Trường hợp lệnh bắt khẩn cấp của người chỉ đồn biên phòng ở hải đảo vàbiên giới; của người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏisân bay, bến cảng, thì thực tế không thể áp dụng được quy định tại điều 86,khoản 3 bộ luật tố tụng hình sự: "trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi ra quyết địnhtạm giữ, quyết định tạm giữ phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp…", vìlệnh bắt khẩn cấp thực hiện ở hải đảo, biên giới xa xôi hoặc hành trình của máy

bay, tàu biển có khi kéo dài hàng tháng mặc nhiên phải tạm giữ người bị bắt quá hạn 3 ngày, thậm chí là hết 9 ngày mà không có một sự phê chuẩn gia hạn

tạm giữ nào, và cùng không một hoạt động điều tra ban đầu nào được tiến hànhđối với người bị bắt, vì những người có thẩm quyền ra lệnh bắt khẩn cấp, lệnhtạm giữ trong trường hợp cụ thể này không có thẩm quyền điều tra

Trang 14

- Do quy định các tính thời hạn tạm giữ không được quá 3 ngày (đêm) kể

từ khi cơ quan điều tra nhận được kể từ khi cơ quan điều tra nhận người bị bắttrong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầuthú, người bị bắt theo quyết định truy nã và có thể gia hạn 2 lần, mỗi lần 3 ngày,

thực tế chỉ áp dụng được đối với việc tạm giữ theo quyết định của cơ quan điều tra, không thể áp dụng cho những trường hợp khác mà người có quyền ra

quyết định tạm giữ không phải là người thuộc cơ quan điều tra (như người chỉhuy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; chỉ huy đồn biênphòng ở hải đảo và biên giới; người không thuộc cơ quan điều tra ra quyết địnhtạm giữ gia hạn giữ thực tế là vi phạm quy định thời hạn tạm giữ, không thểtránh khỏi)

* Quy định không thể xác định thời hạn cu thể

- Điều 243 khoản 2 Bộ luật tố tụng hình sự quy định việc Toà án cấpphúc thẩm áp dụng, thay đổi hoặc huy bỏ biện pháp ngăn chặn: Đối với bị caođang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên toà thời hạn tạm giam đã hết, nếu xétcần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử, thì Toà án ra lệnh tạm giamcho đến khi kết thúc phiên toà"

- Điều 287 đoạn 2 Bộ luật tố tụng hình sự: Trong trường hợp huỷ bản ánhoặc quyết định bị kháng nghị để điều tra lại hoặc để xét xử lý va xét thấy việctiếp tục tạm giam bị cáo là cần thiết, thì Hội đồng giám đốc thẩm ra lệnh tạmgiam cho đến khi Viện kiểm sóat hoặc Toà án thụ lý lại vụ án

Những quy định trên không xác định thời hạn cụ thể "ra lệnh tạm giam

cho đến khi kết thúc phiên toà " "hoạc cho đến khi Viện kiểm sát hoặc Toà ánthụ lý lại vụ án" là bao nhiêu này Điều này dẫn đến sự lạm dụng trong giảithích và áp dụng pháp luật, ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi hợp pháp của bịcáo

2.1.2.2 Nguyên nhân thuộc về con người trong bộ áy cơ quan tiến hành tố tụng, cố ý hoặc vô ý làm sai các quy định về thời hạn trong tố tụng hình sự.

Trang 15

- Trường hợp cố tý là trường hợp những nươuì có thẩm quền tiến hành tố

tụng hình sự, biết rằng không đúng nhưng vẫn đề cố tình tạm giữ, tạm giam quá

hạn đối với công dân có liên quan đến tố tụng

Những người này có kiến thức pháp luật, có khả năng nhận thức nhữngquy định của pháp luật, được , được Nhà nước giao quyền tiến hành tố tụng, đã

có hành vi sai trái xâm phạm thô bạo các quyền dân chủ của công dân (quyền tự

do, quyền được tôn trọng về danh sách dự, nhân phẩm…) và nguy hiểm là cáchành vi ấy được mang vỏ bọc của pháp luật

- Trường hợp vô ý làm sai các quy định về thời hạn trong tố tụng hình sự

có thể phân thành hai loại do các nguyên nhân sau:

+ Nguyên nhân do những người tiến hành tố tụng, có ý kiến thức phápluật nhất định, nhưng trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật về thờihạn, đã hiểu chưa đẩy đủ tinh thần và ý nghĩa của chế định, quy phạm pháp luậttrong Bộ luật tố tụng hình sự, vô tình vi phạm các quy định pháp luật về thờihạn Sự hạn chế này có thể là hiểu biết chưa hết múc đích, ý nghĩa, điều kiện ápdụng, huỷ bỏ, thay đổi biệp pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự hoặc cách tínhthời hạn trong tố tụng hìn sự

