1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính thể Việt Nam Hiến pháp 1946 so sánh với chính thể một số nước trên thế giới

44 548 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính thể Việt Nam Hiến pháp 1946 so sánh với chính thể một số nước trên thế giới
Trường học Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hiến pháp
Thể loại Báo cáo / nghiên cứu
Năm xuất bản 1946
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 82,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do hạn chế về quan điểm, t tởng cũng nh phơng pháp vận động cáchmạng nên các trào lu cách mạng đầu thế kỷ XX đều thất bại, mà một trongnhững nguyên nhân chủ yếu của nó là việc xác định m

Trang 1

Chính thể Việt Nam Hiến pháp 1946 so sánh với

chính thể một số nớc trên thế giới 2.1 Khái quát về chính thể Nhà nớc Việt Nam Hiến pháp 1946

2.1.1 T tởng về các mô hình chính thể Nhà nớc ở Việt Nam

tr-ớc cách mạng tháng Tám năm 1945

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhân dân Việt Nam đang rên xiết dới

ách áp bức, bóc lột nặng nề của chính quyền thực dân phong kiến: su cao, thuếnặng, các quyền tự do, dân chỉ bị chà đạp Chính quyền phong kiến nhà Nguyễn

đồi bại, nhu nhợc Nhân dân trong cảnh mất nớc, nhà tan, sống kiếp ngời nô lệ.Trớc tình hình đó, một câu hỏi lớn đợc đặt ra là làm thế nào để đánh đuổi thựcdân Pháp, lật đổ chế độ phong kiến nhà Nguyễn thối nát, giành độc lập, tự docho dân tộc, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc, các quyền tự do cho nhândân

Do đó, vào giai đoạn này ở nớc ta đã xuất hiện những dòng t tởng mới vàcác cuộc vận động cách mạng lớn Những trào lu t tởng và các cuộc vận độngcách mạng đều có chung mục đích là đánh đuổi thực dân pháp, giành độc lậpdân tộc Tuy nhiên, phơng pháp và đờng lối cách mạng thì lại khác nhau, trong

đó vấn đề cơ bản, quan trọng nhất là việc xác định một mô hình tổ chức nhà nớc

sẽ đợc xây dựng sau khi giành đợc chính quyền

Với ý thức hệ phong kiến, dới chiếu Cần Vơng của Vua Hàm Nghi, các sĩphu phong kiến đã hăng hái phát động phong trào chống Pháp, chủ trơng "khôiphục lại nớc Việt Nam cũ" [37;12] Thực chất, phong trào Cần Vơng chủ trơngxây dựng lại Nhà nớc quân chủ phong kiến ở Việt Nam nhằm khôi phục và bảo

vệ quyền lợi của giai cấp phong kiến Phong trào phát triển đợc một thời gian thì

bị đàn áp và thất bại Một trong những nguyên nhân chủ yếu là hình thức nhà

n-ớc phong kiến không còn phù hợp với trào lu chung của thế giới và sự phát triểntất yếu của lịch sử Việt Nam Thực tế ở Việt Nam, triều đình nhà Nguyễn bấtlực, thối nát nên đã không tranh thủ đợc sự ủng hộ của nhân dân lao động

Ngời anh hùng Yên thế Hoàng Hoa Thám nổi dậy vũ trang chống Pháp,song "còn nặng cốt cách phong kiến" nên cũng thất bại [33;12]

Đầu thế kỷ XX, phong trào cách mạng t sản đã ảnh hởng đến Việt Nam,làm xuất hiện những dòng t tởng mang màu sắc mới của các nhà yêu nớc, nh:Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh với các phong trào Đông Du, Đông kinhnghĩa thục, Duy Tân

Trong giới trí thức Việt Nam lúc này đã xuất hiện t tởng lập hiến PhạmQuỳnh và Bùi Quang Chiêu bênh vực chế độ vua quan cũ, cho rằng mặc dù chế

độ này còn có nhiều lệ tục, ngời ta vẫn có thể cải tiến chế độ cũ bằng cách ápdụng chế độ quân chủ lập hiến, nghĩa là ban hành một bản hiến pháp để hạn chếquyền lực của Hoàng đế Việt Nam Theo t tởng của hai ông thì phải xây dựngmột bản hiến pháp vừa bảo đảm "quyền dân chủ cho nhân dân", "quyền điềuhành đất nớc" của Hoàng đế và "quyền bảo hộ" của thực dân Pháp Còn NguyễnVăn Vĩnh chủ trơng bãi bỏ chế độ vua quan ở miền Bắc và miền Trung, và đặtchúng dới quyền cai trị của Chính phủ Pháp

Nh vậy, thực chất t tởng của Phạm Quỳnh, Bùi Quang Chiêu và NguyễnVăn Vĩnh dù trình bày cách này hay cách khác, ngời chủ trơng xoá bỏ chế độvua quan, ngời chủ trơng thay thế chế độ quân chủ chuyên chế bằng chế độ quânchủ lập hiến, nhng tựu trung vẫn đặt đất nớc dới sự cai trị của thực dân Pháp

Phan Bội Châu là một đại biểu xuất sắc, ông chủ trơng cầu ngoại viện,dùng bạo lực để khôi phục độc lập Đầu tiên là đánh đuổi thực dân Pháp, giành

Trang 2

lại chủ quyền dân tộc, sau đó xây dựng ở Việt Nam một chính quyền nhà nớcquân chủ lập hiến theo kiểu Nhật Bản hoặc một chính quyền cộng hoà dân chủtheo kiểu phơng Tây [38;198] T tởng của Phan Bội Châu là đoàn kết nhân dânlao động đánh đuổi thực dân pháp rồi tiến hành canh tân xã hội.

Khác với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh là ngời chống đối triều đìnhquyết liệt và đấu tranh cho một nền cộng hoà ở Việt Nam Ông muốn "ỷ Phápcầu tiến bộ, khai thông dân trí, chấn hng dân khí để tính chuyện giải phóng”[33;12] Phan Châu Trinh chủ trơng đoàn kết nhân dân canh tân, dân chủ hoá xãhội, đánh đổ phong kiến noi thoi phơng Tây, tự cờng dân tộc dành độc lập Dohạn chế của lịch sử mà cả Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh ở mức độ khácnhau đều cha nhận thức đợc bản chất thực sự của chủ nghĩa đế quốc Mô hình tổchức nhà nớc theo khuynh hớng dân chủ t sản, mặc dù có những mặt tiến bộ nh-

ng không phù hợp với điều kiện cách mạng Việt Nam, và vì vậy đã không trởthành hiện thực

Nh vậy, Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh chủ trơng phải giành lại đợc

độc lập, tự do cho dân tộc, sau đó mới xây dựng hiến pháp của nhà nớc độc lập.Không có độc lập, tự do thì không thể có hiến pháp thực sự

Vào cuối những năm 20 của thế kỷ, Việt Nam Quốc dân đảng - mộtchính đảng của giai cấp t sản Việt Nam ra đời chủ trơng đánh pháp, đồng thờikêu gọi “trăm họ hãy đoàn kết để xây dựng một nhà nớc cộng hoà” 'Song do đ-ờng lối cách mạng của Việt Nam Quốc dân đảng không phù hợp với thực tiễnViệt Nam, nên đã đi đến thất bại

Do hạn chế về quan điểm, t tởng cũng nh phơng pháp vận động cáchmạng nên các trào lu cách mạng đầu thế kỷ XX đều thất bại, mà một trongnhững nguyên nhân chủ yếu của nó là việc xác định mô hình nhà nớc theo kiểudân chủ t sản hay mô hình nhà nớc quân chủ lập hiến nh trên, mặc dù có mặttiến bộ, nhng cha là phải là kiểu nhà nớc phù hợp với tình hình thực tế ở ViệtNam lúc bấy giờ, vì vậy nó đã không trở thành hiện thực.'' Hay nói cách khác,các mô hình nhà nớc trên không phù hợp với Việt Nam, bởi lẽ các nhà nớc đóchỉ có thể mang lại quyền lợi và dân chủ cho một số ít ngời trong xã hội - đó làgiai cấp t sản, tiểu t sản và giai cấp phong kiến Trong khi đó, yêu cầu cấp báchnhất, chủ yếu nhất của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ lại là sự giải phóng kiếp ng-

ời nô lệ và đem lại cuộc sống mới cho đại đa số nhân dân lao động” [38;199]

Nh vậy, trớc Nguyễn ái Quốc, ở Việt Nam đầu thế kỷ XX cha có một môhình nhà nớc nào chứng tỏ đợc sự phù hợp với cách mạng Việt Nam

Trong thời điểm đất nớc trong đêm tối, Nguyễn Tất Thành - một thanhniên mới mời lăm tuổi đã sớm hiểu biết và rất đau xót trớc cảnh thống khổ của

đồng bào Lúc bấy giờ, Anh đã có chí đánh đuổi thực dân Pháp giải phóng đồngbào Tuy rất khâm phục các nhà cách mạng đơng thời nhng Anh không tánthành với đờng lối cách mạng của họ, trong đó có vấn đề hình thức chính thểnhà nớc Có thể thấy rằng, vào thời điểm này đã bắt đầu hình thành trong t tởngNguyễn Tất Thành về một nhà nớc độc lập, có chủ quyền, biểu hiện ở chủ trơngdành độc lập dân tộc, không chấp nhận sự cai trị của thực dân Pháp ở Việt Nam.Việc Nguyễn Tất Thành không đồng tình với con đờng cách mạng của nhữngnhà yêu nớc đơng thời, trong đó có vấn đề hình thức chính thể nhà nớc, cho thấytuy cha tìm ra một cơ sở lý luận toàn diện, nhng bớc đầu Ngời đã nhận thấy hìnhthức chính thể quân chủ chuyên chế, quân chủ lập hiến, cộng hoà dân chủ kiểu

t sản không phù hợp với con đờng cách mạng Việt Nam

Nguyễn ái Quốc đã vợt qua các lối mòn của lịch sử, ra đi tìm đờng cứunớc theo một chiều hớng mà nhiều ngời yêu nớc đơng thời cha nghĩ tới Nguyễn

ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng tiên tiến nhất thời đại, và ngời

đã tìm ra con đờng cứu nớc đúng đắn

"Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng tháng Mời Nga là đã thànhcông và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng đợc hởng cái hạnh phúc tự do,

Trang 3

bình đẳng thật sự Cách mạng tháng Mời Nga cho chúng ta thấy rằng muốncách mạng thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảngbền vững, phải bền gan, phải hi sinh, phải thống nhất Nói tóm lại, phải theo chủnghĩa Mã Khắc T và Lênin" [19;280] Ngời chỉ ra rằng: "Muốn cứu nớc và giảiphóng dân tộc không có con đờng nào khác là con đờng cách mạng vô sản"[23;272].

Nh vậy, Nguyễn ái Quốc đã đặt cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo cáchmạng vô sản thế giới Ngời viết: "Đứng trớc chủ nghĩa t bản và chủ nghĩa đếquốc, quyền lợi của chúng ta là thống nhất" [29;128] Cho nên, cần phải có sựliên minh giữa các lực lợng cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộcchống chủ nghĩa thực dân Điều đó quyết định đến việc thiết lập và phát triểnNhà nớc kiểu mới ở Việt Nam Cái nhìn có tầm vóc thời đại, cái nhìn vợt lêntrên tất cả các nhà yêu nớc Việt Nam đơng thời, chính là ở chỗ này

Con đờng cứu nớc ấy của Nguyễn ái Quốc đã chấm dứt thời kỳ khủnghoảng đờng lối cách mạng Việt Nam Cách mạng Việt Nam từ đó tiến bớc theodòng thác tiến bộ của lịch sử

"Luận cơng về các vấn đề dân tộc và thuộc địa" của Lênin đó soi sáng vàtạo ra bớc ngoặt phát triển trong t tởng Hồ Chí Minh, từ chủ nghĩa yêu nớc cha

định hớng sang yêu nớc theo lập trờng của chủ nghĩa Mác- Lênin

Quá trình bôn ba tìm đờng cứu nớc, Nguyễn ái Quốc đã nhận thấy đợchai vấn đề quan trọng:

Một là, sự bất lực và lỗi thời của Nhà nớc phong kiến Việt Nam và sự xấu

xa, thối nát của nhà nớc t sản thể hiện sự bóc lột nhân dân lao động Thực tế ấy

đã không cho phép ngời lựa chọn mô hình nhà nớc phong kiến và nhà nớc t sản

Hai là, sau cách mạng tháng Mời Nga, sự xuất hiện Nhà nớc kiểu mới ở

Nga là một thực tiễn sinh động, một biến cố to lớn "có sức lôi cuối kì diệu", mộtmô hình Nhà nớc mà Ngời mong muốn sẽ thiết lập ở Việt Nam

Ngày 3/2/1930, Ngời đã lãnh đạo và đóng vai trò quyết định trong việcthành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Trong văn kiện đầu tiên của Đảng - bản

"Chính cơng vắn tắt" đã nêu lên những nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là

"Đánh đuổi đế quốc Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, đánh đổ giaicấp địa chủ phong kiến, đem lại ruộng đất cho nông dân, thành lập chính phủcông nông binh " [32;10]

Luận cơng chính trị tháng 10 - 1930 của Đảng ta đã khẳng định rõ: "Phảixây dựng nên chính quyền Xô Viết công nông, chỉ có chính quyền Xô Viết côngnông mới là cái khí cụ mạnh mẽ đánh đổ đế quốc chủ nghĩa và phong kiến địachủ, làm cho dân cày có đất mà cày, làm cho vô sản có pháp luật bảo hộ chomình" [32;10]

Có thể nói: chính quyền công nông - một mô hình Nhà nớc vô sản màNguyễn ái Quốc đã chọn là mô hình đáp ứng yêu cầu của xã hội Việt Nam, củacách mạng Việt Nam, đó là mô hình Nhà nớc kiểu mới Sự khẳng định trongluận cơng chính trị năm 1930 vừa là sự ghi nhận, vừa là một định hớng cơ bảncho cuộc đấu tranh giành chính quyền ở Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945

Con đờng cách mạng quyết định kiểu nhà nớc nói chung và hình thứcchính thể nhà nớc nói riêng Cách mạng Việt Nam không thể theo con đờngcách mạng t sản Điều đó cũng có nghĩa là hình thức nhà nớc sau khi giànhchính quyền không thể là hình thức chính thể nhà nớc theo kiểu nhà nớc t sản.Cách mạng Việt Nam đi theo con đờng cách mạng vô sản cũng có nghĩa là hìnhthức chính thể nhà nớc đợc thiết lập sau khi giành chính quyền là hình thứcchính thể nhà nớc kiểu mới thể hiện bản chất giai cấp vô sản của nhà nớc Hìnhthức chính thể nhà nớc đó là gì?, trong "Đờng Kách Mệnh", Nguyễn ái Quốccha đề cập cụ thể mà chỉ đa ra nguyên tắc chung là "làm sao cách mạng rồi thìquyền giao cho dân chúng số nhiều" Về phơng diện hình thức chính thể nhà n-

Trang 4

ớc, có thể giải mã luận điểm này là dân chúng số nhiều phải đợc quyền tham giavào việc thiết lập mô hình nhà nớc tơng lai - mô hình của chính thể cộng hoà.

