Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình .... 2 Tỉnh Hòa Bình đã rất quan tâm đến công tác giao đất, g
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Phương Nam
TS Nguyễn Nghĩa Biên
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2020
Tác giả luận án
Phạm Thanh Quế
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận án, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới thầy TS Phạm Phương Nam và thầy TS Nguyễn Nghĩa Biên đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Quản lý đất đai, Khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức và bà con nhân dân tại tỉnh Hòa Bình đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận án./
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Nghiên cứu sinh
Phạm Thanh Quế
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vii
Danh mục bảng viii
Danh mục biểu đồ x
Danh mục sơ đồ xi
Trích yếu luận án xii
Thesis abstract xiv
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 3
1.3 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Những đóng góp mới của đề tài 4
1.5 Ý nghĩa khoa học của đề tài 4
1.5.1 Ý nghĩa khoa học 4
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
Phần 2 Tổng quan tài liệu 5
2.1 Cơ sở lý luận về quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng 5
2.1.1 Quản lý, sử dụng đất rừng 5
2.1.2 Quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng 9
2.1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng 20
2.2 Cơ sở pháp lý về quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng 25
2.2.1 Căn cứ pháp lý về quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng 25
2.2.2 Căn cứ pháp lý về giao đất, giao rừng cộng đồng 27
2.2.3 Căn cứ pháp lý về giao khoán đất rừng cho cộng đồng 30
2.2.4 Căn cứ pháp lý về hưởng lợi từ đất rừng cộng đồng 30
2.2.5 Căn cứ pháp lý về đầu tư cho công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng 32
Trang 62.3 Quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng ở một số nước trên thế giới
và ở Việt Nam 32
2.3.1 Quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng ở một số nước trên thế giới 32
2.3.2 Quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam 38
2.4 Những nghiên cứu về quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên thế giới và ở Việt Nam 43
2.4.1 Một số công trình nghiên cứu về quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên thế giới 43
2.4.2 Một số công trình nghiên cứu về quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam 44
2.5 Định hướng nghiên cứu của đề tài 46
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 48
3.1 Địa điểm nghiên cứu 48
3.2 Thời gian nghiên cứu 48
3.3 Đối tượng nghiên cứu 48
3.4 Nội dung nghiên cứu 48
3.4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của tỉnh Hoà Bình 48
3.4.2 Thực trạng quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 48
3.4.3 Đánh giá kết quả hoạt động quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 49
3.4.4 Đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 49
3.4.5 Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 49
3.5 Phương pháp nghiên cứu 49
3.5.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 49
3.5.2 Phương pháp thu thập số liệu 50
3.5.3 Phương pháp đánh giá kết quả hoạt động quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng 53
3.5.4 Phương pháp thống kê so sánh 54
Trang 73.5.5 Phương pháp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý, sử
dụng đất rừng dựa vào cộng đồng 55
3.5.6 Phương pháp đánh giá mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng 58
3.5.7 Phương pháp SWOT 61
3.5.8 Khung nghiên cứu 61
Phần 4 Kết quả và thảo luận 63
4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của tỉnh Hòa Bình 63
4.1.1 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Hòa Bình 63
4.1.2 Điều kiện kinh tế và xã hội tỉnh Hòa Bình 68
4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của tỉnh Hoà Bình 71
4.2 Thực trạng quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 73
4.2.1 Thực trạng sử dụng đất và biến động đất đai tại tỉnh Hòa Bình 73
4.2.2 Thực trạng công tác quản lý đất rừng dựa vào cộng đồng của tỉnh Hòa Bình 79
4.3 Đánh giá kết quả hoạt động quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 94
4.3.1 Lĩnh vực kinh tế 94
4.3.2 Lĩnh vực xã hội 100
4.3.3 Lĩnh vực môi trường 104
4.4 Đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 106
4.4.1 Xác định những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hoà Bình 106
4.4.2 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 108
4.5 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng 128
4.5.1 Phân tích SWOT trong công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng 128
Trang 84.5.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào
cộng đồng 134
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 137
5.1 Kết luận 137
5.2 Kiến nghị 139
Danh mục các công trình công bố liên quan đến luận án 140
Tài liệu tham khảo 141
Phụ lục 153
Trang 10DANH MỤC BẢNG
TT Tên bảng Trang
3.1 Thông tin số cán bộ được điều tra, phỏng vấn 51
3.2 Thông tin hộ điều tra tại các điểm điều tra 52
3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng 57
3.4 Phân cấp mức độ đánh giá 59
3.5 Phân tích SWOT công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 61
4.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh Hòa Bình năm 2017 74
4.2 Biến động diện tích đất đai trên địa bàn tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2014 - 2017 77
4.3 Diện tích đất rừng giao cho các chủ thể trên địa bàn tỉnh Hòa Bình năm 2017 79
4.4 Thực trạng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho diện tích đất rừng giao cho các cộng đồng 81
4.5 Kết quả giao đất rừng của các điểm nghiên cứu 82
4.6 Đánh giá mức độ cần thiết của việc giao đất rừng cho cộng đồng 83
4.7 Thống kê công tác tuyên truyền về quy ước tại các điểm nghiên cứu 85
4.8 Đánh giá về vai trò của quy ước bảo vệ rừng cộng đồng 86
4.9 Kết quả khai thác lâm sản ngoài gỗ tại các điểm nghiên cứu 87
4.10 Hoạt động chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 90
4.11 Các hoạt động quản lý đất rừng cộng đồng 94
4.12 Một số đặc điểm kinh tế, xã hội của các điểm nghiên cứu 95
4.13 Tỷ lệ thu nhập từ đất rừng cộng đồng đối với kinh tế hộ tại các điểm nghiên cứu 96
4.14 Tỷ lệ thu nhập từ đất rừng cộng đồng so với thu nhập hộ 98
4.15 Kết quả so sánh tỷ lệ thu nhập từ đất rừng giữa các nhóm kinh tế hộ 98
4.16 Nhận thức của người dân về vai trò của thu nhập từ đất rừng cộng đồng 99
4.17 Kết quả kiểm tra mối quan hệ về vai trò của thu nhập từ đất rừng cộng đồng đối với kinh tế hộ 100
Trang 114.18 Vai trò của việc quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng 103
4.19 Đánh giá của cộng đồng về chất lượng rừng 104
4.20 Ý kiến của cộng đồng về mức độ xói mòn đất 105
4.21 Ý kiến của cộng đồng về chất lượng nguồn nước 106
4.22 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 107
4.23 Ý kiến đánh giá về các quy định của pháp luật trong công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng tại các điểm nghiên cứu 109
4.24 Ý kiến đánh giá về hiện trạng tự nhiên và cơ sở hạ tầng của diện tích đất rừng cộng đồng tại các điểm nghiên cứu 113
4.25 Ý kiến đánh giá về mức độ phù hợp của diện tích đất rừng cộng đồng tại các điểm nghiên cứu 114
4.26 Ý kiến đánh giá về thực trạng các yếu tố kinh tế của cộng đồng quản lý, sử dụng đất rừng tại điểm nghiên cứu 116
4.27 Ý kiến đánh giá về thực trạng các yếu tố xã hội của cộng đồng quản lý, sử dụng đất rừng tại điểm nghiên cứu 119
4.28 Kết quả kiểm định chất lượng thang đo Cronbach’ Alpha 121
4.29 Kết quả kiểm định KMO và Bartlett 121
4.30 Tổng phương sai trích giải thích 122
4.31 Bảng ma trận nhân tố xoay 122
4.32 Mô hình điều chỉnh qua kiểm định Cronbach Alpha và EFA 123
4.33 Kết quả hệ số hồi quy 124
4.34 Mức độ ảnh hưởng của các nhóm yếu tố đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng 124
4.35 Chỉ số đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng 126
4.36 Phân tích SWOT trong quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng tại tỉnh Hoà Bình 128
Trang 12DANH MỤC BIỂU ĐỒ
TT Tên biểu đồ Trang
4.1 Diện tích, cơ cấu sử dụng đất của tỉnh Hòa Bình năm 2017 73
4.2 Diện tích, cơ cấu đất nông nghiệp của tỉnh Hòa Bình 75
4.3 Cơ cấu diện tích đất rừng giao cho các chủ thể trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 80
4.4 Cơ cấu diện tích đất rừng giao cho các cộng đồng 81
4.5 Tỷ lệ thu nhập trung bình của các nhóm dân tộc 97
4.6 Công lao động sử dụng cho việc quản lý, sử dụng đất rừng cộng đồng 101
4.7 Thống kê số vụ vi phạm trong quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng 102
Trang 13DANH MỤC SƠ ĐỒ
TT Tên sơ đồ Trang
2.1 Thang đo 8 cấp độ tham gia của cộng đồng 11
2.2 Thang đo 5 cấp độ tham gia của cộng đồng 12
3.1 Sơ đồ phân tích nhân tố khám phá 58
3.2 Khung nghiên cứu 62
4.1 Vị trí địa lý của tỉnh Hòa Bình 63
Trang 14TRÍCH YẾU LUẬN ÁN
Tên tác giả: Phạm Thanh Quế
Tên luận án: Nghiên cứu, đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng
đồng trên địa bàn tỉnh Hoà Bình
Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp điều tra, thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp; tiến hành điều tra tại 5 điểm nghiên cứu, phỏng vấn trực tiếp 219 hộ để đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng Điều tra 41 cán bộ để tham khảo ý kiến đánh giá và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng làm căn cứ thiết kế bảng hỏi phục vụ cho công tác nghiên cứu
Đề tài sử dụng thang đo 5 mức độ của Likert để đánh giá các yếu tố tác động đến quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng và sử dụng mô hình phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng Các phương pháp khác được
sử dụng bao gồm: Phương pháp đánh giá kết quả công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng; phương pháp thống kê so sánh và phương pháp phân tích SWOT
Kết quả chính và kết luận
1) Hòa Bình là một tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam, có vị trí địa lý và giao thông thuận lợi Nguồn tài nguyên phong phú với diện tích tự nhiên lớn, trong đó diện tích đất rừng là 296.288 ha (chiếm 64,54% tổng diện tích tự nhiên của toàn tỉnh) Trên địa bàn tỉnh có nhiều dân tộc cùng sinh sống, trong đó chủ yếu là dân tộc Mường, Kinh, Dao, Tày Quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình là một phương thức sử dụng đất phổ biến, truyền thống gắn với các cộng đồng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh
2) Tỉnh Hòa Bình đã rất quan tâm đến công tác giao đất, giao rừng cho các cộng đồng dân cư quản lý, sử dụng với diện tích được giao là 48.576 ha (chiếm 16,39% diện tích đất rừng của toàn tỉnh), cộng đồng dân cư đứng thứ 2 sau đối tượng hộ gia đình, cá nhân Tuy nhiên, mới chỉ có 42,44% diện tích đất rừng của các cộng đồng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn lại đều chưa được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất Tất cả các cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình đều đã xây dựng được các quy ước quản lý, sử dụng đất rừng và hằng năm các cấp chính quyền đều thực hiện triển khai tuyên truyền đến từng người dân trong các thôn/bản Việc hưởng lợi các sản phẩm
từ đất rừng cộng đồng đều được thực hiện theo quy ước với các sản phẩm chủ yếu là lâm sản ngoài gỗ Tuy giá trị kinh tế không cao nhưng cũng góp một phần đáng kể đảm bảo sinh kế của người dân trong các cộng đồng
Trang 153) Việc quản lý, sử dụng đất rừng cộng đồng trên địa bàn tỉnh đã đem lại tác động nhất định Thứ nhất, đã tạo được nguồn thu nhập cho người dân trong cộng đồng, góp phần ổn định sinh kế Tuy nhiên, tỷ lệ thu nhập từ diện tích đất rừng trung bình của các hộ không cao, chỉ chiếm khoảng 9,26% đến 16,59%; đối với các hộ khá và giàu thì thu nhập từ rừng cộng đồng chỉ đóng góp khoảng 4,00% tổng thu nhập của hộ, nhưng đối với các hộ nghèo và cận nghèo thì đây là một nguồn thu đáng kể, chiếm khoảng từ 17,71% đến 21,80% tổng thu nhập của hộ Nguyên nhân chủ yếu là do các nguồn lợi trực tiếp từ rừng ngày càng suy giảm, cơ chế quản lý, sử dụng đất chưa phù hợp, các nguồn lợi khác từ rừng như các dịch vụ chi trả môi trường rừng, du lịch, dịch vụ cacbon… chưa được triển khai thực hiện hoặc đã được thực hiện nhưng còn hạn chế, mức chi trả còn rất thấp, thiếu cơ chế quản lý, sử dụng Thứ hai, việc quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng đã góp phần thay đổi cơ cấu sử dụng lao động tại địa phương Thứ ba, nhận thức của người dân trong công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng cũng thay đổi Những trường hợp vi phạm quy chế quản lý, sử dụng đất rừng cộng đồng đã giảm đáng kể Tuy nhiên, công tác giải quyết những tranh chấp, lấn chiếm đất rừng của cộng đồng vẫn còn rất phức tạp, số vụ lấn chiếm đất rừng của cộng đồng có giảm nhưng mới được khoảng 50%
4) Kết quả điều tra, khảo sát cho thấy có 4 nhóm yếu tố với 29 yếu tố ảnh hưởng đến công tác QLSDĐ, bao gồm: Nhóm yếu tố liên quan đến pháp luật; nhóm yếu tố điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng; nhóm yếu tố kinh tế và nhóm yếu tố xã hội Kết quả chạy
mô hình EFA cho thấy cả 4 nhóm yếu tố trên đều ảnh hưởng đến QLSD đất rừng dựa vào cộng đồng Trong đó, nhóm yếu tố những QĐPL có ảnh hưởng lớn nhất (33,44%), sau đó đến nhóm yếu tố tự nhiên, cơ sở hạ tầng (32,27%), tiếp đến là nhóm yếu tố xã hội (25,13%) và ảnh hưởng ít nhất là nhóm yếu tố điều kiện kinh tế (9,16%)
Kết quả đánh giá cho thấy trong công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình có những thuận lợi như điều kiện khí hậu, đất đai, truyền thống, kiến thức bản địa, phong tục tập quán của cộng đồng Tuy nhiên, cũng có những điểm hạn chế, khó khăn như một số chính sách pháp luật còn chưa phù hợp, cụ thể cho đối tượng là cộng đồng, các quyền của cộng đồng còn hạn chế; diện tích đất rừng giao cho cộng đồng chủ yếu là rừng nghèo; kinh phí nhà nước hỗ trợ thực hiện các hoạt động của cộng đồng còn rất hạn chế, cũng như những hạn chế tiếp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm từ rừng cộng đồng Bên cạnh đó cũng có nhiều cơ hội cho việc quản
lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng, đó là việc quan tâm của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội và cộng đồng, ý thức của người dân trong cộng đồng, mối liên kết giữa các cộng đồng và cơ hội thị trường Từ đó có thể phát huy những điểm mạnh, những cơ hội, hạn chế những tồn tại, thách thức để phát triển
5) Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau: i) Nâng cao thu nhập từ quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng; ii) Tăng cường các hoạt động làm cải thiện sinh kế, điều kiện kinh tế của cộng đồng tham gia quản lý, sử dụng đất rừng; iii) Hoàn thiện các chính sách liên quan đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng và vận dụng những kiến thức bản địa; iv) Nâng cao hơn nữa vai trò của chính quyền địa phương và các tổ chức khác trong cộng đồng
Trang 16THESIS ABSTRACT
PhD candidate: Pham Thanh Que
Thesis title: “Researching and Promoting Solutions for Community-based Forest Land
Management and Use in Hoa Binh Province”
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Materials and Methods
Methods of surveying and collecting secondary data: the survey was conducted
at 5 study sites with 219 interviewed households to assess the current status of community-based forest land management and use, and to analyse the factors affecting
it Forty one local officials/staff were communicated to identify and assess the inluencing factors which were used for revising research questionnaires
In order to evaluate the factors affecting community-based forest land management and use, Likert's 5-level scale was used The Exploratory Factor Analysis (EFA) model was also used to assess the extent to which these factors affect community-based forest land management and use The other methods used include results assessment of community-based forest land management and use, comparative statistics and SWOT analysis
Main findings and conclusions
1) Hoa Binh is located in the northern mountainous region of Vietnam with advantegous geographical location and transportation Natural resources is abundant including 296,288 ha of forest (accounting for 64.54% of the total geographical coverage of the province) A number of various ethnic groups including Muong, Kinh, Dao and Tay have long been living in the province Community-based forest land management and use in Hoa Binh province has appearred as a common and traditional land use method associated with ethnic minority communities in the province
2) Hoa Binh authority has paid attention to the allocation of land and forests to communities for management and use with an area of 48,576 ha allocated (accounting for 16.39% of the province's forest land); and local communities are holding the second position following individual households in terms of land/forest allocation However, only 42.44% of the community forest land was granted land use rights certificates Almost all communities in Hoa Binh province have formulated thier regulations on forest management and use which have been propagandised to every villager Benefits
Trang 17from community forest products – mostly non-timber forest products - are made according to village regulations Although their economic value was not high, they have contributed a significant part to secure the livelihood for communities’ members
3) The management and use of community forest land in Hoa Binh has resulted in
a number of positive impacts First, it creates a source of income for local people, contributing to stabilizing their livelihoods though the percentage of the households’ average income from forest land area was not high, only about 9.26% to 16.59% For households with fairly high and high income, the income share from community forest land only constitutes about 4.00% of their total household income, whereas for poor and near poor households, this was more significant, accounting for about 17.71% to 21.80% of total household income This is mainly due to the declining direct benefits from the forest, improper management and use of land, and absence of other benefits from the forest such as payment for forest environment services, tourism and so on Second, community-based forest land management and use has contributed to the changed structure of local employment Third, it has also contributed to changing people's awareness As a result, violation of regulations on community forest land management and use have declined significantly in terms of number of cases and degree despite that the issue of disputes and encroachment on community forest land remains very complicated