+ Nguyên nhân do những người tiến hành tố tụng hạn chế về iến thứcpháp luật, trình độ chuyên môn nghiệp vụ yếu kém dẫn đến nhận thức sai, vô ý

vi phạm các quy định pháp luật luật về thời hạn

Trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn của điều tra viên, kiểm sát viên,thẩm phán hiện nay nhìn chung còn thấp so với yêu cầu, cùng là nguyên nhânđội ngũ này vô ý vi phạm các quy định về thời hạn

Trong một Hội ghị Công an năm 2003, thứ trưởng Lê Thế Tiệm cho biết:Toàn ngành có khoảng 11.000 điều tra viên được bổ nhiệm từ sơ cấp dến caocấp; nhưng trong số đó chỉ có khoảng hơn 6.000 người có trình độ cử nhân luật,còn gần 5.000 người chưa có bằng đại học Luật (mới tốt nghiệp trung cấp anninh) Theo quy định điều 30 Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, gần 5.000người này phải miễn nhiệm điều tra viên Câu hỏi đặt ra là nếu miễn nhiệm một

Trang 16

số lượng điều tra viên quá lớn như vậy thì sẽ lấy lực lượng ở đầu để giải quyếtkhối lượng án đang hàng này, hàng giờ tăng lên về số lượng và tính chấp phứctạp?

Kết quả rà soát đội ngũ thẩm phán, cán bộ, công thức Toàn án nhân dâncác cấp cho thấy: Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, 100% thẩm phán Toà ánnhân dân tối cao, 90% thẩm phán Toàn án nhân dân cấp tỉnh và 80% thẩm phánToà án nhân dân cấp huyện có trình độ đại học lụât trở lên Số còn lại có trình

độ cao đẳng Kiểm sát hoặc Đại học khác Đại học đa số thẩm phán giữ vữngphẩm chất chính trị, đạo đức, có lối sống lành mạnh, chấp hành tốt chủ trương,đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, có tinh thần tráchnhiệm trong công tác, giữ gìn đoàn kết nội bộ, có ý thức tổ chức kỹ thuật vàtính cực tu dưỡng, rèn luyện trao đổi nghiệp vụ để hoàn thành nhiệm vụ đượcgiao {6, tr 16} Tuy vậy, "đội ngũ thẩm phán Toà án nhân dân các cấp cònthiếu so với số lượng quy định Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của các thẩmphán, cán bộ, công chức Toà án do nhiều nguyên nhân khác nhau đã có nhữngbiểu hiện sa sút về phẩm chất đạo đức, bản lĩnh nghề nghiệp, thiếu tinh thầntrách nhiệm, không hoàn thành nhiệm vụ công tác, các biệt có trường hợp viphạm pháp luật bị truy cứu trách nhiệm hình sự Trong năm 2003, có 35 người

bị kỷ luật, trong đó có 05 trường hợp bị Chánhán Toà án nhân dân tối ca raquyết định cách chức chức danh thẩm phán, 26 trường hợp bị khiển trách, cảnhcáo về Đảng hoặc chính quyền; 04 trường hợp bị đình chỉ công tác để điều tra

về hành vi nhận hối lộ và có một tập thể Ban cán sự Đảng toà án nhân dân cấptỉnh bị kỷ luật với hình thức cảnh cáo" [7, tr.18]

Năm 2004, "có 10 thẩm phán địa phương bị xử lý kỷ luật do bị phạm phẩmchất đạo đức, kỷ luật công vụ, thậm chí vi phạm pháp luật, trong đó có 03trường hợp bị cách chức thẩm phán " [13, tr.18]

Những số liệu trên cho thấy một thực tế là một bộ phận những người làmcông tác bảo vệ pháp luật hạn chế về kiến thức pháp luật và chuyên môn nghiệp

vụ, có những vi phạm pháp luật tố tụng hình sự nói chung, vi phạm quy định về

Trang 17

thời hạn nói riêng.

Tính tới ngày 30/9/2004, các Toà án các cấp đã nhận được 31 đơn yêu cầubồi thường theo Nghị quyết số 388 thuộc trách nhiệm bồi thường của Toà án.Các Toà án đã tiến hành thoả thuận về bồi thường, xin lỗi công khai và đăng cảichính trên báo chí theo đúng quy định của pháp luật Trong số đó, đã thươnglượng hoà giải thành đối với 9 trường hợp với tổng số tiền bồi thường là631.094.887 đồng, các trường hợp còn lại đang được tiếp tục giải quyết theoquy định của pháp luật [14.tr17]

2.1.2.3 Nguyên nhân thuộc về tổ chức bộ máy các cơ quan tiến hành tố tụng và phương tiện, trang thiết bị trong hoạt động tố tụng.