Với tính chất của cuộc cách mạng dân tộc, nh thế hình thức chính quyềncũng phải thể hiện tính nhân dân Nghị quyết Trung ơng VIII (5 - 1941) đã nêu

rõ chủ trơng: "sau lúc đánh đuổi Pháp - Nhật sẽ thành lập một Nhà nớc ViệtNam dân chủ mới theo tinh thần tân dân chủ, chính quyền của nớc dân chủ mới

ấy không phải thuộc quyền riêng của giai cấp nào mà là của chung của toàn thểdân tộc, chỉ trừ có bọn tay sai của đế quốc Pháp - Nhật và những bọn phản quốc,bọn thù" [42;195]

Tháng 5/1944, trong th gửi đồng bào cả nớc, Hồ Chí Minh nhấn mạnh:

"Chúng ta trớc phải có một cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành

động nhất biến cùng toàn thể quốc dân ta Mà cơ cấu ấy phải do một cuộc toàndân đại biểu đại hội gồm tất cả các đảng phái cách mạng và đoàn thể ái quốctrong nớc bầu ra Một cơ cấu nh thế mới đủ lực lợng và uy tín, trong thì lãnh đạocông việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì giao thiệp với các hữu bang" [20;505]

Chơng trình Việt Minh đã xác định đờng lối cách mạng Việt Nam: "ViệtNam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) chủ trơng liên hợp hết thẩy cáctầng lớp nhân dân, các đoàn thể cách mạng, các dân tộc bị áp bức đoàn kết chiến

đấu đánh đuổi chủ nghĩa đế quốc phát xít Nhật, sẽ lập nên Chính phủ nhân dâncủa nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà [20;583]

Sự chuyển biến từ hình thức Chính phủ công - nông - binh sang hình thứcChính phủ nhân dân của nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà trong đờng lối của

Đảng, trong t tởng Hồ Chí Minh là một bớc chuyển biến mang tính cách mạng,xuất phát từ đặc thù của cách mạng Việt Nam Giá trị cách mạng của sự chuyểnbiến đó không phải mang tính sách lợc nhất thời, mà mang tính chiến lợc lâu dàicủa cả quá trình mô hình tổ chức Nhà nớc Việt Nam [25;28] Sự chuyển biếntrong t tởng Hồ Chí Minh về hình thức chính thể nhà nớc cho thấy rằng, phơngpháp t duy của Ngời luôn xuất phát từ thực tiễn khách quan, từ những điều kiện

đặc của xã hội Việt Nam mà không rập khuôn máy móc áp đặt từ những môhình có sẵn

Nh vậy đến đây, t tởng Hồ Chí Minh về hình thức chính thể nhà nớc trongcon đờng cách mạng Việt Nam đã phát triển từ hình thức chính phủ công - nông

binh đến hình thức chính phủ nhân dân của nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà hình thức chính thể cộng hoà dân chủ nhân dân

-2.1.2 Cơ sở lý luận, thực tiễn và đặc điểm của chính thể cộng hoà dân chủ nhân dân Hiến pháp 1946

Lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng tháng Tám vĩ đại,ngày 2/9/1945, tại quảng trờng Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặtChính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nớc Việt Nam dânchủ cộng hoà Tuyên ngôn độc lập là văn kiện Chính trị - pháp lý thể hiện mộtcách sâu sắc về một Nhà nớc độc lập, tự chủ, thống nhất, cộng hoà dân chủ nhândân

Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện lập quốc kiệt xuất của Chủ tịch HồChí Minh tuyên bố trớc thế giới rằng nớc Việt Nam đã trở thành một quốc gia

độc lập, tự chủ, thống nhất Ngời trịnh trọng tuyên bố trớc thế giới: "Nớc ViệtNam có quyền hởng tự do và độc lập và sự thật đã trở thành một nớc tự do và

độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lợng, tínhmạng và của cải để giữ vững tự do độc lập ấy" [21;4] Tuyên ngôn độc lập thểhiện rõ t tởng Hồ Chí Minh về hình thức chính thể nhà nớc cộng hoà dân chủnhân dân Ngời viết: "Dân ta đã đánh đổ chế độ quân chủ mấy mơi thế kỷ màlập nên chế độ dân chủ cộng hoà" [21;3]

Trang 5

Một nhà nớc độc lập, tự chủ, cộng hoà dân chủ nhân dân phải có một cơ

sở pháp lý để tồn tại Một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, trong phiên họp

đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đa ra sáu nhiệm vụ cấp báchcủa Nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà Trong đó, nhiệm vụ thứ ba là: "Trớcchúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dânkhông kém phần chuyên chế, nên nớc ta không có hiến pháp, nhân dân ta không

đợc hởng quyền tự do dân chủ Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ" [21;8]

Nh vậy, trong t tởng này, chính thể quân chủ chuyên chế hay chính thể của nhànớc thực dân không thể tồn tại hiến pháp - không có một hệ thống các quy tắcpháp lý tối cao ràng buộc việc tổ chức quyền lực nhà nớc Chính thể cộng hoàdân chủ nhân dân, xuất phát từ bản chất của nó, phải đợc chế định hoá trong mộtvăn bản ở một hệ cấp pháp lý tối cao là hiến pháp, vì sự phát triển của hình thứcchính thể cộng hoà dân chủ nhân dân không thể tách rời hiến pháp, hiến pháp làdân chủ Chính thể cộng hoà dân chủ nhân dân phải đợc quy định trong hiếnpháp là một bớc phát triển mới về hình thức chính thể nhà nớc ở Việt Nam

Trên tinh thần đó, ngày 20/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh

số 34 thành lập Ban dự thảo Hiến pháp gồm 7 ngời trong đó Bác làm trởng ban.Bản dự thảo Hiến pháp đã đợc soạn thảo xong tháng 11/1945 Ngày 2/3/1946Quốc hội họp kỳ họp thứ nhất Trong phiên họp này đã cử ra Tiểu ban dự thảoHiến pháp do Hồ Chí Minh đứng đầu Tiểu ban Hiến pháp đã tiếp tục nghiêncứu dự thảo Hiến pháp Uỷ ban kiến quốc cũng tự nghiên cứu và đa ra một bản

dự thảo

Căn cứ vào bản dự thảo của Chính phủ đa ra, đối chiếu với bản dự thảocủa Uỷ ban kiến quốc, tập hợp những kiến nghị phong phú của toàn dân và thamkhảo kinh nghiệm về hiến pháp của các nớc, Tiểu ban dự thảo đã soạn thảo một

dự án Hiến pháp trình Quốc hội

Tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội Khoá I, sau nhiều buổi thảo luận tâm huyết,

đến ngày 9/11/1946 Quốc hội đã biểu quyết thông qua Hiến pháp của nớc ViệtNam dân chủ cộng hoà với 240 đại biểu tán thành, 2 đại biểu không tán thành

Hiến pháp đầu tiên của nớc ta là bản Hiến pháp tiến bộ đầu tiên ở ĐôngNam á, là một Hiến pháp cách mạng và dân chủ, tôn trọng và bảo đảm mọiquyền lợi chính đáng của nhân dân, đáp ứng yêu cầu thực tế khách quan lúc bấygiờ

Hiến pháp 1946 là cơ sở pháp lý cho chính quyền cách mạng, là cơ sở choviệc xây dựng những luật lệ mới của nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà Mặt khác,

là chỗ dựa mạnh mẽ về chính trị của Nhà nớc non trẻ trong việc động viên nhândân đấu tranh cách mạng, là cơng lĩnh tập hợp mọi lực lợng yêu nớc, dân chủtrong cả nớc trớc khi bớc vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

Trên đất nớc Việt Nam hàng nghìn năm chỉ tồn tại có pháp luật phongkiến, và gần một trăm năm chỉ có pháp luật thực dân Nhng chỉ 14 tháng sau khigiành đợc chính quyền, nhân dân ta đã xây dựng đợc bản Hiến pháp của mình,thể hiện ý chí chung của toàn dân Đó là thành tựu to lớn của nhân dân ta, Đảng

Trang 6

dân tộc thoát khỏi ách áp bức nô lệ thực dân, giành độc lập cho dân tộc, xâydựng một mô hình tổ chức nhà nớc phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của ViệtNam.

Thứ hai là, các lý thuyết về tổ chức nhà nớc và thực tiễn tổ chức nhà nớc ở

các quốc gia tiên tiến thời bấy giờ Học thuyết của các nhà t tởng cách mạng tsản về tổ chức quyền lực nhà nớc, chính thể cộng hoà tổng thống ở Mỹ, chínhthể cộng hoà đại nghị ở Pháp v.v đã ảnh hởng đến quá trình tìm kiếm một môhình nhà nớc phù hợp với cách mạng Việt Nam

Thứ ba là, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về hình thức chính thể nhà

nớc nói riêng, về nhà nớc và pháp luật nói chung là cơ sở để đánh giá, phê pháncác học thuyết về tổ chức nhà nớc cũng nh thực tiễn tổ chức nhà nớc của các nớc

t bản Mô hình Nhà nớc vô sản mà những nhà kinh điển của chúng ta đa ra đã

ảnh hởng một cách quyết định đến quá trình Hồ Chí Minh và các đồng chí củaNgời xác lập mô hình Nhà nớc và cách mạng Việt Nam Mô hình Nhà nớc XôViết Lênin tổng kết là một mô hình Nhà nớc mà Hồ Chí Minh mong muốn thiếtlập ở Việt Nam Chính phủ công - nông - binh mà Ngời đặt vấn đề phải xâydựng ở Việt Nam trong “Chính cơng vắn tắt” là biểu hiện của mô hình Nhà nớcXô Viết Tuy nhiên, chúng ta đã không bê nguyên xi áp dụng một cách máymóc mô hình Nhà nớc Xô Viết mà đã có sự vận dụng sáng tạo cho phù hợp vớithực tế xã hội Việt Nam

Thứ t là, thực tiễn hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh Từ thực tiễn

hoạt động cách mạng sôi nổi, phong phú, Hồ Chí Minh đã tìm ra những quyluật, đúc kết thành lý luận Trong những năm bôn ba ở các nớc t bản phát triển,Ngời đã nghiên cứu cách thức tổ chức nhà nớc ở đó, phê phán những mặt tiêucực, tiếp thu những hạt nhân hợp lý trong quá trình xây dựng mô hình Nhà nớccách mạng Việt Nam Cũng chính xuất phát từ thực tiễn hoạt động cách mạng

mà Ngời đã có những bớc phát triển lớn trong t tởng về hình thức chính thể nhànớc trong con đờng cách mạng Việt Nam Cụ thể là, sự chuyển biến trong t tởngcủa ngời từ một Nhà nớc công - nông- binh sang Nhà nớc cộng hoà dân chủnhân dân

Qua nghiên cứu vị trí hình thức chính thể nhà nớc, quá trình hình thành vàphát triển, cơ sở lý luận và thực tiễn về hình thức chính thể Nhà nớc ở Việt Nam,

có thể đi đến kết luận sau:

Hình thức chính thể Nhà nớc ở Việt Nam là hệ thống những quan điểm,luận điểm về chính thể cộng hoà dân chủ nhân dân trong sách lợc, chiến lợccách mạng Việt Nam hiện tại và tơng lai, dựa trên cơ sở chủ nghĩa yêu nớc,truyền thống dựng nớc và giữ nớc của dân tộc, kinh nghiệm tổ chức nhà nớctrong lịch sử Việt Nam; các học thuyết về tổ chức nhà nớc và thực tiễn tổ chứcnhà nớc ở các quốc gia hiện đại; lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về hình thứcchính thể Nhà nớc vô sản; thực tiễn hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh

2.1.2.2 Đặc điểm của hình thức chính thể cộng hoà dân chủ nhân dân Hiến pháp 1946.