4) The study results showed that there were 4 categories comprised of 29 legal, natural and infrastructural, economic and social factors affecting land management and use The results of testing EFA model confirmed that all the above factor groups affected the community-based forest land management and use Of the four groups, the legal factors had the greatest impact (32.44%), followed by the natural and infrasturctural factors (32.27%), the social factors (25.13%), and economic factors with the lowest impact (9.16%)
The assessment results showed that the community-based forest land management and use in Hoa Binh province had many advantages including climate, land, traditions, indigenous knowledge and customs of community, the concern and care from political, administrative and social organizations, people's awareness, the community connection and network, and market opportunities However, community-based forest land management and use has also been suffered from shortcomings and difficulties such as irrelevent legal setting and policies for local community entity, for instance the rights of the community over land management remained limited; forest land allocated to local communities is covered with mostly poor forests; lack of capital support for community performance from the authority; limited access to market for local community forest products, etc
5) In order to improve the effectiveness of community-based forest land management and use, this research works on a number of recommendations, including: i) improving income from community-based forest land management and use; ii) strengthening activities to improve the economic status and livelihoods for local communities involved in forest land management and use; iii) revising policies on community-based management and use of forest land; and iv) applying indigenous knowledge and enhancing the role of local authorities as well as other organizations in the community
Trang 18PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Vùng đồi núi chiếm 2/3 diện tích lãnh thổ Việt Nam, là nơi sinh sống của hơn 24 triệu đồng bào thuộc 54 dân tộc, đặc biệt là cộng đồng các dân tộc ít người mà cuộc sống của họ luôn gắn bó mật thiết với đất đai, rừng núi Đây cũng
là địa bàn hoạt động chủ yếu của ngành lâm nghiệp Do vậy, việc xã hội hoá ngành lâm nghiệp không chỉ là một yêu cầu thực tế khách quan của Việt Nam mà còn phù hợp với xu thế phát triển trên thế giới Quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng đã hình thành và tồn tại ở nhiều nước trên thế giới, nhất là tại các nước đang phát triển (FAO, 2015; Gilmour, 2016) Ở nước ta, phương thức này đã xuất hiện, gắn liền với sự sinh tồn và văn hoá của các cộng đồng dân cư sống dựa vào rừng Tuy nhiên việc quản lý, sử dụng đất rừng của các cộng đồng chủ yếu dựa vào kiến thức, kinh nghiệm truyền thống, còn nhiều khó khăn trong công tác quản
lý, sử dụng dẫn đến hiệu quả chưa cao (Nguyễn Bá Ngãi, 2009)
Quá trình chuyển hướng từ lâm nghiệp quốc doanh thuần túy sang lâm nghiệp nhân dân/lâm nghiệp xã hội đã diễn ra tại nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam từ nhiều năm nay Qua đó, vai trò của các chủ thể quản lý, sử dụng đất, đặc biệt là cộng đồng dân cư địa phương, được phát huy rõ ràng (Nguyễn Hồng Quân & Phạm Xuân Phương, 2006; William & Huỳnh Thu Ba, 2005) Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng như nghiên cứu của Guiang & cs (2001); Pulhin &
Pulhin (2003); Calderon & Nawir (2006); Anup & cs (2015); Royer & cs (2016)
Ở Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này như Nguyễn Bá Ngãi &
cs (2009); Bảo Huy (2009); Dương Viết Tình & Trần Hữu Nghị (2012); Lê Quang Vĩnh & Ngô Thị Phương Anh (2012); Đỗ Anh Tuân (2012) Các nghiên cứu đều cho thấy việc giao đất, giao rừng cho cộng đồng là xu hướng tất yếu Ở Việt Nam
do đặc thù về địa hình, về dân tộc và các thành phần kinh tế nên hình thức quản lý,
sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng là rất phù hợp, đem lại một số lợi ích nhất định cho các cộng đồng dân tộc thiểu số sống dựa vào rừng Tuy nhiên, các nghiên cứu còn mang tính định tính, chưa định lượng được các yếu tố ảnh hưởng, do vậy gây khó khăn cho công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng
Trang 19Luật Đất đai năm 2003 và 2013, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 và Luật Lâm nghiệp năm 2017 đã tạo hành lang pháp lý cho việc quản lý, sử dụng đất rừng thông qua hình thức giao đất, giao rừng cho các cộng đồng Cộng đồng địa phương bắt đầu được xem như là một chủ thể thực sự, được xác lập quyền sử dụng đất, sử dụng rừng, các quyền lợi, nghĩa vụ và cơ chế hưởng lợi từ rừng Một số địa phương đã triển khai giao đất, giao rừng cho cộng đồng với tư cách là chủ quản
lý, sử dụng ổn định, lâu dài (Quốc hội, 2003; 2004; 2013; 2017) Thực tiễn một
số nơi cho thấy việc quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng địa phương là
mô hình có tính khả thi về kinh tế - xã hội, phù hợp với tập quán sản xuất truyền thống của nhiều dân tộc ở Việt Nam Tuy nhiên, cộng đồng mới chỉ được giao đất, giao rừng để quản lý, sử dụng, các quyền của cộng đồng đối với diện tích được giao vẫn còn bị hạn chế Cộng đồng không có quyền được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng, cho quyền sử dụng đất, sử dụng rừng trên đất; không được thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất và quyền sử dụng rừng mà chỉ bảo vệ
và phát triển tài nguyên rừng được giao (Quốc hội, 2003; 2004; 2013a)
Hoà Bình là một tỉnh nằm ở cửa ngõ của vùng Tây Bắc Địa hình đa dạng chủ yếu là vùng núi, diện tích đất rừng lớn (chiếm 64,54% tổng diện tích tự nhiên) Rừng ở Hoà Bình có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo nguồn nước, chống xói mòn, hạn chế bồi lắng lòng hồ và có vai trò lớn trong đời sống của người dân Trên địa bàn tỉnh Hoà Bình có nhiều dân tộc cùng sinh sống (Mường, Kinh, Thái, Tày, Dao, Mông…) nên ở nhiều nơi trong tỉnh việc quản lý, sử dụng đất rừng dựa chủ yếu vào các cộng đồng địa phương Trong những năm gần đây, tỉnh Hoà Bình đã thực hiện việc giao đất, giao rừng cho các chủ sử dụng đất, bao gồm các đối tượng: các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư tỉnh (UBND tỉnh Hòa Bình, 2018)
Tuy nhiên, thực tế triển khai cho thấy nhiều vấn đề tồn tại trong quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng tại Hòa Bình Các quy định của nhà nước trong công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào các cộng đồng địa phương chưa được
cụ thể, chủ yếu vận dụng những quy định chung nên nảy sinh mâu thuẫn trong quá trình quản lý, sử dụng đất rừng Các cộng đồng dân tộc thiểu số sống dựa vào rừng với tỷ lệ hộ nghèo vẫn cao (UBND tỉnh Hòa Bình, 2018) gây áp lực lớn đến tài nguyên rừng Đa phần diện tích đất rừng giao cho cộng đồng đều là rừng tự nhiên nghèo kiệt, xa cộng đồng, địa hình khó khăn, hiểm trở, hạ tầng yếu kém gây nên sự khó khăn lớn cho việc quản lý, sử dụng đất
Trang 20Những câu hỏi được đặt ra đối với công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng bao gồm: Việc quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng đã đạt được những kết quả nào? thực chất quyền và lợi ích của cộng đồng khi được giao quản lý, sử dụng đất rừng như thế nào? những yếu tố nào ảnh hưởng đến quá trình quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng? trong quá trình quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng có những thuận lợi và những cản trở nào? và giải pháp nào để việc quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng đem lại hiệu quả nhất, đóng góp vào lợi ích của cộng đồng Để trả lời cho các câu hỏi này thì việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu, đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng đất rừng dựa
vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hoà Bình” là cần thiết
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá thực trạng và kết quả công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình;
- Xác định một số yếu tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng tại tỉnh Hoà Bình;
- Đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
- Phạm vi về không gian: Đề tài thực hiện nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, trong đó tập trung nghiên cứu điểm tại 5 cộng đồng đại diện được giao đất rừng Đây là những cộng đồng người dân tộc thiểu số chính sống trên địa bàn tỉnh, bao gồm: 01 thôn/bản dân tộc Tày là bản Nhạc (xã Đồng Chum, huyện Đà Bắc);
03 thôn/bản dân tộc Mường là thôn Đúc (xã Nam Phong, huyện Cao Phong); thôn
