Theo những quy định về thẩm quyền của Chính phủ tại chương VIII Hiếnpháp năm 1992 và chương II Luật Tổ chức Chính phủ năm 2002 thì thẩm quyềncủa Chính phủ trong lĩnh vực BHXH là:- Quyền
Trang 1ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM.
Cơ sở pháp lý đầu tiên cho sự ra đời của BHXH Việt Nam là bản Hiếnpháp năm 1946 Điều 14 Hiến pháp 1946 khẳng định: “ Những người công nhângià cả hoặc tàn tật không làm việc được thì được giúp đỡ” Chính phủ đã banhành các sắc lệnh quy định về các chế độ trợ cấp BHXH như:
- Sắc lệnh số 20/SL ngày 16 tháng 2 năm 1947 do Chủ tịch Hồ Chí Minh
ký quy định về chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất cho thân nhân tử
sĩ đối với những quân nhân cấp bấc binh, sĩ, uý, tá và tướng thuộc cácnghành Quân đội Quốc gia Việt Nam
- Sắc lệnh số29 /SL ngày 12 tháng 3 năm 1947 quy định về các quan hệlàm công
- Sắc lệnh số 70/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950 về quy chế công chức ViệtNam
- Sắc lệnh số 77/SL ngày 22 tháng 5 năm 1950 ban hành quy chế công dân.Những quy định về BHXH đầu tiên này đã đặt nền móng cho việc xâydựng và thực hiện pháp luật BHXH sau này
Sự phát triển của BHXH Việt Nam trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước là sự
cụ thể hóa đướng lối, chính sách của Đảng trên phạm vi cả nước theo cơ chế kếhoạch hoá tập trung BHXH trong thời kỳ này đã đảm bảo được điều kiện sốngthiết yếu về vật chất và tinh thần cho hàng triệu công nhân, viên chức nhà nước,quân nhân và gia đình họ trong trường hợp gặp rủi ro không làm việc được,không có thu nhập hoặc khi già yếu, mất sức lao động hoặc qua đời Chính sáchBHXH đã động viên được đội ngũ công nhân, viên chức nhà nước gắn bó vớivới cách mạng, hăng say chiến đấu, lao động sản xuất, xây dựng đất nước
Cuộc cách mạng trong quá trình phát triển của BHXH thực sự bắt đầu từkhi Bộ Luật Lao động do Quốc hội khoá IX thông qua 23/6/1994 có hiệu lực
Trang 2Thủ tướng Chính phủHội đồng quản lýTổng Giám đốcCác Phó Tổng Giám đốc
Ban Tuyên truyền
Ban Kiểm tra
Ban
Kế hoạch Tài chính
Ban
Tổ chức cán bộ
Ban BHXH
tự nguyện
Văn
phòng
Ban Chế độ Chính sách
ngày 01/01/1995 trong đó có chương IX quy định về BHXH Tiếp đó điều lệBHXH được ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 củaChính phủ về những nội pháp luật BHXH trong nền kinh tế đổi mới
Để đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế và các quan hệ lao độngphức tạp trong cơ chế kinh tế hội nhập ngày 29/6/2006 Luật BHXH đã đượcQuốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 9thông qua, có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 đối với BHXH bắt buộc, 01/01/2008đối với BHXH tự nguyện và 01/01/2009 đối với BHXH thất nghiệp là cơ sởpháp lý cao nhất làm chỗ dựa tinh thần và vật chất cho người lao động
Hiện nay, Cơ quan quản lý cao nhất về BHXH là Chính phủ, cơ quan sựnghiệp cao nhất là Bảo hiểm xã hội Việt Nam BHXH Việt Nam có chức năngthực hiện chính sách, chế độ BHXH, BHYT và quản lý Quỹ BHXH theo quyđịnh của pháp luật BHXH Việt Nam được tổ chức và quản lí theo hệ thống dọc,tập trung thống nhất từ Trung ương đến địa phương gồm có:
- Ở Trung ương là BHXH Việt Nam
- Ở Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là BHXH tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương (sau đây gọi chung là BHXH tỉnh) Trực thuộc BHXH ViệtNam
- Ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là BHXH quận, huyện, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là BHXH huyện) trực thuộc BHXHtỉnh
Sơ đồ 2: Bộ máy tổ chức BHXH Việt Nam
Trang 3Ban Kiểm tra
Ban
Kế hoạch Tài chính
Ban
Tổ chức cán bộ
Ban BHXH
tự nguyện
Văn
phòng
Ban Chế độ Chính sách
Ban Chi BHXH
Ban Thu BHXH
Phòng Quan hệ quốc tế
Ban Quản lý
ĐT và XD
Báo Bảo hiểm
xã hội
Tạp chí Bảo hiểm
xã hội
Trung tâm Nghiên cứu KH
Trung tâm Đào tạo
Trung tâm lưu trữ
Bảo hiểm xã hội Thành phốBảo hiểm xã hội Quận, Huyện, Thị xã
Trang 4II XÁC ĐỊNH CÁC CHỦ THỂ VÀ KHÁCH THỂ TRONG QUẢN LÝ BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM
1 Chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm xã hội
Nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với bất kỳ lĩnh vực kinh tế - xã hộinào cần thiết phải chỉ ra chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, để từ đó thấy đượcđặc điểm của quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế - xã hội đó
nhiên việc nắm quyền lực của nhân dân phải thông qua hình thức đại diện, vànhư vậy sẽ có sự hiện diện của một loại chủ thể thực tế là chủ thể pháp lý Bảnthân cơ quan nhà nước không tự có quyền được mà được nhân dân uỷ nhiệmtheo thẩm quyền cụ thể do pháp luật quy định
Xét dưới góc độ pháp lý
Chủ thể quản lý nhà nước là nhà nước với hệ thống các cơ quan hành chínhđược tổ chức chặt chẽ và quy định thẩm quyền theo đúng chức năng của từngloại cơ quan đó Cơ quan quản lý nhà nước có hai loại cơ quan: cơ quan thẩmquyền chung và cơ quan thẩm quyền riêng
Luật Tổ chức Chính phủ năm 2002; Luật Tổ chức UBNH, HĐND năm
2003 (sửa đổi) và một số văn bản quy phạm pháp luật khác là cơ sở pháp lý đểxác định hệ thống chủ thể quản lý trong lĩnh vực BHXH Cơ quan có thẩmquyền chung về quản lý hoạt động BHXH là Chính phủ và UBND các cấp
Trang 5Theo những quy định về thẩm quyền của Chính phủ tại chương VIII Hiếnpháp năm 1992 và chương II Luật Tổ chức Chính phủ năm 2002 thì thẩm quyềncủa Chính phủ trong lĩnh vực BHXH là:
- Quyền kiến nghị lập pháp, dự thảo các văn bản luật BHXH trình quốchội, dự thảo trình Quốc hội các chính sách lớn về BHXH;
- Quyền lập quy, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫnthi hành các quy định pháp luật về BHXH, quyết định các chủ trương,biện pháp về tổ chức và quản lý BHXH;
- Quyền quản lý và điều hành các hoạt động BHXH;
- Quyền tổ chức, xây dựng bộ máy quản lý BHXH trong cả nước;
- Quyền hoạch định chính sách, quy hoạch, đào tạo, quản lý nguồn nhânlực cho BHXH;
- Quyền kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm trong quá trình tổ chức và quản
Trong cơ cấu tổ chức hành chính nhà nước, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quanthuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong phạm vi thẩmquyền và trách nhiệm được Chính phủ giao Các bộ có chức năng quản lý nhànước đối với hoạt động BHXH theo trách nhiệm quản lý nhà nước đối vớinghành hoặc lĩnh vực được Chính phủ giao, cụ thể là:
- Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với lĩnh vực quỹBHXH và mọi hoạt động tài chính BHXH
Trang 6- Bộ Lao động - Thương binh và xã hội thực hiện chức năng quản lý nhànước đối với lĩnh vực, chế độ chính sách BHXH.