Chính thể cộng hoà dân chủ nhân dân là sự sáng tạo vô song của Chủ tịch

Hồ Chí Minh và cách mạng Việt Nam Cộng hoà dân chủ nhân dân thuộc loạihình chính thể cộng hoà dân chủ, nhng không phải là cộng hoà nhân dân kiểu tsản Trớc Hiến pháp Việt Nam 1946, trong thế giới t bản đã tồn tại hai loại chínhthể cộng hoà dân chủ: cộng hoà tổng thống và cộng hoà đại nghị mà chúng đã đ-

ợc nghiên cứu ở phần trên

Chính thể cộng hoà nhân dân Hiến pháp 1946 là loại hình chính thể củaNhà nớc vô sản, có nhiều dấu hiệu đặc thù khác về bản chất so với các hình thứcchính thể cộng hoà dân chủ kiểu t sản

Trang 7

Trớc hết, chính thể cộng hoà dân chủ nhân dân Hiến pháp 1946 mang

đậm tính dân tộc, dân chủ, tính nhân dân, tính giai cấp trong sự hoà quyện thốngnhất

Dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngọn cờ

độc lập dân tộc đã đợc phất cao trong cách mạng tháng Tám Toàn dân ViệtNam không phân biệt đảng phái, tôn giáo, giầu nghèo, sang hèn đều tập hợp dớilá cờ Việt Minh, nhất tề đứng lên làm cách mạng giành chính quyền về tay nhândân

“Lời nói đầu” của Hiến pháp 1946 đã ghi nhận kết qủa đấu tranh lâu dài,gian khổ, ghi nhận thắng lợi của đờng lối cách mạng của Đảng Cộng sản ViệtNam Đồng thời, nêu cao ý chí của toàn dân tộc Việt Nam kiên quyết giữ gìnnền độc lập và thống nhất tổ quốc, bảo vệ tự do và các quyền lợi của nhân dân

"Nớc Việt Nam có quyền hởng tự do và độc lập Toàn thể nhân dân Việt Namquyết đem hết tinh thần và lực lợng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự

do và độc lập ấy" Hiến pháp 1946 đã đề ra những nhiệm vụ cơ bản của Nhà nớc

và nhân dân ta trong giai đoạn cách mạng mới: “Nhiệm vụ của dân tộc ta tronggiai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốcgia trên nền tảng dân chủ” [14;7]

Đứng trớc những khó khăn, thử thách lớn lao của cách mạng tháng Tám,Hiến pháp 1946 đã thể chế hoá đờng lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dâncủa Đảng ở một nớc thuộc địa nửa phong kiến nh nớc ta, hai nhiệm vụ cáchmạng chống đế quốc và phong kiến có quan hệ khăng khít với nhau, không thểtách rời nhau, mất độc lập, tự do là mất tất cả Do đó, nhiệm vụ chống đế quốc,giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, nhiệm vụ chống phong kiến phải tiếnhành từng bớc và phục tùng nhiệm vụ chống đế quốc Trong điều kiện khó khăn,phức tạp của nớc ta, nhiệm vụ cơ bản hàng đầu lúc đó là phải tập trung mọi lựclợng vào việc chống đế quốc xâm lợc, giải phóng dân tộc, bảo vệ chính quyềncách mạng

Những nguyên tắc xây dựng Hiến pháp và nhiệm vụ cách mạng nêu ra ở

“lời nói đầu” của Hiến pháp 1946 đã đáp ứng đợc yêu cầu của cách mạng và ýchí của toàn dân ta lúc đó, đồng thời thể hiện tính chất dân chủ và tiến bộ củaHiến pháp 1946 Các nguyên tắc đó thể hiện chiến lợc đoàn kết của Đảng, tậphợp và phát huy sức mạnh của các lực lợng cách mạng trong cuộc đấu tranh vì

độc lập, tự do của dân tộc

"Đoàn kết toàn dân, không phân biệt nòi giống, gái trai, giai cấp, tôn giáo,bảo đảm quyền tự do dân chủ " [14;7] Dân tộc Việt Nam vốn có một truyềnthống yêu nớc, tinh thần đoàn kết cộng đồng Tinh thần ấy càng đợc nhân lêntrong cuộc đấu tranh dựng nớc và giữ nớc

Đại đoàn kết đã trở thành một nội dung quan trọng trong đờng lối chiến

l-ợc của Đảng, đã thấm nhuần vào suy nghĩ, hành động, tình cảm của tất cả nhữngngời Việt Nam yêu nớc Nó đã trở thành ngọn cờ quy tụ mọi lực lợng cách mạngcủa Đảng Cộng sản Việt Nam, hớng mọi ngời suy nghĩ, hành động chung, tạothành sức mạnh, thành động lực tiến hoá của dân tộc

Tính chất đại đoàn kết dân tộc của hình thức chính thể cộng hoà dân chủnhân dân bắt nguồn từ truyền thống lịch sử dân tộc và thực tiễn cách mạng ViệtNam Đoàn kết dân tộc trong quá trình dựng nớc và giữ nớc là một truyền thốnglâu đời của dân tộc ta Cách mạng tháng Tám là cuộc cách mạng giải phóng dântộc, đợc tiến hành trên cơ sở khối đại đoàn kết dân tộc Nhà nớc Việt Nam dânchủ cộng hoà ra đời sau cách mạng tháng Tám là sản phẩm của khối đại đoànkết dân tộc Xuất phát từ truyền thống và thực tiễn cách mạng, yêu cầu việc tổchức quyền lực nhà nớc phải phát huy đợc sức mạnh của khối đại đoàn kết dântộc

Dân tộc không phải là một khái niệm trừu tợng, chung chung, phi lịch sử,phi giai cấp "Để làm tròn trách nhiệm lãnh đạo cách mạng, Đảng ta phải dựa

Trang 8

vào giai cấp công nhân, lấy liên minh công nông làm nền tảng vững chắc để

đoàn kết các tầng lớp khác trong nhân dân" [25;605] Sau này, Hồ Chí Minh nêuthêm, lấy liên minh công - nông - lao động trí óc làm nền tảng cho khối đại đoànkết dân tộc [43;165] Nhân dân là nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc, là chủthể của quyền lực nhà nớc, quyền lực nhà nớc bắt nguồn từ nhân dân, nhà nớcchỉ là tổ chức do dân lập ra để thực hiện quyền lực nhân dân Do đó, nhân dânphải tham gia vào việc tổ chức quyền lực nhà nớc

Tính nhân dân của hình thức chính thể cộng hoà dân chủ nhân dân khôngphủ nhận tính giai cấp Một chính phủ của toàn dân không phải là một chính phủphi giai cấp Bản thân khái niệm “nhân dân” đã mang tính giai cấp Theo nghĩakhoa học chặt chẽ, nhân dân là một cộng đồng ngời thay đổi trong lịch sử, baogồm một bộ phận, những tầng lớp, những giai cấp của c dân mà theo địa vịkhách quan của mình, có khả năng tham gia giải quyết những nhiệm vụ pháttriển tiến bộ của một nớc nhất định [16;401] V.I Lênin đã chỉ ra rằng, khi dùngdanh từ "nhân dân", Mác không thông qua danh từ ấy mà xoá mờ mất sự khácbiệt về giai cấp Mác gộp danh từ ấy những thành phần nhất định, có khả nănglàm cách mạng đến cùng Đối với Hồ Chí Minh, một chính phủ nhân dân không

có nghĩa là một chính phủ phi giai cấp không thực hiện chuyên chính cáchmạng Chủ tịch Hồ Chí Minh không đồng nhất nhân dân với c dân của một quốcgia Ngời viết "Nhân dân là bốn giai cấp: công, nông, tiểu t sản và t sản dân tộc.Dới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và của Đảng, các giai cấp này đoàn kếtlại bầu ra chính phủ của mình Đối với nội bộ nhân dân thì thực hành dân chủ

Đối với đế quốc, phong kiến và lũ phản động thì thực hành chuyên chính chốnglại chúng, đàn áp chúng Trong nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà của chúng ta,tất cả mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân, tức là của giai cấp, công, nông, tiểu

t sản, và t sản dân tộc Bốn giai cấp ấy do giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy côngnông liên minh làm nền tảng, đoàn kết các giai cấp dân chủ và các dân tộc trongnớc, để thực hành dân chủ chuyên chính [22;217]

Các nhà nớc t sản cũng tuyên bố quyền lực thuộc về nhân dân, thừa nhậnnhân dân tham gia tổ chức quyền lực nhà nớc Nhng khái niệm nhân dân trongchế độ dân chủ t sản chủ yếu bao gồm giai cấp có của, loại bỏ đa số quần chúnglao động ra khỏi đời sống chính trị Đó là sự khác nhau cơ bản giữa hình thứcchính thể dân chủ cộng hoà kiểu t sản và hình thức chính thể cộng hoà dân chủcủa Nhà nớc vô sản

Chính thể cộng hoà dân chủ nhân dân với tính nhân dân nh trên đã bao

hàm tính định hớng xã hội chủ nghĩa Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã

hội là một đặc điểm của chính thể cộng hoà dân chủ nhân dân Sự lựa chọn tối ucủa loài ngời về một con đờng đi bảo đảm thực hiện một lý tởng nhân văn, bảo

đảm cho mọi ngời phát triển đúng nghĩa của từ chỉ có thể là con đờng xã hội chủnghĩa [41;181] Hồ Chí Minh quan niệm chủ nghĩa xã hội là sự phát triển tấtyếu của xã hội loài ngời: "Con đờng tiến tới chủ nghĩa xã hội của các dân tộc làcon đờng chung của thời đại, của lịch sử, không thể ai ngăn cản nổi" [23;449].Cộng hoà dân chủ nhân dân là hình thức chính trị của chuyên chính vô sản, dânchủ với quảng đại quần chúng nhân dân, trấn áp kẻ thù của cách mạng, bảo đảm

sự phát triển của xã hội Việt Nam theo khuynh hớng tối u - xã hội xã hội chủnghĩa Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Mục tiêu của cách mạng là xây dựng một n-

ớc Việt Nam độc lập, thống nhất, tự do, giàu mạnh, làm cho nhân dân đợc hạnhphúc và xây dựng một xã hội sung sớng, vẻ vang" [22;220] Do đó, tổ chức Nhànớc cách mạng Việt Nam theo hình thức chính thể cộng hoà dân chủ nhân dân làmột nhân tố chính trị bảo đảm sự phát triển của xã hội theo con đờng xã hội chủnghĩa

Tính định hớng xã hội chủ nghĩa của chính thể cộng hoà dân chủ nhândân không thể thoát ly khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với việc tổ chứcquyền lực nhà nớc Để bảo đảm cho sự thành công của cách mạng Việt Nam, Hồ

Trang 9

Chí Minh xác định: "Phải có đờng lối cách mạng đúng đắn, có Đảng của giaicấp vô sản lãnh đạo đúng Đờng lối ấy chỉ có thể là đờng lối của chủ nghĩa Mác

- Lênin đợc vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của dân tộc ở Việt Nam,

đờng lối ấy có thể là đờng lối của giai cấp vô sản, và Đảng đó là Đảng Lao độngViệt Nam" [26;493] Sự lãnh đạo của Đảng bao gồm sự lãnh đạo Nhà nớc nóichung và tổ chức quyền lực nhà nớc nói riêng Xây dựng chính thể Nhà nớccộng hoà dân chủ nhân dân đặt dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản nghĩa là

Đảng Cộng sản Việt Nam đa ra những quan điểm, đờng lối mang tính định hớngcho việc tổ chức quyền lực nhà nớc để bảo đảm mục tiêu phát triển xã hội theocon đờng xã hội chủ nghĩa

Chủ tịch Hồ chí Minh hiểu rõ học thuyết phân quyền và thực tiễn áp dụng

nó trong tổ chức quyền lực nhà nớc t sản, nhng trong quá trình xác lập hình thứcchính thể cộng hoà dân chủ nhân dân ở Việt Nam, Ngời lại chủ trơng thống nhấtquyền lực và có sự phân công rõ ràng giữa các cơ quan trong việc thực hiệnquyền lực nhà nớc T tởng thống nhất quyền lực là một sự phát triển hợp lôgíc từ

t tởng nguồn gốc quyền lực nhà nớc từ nhân dân

Hiến pháp 1946 đã thể chế hoá quan điểm này: "Tất cả quyền hành trongnớc là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàunghèo, giai cấp, tôn giáo" [14;8] Nếu tất cả quyền lực là của nhân dân, bắtnguồn từ nhân dân thì quyền lực phải thống nhất vào nhân dân vì nhân dân trongNhà nớc cách mạng Việt Nam bao gồm quảng đại quần chúng, và lợi ích củanhân dân về cơ bản thống nhất Do đó, Nhà nớc chỉ là một tổ chức do dân lập ra

về bản chất, sự thống nhất trong lợi ích của nhân dân là tiền đề của sự thốngnhất quyền lực nhân dân, và điều này chỉ có trong Nhà nớc xã hội chủ nghĩa

Tóm lại, sự kết hợp hài hoà giữa tính dân tộc với tính nhân dân và tính

giai cấp, tính định hớng xã hội chủ nghĩa, sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chứcquyền lực nhà nớc, tính thống nhất quyền lực nhà nớc là những dấu hiệu đặc thùcủa chính thể cộng hoà dân chủ nhân dân Hiến pháp 1946 Những dấu hiện này

là cơ sở để phân biệt chính thể cộng hoà dân chủ nhân dân ở Việt Nam với cácloại hình chính thể cộng hoà dân chủ của nhà nớc t sản

Xét một cách tổng thể, chính thể cộng hoà dân chủ nhân dân Hiến pháp

1946 là một chính thể đặc thù, sản phẩm của sự sáng tạo độc đáo của Hồ ChínhMinh và cách mạng Việt Nam phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của xã hội ViệtNam Tính chất đặc thù của chính thể Hiến pháp 1946 không ngừng đợc pháthuy trong quá trình hoàn thiện mô hình tổ chức quyền lực nhà nớc Việt Nam

Để nghiên cứu so sánh sự tơng đồng và khác biệt giữa chính thể cộng hoàdân chủ nhân dân Hiến pháp 1946 với chính thể của một số nớc khác ta khôngchỉ dừng lại ở việc phân tích, nghiên cứu cơ sở lí luận, thực tiễn, những tínhchất, đặc điểm mang tính đặc thù của các mô hình chính thể Do vậy, để nhậnthức sâu sắc hơn về chính thể Hiến pháp 1946, cần phải nghiên cứu chúng cảtrên phơng diện tổ chức bộ máy nhà nớc giữa các mô hình chính thể khác nhau

2.2 Sự giống nhau và khác nhau của chính thể Việt Nam Hiến pháp 1946 với chính thể cộng hoà (quân chủ) đại nghị và chính thể cộng hoà tổng thống.