Củ (xã Tú Sơn, huyện Kim Bôi); thôn Thung 2 (xã Quý Hoà, huyện Lạc Sơn) và
01 thôn/bản dân tộc Dao là xóm (thôn) Suối Bến (xã Tiến Sơn, huyện Lương Sơn)
Trang 211.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu đã xác định được 29 yếu tố thuộc 4 nhóm yếu tố có ảnh hưởng đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên định bàn tỉnh Hòa Bình theo mức độ như sau: Nhóm yếu tố những quy định của pháp luật có ảnh hưởng lớn nhất (33,44%); sau đó đến nhóm yếu tố tự nhiên, cơ sở hạ tầng (32,27%), tiếp đến là nhóm yếu tố xã hội (25,13%) và nhóm yếu tố điều kiện kinh
đó nhóm yếu tố quy định của pháp luật có ảnh hưởng lớn nhất
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Luận án đã chỉ ra những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân trong quản
lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng và đề xuất các giải pháp khắc phục để quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình được hoàn thiện hơn;
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho những nhà khoa học, nhà quản lý, người học và những người khác quan tâm đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình Đặc biệt, các giải pháp được đề xuất trong luận án có thể để các địa phương khác trên cả nước tham khảo, áp dụng nhằm giải quyết những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương
Trang 22PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT RỪNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
2.1.1 Quản lý, sử dụng đất rừng
2.1.1.1 Quản lý đất rừng
a Khái niệm về quản lý đất rừng
Milbourne & cs (2008) cho rằng đất rừng là toàn bộ đất được dành cho lâm nghiệp, có thể bao gồm cả đất không có rừng nhưng được quản lý như một phần của đơn vị quản lý rừng Ở Việt Nam, đất rừng là đất có rừng và đất không có rừng hoặc đất trống, đồi núi trọc được quy hoạch cho mục tiêu phát triển lâm nghiệp, bao gồm: đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ và đất rừng đặc dụng theo quy định của Luật Đất đai 2013 (Quốc hội, 2013a) Việc quản lý, sử dụng đất rừng hiệu quả sẽ giúp giảm thiểu biến đổi khí hậu, góp phần ổn định sinh kế của người dân sống phụ thuộc vào rừng (Smith & cs., 2014) Theo Smith & cs (2014) đất rừng có vai trò rất lớn trong việc cung cấp gỗ và lâm sản ngoài gỗ, ngoài ra còn cung cấp lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của các tầng lớp dân cư, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp nông nghiệp, xây dựng cơ bản, dược liệu quý phục vụ nhu cầu chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho con người Bên cạnh đó, theo các tác giả An (2012), Chiu (2012) và Acemoglu & cs (2015) đất rừng có vai trò đặc biệt trong phòng hộ đầu nguồn, giữ đất, giữ nước, điều hòa dòng chảy, chống xói mòn rửa trôi thoái hóa đất, chống bồi đắp sông ngòi, hồ đập, giảm thiểu lũ lụt, hạn chế hạn hán, giữ gìn được nguồn thủy năng lớn cho các nhà máy thủy điện Ngoài ra, còn bảo vệ đồng ruộng và khu dân cư ven biển đặc biệt là nơi dự trữ sinh quyển bảo tồn các nguồn gen quý hiếm
Đất rừng là nơi tạo ra nguồn thu nhập chính của đồng bào các dân tộc miền núi, là cơ sở quan trọng để phân bố dân cư, điều tiết lao động xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo cho xã hội, nhất là đồng bào dân tộc các vùng trung du, miền núi (Centre for International Forestry Research (CIFOR, 2014)) và Matiku & cs (2013) Ngoài ra, còn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ an ninh, quốc phòng của đất nước (Lê Trọng Cúc & Chu Hữu Quý, 2002) Quản lý đất rừng thuộc nội dung quản lý nhà nước về đất đai Nhà nước là chủ thể duy nhất quản lý xã hội toàn dân, toàn diện bằng pháp luật Hoạt động quản lý nhà nước về đất đai bao gồm việc thiết lập các cơ chế, các chính sách và các công cụ quản lý, các biện pháp quản lý và
Trang 23việc vận hành cơ chế đó nhằm quản lý và sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm và đạt hiệu quả kinh tế cao (Bộ Tư pháp, 2006) Quản lý nhà nước về đất rừng là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất rừng
b Nguyên tắc quản lý đất rừng
- Đảm bảo sự quản lý tập trung và thống nhất, Điều 53, Hiến pháp 2013 và Điều 4, Luật Đất đai 2013 quy định "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu" Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất thông qua các chính sách tài chính về đất đai Đất đai là tài nguyên của quốc gia, là tài sản chung của toàn dân Vì vậy, chỉ có Nhà nước là chủ thể duy nhất đại diện hợp pháp cho toàn dân mới có toàn quyền trong việc quyết định việc sử dụng đất, thể hiện sự tập trung quyền lực và thống nhất của Nhà nước trong quản lý nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng (Quốc hội 2013a; 2013b)
- Đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất đai, giữa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người trực tiếp sử dụng: Quyền sở hữu đất đai bao gồm quyền chiếm hữu đất đai, quyền sử dụng đất đai, quyền định đoạt đất đai Quyền sử dụng đất đai là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất đai của chủ sở hữu đất đai hoặc chủ sử dụng đất đai khi được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng Vì vậy, để sử dụng đất đai có hiệu quả Nhà nước phải giao đất cho các chủ thể trực tiếp sử dụng và phải quy định một hành lang pháp lý cho phù hợp để vừa đảm bảo lợi ích cho người trực tiếp sử dụng, vừa đảm bảo lợi ích của Nhà nước Điều 17, Luật Đất đai 2013 quy định "Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng ổn định; quy định quyền
và nghĩa vụ của người sử dụng đất"
- Tiết kiệm và hiệu quả: Tiết kiệm và hiệu quả là nguyên tắc của quản lý kinh
tế Thực chất quản lý đất đai cũng là một dạng của quản lý kinh tế nên cũng phải tuân theo nguyên tắc này Nguyên tắc này trong quản lý đất đai nói chung và quản
lý đất rừng nói riêng được thể hiện bằng việc xây dựng các phương án quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất, có tính khả thi cao và quản lý, giám sát việc thực hiện các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
2.1.1.2 Sử dụng đất rừng
a Khái niệm sử dụng đất rừng
Theo lý thuyết của ATofler lịch sử nhân loại đã trải qua ba làn sóng văn minh
Trang 24Làn sóng thứ nhất đặc trưng bởi cuộc cách mạng nông nghiệp hàng vạn năm trước như một đột biến căn bản trong lịch sử loài người; đồng thời việc chuyển từ “săn bắn, hái lượm” sang “trồng trọt, chăn nuôi” đã mở ra một thời đại văn minh mới Tuy nhiên, trong thời gian này việc sử dụng đất chủ yếu là sử dụng lớp đất bề mặt để canh tác Làn sóng thứ hai chỉ rõ hai cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và lần thứ hai (từ cuối thế kỷ XVII đến những năm 50 của thế kỷ XX) Cuộc cách mạng này đã gây ra nhiều đảo lộn lớn về kinh tế và xã hội loài người Sức ép từ việc tăng dân số và
sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã tạo điều kiện cho việc sử dụng đất lan ra cả vùng biển Làn sóng thứ ba khởi đầu từ những năm 50 của thế kỷ XX với cuộc cách mạng về khoa học công nghệ mới (cách mạng công nghiệp lần thứ 3) đã làm thay đổi
cơ bản đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của thế giới hiện đại Việc sử dụng đất đã phát triển cả không gian bên trên và bên dưới mặt đất, phạm vi sử dụng đất đã mở rộng cả 3 chiều (dẫn theo Nguyễn Đình Bồng & cs., 2012)
Sử dụng đất được đặc trưng bởi sự sắp xếp, hoạt động và đầu vào của người dân
để sản xuất, thay đổi hoặc duy trì một loại hình sử dụng đất nhất định (FAO/UNEP, 1999) Như vậy, sử dụng đất, trong đó có sử dụng đất rừng, là một hệ thống các biện pháp tác động vào đất nhằm điều hòa mối quan hệ giữa con người với đất đai trong tổng hòa các mối quan hệ với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường
và các nguồn lực khác của xã hội nhằm tạo được hiệu quả mong muốn (Tô Xuân Phúc & Trần Hữu Nghị, 2014)
b Mục tiêu sử dụng đất rừng
Đất đai, đặc biệt là đất rừng gắn với phát triển kinh tế lâm nghiệp Là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù bao gồm tất cả các hoạt động gắn liền với sản xuất hàng hoá và dịch vụ từ rừng như các hoạt động bảo vệ, gây trồng, khai thác, vận chuyển, sản xuất, chế biến lâm sản và các dịch vụ môi trường có liên quan đến rừng; đồng thời ngành lâm nghiệp có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, xoá đói, giảm nghèo, đặc biệt cho người dân miền núi, góp phần ổn định xã hội và an ninh quốc phòng (Tô Xuân Phúc & Trần Hữu Nghị, 2014) Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 đã xác định rõ các mục tiêu sử dụng đất gồm các mục tiêu chính như: Sử dụng bền vững diện tích đất rừng sử dụng vào các mục đích lâm nghiệp; nâng cao tỷ lệ đất có rừng
và đảm bảo có sự tham gia rộng rãi của các thành phần kinh tế và tổ chức xã hội vào phát triển lâm nghiệp nhằm đóng góp ngày càng tăng vào phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học và cung cấp các dịch vụ
Trang 25môi trường, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống cho người dân nông thôn miền núi và giữ vững an ninh quốc phòng (Thủ tướng Chính phủ, 2007; Tô Xuân Phúc & Trần Hữu Nghị, 2014)
2.1.1.3 Mối quan hệ giữa quản lý với sử dụng đất rừng