- Bộ y tế thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với lĩnh vực chăm sóc
y tế
Căn cứ nghị định số 30/2003/NĐ-CP ngày 01/04/2003 của Chính phủ quyđịnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan trực thuộcchính phủ và Nghị định số 100/2002/NĐ-CP ngày 06/12/2002 của Chính phủquy định quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn, và cơ cấu tổ chức củaBHXH Việt Nam thì BHXH Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ có chứcnăng thực hiện chính sách, chế độ BHXH, BHYT và quản lý quỹ BHXH theoquy định của pháp luật Có thể coi chủ thể BHXH Việt Nam là chủ thể đặc biệttrong lĩnh vực tổ chức và quản lý hoạt động BHXH
Theo điều 8 Luật BHXH quy định rõ cơ quan quản lý nhà nước về BHXH baogồm:
Để cụ thể hoá chức năng quản lý nhà nước có Hội đồng quản lý Bảo hiểm
xã hội Việt Nam được tổ chức để giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện việcgiám sát chỉ đạo trực tiếp các hoạt động của cơ quan BHXH: chỉ đạo quản lý vàphát triển quỹ BHXH; thông qua dự toán và quyết toán hàng năm về thu, chi trảcác chế độ, thông qua chiến lược phát triển ngành BHXH, kế hoạch dài hạn Trong cơ cấu Hội đồng quản lý gồm đại diện lãnh đạo của Bộ Tài chính, BộLao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Tổng liên đoàn Lao động ViệtNam và Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Trang 7Tóm lại, hiện nay ở nước ta chủ thể quản lý nhà nước bao gồm nhiều cơquan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, trong đó có một cơquan thuộc Chính phủ chuyên trách chịu trách nhiệm tổ chức và điều hành mọihoạt động BHXH – Cơ quan BHXH Việt Nam.
2 Đối tượng quản lý trong bảo hiểm xã hội
Trong BHXH đối tượng quản lý chính là các quan hệ BHXH Quan hệBHXH bao gồm hai nhóm quan hệ dưới đây:
a Quan hệ trong việc hình thành quỹ BHXH.
Quan hệ trong việc hình thành quỹ BHXH chính là quan hệ đóng gópBHXH và quản lý quỹ BHXH giữa các bên tham gia BHXH và cơ quan BHXH,được điều chỉnh bởi Luật BHXH Như vậy, chủ thể trong quan hệ này bao gồmcác bên tham gia BHXH và cơ quan BHXH Các bên tham gia BHXH là ngườilao động và người sử dụng lao động – chính họ là những chủ thể trong quan hệlao động Cơ quan BHXH là chủ thể trong quan hệ quản lý quỹ BHXH, đượcnhà nước giao trách nhiệm tổ chức thu các nguồn đóng góp vào quỹ tài chínhtập trung (quỹ BHXH) và quản lý quỹ theo quy định của nhà nước
b Quan hệ trong việc chi trả các chế độ trợ cấp BHXH
Quan hệ trong việc chi trả các chế độ trợ cấp BHXH là quan hệ giữa cơquan BHXH và người hưởng BHXH, được điều chỉnh bởi Luật BHXH Cơquan BHXH là chủ thể tham gia quan hệ này để thực hiện việc chi trả trợ cấpcho người được hưởng theo quy định của pháp luật Người hưởng BHXH thamgia quan hệ trong việc chi trả các chế độ trợ cấp BHXH phải là cá nhân ngườilao động đang hoặc đã tham gia vào quan hệ lao động Trong một số trườnghợp, người được hưởng còn là thân nhân trong gia đình người lao động
Đây là quan hệ chủ yếu trong quan hệ BHXH, vì mục đích của BHXH làđảm bảo vật chất cho cuộc sống của người lao động và thân nhân của họ khi họmất hoặc giảm khả năng lao động trong trường hợp gặp các rủi ro theo quy địnhcủa Luật BHXH hoặc hết tuối lao động Quan hệ trong việc hình thành quỹ là
Trang 8tiền đề, là điều kiện để thực hiện quan hệ trong việc chi trả các chế độ trợ cấpBHXH và hai quan hệ này tạo thành quan hệ BHXH.
III ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM XÃ HỘI
1 Thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Năm 2007 là năm đánh dấu bước phát triển mới trong lĩnh vực BHXH vớiviệc Luật BHXH đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namkhóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006 và có hiệu lực ngày01/01/2007 Cùng với việc ban hành Luật BHXH nhà nước đã ban hành hàngloạt các văn bản Luật nhằm đưa Luật BHXH đi vào đời sống người lao động.Riêng năm 2007 Luật BHXH có hiệu lực Nhà nước đã ban hành hàng loạtcác văn bản hướng dẫn, thi hành luật Trong thời kỳ 2001- 2006 Đảng và Chínhphủ đã thể chế hoá thành 138 văn bản đối với chính sách BHXH ( gồm: 8 Luật
và Bộ luật, 4 Pháp lệnh, 2 Nghị quyết, 26 Nghị định, 12 Quyết định của Thủtướng Chính phủ và các Bộ, 51 Thông tư và Thông tư liên tịch, 35 Công văn vàCông điện ) Riêng năm 2007 Luật BHXH có hiệu lực, Nhà nước lại tiếp tụcban hành hàng loạt các văn bản hướng dẫn, thi hành luật [ trích từ các văn bảnquy phạm pháp luật về BHXH]
Với tư cách là cơ quan sự nghiệp BHXH cao nhất BHXH Việt Nam đã banhành hàng loạt quyết định, văn bản hướng dẫn chỉ đạo về BHXH và hàng chụcvăn bản tham gia với chính phủ nhằm hoàn thiện chính sách BHXH nói chung
và hệ thống quản lý BHXH nói riêng Riêng năm 2007 BHXHVN đã có 42 vănbản tham gia với Chính phủ và các Bộ nghành chức năng về nội dung liên quanđến chế độ, chính sách BHXH [ trích: bảo hiểm xã hội trong tiến trình hộinhập]
Nhờ đó, mà chính sách BHXH luôn được kế thừa và đổi mới cơ bản; tạođiều kiện cho nền kinh tế nhiều thành phần phát triển, đã mở rộng đối tượngtham gia BHXH cho người lao động vào làm việc trong các cơ sở kinh tế ngoài
Trang 9quốc doanh; thành lập quỹ BHXH độc lập với Ngân sách Nhà nước, hạch toánđộc lập trên cơ sở lấy thu từ đóng góp của người lao động và người sử dụng laođộng để chi trả các chế độ trợ cấp cho người lao động Công tác quản lý nhànước và tổ chức thực hiện chính sách BHXH cũng được đổi mới căn bản; hìnhthành nhanh tróng, đồng bộ hệ thống tổ chức nghành BHXH từ Trung ương đếnđịa phương; Hệ thống văn bản về BHXH có nhiều chuyển biến đã tạo nên hànhlang pháp lý cho việc tổ chức thực hiện ngày một tốt hơn chế độ, chính sáchBHXH do Nhà nước quy định Các chế độ BHXH thực sự đã đi vào đời sốngngười lao động; tạo sự yên tâm cho người lao động làm việc; làm lành mạnhhoá thị trường lao động, khắc phục dần tính bình quân, bao cấp, nhưng vẫn đảmbảo tính điều tiết và chia sẻ cộng đồng
Cụ thể một số nội dung pháp luật về BHXH ( Luật BHXH ) được bổ xungsửa đổi phù hợp với tiến trình phát triển như:
- Phạm vi đối tượng được mở rộng hơn trước không chỉ bó hẹp trong phạm
vi cán bộ, công chức mà áp dụng đối với người lao động làm việc theohợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên Người sử dụng laođộng tham gia BHXH là bất kỳ tổ chức, cá nhân có thuê mướn, sử dụng
và trả công cho người lao động ( trước là người sử dụng lao động có sửdụng từ mười người trở lên)
- Áp dụng 5 chế độ BHXH là: Chế độ ốm đau; chế độ thai sản; chế độ tainạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí và chế độ tử tuất; giảmchế độ mất sức lao động so với thời kỳ trước là tinh ngọn hệ thống chi trảtrợ cấp BHXH
- Bước đầu đã kiện toàn hai hình thức BHXH tự nguyện và BHXH thấtnghiệp Hình thức BHXH tự nguyện áp dụng hai chế độ: chế độ hưu trí
và chế độ tử tuất ( trước đây là 5 chế độ như BHXH bắt buộc ) phù hợpvới thực tế của các đố tượng tham gia BHXH tự nguyện đồng thời tránhđược nguy cơ thâm hụt quỹ BHXH ( nếu áp dụng 3 chế độ còn lại nhưBHXH bắt buộc)
Trang 10Tuy vậy, việc ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội còn một số hạn chế như:
Một là: đường lối chính sách về BHXH còn chậm được pháp luật hoá.