Khi so sánh sự giống và khác nhau giữa chính thể Việt Nam Hiến pháp

1946 với chính thể của một số nớc, ta chỉ lựa chọn các mô hình chính thể có tính

Trang 10

chất điển hình đại diện cho các mô hình chính thể khác nhau Mà cụ thể là đốivới mô hình chính thể cộng hoà (quân chủ) đại nghị thì chính thể của Nhà nớcAnh quốc là một mô hình chính thể điển hình Còn chính thể cộng hoà tổngthống của Hợp chủng quốc Mỹ châu là mô hình tổ chức quyền lực nhà nớc đạidiện cho chính thể cộng hoà tổng thống Việc nghiên cứu so sánh sẽ đợc lần lợtthực hiện với các thiết chế, chế định quyền lực nhà nớc cụ thể: Nguyên thủ quốcgia; Quốc hội - lập pháp; Chính phủ - hành pháp; Toà án - t pháp.

2.2.1 Về Nguyên thủ quốc gia

Nguyên thủ quốc gia là một chế định thuần tuý của nhà nớc t sản Nhiệm

vụ của cách mạng t sản là lật đổ nền cai trị phong kiến, thiết lập nền chuyênchính t sản Tuy nhiên, giai cấp t sản khi tiến hành cách mạng tuy mạnh nhngcha thể đè bẹp hoàn toàn thế lực phong kiến tuy đã lỗi thời nhng vẫn còn mạnh.Hơn nữa, sự thống trị của ngai vàng phong kiến trong suốt đêm trờng Trung cổ

đã ăn sâu vào tiềm thức nhân dân Nhận thức đợc không thể giành đợc toàn bộquyền lực nhà nớc, giai cấp t sản đã có xu hớng chia sẽ quyền thống trị giữa nhàvua và giai cấp t sản Những nhà t tởng của cách mạng t sản khi đa ra lý thuyếtphân quyền không phải muốn lật đổ hoàn toàn sự cai trị của nhà vua mà là muốnhạn chế quyền lực nhà vua Cho nên, khi cách mạng t sản thành công, chế độ đạinghị đã đợc xác lập, thì về nguyên tắc, nghị viên đứng đầu nhà nớc, nhng giaicấp t sản đã bảo lu thiết chế nhà vua hoặc lập ra những thiết chế tơng tự để thựchiện mục đích chính trị của mình, điều đó dẫn đến việc hình thành chế địnhnguyên thủ quốc gia trong hiến pháp t sản Nguyên thủ quốc gia ở các nớc t bảnbiểu hiện về mặt hình thức rất đa dạng: vua, hoàng đế, nữ hoàng trong nhà nớcquân chủ; tổng thống trong nhà nớc cộng hoà

Nguyên thủ quốc gia trong chính thể quân chủ đại nghị đợc gọi là vua,hoàng đế hình thành bằng con đờng truyền ngôi, thế tập, không thực quyền màchỉ giữ vai trò tơng trng cho nhà nớc Điều này đợc khái quát bởi một câu ngạnngữ: "nhà vua trị vì nhng không cai trị" Tổng thống trong chính thể cộng hoà

đại nghị là nguyên thủ quốc gia, do nghị viện bầu ra hoặc đợc thành lập trên cơ

sở của nghị viện Vị trí của tổng thống trong chính thể cộng hoà đại nghị khôngkhác hơn vị trí của hoàng đế trong chính thể quân chủ đại nghị Tổng thốngkhông có thực quyền, chỉ giữ vai trò tợng trng, chính thức hoá về mặt nhà nớccác hoạt động của quốc hội và chính phủ

Nhìn chung, dù tồn tại dới nhiều hình thức khác nhau, nguyên thủ quốcgia, trong chính thể cộng hoà (quân chủ) đại nghị ở các nớc t bản đều đợc hiếnpháp quy định là ngời đứng đầu nhà nớc, thay mặt nhà nớc về đối nội và đốingoại, đại diện, tợng trng cho sự bền vững, thống nhất của nhà nớc Sự hiện diệncủa nguyên thủ quốc gia trong nhà nớc t sản là biểu hiện tàn d của chế độ phongkiến kết hợp với nhu cầu về lợi ích chính trị của giai cấp t sản trong xã hội hiện

đại

Đến nhà nớc xã hội chủ nghĩa, quyền lực nhà nớc thống nhất vào cơ quanquyền lực nhà nớc cao nhất của nhân dân Cho nên, chính cơ quan này (Xô Viếttối cao, Quốc hội) đứng đầu nhà nớc, đại diện cho nhà nớc, tức là nguyên thủquốc gia Do đó, về nguyên tắc, không cần một chế định nguyên thủ quốc giariêng biệt Tuy nhiên, do truyền thống lịch sử lâu đời, do thông lệ quốc tế trongviệc thực hiện một số hoạt động nhà nớc mang tính long trọng, hình thức và mộtphần vì xu hớng phối hợp thống nhất quyền lực nhà nớc, các nhà nớc xã hội chủnghĩa đã đặt ra thiết chế nguyên thủ quốc gia Nguyên thủ quốc gia trong nhà n-

ớc xã hội chủ nghĩa cũng rất đa dạng về hình thức: Đoàn Chủ tịch Xô Viết tốicao (Liên xô); Hội đồng Nhà nớc (Balan, Bungari, Cuba, Rumani); Hội đồngChủ tịch nớc (Hungari); Đoàn chủ tịch Quốc hội (Anbani); Đoàn Chủ tịch ĐạiHô - Lan (Mông cổ) [36;310]

Trang 11

Một số nớc xã hội chủ nghĩa khác, do truyền thống lịch sử của mình, còn

lu giữ thiết chế Chủ tịch nớc thì Chủ tịch nớc tuy đợc coi là nguyên thủ quốc gia(đứng đầu nhà nớc), song phái sinh từ cơ quan quyền lực nhà nớc cao nhất vàcùng với cơ quan này thực hiện chức năng nguyên thủ [5 ; 297]

Nguyên thủ quốc gia là ngời đứng đầu nhà nớc, có quyền thay mặt nhà

n-ớc về mặt đối nội và đối ngoại Vị trí, vai trò của nguyên thủ quốc gia thuộc vàohình thức chính thể nhà nớc Chính thể quân chủ đại nghị điển hình là Vơngquốc Anh, xét về mặt hình thức, là môt mô hình tổ chức nhà nớc không dân chủ,mang dấu ấn của nhà nớc phong kiến Tuy nhiên, cũng nh nhiều nớc t sản, cáchmạng dân chủ t sản Anh đã không đủ sức mạnh để đánh đổ hoàn toàn giai cấpphong kiến, do đó giai cấp tài sản buộc phải chia sẽ quyền lực cho giai cấpphong kiến mà ngời đại diện là Hoàng đế Mặt khác, ngời dân Anh vốn cótruyền thống "hoài cổ, thực dụng", hơn nữa, hình ảnh ngự trị của ngai vàng tồntại trong nhiều thế kỷ đã in đậm trong tiềm thức của nhân dân Bởi vậy, bêncạnh một Nghị viện dân chủ vẫn tồn tại một vị Hoàng đế tợng trng cho sự bềnvững và thống nhất dân tộc Chính vì thế, chính thể quân chủ đại nghị ở Anh ra

đời và tồn tại cho đến tận ngày nay Cũng cần nói thêm rằng, tuy hình thứcchính thể là quân chủ đại nghị, nhng bản chất của nó là một nớc dân chủ t sảnrất giống với mô hình chính thể cộng hoà đại nghị ở Nhà nớc quân chủ đại nghịAnh quốc, Nguyên thủ quốc gia là Vua (Hoàng đế), Hoàng đế đợc giữ chức vụnày theo nguyên tắc truyền ngôi Vị Hoàng đế Anh đại diện cho giai cấp phongkiến tham gia vào chính quyền chỉ với vai trò tợng trng cho sự tồn tại vĩnh cửucủa dân tộc, là biểu tợng cho sự thống nhất và hoà hợp quốc gia Hơn nữa, với sựtham gia của các đảng phái chính trị đã làm cho các quy định của pháp luật vàphong tục, tập quán về tổ chức bộ máy nhà nớc trở nên hình thức Về danhnghĩa, Hoàng đế là ngời đứng đầu nhà nớc có quyền hạn rất lớn, nhng trên thực

tế, Hoàng đế lại không có thực quyền Hoàng đế bị hạn chế quyền lực trên cả baphơng diện: lập pháp, hành pháp, t pháp

ở chính thể cộng hoà tổng thống mà đại diện là Mỹ, Tổng thống Mỹ vừa

là ngời đứng đầu Nhà nớc thay mặt cho Nhà nớc về đối nội, đối ngoại, vừa là

ng-ời đứng đầu Chính phủ, ngng-ời nắm toàn bộ quyền hành pháp trong tay mình.Cũng tơng tự nh vị trí, vai trò của Tổng thống Mỹ, Chủ tịch nớc Việt Nam dânchủ cộng hoà theo Hiến pháp 1946 vừa là Nguyên thủ quốc gia thay mặt choNhà nớc, vừa là ngời đứng đầu cơ quan hành pháp

Trong Hiến pháp 1946, Nguyên thủ quốc gia tồn tại dới hình thức Chủtịch nớc, là một chế định tất yếu của chính thể cộng hoà dân chủ nhân dân Chế

độ Chủ tịch nớc là sản phẩm của sự phát triển của cách mạng Việt Nam, gắn liềnvới vai trò của Hồ Chí Minh, ngời sáng lập nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà làNguyên thủ quốc gia đầu tiên của Nhà nớc cách mạng Việt Nam Hiến pháp

1946 cha đa ra một định nghĩa về Chủ tịch nớc nh các Hiến pháp Việt Nam saunày Tuy nhiên, thông qua quy định về cách thức thành lập, thẩm quyền của Chủtịch nớc, có thể xác định bản chất của Chủ tịch nớc vừa là nguyên thủ quốc gia,

đại diện cho Nhà nớc, vừa là ngời đứng đầu Chính phủ Về thực chất, Hiến phápcha phân biệt dới chức năng ngời đứng đầu Nhà nớc (Nguyên thủ quốc gia) vàngời đứng đầu Chính phủ (Thủ tớng Chính phủ) Chủ tịch nớc vừa là ngời đứng

đầu Nhà nớc, vừa là ngời đứng đầu Chính phủ là một nét đặc thù của chính thểcộng hoà dân chủ nhân dân theo Hiến pháp 1946 Điều này xuất phát từ những

điều kiện của cách mạng Việt Nam, với nhiệm vụ của cách mạng kháng chiếngiành độc lập, Quốc hội nhận thấy phải "thực hiện chính quyền mạnh mẽ sángsuốt của nhân dân" [14;8]

Về cơ cấu tổ chức, điểm khác giữa các chính thể trên là, nếu nh trongchính thể đại nghị Anh quốc, Hoàng đế - Nguyên thủ quốc gia là nhân vật tợngtrng, biểu tợng cho quốc gia không nằm trong thành phần Chính phủ, thì Tổng

Trang 12

thống Mỹ và Chủ tịch nớc Việt Nam Hiến pháp 1946 vừa là Nguyên thủ quốcgia vừa là ngời đứng đầu Chính phủ, thuộc thành phần cơ cấu của Chính phủ.