Quản lý, sử dụng đất đai nói chung và quản lý, sử dụng đất rừng nói riêng là một cụm từ chỉ hai mặt của một vấn đề quản lý khai thác nguồn lực đất đai trong hoạt động kinh tế - xã hội Nó luôn đi liền với nhau, gắn kết với nhau, không thể tách rời kể
cả trong lý luận cũng như hoạt động thực tiễn Nếu tách bạch chỉ nghiên cứu quản lý
mà không đề cập đến cách thức sử dụng, kết quả sử dụng thì khó đánh giá được hiệu quả quản lý và ngược lại, khi nghiên cứu vấn đề sử dụng lại thoát ly khỏi vấn đề quản
lý, các yếu tố quản lý thì không thể rút ra được nguyên nhân ảnh hưởng đến sử dụng đất thuộc về cơ chế, chính sách để đưa ra được những giải pháp sử dụng mang lại hiệu quả Nếu coi quản lý đất đai như là phạm trù của quan hệ sản xuất
và sử dụng đất đai như là phạm trù của lực lượng sản xuất, thì yếu tố sử dụng đất đai là yếu tố động luôn muốn vươn lên trong sự phát triển để tìm đến hiệu quả bằng cách mở rộng quy mô sản xuất, chuyển mục đích sử dụng, thế chấp vay vốn, góp vốn bằng giá trị đất, nhưng nó luôn bị cơ chế chính sách quản lý đất đai chi phối có nhiều khi chưa đáp ứng phù hợp, sẽ dẫn đến hai khuynh hướng: một là người sử dụng đất chờ cơ chế, chờ mãi sẽ mất thời cơ; khuynh hướng thứ hai là người sử dụng đất thấy
có lợi mà vẫn cứ làm, làm trái với quy định pháp luật và chính sách quản lý, hậu quả xảy ra khó khắc phục Như vậy, theo lý luận về quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất thì gọi đây là hiện tượng quan hệ sản xuất kìm hãm lực lượng sản xuất Ngược lại nếu chỉ nghiên cứu sử dụng, không quan tâm đến chính sách quản lý sẽ dẫn đến nguy
cơ sử dụng vi phạm quy hoạch, kế hoạch, pháp luật, mất trật tự, gây tác hại đến môi trường, phá vỡ dự định lớn của quốc gia, tạo ra hậu quả khó lường Việc quản lý, sử dụng đất đòi hỏi phải phù hợp, chặt chẽ, có sự gắn kết để phát triển được nền nông nghiệp bền vững (FAO, 2016)
Chế độ quản lý, sử dụng đất rừng được quy định cụ thể tại các Điều 135, 136,
137 Luật Đất đai 2013 Theo đó đối với đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên nhà Nước giao đất cho tổ chức quản lý rừng để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, đối với đất rừng sản xuất là rừng trồng Nhà nước giao đất, cho thuê đất đối với hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức Đối với đất rừng phòng hộ Nhà nước giao đất rừng phòng hộ cho
tổ chức, hộ gia đình, cá nhân quản lý rừng phòng hộ để quản lý, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng và trồng rừng Trong đó cộng đồng dân cư cũng thuộc đối tượng giao đất
Trang 26rừng phòng hộ để bảo vệ, phát triển rừng (Quốc hội, 2013a) Việc quản lý, sử dụng rừng được quy định cụ thể trong Luật Lâm nghiệp 2017 Theo đó việc quản lý rừng được tổ chức theo Điều 24, Luật Lâm nghiệp Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, tổ chức quản lý, bảo vệ rừng, bảo đảm các diện tích rừng có chủ Còn người sử dụng đất (chủ rừng) phải thực hiện việc quản lý rừng bền vững; có trách nhiệm quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng theo quy chế quản lý rừng (Quốc hội, 2017)
2.1.2 Quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng
2.1.2.1 Khái niệm cộng đồng
Khái niệm cộng đồng trong thời gian gần đây đã trở lên phổ biến, nhất là trong lĩnh vực quản lý tài nguyên cả trên thế giới và ở Việt Nam Theo Nisbet (1969) cộng đồng phải được xem là một nơi mà trong đó có nhiều người sinh sống (như làng quê, thành phố) hoặc như một nhóm dân cư với những đặc điểm tương đồng (như nhóm người già, người nông dân) hoặc là nhóm người chia sẻ những mối quan tâm chung (như tự do tôn giáo) Cộng đồng cũng được xem xét khi gắn liền với các mối quan hệ
về mặt xã hội đặc trưng bởi quan hệ cá nhân, chiều sâu cảm xúc, sự liên kết về mặt xã hội và kéo dài về mặt thời gian (Dalle & cs., 2006) Theo Checkoway (1995) cộng đồng được hiểu là một nhóm người trong xã hội cùng đưa ra sáng kiến và hành động chung Ngoài ra, cộng đồng còn có thể hiểu theo nghĩa là các nhóm dân cư có cùng sở thích, có chung lợi ích và mối quan tâm (Marcia, 2007; John & Marco, 2013)
Ở Việt Nam, Nguyễn Hồng Quân & Tô Đình Mai (2000) cũng như Tô Duy Hợp & Lương Hồng Quang (2000) đều cho rằng: Cộng đồng là một thực thể xã hội,
có cơ cấu tổ chức Bao gồm toàn thể những người sống trong một xã hội có những đặc điểm giống nhau và có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau cùng chia sẻ và chịu
sự giàng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên Tuy nhiên, trong quản lý tài nguyên và đặc biệt là quản lý tài nguyên rừng và đất rừng “Cộng đồng” đã được nêu cụ thể trong Cẩm nang ngành Lâm nghiệp (2006), đó là một tập hợp những người sống gắn bó với nhau thành một
xã hội nhỏ có những đặc điểm tương đồng về mặt văn hoá, kinh tế, xã hội truyền thống, phong tục tập quán, có các quan hệ trong sản xuất và đời sống gắn bó với nhau
và thường có ranh giới không gian trong một thôn (bản) Theo đó, cộng đồng chính là cộng đồng dân cư thôn (bản) Mặt khác, “Cộng đồng” có thể được hiểu là những nhóm xã hội cùng chia sẻ một môi trường, trong một phạm vi địa lý; nơi họ cùng nhau
nỗ lực, chung niềm tin, chung nguồn tài nguyên cùng có nhu cầu và chịu cùng rủi ro cũng như những điều kiện chung khác tác động đến cuộc sống của họ (Hoàng Thị Thanh Nhàn & Nguyễn Thị Hồng Nhung, 2015)
Trang 27Theo Phạm Phương Nam (2015) “Cộng đồng” có thể được hiểu là tập hợp những người cùng sinh sống tại một địa điểm, trong một tổng thể hay là một nhóm người sinh sống cùng một nơi theo những luật lệ chung Cộng đồng cũng được hiểu
là toàn thể những người cùng sống, có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội Hay một quan điểm khác của tác giả Hoàng Thị Thanh Nhàn & Nguyễn Thị Hồng Nhung (2015) “Cộng đồng” có thể được hiểu là những nhóm xã hội cùng chia sẻ một môi trường, trong một phạm vi địa lý; nơi họ cùng nhau nỗ lực, chung niềm tin, chung nguồn tài nguyên cùng có nhu cầu và chịu cùng rủi ro cũng như những điều kiện chung khác tác động đến cuộc sống của họ
Khoản 24, Điều 2, Luật Lâm nghiệp 2017 quy định cụ thể (Quốc hội, 2017) cộng đồng dân cư bao gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc, tổ dân phố, điểm dân cư tương tự
và có cùng phong tục, tập quán Tại Điều 5, Luật Đất đai 2013 (Quốc hội, 2013a) khái niệm “cộng đồng sử dụng đất” đã được quy định gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng một địa bàn thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục tập quán hoặc có chung dòng họ được nhà Nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất Đây cũng là quan điểm mà tác giả
sử dụng thống nhất trong nghiên cứu của mình
2.1.2.2 Quản lý dựa vào cộng đồng
a Khái niệm quản lý dựa vào cộng đồng
Theo Taylor (1998) và Kellert & cs (2000) quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng là những cam kết của người dân về bảo tồn và quản lý các nguồn tài nguyên, phân cấp quyền lực cho người dân địa phương, đạt được các mục tiêu về lợi ích xã hội, kinh tế và môi trường, quyền tài sản được xác định rõ ràng, đưa những giá trị truyền thống và kiến thức sinh thái vào trong quản lý tài nguyên Bên cạnh đó Madeleen (1998) và Borrini & Tarnowski (2005) cho rằng: quản lý tài nguyên có sự tham gia trong đó có quản lý dựa vào cộng đồng Ở đó cộng đồng trực tiếp tham gia, cộng tác và hợp tác với các đối tác khác để cùng nhau bàn bạc, đi đến thống nhất và hành động chung Cũng quan điểm đó, Nguyễn Diệu Hằng & Lê Thanh Hà (2015) cho rằng quản lý dựa vào cộng đồng là một tập hợp mô hình quản lý có sự tham gia của cộng đồng, trong đó cộng đồng là người đưa ra quyết định cuối cùng về tất cả các vấn đề liên quan đến quá trình lập kế hoạch và triển khai thực hiện
Một cách khác, tác giả Phạm Phương Nam (2015) lại cho rằng quản lý dựa vào cộng đồng là hình thức quản lý mà cộng đồng trực tiếp quản lý và hưởng lợi từ việc quản lý Hay nói cách khác quản lý dựa vào cộng đồng là hình thức quản lý có sự tham gia trực tiếp của cộng đồng và hưởng lợi từ việc tham gia quản lý đó Như vậy, quản lý
Trang 28dựa vào cộng đồng có thể được hiểu là “hình thức quản lý được tiếp cận từ dưới lên, có
sự tham gia của cộng đồng, trong đó cộng đồng là người trực tiếp tham gia và hưởng lợi
từ việc quản lý nhằm đạt các mục tiêu về lợi ích kinh tế, xã hội, môi trường dựa vào những giá trị truyền thống và kiến thức bản địa trong quản lý tài nguyên”
b Các cấp độ tham gia của cộng đồng
Quản lý dựa vào cộng đồng là một tập hợp mô hình quản lý có sự tham gia của cộng đồng Trong đó, cộng đồng là người đưa ra quyết định cuối cùng về tất cả các vấn đề liên quan đến quá trình lập kế hoạch và triển khai thực hiện Thang đo cấp độ tham gia của Arnstein (1969) bao gồm 8 cấp độ, được xem là một trong những công trình đầu tiên đưa ra các mức thang khác nhau về sự tham gia của cộng đồng, tương ứng với mức độ quyền lực mà người dân có được trong quá trình
ra các quyết định Tác giả cho rằng, nếu sự tham gia mà không có yếu tố quyền lực
ở trong đó thì sự tham gia đó trở nên vô nghĩa, mang tính hình thức Chi tiết thang
đo của Arnstein được thể hiện qua sơ đồ 2.1
Sơ đồ 2.1 Thang đo 8 cấp độ tham gia của cộng đồng
Nguồn: Arnstein (1969)
Cấp 8: Nhà nước hỗ trợ; người dân chủ trì, kiểm soát hoạt động quản lý