Việc xây dựng, sửa đổi, bổ xung đến ban hành Luật BHXH còn chậm so vớiyêu cầu thực tiễn của sự phát triển kinh tế
Chính sách đổi mới kinh tế theo cơ chế thị trường được Đảng ta khởixướng từ Đại hội VI nhưng đến năm 1995 chính sách BHXH mới thự sự đi vàocuộc sống người lao động và chủ yếu là công nhân viên chức Đến năm 2007,Luật BHXH mới được ban hành, tức sau 21 năm từ khi đổi mới kinh tế nước tamới có khung pháp lý rõ ràng điều chỉnh quan hệ gắn bó mật thiết không thểtách rời đối với nền kinh tế thị trường – Quan hệ làm công ăn lương
Hai là: việc ban hành các văn bản hướng dẫn Luật Bảo hiểm xã hội chậm,
thiếu tính cụ thể dẫn đến khó khăn trong việc đưa Luật vào đời sống người laođộng Các quy định về BHXH mang tính nguyên tắc, thiếu chi tiết cụ thể nênthường phải có Nghị định kèm theo Nghị định cũng chưa cụ thể nên phải cóthông tư liên bộ hoặc của bộ, nghành có liên quan mới thực hiện được Các vănbản pháp luật thường chậm trễ thiếu đồng bộ ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện
Vì vậy trong 5 năm có 8 luật mà cần đến 51 thông tư và 35 công văn
Một số văn bản Luật về BHXH còn đan xen với những quy định thuộcphạm vi chính sách của nhà nước
Ba là: số lượng văn bản thì nhiều mà hiệu quả thì ít Mặc dù hệ thống văn
bản về chế độ, chính sách BHXH tương đối nhiều nhưng vẫn chưa mang lạihiệu quả mong muốn cho người lao động Phạm vi, đối tượng trong các văn bản
đề cập đến chưa bao hàm được đầy đủ các lực lượng lao động trong xã hội.Chế độ BHXH tự nguyện đã có hiệu lực từ năm 2008 nhưng các văn bản hướngdẫn còn lan man, thiếu cụ thể dẫn đến việc lúng túng trong thực hiện ở các địaphương Văn bản có nhưng việc quản lý BHXH tự nguyện còn nhiều sơ hở gâykhó khăn trong việc quản lý
Trang 11Bốn là: một số nội dung quy định về điều kiện hưởng, mức hưởng thuộc
chế độ BHXH bắt buộc còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với yêu cầu của thực
tế Ví dụ, chế độ ốm đau, thai sản chưa quy định thời gian tối thiểu đóng BHXHtrước khi được hưởng, do đó không ít người lao động thời gian đóng BHXHchưa nhiều nhưng đã được hưởng nhiều hơn mức đóng, tạo ra sự mất côngbằng
Năm là: Luật BHXH tự nguyện mới chỉ áp dụng 2 chế độ hưu trí và tử tuất.
BHXH thất nghiệp mới chỉ dừng lại ở việc trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề
và hỗ trợ tìm kiếm việc làm Phạm vi chế độ còn hẹp, các chế độ BHXH thấtnghiệp chưa cụ thể thiết thực với người lao động thất nghiệp Điều này, chưađáp ứng được yêu cầu của người lao động nằm trong đối tượng 2 loại hìnhBHXH này
Nguyên nhân của những hạn chế trong việc xây dựng, ban hành và sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật BHXH:
Việc hạn chế trong việc ban hành, thực hiện Luật BHXH và các văn bảnquy phạm pháp luật về BHXH là do BHXH liên quan trực tiếp đến việc làm,thất nghiệp, tiền lương, tiền công Các quy định việc làm, tiền lương, tiềncông, nằm trong nhiều văn bản pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhưlao động, dân số, doanh nghiệp, cán bộ, công chức, viên chức, giáo dục đào tạohoặc các quy định về bảo vệ sức khỏe nhân dân, Vì vậy, Luật BHXH khôngthể tách rời các lĩnh vực nói trên Hay nói cách khác Luật BHXH phải đi sau –
là hệ quả của các lĩnh vực kinh tế - xã hội đó
Mặt khác, chúng ta chưa tích luỹ được kinh nghiệm để xây dựng một hệthống pháp luật có hiệu lực, hiệu quả để quan lý để quản lý nền kinh tế thịtrường với nhiều cơ chế phức tạp, lại không ngừng thay đổi Trong khi đó xuthế hội nhập, toàn cầu hoá lại diễn ra hết sức nhanh tróng Với bối cảnh đó,không riêng gì Luật BHXH mà cả hệ thống Luật quản lý kinh tế - xã hội củachúng ta được xây dựng trên cơ sở vừa tìm tòi, vừa học hỏi và vừa rút kinhnghiệm nên khó tránh khỏi những hạn chế bất cập