Về cách thức thành lập Nguyên thủ quốc gia, ngời giữ chức vụ Hoàng đếnớc Anh là do truyền ngôi, kế vị, bởi vì Nguyên thủ quốc gia ở đây thuộc Chínhthể quân chủ đại nghị Ngợc lại, trong chính thể cộng hoà, mà cụ thể cộng hoàtổng thống ở Mỹ và cộng hoà dân chủ nhân dân ở Việt Nam thì ngời đứng đầuNhà nớc không phải do kế vị mà do nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu lên.Tổng thống Mỹ do các đại cử tri bầu lên sau khi có một cuộc phổ thông đầuphiếu để lựa chọn các đại cử tri Chủ tịch nớc theo Hiến pháp 1946 chọn trongNghị viện nhân dân và phải đợc hai phần ba tổng số nghị viên bỏ phiếu thuận

Theo quy định Hiến pháp 1946, Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyềncao nhất của nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà, chức danh ngời đứng đầu Nhà n-

ớc đợc Nghị viện bầu ra Điều đó thể hiện nguyên tắc quyền lực nhà nớc làthống nhất, không áp dụng học thuyết tam quyền phân lập vào tổ chức quyền lựcnhà nớc Ngợc lại, trong chính thể đại nghị ở Anh và chính thể cộng hoà tổngthống ở Mỹ lại có sự áp dụng học thuyết tam quyền phân lập vào tổ chức và thựchiện quyền lực nhà nớc Nếu nh ở Mỹ, nguyên tắc phân lập ba quyền đợc vậndụng một cách triệt để tạo ra một quan hệ "cứng rắn" giữa các cành quyền lựclập pháp, hành pháp, t pháp, thì ở Anh lại có sự mềm dẻo hơn trong việc áp dụngnguyên tắc đó vào việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nớc Do áp dụng cácnguyên tắc khác nhau trong việc tổ chức và thực hiện quyền lực ở các hình thứcchính thể khác nhau nên quyền hạn, trách nhiệm cũng nh mối quan hệ giữaNguyên thủ quốc gia với các cơ quan nhà nớc ở các mô hình tổ chức nhà nớcnên trên cũng có những điểm khác biệt nhau

Về quan hệ giữa Nguyên thủ quốc gia với các cơ quan nhà nớc khác.Chính thể cộng hoà dân chủ nhân dân theo Hiến pháp 1946 thiết lập chế địnhChủ tịch nớc theo hớng tăng cờng quyền lực cho Chủ tịch nớc nhằm đảm bảocho việc điều hoà và phối hợp hoạt động giữa các cơ quan nhà nớc trong điềukiện các cơ quan này có vị trí tơng đối độc lập với nhau Mối quan hệ giữaHoàng đế Anh với cơ quan nhà nớc khác lại đứng trên vai trò của một nhân vậttrung gian về chính trị Chức danh Hoàng đế Anh là một chức danh phi chính trị.Thực tế cho thấy, Hoàng đế Anh rất hiếm khi có hành vi liên quan đến một vấn

đề mang tính chính trị trừ khi có biến cố xảy ra đối với đất nớc Hoàng đế Anh

điều hoà và phối hợp, giải quyết những mâu thuẫn giữa các cơ quan trong bộmáy nhà nớc, chủ yếu là mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp Do áp dụngnguyên tắc phân chia quyền lực một cách "cứng rắn" cùng với những đặc trngtrong việc tổ chức và hoạt động của Nguyên thủ quốc gia, mà Tổng thống Mỹmột mặt đóng vai trò là nhân vật trung tâm của quyền lực chính trị có chức năng

điều hoà, phối hợp hoạt động giữa các cơ quan nhà nớc nh ngời đứng đầu nhà

n-ớc ở các chính thể khác, mặt khác trong hoạt động của mình, Tổng thống Mỹthể hiện mối quan hệ lại cứng rắn với các cơ quan nhà nớc khác

Về quyền hạn, quyền hạn của Hoàng đế Anh nh đã nói ở trên, về mặt hìnhthức là rất lớn, nhng trên thực tế các quyền hạn mà Hoàng đế Anh có đợc chỉmang tính chất tợng trng, biểu tợng cho sự thống nhất và hoà hợp dân tộc.Hoàng đế Anh trên cơng vị của ngời đứng đầu Nhà nớc có những quyền hạn:phê chuẩn các đạo luật, có quyền ban bố hoặc phủ quyết các dự án luật đã đợcNghị viện thông qua; bổ nhiệm các công chức trong bộ máy dân sự và quân sự;ban các tớc sỹ và huy chơng nhà nớc; triệu tập và giải tán Nghị viện; ký hiệp ớc,hiệp định với nớc ngoài Đây là những quyền hạn mang nặng tính hình thức củaHoàng đế, Hoàng đế thực chất chỉ thực hiện những việc “đã rồi” để chính thứchoá về mặt nhà nớc Vấn đề này sẽ đợc nghiên cứu kỹ hơn trong phần “về Chínhphủ”

Ngợc lại với Hoàng đế Anh, Tổng thống Mỹ, và Chủ tịch nớc theo Hiếnpháp 1946 có quyền hạn hết sức to lớn bởi vì họ vừa là ngời đứng đầu Nhà nớc,

Trang 13

vừa đứng đầu Chính phủ Về quyền hạn, Tổng thống Mĩ, và Chủ tịch nớc theoHiến pháp 1946 có nhiều điểm tơng đồng Với t cách là Nguyên thủ quốc gia -ngời đứng đầu nhà nớc thay mặt cho nhà nớc về đối nội và đối ngoại thì quyềnhạn của Hoàng đế Anh cũng nh quyền hạn của Tổng thống Mỹ và Chủ tịch nớc

về cơ bản là giống nhau, nh: quyền thay mặt cho nhà nớc về đối nội, đối ngoại;quyền bổ nhiệm công chức dân sự và quân sự; quyền tổng chỉ huy các lực lợng

vũ trang; quyền phê chuẩn các đạo luật, đặc biệt có quyền ban bố hay phủ quyếtcác dự án luật đã đợc nghị viện thông qua; quyền thởng huân, huy chơng, bằngcấp và các danh hiệu vinh dự nhà nớc; quyền tiếp nhận và cử các đại diện ngoạigiao; Với t cách là ngời đứng đầu Chính phủ, quyền hạn của Tổng thống Mỹ

và Chủ tịch nớc theo Hiến pháp 1946 là rất lớn và giữa họ có nhiều điểm tơng

đồng với nhau Vấn đề này sẽ đợc nghiên cứu kỹ lỡng ở phần "về Chính phủ"

Về trách nhiệm của ngời đứng đầu nhà nớc, quyền hạn của Hoàng đế Anh

nh đã nói ở trên, chỉ mang tính hình thức đúng với câu mà ngời ta thờng nói:Hoàng đế Anh không phải làm gì cả, do đó không bao giờ sai, và vô tráchnhiệm Đất nớc phồn thịnh, xã hội yên bình là nhờ sự ban ơn của Hoàng đế, còn

điều ngợc lại thì do Nội các, và Nội các phải chụi trách nhiệm

Cũng có quyền hạn rất lớn nh quyền hạn của Tổng thống Mỹ, nhng điều

đặc biệt là Chủ tịch nớc theo Hiến pháp 1946 lại không phải chịu bất cứ mộttrách nhiệm nào trừ tội phản bội tổ quốc Ngợc lại, trách nhiệm của Tổng thống

Mỹ trong việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình là rất lớn Tổng thống

Mỹ có thể bị Quốc hội điều trần với bất cứ các hành vi vi phạm pháp luật, cáchành vi chính trị nào của Tổng thống mà Quốc hội cho là không hợp hiến Đâycũng chính là sự hạn chế quyền lực của Tổng thống, và đi xa hơn nữa đó chính

là sự cân bằng đối trọng trong việc tổ chức và thực hiện quyền lực của Nhà nớcMỹ

Tuy thực tế quyền hạn của Chủ tịch nớc là rất lớn cả về lập pháp lẫn hànhpháp và t pháp, song Hiến pháp 1946 có những quy định hạn chế quyền hạn củaChủ tịch nớc đảm bảo "Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của n-

ớc Việt Nam dân chủ cộng hoà" [14;12] Nghị viện có các quyền để hạn chếquyền hạn của Chủ tịch nớc, nh: Nghị viện bầu Chủ tịch nớc trong Nghị viện;chuẩn y các hiệp ớc do Chính phủ ký với nớc ngoài; những luật mà Chủ tịch nớcyêu cầu Nghị viện thảo luận lại nếu vẫn đợc Nghị viện ng chuẩn, thì bắt buộcChủ tịch nớc phải ban bố; khi Nghị viện không họp đợc, Ban thờng vụ cùng vớiChính phủ tuyên chiến hay đình chiến; Nghị viện không bị Chủ tịch nớc tuyên

bố giải tán, trừ trờng hợp tự giải tán; áp dụng chế độ phó thự

Tóm lại, chế định Chủ tịch nớc - Nguyên thủ quốc gia Hiến pháp 1946

đ-ợc thiết kế khá độc đáo Một mặt, nó vừa đảm bảo đđ-ợc quyền lực nhà nớc thốngnhất tập trung vào cơ quan đại diện quyền lực của nhân dân Mặt khác, nó tạo ra

đợc một quyền hành pháp mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân với một Chínhphủ thể hiện tinh thần đoàn kết rộng rãi phù hợp với điều kiện phát triển củacách mạng Việt Nam, mang những đặc thù của loại hình chính thể cộng hoà dânchủ nhân dân

2.2.2 Về Quốc hội (Nghị viện)

C.Mác viết: "Quyền lập pháp là quyền lực phải tổ chức cái phổ biến"[7;389] Cơ quan lập pháp là cơ quan quy định cái phổ biến, nâng ý chí phổ biếncủa nhân dân lên thành pháp luật: "Tại nghị viện, quốc dân nâng ý chí phổ biếncủa mình lên thành pháp luật, nghĩa là làm cho pháp luật của giai cấp thống trịbiến thành ý chí phổ biến của quốc dân"[5;511-512] Cơ quan lập pháp là mộtthiết chế cấu thành hình thức chính thể nhà nớc, có những tên gọi khác nhau ởcác quốc gia nh Nghị viện, Quốc hội, Xô viết tối cao, Hội đồng các dân tộc, Hộinghị hiệp thơng nhân dân.v.v

Trang 14

Sự xuất hiện của nghị viện (cơ quan lập pháp nói chung) là một hệ quả tấtyếu từ quan niệm quyền lực thuộc về nhân dân Trong xã hội cổ đại, đã xuấthiện quan niệm về nguồn gốc quyền lực từ nhân dân, nhng nhân dân không thểtrực tiếp thực hiện đợc quyền lợi của mình mà họ phải bầu ra những ngời thaymặt mình giải quyết những công việc chung của cộng đồng Tuy nhiên, vào lúc

đó, những ngời đi bầu cử không phải là toàn dân mà chỉ là bao gồm những ngời

có của hoặc những binh sĩ Trong cơ cấu nhà nớc thời cổ đại đã xuất hiện nhữngViện nguyên lão bao gồm những chủ nô quý tộc, Đại hội nhân dân bao gồmnhững ngời cầm vũ khí Đó có thể là những cơ quan mang tính mầm mống củanghị viện sau này

Nghị viện chính thức ra đời từ sau cách mạng t sản Trong cuộc đấu tranhgiành quyền lực với giai cấp phong kiến, giai cấp t sản đã đạt đợc sự hạn chếquyền lực của vơng triều phong kiến bằng cách thành lập bên cạnh nhà vua mộtcơ quan gọi là nghị viện hoặc thiết lập chế độ cộng hoà dân chủ thừa nhậnquyền của những ngời có của Những cách thức này đã đợc xác lập về mặt hìnhthức bởi hiến pháp Nghị viện sinh ra cùng với sự xuất hiện của hiến pháp

Nghị viện khai sinh ở Anh, Nghị viện Anh thoát thai từ những Hội đồng

mà Hoàng đế Anh triệu tập bên cạnh mình để tham khảo ý kiến Hội đồng nàyxuất hiện vào thế kỷ XII, bao gồm đaị diện của các lãnh địa, là cơ quan t vấncho nhà Vua, chỉ có quyền phát biểu suông, quyền quyết định thuộc về nhà Vua.Nhng đến thời kỳ XIII, XIV, do nhu cầu chi tiêu của Hoàng gia ngày càng tăng,việc Vua triệu tập cuộc Họp hội đồng từ bất thờng trở thành thờng lệ để yêu cầutăng mức thu thuế, Hội đồng đã giành đợc quyết định trong lĩnh vực tài chính -quyền ng thuận thuế Năm 1212, Đại hiến chơng đã công nhận quyền ng thuậnthuế của Hội đồng: thuế trớc khi đợc thâu cho nhà Vua, phải đợc các ch hầuthuận trớc [12;368] Những quyền tài chính là nguồn gốc của mọi quyền lực củaNghị viện sau này Từ quyền ng thuận thuế, trong phiên họp, Hội đồng đã khéoléo yêu cầu nhà Vua xét để cho họ cai trị những lãnh địa của mình theo nhữngquy tắc nhất định Dần dần, các Hội đồng có thêm quyền biểu quyết luật Chínhnhững phiên họp của Hội đồng đã hình thành Nghị viện Anh sau này

Thời kỳ đầu của chủ nghĩa t bản là thời kỳ hoàng kim của nghị viện Donhu cầu hạn chế quyền lực nhà vua, phát triển dân chủ t sản, quyền lực của nghịviện đợc tăng cờng C Mác gọi đó là việc giai cấp t sản "hoàn bị quyền lực nghịviện" [8;512] Vào thời kỳ thịnh vợng của mình, "nghị viện có quyền làm đợc tấtcả, chỉ trừ việc biến đàn ông thành đàn bà" Sau khi mục đích của việc thâu tómtoàn bộ quyền lực của nghị viện đã đạt đợc, giai cấp t sản lại "hoàn bị quyềnhành pháp" [8;512] Nghị viện dần dần bị bộ máy hành pháp thao túng, chế độ

đại nghị rơi vào tình trạng khủng hoảng Nghị viện, do đó, theo cách nói riêngcủa Lênin chỉ là "những cái máy nói, trong nghị viện, ngời ta chỉ nói suông "[10;57]

Cách mạng vô sản phải thủ tiêu chế độ đại nghị Đó là kết luận của nhữngnhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Nhng thủ tiêu chế độ đại nghị không có nghĩa

là trong Nhà nớc vô sản không cơ quan đại diện V.I Lênin viết: "Những cơquan đại diện vẫn còn, nhng chế độ đại nghị, với tính cách là một hệ thống đặcbiệt, một sự phân chia giữa công tác lập pháp với công tác hành pháp, đợc coi

nh địa vị đặc quyền cho các nghị sĩ, thì không còn nữa Chúng ta không thể quanniệm một nền dân chủ, dẫu là một nền dân chủ vô sản, mà lại không có cơ quan

đại diện" [10 ; 59]

Trong chính thể cộng hoà dân chủ nhân dân, từ t tởng về nguồn gốcquyền lực từ nhân dân tất yếu phát triển đến t tởng về vịêc thành lập quốc hội.Quá trình phát triển tất yếu đó, ở mức độ chung nhất, diễn ra theo một lôgíc phổbiến của sự hình thành t tởng về việc thiết lập quốc hội trên thế giới: quyền lựathuộc về nhân dân; nhà nớc do nhân dân lập ra để đại diện nhân dân thực thiquyền lực của nhân dân; phơng thức để nhân dân uỷ thác quyền lực của mình

Trang 15

cho nhà nớc là bầu cử; thông qua bầu cử, nhân dân thành lập nên quốc hội Tuynhiên, trong mạch lôgíc chung đó, t tởng và tinh thần về việc thành lập Quốc hộitheo Hiến pháp 1946 có những yếu tố rất riêng phản ánh cách mạng Việt Nam.