Cấp 7: Trao quyền cho các nhóm dân cư
Cấp 6: Phối hợp giữa các nhóm dân cư và Nhà nước
Cấp 5: Nhà nước đáp ứng các yếu cầu do người dân đề xuất
Cấp 4: Nhà nước tham vấn các nhóm dân cư
Cấp 3: Nhà nước vận động người dân làm theo
Cấp 2: Nhà nước ra quyết định và thông báo cho người dân
Cấp 1: Nhà nước ra quyết định, người dân tuân thủ
Trang 29Ở các nấc thang đầu tiên sự tham gia của cộng đồng gần như không có mà chỉ
là quá trình hợp tác có kiểm soát từ bên ngoài Các nấc thang cuối cùng thể hiện sự tham gia thực sự của người dân, thể hiện quyền lực của người dân Tuy nhiên, theo quan niệm hiện đại, các thang đo được rút ngắn hơn so với thang đo 8 cấp Theo Dower (2004), mức độ tham gia của người dân trong các hoạt động quản lý được phát triển theo từng cấp độ (gồm 5 cấp độ) và phụ thuộc vào quan hệ giữa Nhà nước
và người dân Theo đó, cấp độ tham gia của cộng đồng thể hiện vai trò kiểm soát của Nhà nước giảm dần và mức độ hợp tác cũng như quyền làm chủ của cộng đồng tăng lên
Sơ đồ 2.2 Thang đo 5 cấp độ tham gia của cộng đồng
- Cấp độ cùng thực hiện: Cộng đồng có cơ hội và được phép tham gia thảo luận, góp ý kiến để đưa ra quyết định và được tham gia quản lý;
Trang 30- Cấp độ đối tác: Nhà nước và cộng đồng cùng quản lý;
- Cấp độ chủ trì: Cộng đồng được Nhà nước trao quyền quản lý, Nhà nước chỉ thực hiện việc kiểm soát
c Các hình thức tham gia của cộng đồng
Cộng đồng tham gia vào quản lý tài nguyên ở rất nhiều mức độ khác nhau, tùy thuộc vào mục đích của sự tham gia Theo nhóm tác giả Nguyễn Diệu Hằng & Lê Hà Thành (2015) sự tham gia của cộng đồng trong quản lý có vai trò rất quan trọng được thể hiện qua nhiều hình thức Quan điểm trên cũng được khẳng định bởi tác giả Trần Thanh Nga (2015) Mức độ tham gia của cộng đồng được thể hiện như sau:
- Tham gia cung cấp thông tin: Cộng đồng có thể tham gia cung cấp thông tin cho các nhà quản lý về thực tế và các vấn đề kinh tế - xã hội - môi trường ở địa phương
- Tham gia lãnh đạo: Những người lãnh đạo của cộng đồng có thể thu hút sự tham gia của cộng đồng bằng cách nói lên những mong muốn của người dân, tổ chức các hoạt động, huy động mọi người tham gia vào các công việc cụ thể
- Tham gia cung cấp các nguồn lực: Cộng đồng có thể tham gia vào các hoạt động như cung cấp nhân lực, vật chất, các nguồn tài chính và công tác tổ chức cho các dự án phát triển tại địa phương, thậm chí cộng đồng có thể thực hiện một số nhiệm vụ để giảm bớt chi phí
- Tham gia quản lý: Cộng đồng có thể tham gia quản lý bằng cách chịu trách nhiệm hoàn toàn về quá trình thực hiện các hoạt động quản lý tài nguyên tại địa phương
- Tham gia kiểm tra và đánh giá: Trong suốt quá trình triển khai các hoạt động cộng đồng có thể xem xét và đánh giá nhờ đó có thể phát hiện những vấn đề nảy sinh và có giải pháp khắc phục kịp thời
Bên cạnh đó Dương Viết Tình & Trần Hữu Nghị (2012) cho rằng các hình thức tham gia của cộng đồng được thể hiện qua đóng góp lao động; chia sẻ chi phí; chia sẻ trách nhiệm; chia sẻ quyền quyết định trong các chương trình hoạt động tại cộng đồng Tất cả các hình thức tham gia này có thể thấy rằng đó là một quá trình chia sẻ vai trò trách nhiệm của các bên liên quan trong quản lý nguồn tài nguyên
mà họ đang sử dụng Tuy nhiên các cộng đồng sống gần rừng đa số là nghèo, vì vậy sự tham gia là một quá trình vừa học hỏi để nâng cao nhận thức vừa nhận biết
Trang 31được tầm quan trọng của họ trong sự tham gia nhằm tránh sự tham gia hình thức hoặc bị động hoàn toàn
Cộng đồng đóng vai trò chủ thể trong mọi hoạt động tại địa phương Các thành viên trong cộng đồng là người chủ động, tích cực và quyết định các hoạt động của cộng đồng bởi họ biết rõ nhất về cộng đồng của họ, biết những khó khăn, thách thức
và mong muốn của mình, họ là người hiểu được tiềm năng và lợi thế cũng như biết cách huy động và gắn kết các thành viên trong cộng đồng và họ tự chịu trách nhiệm
về kết quả các hoạt động của họ (Lê Văn An & Ngô Tùng Đức, 2016)
d Sự phân quyền trong quản lý đất rừng dựa vào cộng đồng
Trong nhiều năm qua mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc quản lý, bảo vệ rừng nhưng diện tích rừng nhiệt đới trên thế giới vẫn suy giảm mạnh Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc suy giảm diện tích đất rừng tuy nhiên có nhiều ý kiến cho rằng một trong những nguyên nhân của hiện trượng này là do rừng bị quản lý tập trung Tại một số nước, rừng thuộc quản lý của Nhà nước trong một thời gian dài, tuy nhiên hệ thống này hoạt động không hiệu quả do có quá ít người trông coi trong khi diện tích rừng lại quá lớn Kinh nghiệm thực tiễn ở nhiều nước cho thấy tình trạng trên sẽ được cải thiện nếu như có sự phân quyền trong quản lý (Phuc, 2002) Theo FAO (2002) sự phân quyền là sự chuyển giao một phần quyền lực của chính quyền trung ương đến các chính quyền sơ sở Ở một số nước trên thế giới như Trung Quốc từ những năm 1970 đã tiến hành một số chương trình để chuyển giao quyền quản lý, sử dụng đất rừng từ cấp Trung ương xuống địa phương Nhưng thời gian đầu, chính quyền trung ương chỉ chuyển giao những diện tích đất rừng cằn cỗi cho các hộ gia đình nhằm giải quyết vấn đề thiếu hụt củi đun và nhu cầu canh tác, đồng thời khuyến khích người dân trồng và bảo vệ rừng trên các vùng đất trống, đồi trọc Việc phân quyền này đã đem lại hiệu quả lớn, giúp người dân nâng cao nhận thức trong việc khai thác, bảo vệ rừng, đồng thời khuyến khích
họ tham gia các dự án trồng rừng (dẫn theo Trần Đức Viên & cs., 2005)
Nepal cũng là một trong những nước có chính sách chuyển giao quyền quản
lý, sử dụng đât rừng cho chính quyền địa phương Các cấp chính quyền địa phương được phân quyền là quận, huyện, thị trấn hay ủy ban phát triển làng, bản và tổ chức quản lý, sử dụng bằng cách thành lập các ủy ban người sử dụng từ chính những người đang sử dụng rừng (dẫn theo Trần Đức Viên & cs., 2005) Ngoài ra, một số nước khác cũng đã thực hiện chính sách phân quyền trong quản lý, sử dụng đất rừng
Trang 32như Indonexia, Thái Lan đều đề cao sự tham gia của người dân và các tổ chức trong quản lý, sử dụng đất rừng (dẫn theo Trần Đức Viên & cs., 2005)
Ở Việt Nam, việc phân chia đất rừng cho các hộ gia đình và các tổ chức khác như cộng đồng quản lý, sử dụng được coi là một quyết định mang tính đột phá Việc phân cấp quản lý, sử dụng đất rừng được quy định cụ thể trong Luật Bảo vệ
và Phát triển rừng năm 1991 và Luật Đất đai 1993 (Quốc hội, 1993) Bên cạnh đó Chính phủ cũng đã ban hành thêm nhiều văn bản quy định về vấn đề này Nghị định 02/1994/NĐCP ngày 15 tháng 1 năm 1994 được ban hành quy định về việc giao đất, giao rừng cho các đối tượng sử dụng đất; Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 1999 thay thế cho Nghị định 02/1994/NĐ-CP Bên cạnh đó, Nghị định 01/1995/NĐ-CP ngày 4 tháng 1 năm 1995 quy định về việc giao khoán đất rừng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Tuy nhiên, vai trò của cộng đồng trong các quy định đều chưa được thể hiện rõ, các địa phương vẫn thực hiện phân quyền cho các cộng đồng, tuy nhiên chỉ thực hiện dựa trên những quy định trên mà chưa có một quy định cụ thể nào về phân quyền cho các cộng đồng dân cư (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2012)
Mặc dù các cuộc cải cách đã diễn ra nhưng trên thế giới cũng như ở Việt Nam nhưng Nhà nước vẫn nắm giữ quyển quản lý theo nhiều hình thức Chính vì thế, việc cải cách đã đi đến việc đồng quản lý trong đó Nhà nước vẫn duy trì quyền kiểm soát, bao gồm từ việc phê duyệt các kế hoạch quản lý, cấp phép khai thác, đến việc xây dựng các hướng dẫn quản lý hay những quy định, yêu cầu và hạn chế trong quá trình sử dụng đất rừng Đồng quản lý bao gồm từ giám sát việc điều hành và các biện pháp kiểm soát đến khuyến khích sự hợp tác giữa Nhà nước với cộng đồng (Anne & cs., 2012)
2.1.2.3 Khái niệm quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng
Theo Rozemeijer & Van (2000), quản lý, sử dụng tài nguyên mà trong đó có tài nguyên đất rừng dựa vào cộng đồng là một phương thức để giải quyết các vấn đề của việc sử dụng chung tài nguyên của cộng đồng Hình thức này khuyến khích việc
sử dụng và phân bổ các nguồn lực của địa phương một cách có hiệu quả và bền vững trên cơ sở vừa giúp bảo tồn nguồn tài nguyên vừa có thể hỗ trợ phát triển đời sống, sinh kế của cộng đồng, đặc biệt là đối với đồng bào các dân tộc sống dựa vào nguồn tài nguyên Hình thức quản lý, sử dụng dựa vào cộng đồng đối với đất rừng là
Trang 33hình thức mà quyền sử dụng đất, các quyền đối với đất và rừng là những yếu tố quan trọng được quản lý, sử dụng dựa vào cộng đồng (Colchester, 1995; Gilmour, 2016)
Ở Việt Nam, quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng được hình thành
từ rất lâu đời, gắn với việc người dân cư trú và canh tác nương rẫy luân canh, săn bắn và hái lượm từ đầu thiên niên kỷ thứ nhất sau công nguyên Mặc dù các cộng đồng đã hình thành các khái niệm về quyền sử dụng đất đai, nhưng luật pháp Nhà nước không xác nhận quyền này (Poffenberger, 1990) Hầu hết đất rừng và các tư liệu sản xuất khác đều đặt dưới quyền quản lý của hợp tác xã Sau đổi mới năm