Trang 122 Thực trạng tổ chức quản lý và thực hiện chính sách của nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm xã hội trong những năm qua
Theo tổng hợp báo cáo tổng kết hàng năm của cơ quan BHXH Việt Namtrong BHXH Việt Nam phát triển và hội nhập ( TS Đỗ Văn Sinh – Phó TổngGiám đốc BHXH Việt Nam ): năm 1995 mới có 2,85 triệu người thì đến cuốinăm 2007 số người tham gia BHXH là 7.99 triệu người, riêng số tiền thu BHXHnăm 2007 đạt khoảng 23.000 tỷ đồng Bình quân mỗi năm tăng thêm 47 vạnngười mới tham gia BHXH Năm 2003 mới có 3,7 triệu người tham gia BHYTthì đến năm 2007 tăng lên khoảng 37,85 triệu người, chiếm khoảng 45% dân số
cả nước, trong đó 9.32 triệu người tham gia BHYT tự nguyện Tổng số thu toànnghành được 29.805 tỷ đồng, trong đó thu BHXH, BHYT bắt buộc 28.991 tỷđồng; thu BHYT tự nguyện 814 tỷ đồng
Chi trả trợ cấp hàng tháng của các chế độ: hưu trí, tử tuất, mất sức laođộng cho hơn 2 triệu người với số tiền chi hàng tháng là hơn 2,2 nghìn tỷ đồng(năm 2007), đảm bảo đúng đối tượng, đủ số lượng, kịp thời và giao tận tay từngngười; không còn tình trạng nợ đọng lương hưu như thời kỳ bao cấp Số ngườihưởng trợ cấp hàng tháng tử quỹ BHXH chi trả sẽ tăng nhanh theo các năm sau
và đồng thời nguồn quỹ chi trả từ ngân sách nhà nước sẽ giảm dần cho đến khichỉ còn những đối tượng hưởng các chế độ BHXH từ nguồn quy BHXH
Hàng năm có hàng triệu lượt người được nhận các khoản trợ cấp khi bảnthân bị ốm hay con ốm, khi thai sản, khi bị tai nạn lao động hoăc bệnh nghềnghiệp Chất lượng chăm sóc sức khoẻ ban đầu, khám chữa bệnh nội trú, ngoạitrú của người có thẻ BHYT ngày càng được nâng cao Người bệnh ngày càngđược tiếp cận với các dịch vụ y tế với trình độ khoa học tiên tiến và hiện đại.Công tác quản lý và thực hiện chính sách đối với hoạt động BHXH ngày cànghoàn thiện, cụ thể về các mặt như sau:
Trang 13a Quản lý và ngày càng mở rộng đối tượng áp dụng: Đối tượng áp dụng được quy định ở điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội
Việc ban hành Luật BHXH đã mở rộng đối tượng BHXH hơn so với trướcrất nhiều Sự tồn tại của BHXH tự nguyện song song với BHXH bắt buộc đãđảm bảo mọi người dân đều có thể tham gia BHXH nếu có nhu cầu Vấn đềquản lý đối tượng tham gia và hưởng chế độ BHXH được Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội quản lý trực tiếp (điều 8 khoản 2 Luật BHXH) có sựphối hợp với cơ quan BHXH Việt Nam binh và có sự chỉ đạo BHXH tỉnh,thành phố quản lý đối tượng trong phạm vi địa lý hành chính của mình Hàngquý, hàng năm báo cáo Chính phủ về tình hình quản lý và mở rộng đối tượngtham gia BHXH Sau đây là tình hình tham gia và quản lý đối tượng tham giaBHXH trong những năm qua
Bảng 1: Đối tượng tham gia BHXH ở Việt Nam từ 2003 - 2007
Số liệu
Năm
Tổng số LĐtham giaBHXH (người)
Tổng số LĐtrong độ tuổilao động(người)
Tốc độ tăng tổng số LĐ tham gia BHXH (%)
Tỷ lệ LĐ tham gia BHXH so vớitổng số lao động (%)
(Nguồn: Lấy từ báo cáo tổng kết hàng năm của BHXH Việt Nam)
- Tốc độ số lao động tham gia BHXH liên tục tăng, năm sau cao hơn năm
trước Số lao động tham gia bảo hiểm xã hội năm 2007 đạt 7,992 triệu đạt mức
cao nhất từ trước tới nay, người gấp 2,83 lần so với năm 1995 (tương ứng tăng5,152 triệu người) và tăng 19% so với năm 2006 ( tương ứng tăng 1,274 triệu