Nhận thấy thời cơ của cách mạng sắp đến, tháng 10/1944 Hồ Chí Minh đãgửi th cho quốc dân đồng bào, thông báo chủ trơng triệu tập Đại hội đại biểuquốc dân để thành lập một cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành

động nhất trí của toàn thể quốc dân ta để tạo sức mạnh dân tộc bên trong vàtranh thủ ngoại viện của quốc tế nhằm chớp thời cơ thuận lợi thực hiện cho đợcmục tiêu độc lập, tự do [16;15] Tháng 5/1945, trớc tình hình cao trào khángNhật cứu nớc đang dâng lên trong cả nớc, toàn dân đang mong đợi một chínhphủ cách mạng lâm thời của nớc Việt Nam độc lập, Hồ Chí Minh đã ra chỉ thịgấp rút họp Đại hội đại biểu quốc dân Tại Tân trào, Quốc dân đại hội khai mạcngày 16/8/1945, đã thành lập Uỷ ban giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làmChủ tịch Sau cách mạng tháng Tám, Hồ Chí Minh đã đề nghị cải tổ Uỷ ban dântộc giải phóng thành Chính phủ lâm thời của nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà.Ngày 27/1945 Chính phủ lâm thời ra lời Tuyên cáo, trong đó có nói: "Chính phủlâm thời thật là một Chính phủ quốc gia thống nhất, giữ trọng trách là chỉ đạocho toàn thể, đợi ngày triệu tập đợc Quốc hội để cử ra một Chính phủ cộng hoàchính thức" [16;25] Một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, ngày 3/9/1945trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:

"Tôi đề nghị tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổthông đầu phiếu" [21;8] Ngày 8/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số14/SL về cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội Sắc lệnh ghi rõ: "Xét thấy rằng trongtình thế hiện giờ sự triệu tập Quốc dân đại hội không những có thể thực hiện đợc

mà lại rất cần thiết cho toàn dân tham gia vào công cuộc củng cố nền độc lập vàchống nạn ngoại xâm " [16;31]

Qua đó có thể thấy rằng, sự thành lập Quốc hội trong chính thể cộng hoàdân chủ nhân dân theo Hiến pháp 1946 ở Việt Nam, không phải để hạn chế haychia sẻ quyền lực với bất cứ thế lực nào mà nhằm mục đích thống nhất ý chí dântộc, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân để dành, khẳng định, giữvững nền độc lập dân tộc Đại hội Quốc dân ở Tân Trào có thể coi là tiền thâncủa Quốc hội Việt Nam sau này Chủ trơng của Hồ Chí Minh về việc gấp rúttriệu tập Đại hội quốc dân là để thống nhất hành động trong cả nớc, phát huysức mạnh của ý chí thống nhất toàn dân để giành độc lập dân tộc Sau Tuyênngôn độc lập, Nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời là một Nhà nớc độclập, tự do, nhng cha một quốc gia nào trên thế giới công nhận Hơn nữa, các thếlực đế quốc và tay sai đang ráo riết chống lại Đảng Cộng sản và Việt Minh hònglật đổ chính quyền cách mạng và thành lập một chính quyền tay sai cho đế quốc.Trớc tình hình đó, Hồ Chí Minh đã gấp rút xúc tiến việc bầu Quốc hội khẳng

định tính hợp pháp của Nhà nớc cách mạng Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý cho nền

độc lập dân tộc Bên cạnh đó, chủ trơng thành lập Quốc hội của Hồ Chí Minhcòn nhằm mục đích phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân để bảo vệnền độc lập vừa dành đợc trớc thế "ngàn cân treo sợi tóc" của chính quyền cáchmạng mới ra đời

Khác với Quốc hội Việt Nam theo Hiến pháp 1946 đợc tổ chức theo môhình nhà nớc áp dụng nguyên tắc tập trung quyền lực, mô hình Nghị viện ở Anh

và Quốc ở Hoa Kỳ lại tồn tại trong chính thể nhà nớc áp dụng học thuyết tamquyền phân lập trong việc tổ chức bộ máy nhà nớc Theo thuyết tam quyền phânlập, trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nớc, Nghị viện đóng vai trò là cơ quan đạidiện Nghị viện đợc xem là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của toànthể nhân dân Tuy nhiên, việc thành lập Nghị viện ở các Nhà nớc này còn cómục đích khác, đó là nhằm để hạn chế và chia sẻ quyền lực giữa các thế lựcchính trị với nhau Ban đầu, việc thành lập nghị viện là để hạn chế quyền lực vôhạn định của nhà vua bằng cách thiết lập một cơ quan đại diện cho nhân dân tồn

Trang 16

tại bên cạnh nhà vua Sau đó, Nghị viện trở thành một thiết chế quyền lực cómục đích phân chia quyền lực giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nớc (lập pháp,hành pháp, t pháp).

T tởng phân chia quyền lực là một t tởng xuyên suốt trong suốt quá trìnhtồn tại và phát triển của Nhà nớc Hoa Kỳ Về vấn đề này, Haminton - một trongnhững nhà lập hiến xuất sắc của Hoa Kỳ viết: "Những nguyên tắc đã giúp chúng

ta nhận thấy cần phải phân định các ngành quyền, lại cũng giúp cho chúng tanhận thấy phải làm thế nào để các ngành quyền hoàn toàn độc lập với nhau.Phân biệt ngành hành pháp và t pháp khỏi lập pháp để làm gì, nếu trong khi đã

đợc phân định rồi mà ngành hành pháp vẫn còn phụ thuộc vào ngành lập pháp ?.Nếu đã đợc phân định rồi mà hãy còn có sự phụ thuộc thì sự phân định đó chỉ làtợng trng, mà không thể nào thực hiện đợc mục tiêu của sự phân định đó Ngànhhành pháp và t pháp cần phải tuân theo các đạo luật, nhng nh vậy không cónghĩa là phải chiều theo ý muốn của cơ quan lập pháp Nếu nh ngành này vẫncòn phụ thuộc vào ngành nọ, thì tức là đã đi ngợc lại nguyên tắc căn bản củamột chính phủ tốt, tức là đã có Hiến pháp nhng tất cả các ngành quyền vẫn tậptrung trong tay một cơ quan" [18;231-232]

Theo quy định của Hiến pháp 1946, Hiến pháp Hoa Kỳ 1787 cũng nh cácquy định pháp luật và tập quán nớc Anh, về tổ chức bộ máy nhà nớc đều quy

định Nghị viện là cơ quan đại diện cho nhân dân do nhân dân trực tiếp bầu ra.Nhân dân là ngời mang chủ quyền, chủ quyền tối cao và duy nhất, uỷ quyền choNghị viện thay mặt mình thực hiện quyền lập pháp Trong tác phẩm "Tinh thầnpháp luật", Montesquieu viết: "Trong một nớc tự do, mọi ngời đều đợc xem nh

có tâm hồn tự do, thì họ phải đợc tự quản; nh vậy tập đoàn dân chúng phải cóquyền lập pháp Nhng trong một nớc lớn thì không thể mỗi công dân đều làmviệc lập pháp Trong một nớc nhỏ, việc này cũng rất khó khăn; cho nên dânchúng thực hiện quyền lập pháp bằng cách giao cho các đại biểu của mình làmmọi việc mà cá nhân công dân không thể tự mình làm lấy đợc [6;103-104] ởcác nớc t bản, ngời ta quan niệm rằng thành viên của nghị viện không đại diệncho cử tri bầu ra họ mà là đại diện cho toàn thể nhân dân Trong hoạt động, các

đại biểu chỉ tuân thủ hiến pháp và pháp luật mà không phải chịu sự giám sát của

cử tri, họ không phụ thuộc vào cử tri và không bị cử tri bãi miễn Đây cũngchính là t tởng, quan điểm về đại diện nhân dân của nghị viện trong các Nhà nớcAnh, Mĩ

Đối lập với quan điểm trên là quan điểm của nhà nớc xã hội chủ nghĩa về

đại diện nhân dân Theo quan điểm này, đại biểu đợc cử tri bầu ra trớc hết là đạidiện cho cử tri bầu ra mình phù hợp với lợi ích dân tộc Khi đại biểu không còn

là sự tín nhiệm của cử tri thì cử tri có quyền bãi nhiệm đại biểu V.I Lênin chorằng chỉ bằng hình thức đó chế độ dân chủ đại diện mới thực sự là dân chủ và cơquan đại diện mới thực sự đại diện cho ý chí của nhân dân Điều 25, Hiến pháp

1946 quy định: "Nghị viện không chỉ phải thay mặt cho địa phơng mình mà cònthay mặt cho toàn thể nhân dân" [14;12 ] Và khi đề cập đến trách nhiệm của đạibiểu, Điều 41, Hiến pháp 1946 quy định: " Nghị viện phải xét vấn đề bãi miễnmột nghị viên khi nhận đợc đề nghị của một phần t tổng sổ cử tri tỉnh hay thànhphố đã bầu ra nghị viên đó Nếu hai phần ba tổng số nghị viên ng thuận đề nghịbãi miễn thì nghị viên đó phải từ chức [14;16]

Ta thấy sự khác biệt giữa đại diện nhân dân của Nghị viện trong các Nhànớc Anh, Mĩ đó là đại diện theo kiểu nhân dân "uỷ quyền tự do" cho cơ quan đạidiện với đại diện nhân dân của Nghị viện theo Hiến pháp Việt Nam 1946, đó là

đại diện mà nhân dân “uỷ quyền mệnh lệnh” cho cơ quan đại diện

Sự hình thành và phát triển của quốc hội trên thế giới cho thấy chế độ bầu

cử quốc hội khi mới ra đời vốn không phải là chế độ phổ thông đầu phiếu mà làchế độ đầu phiếu hạn chế Những hình thức hạn chế quyền đầu phiếu rất đa

Trang 17

dạng: tài sản, trình độ học vấn, giới tính, độ tuổi, chủng tộc Sự phát triển củadân chủ đã đa chế độ bầu cử đến chế độ phổ thông đầu phiếu.

Quốc hội Việt Nam, do điều kiện lịch sử, ra đời muộn hơn so với quốchội ở các nớc trên thế giới Nhng ngay khi ra đời, Quốc hội Việt Nam đã thựchiện chế độ bầu cử theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu Hồ Chí Minh đã sớm

có quan niệm về chế độ phổ thông đầu phiếu ngay trong cuộc Tổng tuyển cử đầutiên Ngời nói: “Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là những ngời muốn lo việc nớc

đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân Việt Nam thì đều có quyền đi bẩu cử.Không chia gái trai, giàu nghèo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dânViệt Nam đều có hai quyền đó Vì lẽ đó, cho nên Tổng tuyển cử là tự do, bình

đẳng; tức là dân chủ, đoàn kết" [21;133]

T tởng phổ thông đầu phiếu không đơn thuần chỉ là bắt nguồn từ t tởngquyền lực thuộc về nhân dân mà còn xuất phát từ thực tiễn cách mạng ViệtNam Trong điều kiện cách mạng kháng chiến, kiến quốc ở nớc ta, bầu cử là mộthình thức chính trị huy động sức mạnh toàn dân đấu tranh chống lại kẻ thù xâmlợc, khẳng định và giữ vững nền độc lập dân tộc "Về mặt chính trị, thì nhân dândùng lá phiếu mà chống lại quân địch Một lá phiếu cũng có sức mạnh nh mộtviên đạn" [21;145] Ngoài nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, các nguyên tắc dânchủ khác của chế độ bầu cử nh trực tiếp và bỏ phiếu kín cũng đợc áp dụng vàocuộc bầu cử đầu tiên ở Việt Nam, và các nguyên tắc đó đã đợc nâng nên ở tầmhiến định Điều 17, Hiến pháp 1946 quy định: "chế độ bầu cử là phổ thông đầuphiếu Bỏ phiếu phải tự do, trực tiếp vá kín" [14;11] Những t tởng tiến bộ củacác nguyên tắc dân chủ trong bầu cử Quốc hội phù hợp và đáp ứng đợc nhu cầuxây dựng chính thể cộng hoà dân chủ nhân dân trên con đờng cách mạng ViệtNam

Quốc hội Việt Nam theo Hiến pháp 1946 đợc thành lập trên cơ sở cácnguyên tắc bầu cử dân chủ và với một thành phần cử chi hết sức rộng rãi "Tất cảcông dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, đều có quyền bầu

cử, trừ những ngời mất trí và những ngời mất công quyền

Ngời ứng cử phải là ngời có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi, và phảibiết đọc, biết viết chữ quốc ngữ

Công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử" [14;11]

Cơ cấu đại biểu trong Quốc hội Việt Nam là một cơ cấu hết sức đa dạng,

đại diện cho mọi giai cấp, tầng lớp của xã hội biểu hiện sự đoàn kết rộng rãitrong nhân dân Trong diễn văn khai mạc kỳ họp thứ nhất Quốc hội Khoá I nớcViệt Nam dân chủ cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Các đại biểu Quốc hộinày không phải đại diện cho một đảng phái nào mà là đại diện cho toàn thể quốcdân Việt Nam Đó là một sự đoàn kết tỏ ra rằng lực lợng của toàn dân Việt Nam