1986, mặc dù đã phá vỡ rào cản của hợp tác xã nhưng vẫn còn tồn tại sức nặng của Nhà nước trong việc quản lý tài nguyên Việc sử dụng đất để sinh sống theo truyền thống (An, 2006), như luân canh nương rẫy, những vùng rừng thuốc nam đều bị coi là “đất hoang” và do đó nằm dưới sự quản lý của Nhà nước Điều đó dẫn đến các hộ gia đình nghèo trong cộng đồng bị mất quyền tiếp cận và sử dụng đất rừng (Rambo & Jamieson, 2003) Cùng với việc hoạt động kém hiệu quả của các lâm trường quốc doanh đã gây ảnh hưởng xấu lên hàng triệu hecta đất rừng do họ quản
lý, mà đáng ra diện tích này cần được giao cho các chủ thể khác Trong khi các chủ thể xứng đáng được giao lại đất rừng chính là các cộng đồng dân tộc thiểu số (Sunderlin & cs., 2006)
Luật Đất đai 2013 ra đời đã tạo hành lang pháp lý cho việc quản lý, sử dụng đất dựa vào cộng đồng Cộng đồng được ghi nhận là một chủ thể sử dụng đất Tuy nhiên, quyền của cộng đồng vẫn chịu nhiều lực cản bất lợi và cho đến nay vẫn ít được thực hiện do các thủ tục giao đất phức tạp cùng với nhận thức kém về các giá trị văn hóa, xã hội của cộng đồng nói chung, đất và rừng cộng đồng nói riêng (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2016b)
Trong nghiên cứu này, quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng được hiểu là việc các cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng một địa bàn thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục tập quán hoặc có chung dòng họ được Nhà nước giao đất hoặc cộng nhận quyền sử dụng đất rừng để quản lý, sử dụng vào mục đích chung của cộng đồng dân cư (Quốc hội, 2013a)
2.1.2.4 Các loại hình quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng
Theo Nguyễn Bá Ngãi (2009) và Đỗ Anh Tuân & cs (2012) có ba loại hình quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng chủ yếu, bao gồm: Đất rừng
Trang 34do cộng đồng tự công nhận theo truyền thống từ lâu đời (các cộng đồng quản lý theo luật tục); đất rừng được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng quản
lý, sử dụng ổn định lâu dài (các cộng đồng quản lý theo quy định của pháp luật)
và đất rừng của các tổ chức nhà nước khoán cho các cộng đồng bảo vệ, khoanh nuôi và trồng mới (cộng đồng quản lý theo hợp đồng khoán)
a Đất rừng do cộng đồng tự công nhận theo truyền thống từ lâu đời
Đây là loại hình quản lý, sử dụng theo truyền thống của các đồng bào dân tộc thiểu số (quản lý theo luật tục) Đối với diện tích này, về mặt pháp lý, các quyền sử dụng đất chưa được xác lập, nhưng trên thực tế nó đang được điều tiết một cách không chính thức bởi các luật tục truyền thống Trong phạm vi thôn, bản, các nguồn tài nguyên thuộc quyền sử dụng công cộng và được điều hành bởi một bộ máy tự quản do già làng hoặc trưởng thôn/bản đứng đầu Các thành viên của làng được quyền tự do lựa chọn một mảnh đất rừng để canh tác nương rẫy Toàn bộ các hoạt động quản lý tài nguyên của cộng đồng được thực hiện thông qua các luật tục hay quy ước/hương ước Hiệu lực của các luật tục được thực hiện thông qua sự hợp lực gắn bó với nhau giữa xã hội và tâm linh (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2006) Đối với những diện tích này có thể Nhà nước chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đã công nhận quyền sử dụng đất của cộng đồng, song trên thực tế, mặc nhiên cộng đồng đang tự tổ chức quản lý, sử dụng và hưởng lợi
b Đất rừng được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng quản lý, sử dụng
ổn định lâu dài
Trước năm 2004, mặc dù pháp luật chưa quy định cộng đồng là đối tượng giao quyền sử dụng đất, nhưng đã có 18 tỉnh làm thí điểm giao đất, giao rừng cho cộng đồng trên cơ sở vận dụng các quy định tại Nghị định số 02/1995/NĐ-CP, sau
đó được thay thế bằng Nghị định số 163/1999/NĐ-CP Đối với diện tích đất rừng giao cho cộng đồng: các thành viên của cộng đồng cùng đầu tư, quản lý và hưởng lợi, hoàn toàn dựa trên nguyên tắc tự nguyện và cùng có lợi giữa các thành viên của cộng đồng Cộng đồng thành lập tổ, nhóm để tổ chức mọi hoạt động từ bảo vệ, cung cấp đầu vào, tổ chức sản xuất, bao tiêu sản phẩm và phân phối lợi ích cho các thành viên trong cộng đồng
Sau khi Luật Đất đai 2003 và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 có hiệu lực thi hành, cộng đồng dân cư chính thức được công nhận là một chủ thể sử dụng
Trang 35đất, có rất nhiều địa phương đã thực hiện giao đất, giao rừng cho các cộng đồng Các chương trình thí điểm giao đất, giao rừng cho cộng đồng đã được thực hiện tại Tây Nguyên và một số tỉnh ở miền núi phía Bắc Nhìn chung, hình thức quản lý này đã đem lại hiệu quả và được rất nhiều địa phương thực hiện Tuy nhiên, vẫn còn những khó khăn vướng mắc do nhiều cộng đồng đã có quyết định giao đất, giao rừng nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do vậy ngoài nguồn đầu
tư và hỗ trợ từ các chương trình, dự án thì các quyền cơ bản của chủ rừng theo quy định của pháp luật, cộng đồng vẫn không được hưởng như việc vay vốn từ các tổ chức tín dụng, đầu tư hỗ trợ của Nhà nước cũng như xử lý các hành vi xâm hại đến rừng cộng đồng là hết sức khó khăn Theo Vũ Văn Mễ (2009) trong năm 2007, với
sự hỗ trợ của FAO, Cục Lâm nghiệp đã tiến hành điều tra 37 tỉnh có rừng trên phạm
vi toàn quốc; kết quả: đến 31/12/2007 cộng đồng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao 1.643.251,1 ha đất rừng (có quyết định hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất)
c Đất rừng của các tổ chức nhà nước khoán cho các cộng đồng bảo vệ, khoanh nuôi và trồng mới
Đây là hình thức cộng đồng nhận khoán theo quy định tại Nghị định 01/1995/NĐ-CP, các tổ chức giao khoán cho cộng đồng chủ yếu là lâm trường quốc doanh; ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; ban quản lý các dự án
327, ban quản lý dự án 661 và các dự án khác Sau khi ký hợp đồng khoán, các cộng đồng tự tổ chức lực lượng thực hiện các công việc đã ký kết trong hợp đồng Quyền hưởng lợi của cộng đồng tuỳ thuộc vào tình trạng rừng lúc nhận khoán, thời gian và công sức đã đầu tư vào đất rừng, thông qua hình thức nhận tiền và được hưởng một phần sản phẩm khi được phép khai thác chính, ngoài ra còn được thu hái lâm sản ngoài gỗ, sản phẩm nông lâm kết hợp trên đất rừng nhận khoán Tính đến 31/12/2007 cộng đồng đã nhận khoán từ các lâm trường, các Ban quản lý rừng phòng hộ, Ban quản lý rừng đặc dụng là 902.662,7 ha Trong đó đất rừng phòng hộ
và đất rừng đặc dụng là: 657.646,7 ha; đất rừng sản xuất là 245.016 ha (Vũ Văn
Mễ, 2009)
2.1.2.5 Các hình thức tổ chức quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng
Việc tổ chức quản lý, sử dụng đất rừng của cộng đồng ở mỗi vùng miền khác nhau là không giống nhau, tùy thuộc vào phong tục tập quán, bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc Tuy nhiên, có 3 hình thức tổ chức phổ biến là: Tổ chức theo dòng tộc
Trang 36(dòng họ), theo dân tộc; tổ chức theo thôn, làng, buôn, bản, ấp (gọi chung là thôn)
và theo nhóm hộ/nhóm sở thích
a Tổ chức theo dòng tộc (dòng họ), theo dân tộc
Cộng đồng tổ chức quản lý, sử dụng đất rừng theo dòng họ, theo dân tộc nơi có diện tích đất rừng nhỏ, do họ tự thừa nhận hay đã mặc nhiên công nhận từ các thế hệ trước Những diện tích này, thường nằm gần nơi cư trú của các cộng đồng với các tên gọi như: rừng thiêng (tôn thờ thần thánh theo tín ngưỡng), rừng ma (khu rừng chôn cất người chết – nghĩa địa), rừng mó nước (khu vực bảo vệ nguồn nước cung cấp trực tiếp cho cộng đồng), rừng gỗ gia dụng (nơi cung cấp lâm sản và lâm sản ngoài gỗ cho cộng đồng)
Việc quản lý, sử dụng đất rừng và rừng gắn bó chặt chẽ với những tập quán truyền thống và hệ thống tư tưởng của cộng đồng, vai trò của người trưởng tộc hoặc già làng rất quan trọng Hầu hết các công việc quản lý, sử dụng đất của họ đều có sự phân công rõ ràng, các thành viên thực hiện tự giác và nghiêm túc (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2006) Nghiên cứu của Nguyễn Bá Ngãi (2006) cho thấy cộng đồng thôn Cài, xã Vũ Lâm, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình là cộng đồng đồng bào Mường lại có hình thức quản lý theo nhóm hộ gia đình quản
lý 31 ha diện tích đất rừng tự nhiên với mục đích phủ xanh đất trống, lấy gỗ, tre nứa bán ra thị trường
b Tổ chức theo thôn, làng, buôn, bản, ấp (gọi chung là thôn)
Đây là hình thức tổ chức quản lý, sử dụng chủ yếu hiện nay Hình thức tổ chức này dựa trên cơ sở vị trí địa lý và khu vực người dân sinh sống Phần lớn các thôn đều xây dựng quy ước/hương ước quản lý và bảo vệ đất rừng và rừng cộng đồng, tổ chức lực lượng tuần tra chuyên trách hoặc phân công luân phiên các hộ gia đình trong thôn Trưởng thôn điều hành các công việc chung liên quan đến quản lý và bảo vệ Đất rừng chủ yếu của làng xã được quản lý từ lâu đời, rừng trồng của các hợp tác xã, rừng tự nhiên đã được giao cho các hợp tác xã trước đây sau khi chuyển đổi hợp tác xã đã giao lại cho thôn quản lý
Theo Nguyễn Bá Ngãi (2006), ở miền núi phía Bắc hình thức này khá phổ biến như cộng đồng bản Huổi Cáy, xã Mùn Chung, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên, đây là cộng đồng đồng bào Mông Cộng đồng này đã quản lý 81 ha rừng tự nhiên từ lâu đời (tự công nhận là đất rừng của cộng đồng) nhằm mục đích bảo vệ nguồn nước, lấy gỗ làm nhà, các lâm sản khác tiêu dùng hằng ngày Ngoài hình thức trên