Có một thực tế là, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội thì tội phạmcũng gia tăng cả về số lượng và mức độ nghiêm trọng Chính vì thế cơ sở vậtchất, phương tiện trang thiết bị cho lực lượng phòng chống tội phạm cần phảiđược quan tâm đầu tư, trang bị, phát triển để đáp ứng kịp thời yêu cầu phòngchống tội phạm trong thời kỳ mới

Hiện nay, cơ sở vật chất, điều kiện làm việc của các cơ quan tiến hành tốtụng chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, nhất là ở cấp huyện, nhiều nơi trụ sở chậtchội, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, phương tiện làm việc vừa thiếu vừa lạc hậu;chính sách đối với cán bộ tiến hành tố tụng chưa tương xứng với nhiệm vụ vàchức trách được giao

Việc đùng đẩy và xác minh lý lịch bị can giữa cấp tỉnh với cấp huyện, giữađịa phương này với địa phương khác dẫn đến việc kéo dài thời hạn giải quyết vụ

án, cũng xuất phát từ nguyên nhân kinh phí và phương tiện hoạt động Hoặc nếu

có phương tiện thông tin nhanh chóng, kinh phí đầy đủ, thì việc bắt người đang

có lệnh truy nã ở các địa phương xa cơ quan điều tra ra quyết định truy nã sẽkhông có việc vi phạm thời hạn tạm giữ theo điều 86 Bộ luật tố tụng hình sựxảy ra đùn đẩy việc giao nhận người người bị bắt giữa cơ qan bắt svà cơ quan raquyết định truy nã, vì thiếu kinh phí dẫn đến tạm giữ quá hạn

Mặt khác, hiện tượng "quá tải" trong điều tra, truy tố, nhất là án tồn đọng

Trang 18

quá hạn trong xét xử thường được nhắc đến trong các bản báo cáo tổng kếtngành, như là biểu hiện của sự mất cân đối nghiêm trọng giữa yêu cầu xử lýnhanh chóng, chính xác tội phạm và lực lượng con người, phương tiện, trangthiết bị đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Cụ thể, tính đến tháng 12.2003, Toà án nhân dân các cấp có 3543 thẩmphán bao gồm 97 thẩm phán toà án nhân dân tối cao, 932 thẩm phán Toà ánnhân dân cấp tỉnh; 2514 thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện Tuy số lượngthẩm phán đã tăng 151 người so với cùng kỳ năm trước song Toà án nhân dâncác cấp còn thiếu 12010 thẩm phán, trong đó Toà án nhân dân tối cao thiếu 23người, Toà án nhân dân cấp tỉnh thiếu 186 người, Toà án nhân dân cấp huỵênthiếu 1001 người [8, tr15]

Hiện nay số thẩm phán còn thiếu chủ yếu tập trung ở Toà án nhân dânthành phố Hồ Chí Minh, Bến Tre và một số tỉnh phía Nam do nguồn cán bộ bổnhiệm thẩm phán chưa chuẩn bị kịp so với mức độ và tỷ lệ tăng hàng năm cácloại vụ án mà các đơn vị này phải thụ lý, xét xử Trước tình hình này Toà ánnhân dân tối cao đã quyết định điều động, biệt phái 32 thẩm phán, chủ yếu làthẩm phán cấp huyện được biệt phái ngang cấp có thời hạn để phục vụ nhiệm vụxét xử ở các đơn vị Toà án còn thiếu thẩm phán [15.tr21]

Qua tổng hợp và rà soát, đánh giá cho thấy,về cơ bản Toà án nhân dân cáccấp đã có trụ sở và được trang bị một số trang thiết bị thiết yếu để làm việc,nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ của ngành Toà

án hiện nay và việc tăng thẩm quyền xét xử về hình sự cho Toà án cấp huyện.Nhiêu trụ sở Toà án nhân dân địa phương được xây dựng đã lâu đến nay đã bộc

lộ những bất hợp lý về thiết kế và quy mô xây dựng, không đáp ứng được yêucầu của công tác xét xử, có trụ sở đã xuống cấp nghiêm trọng cần được trùng tu,cải tạo, nâng cấp hoặc xây dựng mới; một số trang thiết bị làm việc cần phảiđược thay thế, bổ sung Bên cạnh đó, định mức kinh phí như hiện nay củangành Toà án còn quá hạn hẹp, một số toà án có số lượng án nhiều gặp không ítkhó khăn vì không có kinh phí chi thường xuyên cho công tác

Ngày đăng: 23/10/2013, 11:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

KẾT QUẢ XÉT XỬ HÌNH SỰ SƠ THẨM TỪ NĂM 1999 ĐẾN NĂM 2004NĂM 2004 - THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CẢU PHÁP LUẬT VỀ THỜI HẠN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
1999 ĐẾN NĂM 2004NĂM 2004 (Trang 9)
KẾT QUẢ XÉT XỬ HÌNH SỰ SƠ THẨM TỪ NĂM 1999 ĐẾN NĂM 2004NĂM 2004 - THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CẢU PHÁP LUẬT VỀ THỜI HẠN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
1999 ĐẾN NĂM 2004NĂM 2004 (Trang 9)
đây cho thấy rõ sự chênh lệch quá xa và sự bất hợp lý giữa thang bảng lương của ngạch thẩm phán như sau: - THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CẢU PHÁP LUẬT VỀ THỜI HẠN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
y cho thấy rõ sự chênh lệch quá xa và sự bất hợp lý giữa thang bảng lương của ngạch thẩm phán như sau: (Trang 31)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w