đã đoàn kết một khối" [21;190]

Một biểu hiện thực tiễn sinh động của t tởng Hồ Chí Minh về tính đại diệncủa Quốc hội là sự kiện Quốc hội Khóa I, tại kỳ họp thứ 11, đã ra Nghị quyếtkéo dài nhiệm kỳ của các đại biểu Quốc hội đợc nhân dân miền Nam bầu rangày 6/1/1946 cho đến khi có nghị quyết mới Do sự thống trị của chính quyềntay sai Mỹ - Diệm ở miền Nam Việt Nam, nên cuộc Tổng tuyển cử Quốc hộiKhoá II nhân dân miền Nam không thể tham gia bầu cử

Trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội thì sự tham gia của các đảngphái chính trị có tác động ảnh hởng to lớn, nhiều khi nó làm biến dạng các quy

định của pháp luật quy định về Quốc hội ở các Nhà nớc Anh, Mỹ các đảngphái chính trị tham gia vào chính quyền nhà nớc một cách mạnh mẽ, có ảnh h-ởng rất lớn đến tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nớc nói chung và Quốc hộinói riêng Với sự tham gia của các đảng phái trong Quốc hội đã biến cơ quan đạidiện của nhân dân thành cơ quan đại diện cho các phe phái của các chính đảngkhác nhau Trong cuộc bầu cử lập pháp, các đảng phái đại diện cho các khuynhhớng chính trị khác nhau lập danh sách các ứng cử viên nghị sĩ, đồng thời đứng

Trang 18

ra vận động tranh cử Nớc Anh và nớc Mỹ là những nớc có hệ thống lỡng đảng,những đảng này thay nhau cầm quyền trong các cuộc bầu cử lập pháp ở Anh,

đảng giành đợc thắng lợi trong cuộc bầu cử vào Hạ nghị viện sẽ đứng ra thànhlập chính phủ và trở thành đảng cầm quyền Còn ở Mỹ, đảng nào giành đợcthắng lợi trong cuộc bầu cử lập pháp (cả Hạ nghị viện và Thợng nghị viện), đảng

đó sẽ có tác động rất lớn đến quá trình tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nớc

Cơ cấu đại biểu Quốc hội trong các nhà nớc Anh, Mỹ không có sự đadạng đại diện cho mọi giai cấp, mọi tầng lớp xã hội Mặc dù, chế độ bầu cử theoquy định của Hiến pháp, luật của các Nhà nớc này là chế độ dân chủ Song, donhững hạn chế về mặt này hay mặt khác mà trong thành phần của Quốc hội chỉbao gồm đa số những ngời xuất thân từ tầng lớp thợng lu hoặc trên trung lu.Chẳng hạn, ở Mỹ, Hiến pháp quy định rằng, mọi công dân Mỹ từ 30 tuổi trở lên

đã c trú ở Mỹ từ 8 năm trở lên đều có quyền ứng cử Thợng nghị sĩ tại khu vựcmình c trú Đối với chức vụ Hạ nghị sĩ, tuổi là 25 trở lên và công dân Mỹ từ 7năm trở lên Nhng rất hữu hạn có trờng hợp thành viên của Nghị viện xuất thân

từ tầng lớp lao động Hay ở Anh, cơ cấu đại biểu trong các Viện cũng có hiện ợng tơng tự "Trong số đại biểu Viện Bình dân nhiệm kỳ 1992 - 1997 là thànhviên của Đảng Bảo thủ có 45% là chính trị gia, 36% thơng gia, gần 19% luật gia

t-và chỉ có một đại biểu là công dân Trong khi đó 42% đại biểu Công đảng làchính trị gia, 9% thơng gia, 33% công nhân, 16% đại biểu có các ngành nghềkhác nhau Tổng số đại biểu nữ là 60 hay 9,2% [3;122] Giải thích cho hiện tợngnày, nhiều tác giả cho rằng, sở dĩ không có một cơ cấu đại biểu đồng đều đạidiện một cách rộng rãi trong xã hội mà cơ cấu đại biểu chủ yếu tập trung vàonhững nhà chính trị, những ngời thuộc tầng lớp trên của xã hội là bởi vì: thứnhất, ngoài sự chi phối của tính giai cấp, các thành viên nghị viện còn là nhữngtinh hoa đại diện cho các khu vực lợi ích của đời sống xã hội; thứ hai, những ng-

ời ra ứng cử vào nghị viện phải là những ngời có đủ khả năng để theo đuổi sựnghiệp chính trị; thứ ba, trong cuộc bầu cử vào nghị viện, các ứng cử viên đòihỏi phải có khả năng tài chính lớn

Trong chính thể cộng hoà dân chủ nhân dân theo Hiến pháp 1946, tính đạidiện nhân dân của Quốc hội cũng cần đợc hiểu là Quốc hội đại diện cho quyềnlực của nhân dân, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nớc tối cao Điều 22, Hiếnpháp 1946 quy định: "Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của nớcViệt Nam dân chủ cộng hoà" [14;12] Quyền lực tối cao hay quyền cao nhất củaQuốc hội chính là quyền lực nhà nớc cao nhất Tính đại diện toàn dân là tiền đềcủa tính quyền lực nhà nớc cao nhất của Quốc hội Quyền lực của Quốc hội làquyền lực nhà nớc đại diện cho quyền lực nhân dân, do nhân dân trao cho.Trong khi đó, quyền lực của nhân dân là chủ quyền mang tính tối cao Cho nên,quyền lực mà Quốc hội tiếp nhận trực tiếp từ toàn dân là quyền lực nhà nớc tốicao Vì vậy, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nớc tối cao Nghĩa là, không cómột cơ quan nào đứng ngang bằng hay đứng trên Quốc hội, thẩm quyền của cácthiết chế nhà nớc nh Chủ tịch nớc, Chính phủ, Toà án là do Quốc hội trao cho.Tính quyền lực nhà nớc cao nhất của Quốc hội là phù hợp với sự thống nhấtquyền lực Quyền lực trong nớc - quyền lực chính trị thống nhất ở nhân dân,quyền lực nhà nớc thống nhất ở Quốc hội Tất cả các quyền lực nhà nớc thốngnhất vào Quốc hội chứ không phải tập trung vào Quốc hội Quốc hội thống nhấtquyền lực nhà nớc nhng không thực hiện tất cả quyền lực nhà nớc mà có sự phâncông lao động trong việc thực hiện quyền lực Quốc hội trao cho Chính phủ phảithực hiện quyền hành pháp, Toà án thực hiện quyền xét xử Đây chính là điều

đặc trng điển hình của Hiến pháp 1946 về sự phân công, phân nhiệm trong hoạt

động tổ chức và thực hiện quyền lực giữa các cơ quan nhà nớc

Trong các Nhà nớc Anh, Mỹ, Hiến pháp của các Nhà nớc này cũng tuyên

bố quyền lực thuộc về nhân dân, do nhân dân làm chủ, nhân dân bầu ra Quốchội làm cơ quan đại diện (uỷ quyền tự do) cho mình Nhng mặt khác, do áp

Trang 19

dụng học thuyết tam quyền phân lập trong mô hình tổ chức nhà nớc, nên quyềnlực nhà nớc không đợc và không thể thống nhất vào một cơ quan (cơ quan đạidiện - Quốc hội) mà có sự phân chia giữa các cành quyền lực (lập pháp, hànhpháp, t pháp) Hơn nữa, do sự tham gia của các đảng phái trong chính quyền nhànớc nên sự thống nhất quyền lực nếu có đợc tuyên bố thì cũng sẽ không thể thựchiện đợc.

ở Nhà nớc Anh, nơi áp dụng học thuyết tam quyền phân lập một cáchmềm dẻo, là Nhà nớc của chính thể đại nghị - một mô hình mà về mặt lý thuyết

đợc coi là mô hình tổ chức nhà nớc tiến bộ hơn cả trong thế giới t sản Quốc hội

đợc Hiến pháp, các tập quán tuyên bố là cơ quan đại diện tối cao dựa trên họcthuyết về quyền tối cao của Nghị viện tạo cơ sở cho việc tập trung quyền lực vàoNghị viện Chính phủ phải đợc thành lập dựa trên cơ sở Nghị viện và phải chịutrách nhiệm trớc Nghị viện Chính phủ chỉ hoạt động khi vẫn còn sự tín nhiệmcủa Hạ nghị viện, trong trờng hợp không còn sự tín nhiệm nữa thì bị lật đổ, vàkèm theo đó là Quốc hội cũng có thể bị giải tán Nhng với sự ảnh hởng của cáchoạt động đảng phái chính trị trong Nghị viện bị đảng chiếm đa số khống chế

Từ đây làm xuất hiện "nghị gật" tạo nên sự khủng hoảng của chế độ đại nghị

"Vì vậy, mặc dù về hình thức nớc Anh có chính thể đại nghị, nhng thực tế hoạt

động của bộ máy nhà nớc lại theo chế độ nội các chế" [3;121] Hệ quả của vấn

đề này là sinh ra các quy phạm Hiến pháp bất thành văn: đảng cầm quyền đứng

ra thành lập Chính phủ; Chính phủ đợc quyền giải tán Quốc hội; Chính phủ vàThủ tớng Chính phủ có thể đe doạ đặt vấn đề tín nhiệm trớc Quốc hội

Không giống với Nhà nớc Anh, Nhà nớc Mỹ áp dụng học thuyết tamquyền phân lập một cách “cứng rắn” trong tổ chức bộ máy nhà nớc Trên lýthuyết, các cành quyền lực (lập pháp, hành pháp, t pháp) đợc phân chia một cáchtuyệt đối, không ngành quyền lực nào phụ thuộc vào ngành quyền lực nào, lậppháp là lập pháp, hành pháp là hành pháp, t pháp là t pháp Không có sự hợp tácphối hợp giữa các ngành quyền lực mà chúng hoạt động dựa trên cơ sở của cơchế “kiềm chế và đối trọng” Do đó, vị trí của Quốc hội đợc quy định ngangbằng với các thiết chế quyền lực nhà nớc khác Nếu nh ở Nhà nớc Anh theochính thể đại nghị, ngời ta quan niệm rằng Quốc hội là tối cao, có quyền quyết

định mọi vấn đề, các hoạt động của Nhà nớc chỉ đợc giải quyết một cách dânchủ thông qua Nghị viện, thì Nhà nớc theo chính thể cộng hoà tổng thống ở Mỹlại có quan niệm ngợc lại: "Quốc hội cũng không là cái gì cả, cũng có khi làmsai, và cũng có khi trở thành độc tài, mà hậu quả của sự độc tài tại này cũng y

nh của sự độc tài cá nhân" [18;317] Do tính độc lập lẫn nhau giữa các ngànhquyền lực nên Chính phủ không đợc thành lập dựa trên cơ sở Quốc hội, Chínhphủ không chịu trách nhiệm trớc Quốc hội và không bị Quốc hội lật đổ và kèmtheo đó là Quốc hội không thể bị giải tán

Vể thẩm quyền của Quốc hội.

Hiến pháp của hầu hết các nớc đều quy định thẩm quyền của Quốc hộidựa trên các chức năng, nhiệm vụ cơ bản của chúng Đó là các chức năng: lậppháp; giám sát; quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nớc Nhìnchung, hiến pháp của các nớc đều ghi nhận ba chức năng cơ bản trên của quốchội Nhng phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của từng quốc gia, đặc biệt là phụthuộc vào mô hình tổ chức nhà nớc (chính thể) áp dụng trong việc thực hiệnquyền lực mà thẩm quyền của các thiết chế quyền lực nhà nớc nói chung, thẩmquyền của Quốc hội nói riêng có sự khác biệt nhau Sau đây sẽ lần lợt đề cập

đến các quyền hạn cơ bản nhất của Quốc hội theo Hiến pháp 1946, của Quốchội Nhà nớc Anh và của Quốc hội Nhà nớc Mỹ

Trong lĩnh vực lập pháp, chức năng cơ bản không thể thiếu của Quốc hội

là chức năng lập pháp Các chức năng khác của Quốc hội đều dựa trên cơ sở vàphục vụ cho chức năng lập pháp Đây là lĩnh vực hoạt động bao quát nhất củaQuốc hội Quá trình xây dựng và ban hành pháp luật bao gồm rất nhiều giai

Trang 20

đoạn khác nhau trong đó có ba giai đoạn cơ bản: sáng quyền lập pháp; thôngqua luật; công bố luật Thực tiễn hoạt động lập pháp cho thấy đa số các dự án

đều do Chính phủ - hành pháp đệ trình Quyền công bố luật thuộc về ngời đứng

đầu nhà nớc Thông qua dự án luật thuộc về quyền của Quốc hội Bởi thế, hiếnpháp của đa số các nớc trên thế giới đều quy định Quốc hội có quyền thông qualuật, chứ không quy định là Quốc hội có quyền làm luật Mà nếu có quy định làQuốc hội có quyền làm luật thì trong quá trình lập pháp, Quốc hội thờng cũngchỉ thực hiện quyền thông qua dự án luật

Về sáng quyền lập pháp, Điều 23, Hiến pháp 1946 quy định: "Nghị việnnhân dân đặt ra các pháp luật " [14;12], mà không quy định cụ thể ai có quyềntrình dự án luật và các kiến nghị về luật Chỉ có một cơ quan mà Hiến pháp quy

định một cách cụ thể trao cho sáng quyền lập pháp, đó là Chính phủ Điều 52,Hiến pháp 1946 khi đề cập đến quyền hạn của Chính phủ, quy định: "…Đề nghịĐề nghịnhững dự án luật ra trớc nghị viện; Đề nghị những dự án sắc luật ra trớc Ban Th-ờng vụ, trong lúc Nghị viện không họp mà gặp trờng hợp đặc biệt…Đề nghị[14;19] Từnhững quy định trên và theo tinh thần của Hiến pháp ta thấy rằng Hiến pháp đãnghi nhận quyền tham gia lập pháp của cơ quan hành pháp - Chính phủ, màquyền này thực tế là rất lớn, chi phối hoạt động lập pháp Nhng quy định này làphù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan nhằm mục đíchnâng cao hiệu quả hoạt động lập pháp

Không giống với Việt Nam nơi mà các chủ thể có quyền sáng kiến phápluật tơng đối rộng rãi bao gồm cả lập pháp và hành pháp, luật pháp Hoa Kỳ quy

định rõ chủ thể có quyền sáng kiến pháp luật, đó là chỉ các nghị sĩ Quốc hội (Hạnghị viện và Thợng nghị viện) và chỉ có các nghị sĩ đại diện cho ý chí của cử tricả nớc mới có quyền trình dự án luật, kiến nghị về luật ra trớc Quốc hội Sángquyền lập pháp đợc coi là đặc quyền của nghị sĩ, đặc quyền của Quốc hội, nó đ-

ợc giới luật học cho rằng nhằm bảo vệ quyền hạn lập pháp đích thực của Quốchội

Theo cơ chế tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nớc Mĩ, các cành quyềnlực độc lập tuyệt đối với nhau nên trong lĩnh vực làm luật (lập pháp), hành pháp

và t pháp không có quyền tham gia để bảo vệ sự độc lập của Quốc hội khi thôngqua luật không bị sức ép của hành pháp - cơ quan thực thi pháp luật "Nhng trênthực tế, đa số các đạo luật cũng nh các quyết định quan trọng của Quốc hội đợcthông qua là do hành pháp đề xuất Cụ thể là Tổng thống- ngời đứng đầu bộ máyhành pháp không có quyền trình dự án luật ra trớc Quốc hội Nhng để Quốc hộithông qua một đạo luật nào đó thì Tổng thống có quyền lu ý Quốc hội về vấn đềcần đợc điều chỉnh bằng luật ngay trong buổi đọc diễn văn khai mạc kỳ họpQuốc hội Ngoài ra, Tổng thống còn dùng nhiều biện pháp tác động đến quytrình lập pháp của Quốc hội nh gửi thông điệp cho Quốc hội hoặc thông qua cáccuộc trao đổi thờng xuyên với đảng viên - nghị sĩ thuộc đảng của Tổng thống màTổng thống có quyền yêu cầu họ phải trình dự án luật trớc Quốc hội [13;169]

Khác với chính thể cộng hoà tổng thống ở Mĩ, chủ thể có quyền sáng kiếnpháp luật theo chính thể đại nghị ở Anh rộng rãi hơn, đó không chỉ là đặc quyềncủa các nghị sĩ, mà còn mở rộng đến các thành viên hành pháp Vì hành phápvới sự mệnh là ngời thực hiện chính sách đợc Quốc hội xác định, và có kiến thứcsâu sắc về hành chính, có nhiều kỹ thuật hơn Quốc hội trong việc giải quyết cácvấn đề phức tạp và để chuẩn bị các dự án với một bảo đảm pháp lý Theo phápluật và tập quán Anh quốc, chủ thể đợc quyền sáng kiến lập pháp bao gồm: nghị

sĩ Quốc hội; Nguyên thủ quốc gia; thành viên Chính phủ Do đặc điểm này củachính thể đại nghị mà trên thực tế, phần lớn công việc của Quốc hội đều do hànhpháp chuẩn bị, đã biến hoạt động của Quốc hội thành "nghị gật"

Giai đoạn thảo luận và thông qua dự án luật, ở các Nhà nớc Anh, Mĩ,trong quá trình thảo luận và thông qua dự án luật đợc thực hiện một cách kỹcàng và cẩn trọng ở hai Nhà nớc này, mô hình Quốc hội về hình thức đợc cơ

Trang 21

cấu làm hai Viện hoạt động thờng xuyên Cho nên, một dự án luật khi đợc trìnhlên Quốc hội sẽ đợc hai Viện thông qua nên sẽ kỹ càng hơn Đồng thời, trong tổchức của Quốc hội, với sự tham gia hoạt động một cách tích cực của các uỷ ban,

mà hầu hết các dự án pháp trớc khi đợc trình lên Quốc hội đều phải thông quacác uỷ ban chuyên môn xem xét một cách kỹ lỡng

Giai đoạn công bố luật, công bố luật (hay dự án luật), theo quy định củaHiến pháp 1946, Hiến pháp Hoa Kỳ và Anh quốc, là thuộc về ngời đứng đầu nhànớc (Nguyên thủ quốc gia) (phần này đã đợc phân tích ở mục về “Nguyên thủquốc gia” ở trên)

Một đặc điểm khác biệt giữa Quốc Hội Việt Nam theo Hiến pháp 1946 sovới Quốc hội của các nhà nớc Anh, Mỹ là vấn đề lập pháp uỷ quyền Mặc dù,Quốc hội đợc Hiến pháp quy định là cơ quan quyền lực nhà nớc cao nhất, cơquan duy nhất có quyền lập pháp, nhng vì lý do Quốc hội hoạt động không th-ờng xuyên, cho nên Quốc hội uỷ quyền lập pháp cho cơ quan nhà nớc khác Nh-

ng khác với các nớc t bản, Quốc hội thờng uỷ quyền lập pháp cho Chính phủ, thì

ở các nớc xã hội chủ nghĩa Quốc hội thờng uỷ quyền lập pháp cho cơ quan ờng trực của mình Điểm a Điều 36 Hiến pháp 1946 khi đề cập đến quyền hạncủa Ban Thờng vụ, đã quy định:"Biểu quyết những dự án pháp luật của Chínhphủ Những dự án sắc luật đó trình Nghị viện vào phiên họp gần nhất để nghịviện ng chuẩn hoặc phế bỏ" [14;15]

th-Quyền tham gia thành lập các cơ quan nhà nớc

Quốc hội theo quy định của hiến pháp 1946 có quyền hạn rộng rãi thamgia vào việc thành lập Chính phủ Điều 45 Hiến pháp 1946 quy định: "Chủ tịchnớc Việt Nam dân chủ cộng hoà chọn trong Nghị viện nhân dân và phải đợc haiphần ba tổng số nghị viên bỏ phiếu thuận " Tiếp đó Điều 47 quy định: "Chủtịch nớc Việt Nam chọn Thủ tớng trong Nghị viện và đa ra Nghị viện biểu quyết.Nếu đơc Nghị viện tín nhiệm, Thủ tớng chọn các Bộ trởng trong Nghị viện và đa

ra Nghị viện biểu quyết toàn thể danh sách" [14;16-17] Nh vậy, Hiến pháp chỉquy định Nghị viện có quyền tham gia thành lập Chính phủ mà không quy địnhquyền tham gia thành lập các cơ quan t pháp Giống với quy định Hiến pháp

1946, Nghị viện Anh (Hạ nghị viện) chỉ có quyền tham gia thành lập Chính phủ.Theo quy định của pháp luật và tập tục của nớc Anh, Chính phủ do ngời đứng

đầu nhà nớc thiết lập Nhà vua đợc quyền tự mình chọn Thủ tớng trong Nghịviện, nhng do sự tham gia hoạt động của các đảng phái vào nghị trờng, cho nênchức danh Thủ tớng đợc nhà Vua chọn không ai khác hơn ngoài thủ lĩnh (ngời

có uy tín nhất) của đảng giành đợc đa số ghế trong cuộc bâu cử lập pháp Theo

đề nghị của Thủ tớng, Hoàng đế Anh bổ nhiệm các Bộ trởng, và Bộ trởng nhấtthiết phải là thành viên của Nghị viện Chính phủ do ngời đứng đầu nhà nớcthành lập nhng cần phải có sự tín nhiệm của Nghị viện Trong khi đó, Nghị việncủa Nhà nớc cộng hoà tổng thống ở Mỹ chỉ đợc tham gia một cách hạn chế vàoviệc thành lập các cơ quan nhà nớc Theo quy định của Hiến pháp, các thànhviên của Chính phủ, thẩm phán toà án tối cao liên bang do Thợng nghị viện phêchuẩn theo sự đề nghị của Tổng thống

Trong lĩnh vực ngân sách.

Đây là một quyền hạn quan trọng của Quốc hội Nhng theo quy định củapháp luật, Chính phủ là mới cơ quan đứng ra xây dựng kế hoạch ngân sách, cònQuốc hội chỉ là cơ quan thông qua ngân sách Điều quan trọng cần chú ý ở đây

là, trong các Nhà nớc Anh, Mỹ do áp dụng học thuyết tam quyền phân lập vàoviệc tổ chức nhà nớc, nên việc thông qua ngân sách của Quốc hội là một quyềnhạn rộng lớn của lập pháp để đối trọng với các quyền hạn của hành pháp ở Mỹ,nơi áp dụng học thuyết phân quyền một cách cứng rắn, các bất đồng xảy ratrong mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp chủ yếu xuất phát từ việc thôngqua ngân sách Việc phê chuẩn hay không phê chuẩn ngân sách do hành phápchuẩn bị thể hiện mối quan hệ thực tế giữa Quốc hội và Chính phủ Chính mối

Trang 22

liên hệ này ràng buộc Quốc hội và Tổng thống, buộc hai cơ quan này phải xíchlại gần nhau, hợp tác với nhau Trong chính thể đại nghị ở Nhà nớc Anh, việcthông qua ngân sách của Quốc hội trở nên dễ dàng hơn, không gay gắt nh ởQuốc hội Mỹ Bởi vì, trên thực tế, đảng chiếm đa số nghế trong Quốc hội đứng

ra thành lập Chính phủ nên sẽ không gặp mấy trở ngại khi Quốc hội thông quangân sách do Chính phủ đệ trình

đạo, hoạt động trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà nớc" [5;277] Hiến pháp

1946 còn quy định cho Nghị viện, Ban thờng vụ đợc quyền giám sát trực tiếpbằng cách chất vấn các Bộ trởng Các Bộ trởng phải trả lời bằng th hay lời nói vềnhững vấn đề đợc chất vấn Điều khác biệt về chức năng giám sát của Quốc hộitheo Hiến pháp 1946 so với Quốc hội của Nhà nớc Anh và Nhà nớc Mỹ là ở chỗ,

do Quốc hội không hoạt động thờng xuyên, nên Quốc hội đã lập ra cơ quan ờng trực của mình để giải quyết những vấn đề quan trọng khi Quốc hội khônghọp, và cơ quan này đợc giao quyền giám sát hoạt động của Chính phủ khi Quốchội không họp Từ sự phân tích trên ta thấy, Hiến pháp 1946 đã trao cho Quốchội quyền giám sát các cơ quan nhà nớc một cách rộng rãi với nhiều biện phápkhác nhau Nhng, quy định của Hiến pháp không đề cập đến việc Quốc hội giámsát các cơ quan t pháp Quyền giám sát các cơ quan t pháp thuộc về Chính phủ,bởi vì Chính phủ có quyền bổ nhiệm thẩm phán và quản lí toà án về mặt tổ chức.Quốc hội cũng không có quyền giám sát Nguyên thủ quốc gia - Chủ tịch nớc, vìChủ tịch nớc là ngời vô trách nhiệm, trừ tội phản bội tổ quốc Nhng Quốc hội lại

th-có những thẩm quyền để hạn chế một số quyền hạn của Nguyên thủ quốc gia

nh đã phân tích ở phần trên

Giống với Quốc hội Việt Nam theo Hiến pháp 1946, Quốc hội nớc Anh

có nhiều quyền hạn trong việc thực hiện chức năng giám sát với nhiều biện pháp

và nhiều hình thức đa dạng, bởi lẽ hành pháp phải chịu trách nhiệm trớc lậppháp Việc tham gia vào công việc của Quốc hội đợc Chính phủ sử dụng mộtcách triệt để, và đợc bảo hộ về mặt lập pháp Do vậy, đối với Quốc hội, chứcnăng giám sát đợc coi là quyền hạn đích thực của Quốc hội, qua đó thể hiện tínhtối cao chịu trách nhiệm của các cơ quan nhà nớc khác trớc Quốc hội Có thểnói, nếu trong lĩnh vực lập pháp, Chính phủ có nhiều biện pháp tác động lênQuốc hội, lấn át Quốc hội, thì bằng biện pháp giám sát Quốc hội tác động trở lại

đối với Chính phủ

Các biện pháp Quốc hội sử dụng để giám sát hoạt động của Chính phủbao gồm: nghe báo cáo của Chính phủ; điều trần thành viên Chính phủ; chất vấnChính phủ; thông qua hoạt động giám sát của các Uỷ ban Hậu quả của hoạt

động giám sát có thể dẫn đến việc Quốc hội thông qua nghị quyết khiển tráchChính phủ, bỏ phiếu tín nhiệm buộc Chính phủ phải từ chức

Về mặt lý thuyết, ở Anh quốc nổi bật lên nguyên tắc chịu trách nhiệmchính trị của Chính phủ trớc Quốc hội Chính phủ chỉ có thể tồn tại hoạt độngkhi có đợc sự tín nhiệm cần thiết của Quốc hội (Hạ nghị viện) và có đợc sựthống nhất giữa các Bộ trởng liên đới chịu trách nhiệm chung về chính sách củaChính phủ Nhng với sự tham gia vào chính quyền của một hệ thống lỡng đảnghoàn hảo, trên thực tế quyền giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ nhiều khichỉ là hình thức Mà thực chất, quyền giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ

Ngày đăng: 23/10/2013, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w