Trang 37thì ở miền núi phía Bắc cũng có cộng đồng thôn Páng, xã Phú Thanh, huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá là cộng đồng đồng bào Thái đã hợp đồng khoán bảo vệ với khu bảo tồn Pù Hu với diện tích 98 ha với mục đích bảo vệ nguồn nước, lấy gỗ làm nhà, các lâm sản khác tiêu dùng hàng ngày, thu nhập từ khoán bảo vệ
c Tổ chức theo nhóm hộ/nhóm sở thích
Hình thức này được thực hiện ở một số nơi Nhóm hộ có thể hình thành từ một
số hộ gia đình cư trú liền nhau trong phạm vi một thôn, một xóm hoặc gồm một số hộ gia đình có quan hệ huyết thống hoặc họ hàng; cũng có trường hợp là những cá nhân cùng lứa tuổi, cùng có mong muốn được tham gia quản lý và sử dụng Nhóm hộ này
tự phân công có thể cả nhóm cùng tham gia tuần tra hàng ngày, hàng tuần hoặc luân phiên nhau; một số hộ có đất gần nhau liên kết quản lý và sử dụng (Đỗ Anh Tuân & cs., 2012) Theo Nguyễn Bá Ngãi (2006), cộng đồng thôn Páng, xã Phú Thanh, huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá là cộng đồng đồng bào Thái đã hình thành các nhóm hộ tự liên kết quản lý (10 nhóm hộ tự liên kết với nhau cùng quản lý 120 ha đất rừng trồng sản xuất với mục đích trồng rừng sản xuất cung cấp Luồng cho thị trường
2.1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng
2.1.3.1 Nhóm yếu tố những quy định của pháp luật
Việc sử dụng linh hoạt đất đai chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như: Chính sách, luật và những qui định về sử dụng đất đai; nhận thức của người dân
về các cơ hội và khả năng sử dụng đất; khả năng ứng xử của người dân với các
cơ hội thị trường; khả năng tiếp cận tài chính và các nguồn lực khác để chuyển
đổi mục đích sử dụng đất (Sally & cs., 2007)
Theo Nguyễn Bá Ngãi (2009) việc quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng là thực tiễn nhưng những vấn đề liên quan đến chính sách, pháp luật
và cơ chế hưởng lợi cho các cộng đồng còn chưa được quan tâm đúng mức, còn nhiều điểm chưa rõ ràng Chính sách, pháp luật đất đai đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định mức độ linh hoạt trong sử dụng đất ở Việt Nam, bao gồm các chính sách về: Thời hạn giao quyền sử dụng đất nông nghiệp Thời gian giao đất càng dài càng làm tăng sự an toàn về sở hữu và khuyến khích việc đầu tư để chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chẳng hạn chuyển từ đất trồng cây hàng năm sang cây lâu năm Sự cần thiết cũng cần đặt ra trong việc cân bằng giữa sử dụng
đất linh hoạt và qui hoạch vùng (Sally & cs., 2007) Theo Bùi Tuấn Anh & cs
Trang 38(2013) việc sử dụng đất nông nghiệp cũng bị ảnh hưởng bởi những cơ chế, chính sách liên quan đến nông nghiệp như: công tác ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản; công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; công tác giao đất, định giá
đất, quản lý thị trường bất động sản…
Mức hạn điền có thể không khuyến khích sử dụng đất linh hoạt vì nó hạn chế việc tích tụ đất đai của những nông dân sản xuất hiệu quả và bởi sự kém chắc chắn về sở hữu đối với đất vượt hạn điền được Nhà nước cho thuê Đất đai vượt hạn điền cũng còn phải chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất nông nghiệp cũng bị hạn chế Bởi đất đai thuộc sở hữu toàn dân nên người sử dụng đất phải có những trách nhiệm nhất định Đất đai phải được sử dụng có hiệu quả, luân canh thích hợp và phải luôn được cải tạo, bổ sung chất dinh dưỡng Trên thực tế, điều này được xác định như những hạn chế về sử dụng đất và
nó được thể hiện trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Ngoài ra, các chính sách khác của Chính phủ cũng có ảnh hưởng đến việc sử dụng đất như: chính sách tín dụng nông nghiệp, nông thôn, đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn, giá cả thị trường, thương mại và lưu thông hàng hoá, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ Bên cạnh những chính sách này thì các yếu tố khác cũng có ảnh hưởng đến việc linh hoạt trong sử dụng đất đai, đó là: Việc quy hoạch sử dụng đất đai của Chính phủ được thực hiện bởi chính quyền các cấp; qui hoạch sử dụng đất ở cấp xã như qui hoạch hệ thống thuỷ lợi, hệ thống giao thông và giao đất Các hệ thống dịch vụ
hỗ trợ ở cấp xã như dịch vụ cung ứng đầu vào, dịch vụ làm đất, bảo vệ thực vật,
ứng dụng khoa học kỹ thuật mới của nông dân (Sally & cs., 2007)
Theo Vũ Thị Hạnh (2014) và nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Quan & Hoàng Liên Sơn (2007) thì các chính sách về đất đai cũng ảnh hưởng lớn đến quản lý tài nguyên rừng công bằng và bền vững Trong đó những quy định về quyền quản lý,
sở hữu rừng và đất rừng; quy định về giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn; mối quan hệ giữa các quy định của Nhà nước với các quy ước, hương ước… được xem là các yếu tố tác động đến quản lý tài nguyên rừng công bằng và bền vững Vấn đề này có liên quan trực tiếp đến hiệu quả quản lý, sử dụng đất rừng Bên cạnh đó, Hanstad (2009) cũng cho rằng pháp luật có vai trò và ảnh hưởng rất lớn đến các hệ thống sử dụng đất Nó ảnh hưởng đến hành vi của cả cơ quan quản lý đất đai và người sử dụng đất, từ đó quyết định đến việc sử dụng đất Pháp luật bao gồm cả những quy định của Nhà nước và những luật tục của địa phương đều có ý nghĩa đối với việc sử dụng đất, đặc biệt là đối với các cộng đồng dân tộc thiểu số sống phụ thuộc vào rừng
Trang 392.1.3.2 Nhóm yếu tố điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng
Theo quan điểm của nhóm tác giả Dương Viết Tình & Trần Hữu Nghị (2012), cũng như tác giả Bùi Tuấn Anh & cs (2013) sản xuất nông nghiệp nói chung và lâm nghiệp nói riêng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố điều kiện tự nhiên như diện tích, vị trí của thửa đất có liên quan đến mức độ giàu nghèo, trữ lượng các loài lâm sản và lâm sản ngoài gỗ Bên cạnh đó, khoảng cách từ nơi cư trú đến diện tích đất rừng được giao quyết định đến khả năng tiếp cận rừng Những diện tích đất rừng giao cho cộng đồng càng gần khu dân cư, địa hình thuận lợi thì càng dễ tiếp cận, dễ quản lý, sử dụng; còn càng xa khu dân cư, địa hình phức tạp thì khả năng tiếp cận càng khó khăn, không thuận lợi trong việc quản lý, sử dụng đất Ngoài ra điều kiện hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội cũng ảnh hưởng rất lớn đến quản lý, sử dụng đất
Về vị trí đất rừng, có sự khác nhau, thậm chí xung đột quan điểm về vị trí
và việc giao chúng cho cộng đồng (Nguyễn Thị Hồng Mai & Hà Huy Tuấn, 2009) Rừng gần cộng đồng thì dễ cho cộng đồng đi tuần tra nhưng lại dễ bị khai thác trái phép Trong khi những khu rừng ở xa khu dân cư thì rất khó khăn cho việc tuần tra nhưng ít bị phá hủy Tuy nhiên, nhìn chung người dân có thể không thích được giao những khu rừng ở xa và khó tiếp cận Các khu rừng không liên tục không nên giao cho cộng động Hay nói cách khác, rừng giao cho cộng đồng nên là một mảnh liên tục và không bị ngắt quãng bởi khu dân cư hay các vùng canh tác Những khu rừng không liên tục nên giao cho nhóm hộ hay hộ gia đình cá nhân Diện tích thường ít quan trọng hơn so với các nhân tố khác Diện tích đất rừng giao cho cộng đồng là rất linh hoạt, phụ thuộc rất nhiều vào diện tích đất rừng sẵn có ở địa phương Tuy nhiên diện tích đất rừng sẵn có bị hạn chế sẽ ảnh hưởng đến việc giao thêm đất cho cộng đồng Thêm vào đó diện tích rừng đất được quản lý bởi mỗi cộng đồng không nên quá rộng vì nó có thể vượt quá khả năng của họ để có hiệu quả và tạo nên sự không công bằng cho các cộng đồng xung quanh
Một điều quan trọng qua một số nguyên cứu điển hình cho thấy tầm quan trọng của các lâm sản ngoài gỗ đối với thu nhập của các người dân trong các cộng
đồng (Fisher, 2004; Mamo & EspenSjaastad, 2007; Appiah & cs., 2009) Đặc biệt, nghiên cứu của Hermans-Neumann & cs (2016) cũng như Reyes-Garcia & cs
(2016) đã khẳng định lâm sản là nguồn thu nhập và phúc lợi quan trọng trong các cộng đồng nông thôn trên khắp các vùng nhiệt đới Mặc dù các sản phẩm lâm sản thường xuyên bị khai thác quá mức nhưng chất lượng của tài nguyên rừng cũng như
Trang 40mức độ sẵn có của các tài nguyên rừng mà chủ yếu là các lâm sản ngoài gỗ như củi, than, thực phẩm, dược phẩm, thức ăn gia súc và các lâm sản khác là những yếu tố ảnh hưởng lớn, quyết định đến sinh kế của người dân trong các cộng đồng sống dựa vào rừng
2.1.3.3 Nhóm yếu tố kinh tế
Theo nghiên cứu của tác giả Dương Viết Tình & Trần Hữu Nghị (2012) điều kiện kinh tế của hộ nói nên mức sống của người dân Đa phần mức sống của người dân của các cộng đồng còn thấp, người dân còn thiếu đói nên gây áp lực lớn đối với diện tích đất rừng được giao Mặt khác với mức sống thấp, không đủ ăn buộc người dân phải vào rừng nhiều hơn để thu hái các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ để phục vụ bữa ăn và góp thêm vào thu nhập gia đình Điều này sẽ làm cho nguồn lâm sản ngoài gỗ ngày càng giảm đi cả về số lượng và chất lượng, thậm chí có nguy cơ cạn kiệt, ảnh hưởng đến sinh kế của người dân Quan điểm về thị trường cũng được nhóm tác giả đánh giá là yếu tố ảnh hưởng gián tiếp đến công tác quản lý và hưởng lợi từ rừng Một khi nhu cầu thị trường có xu hướng tăng cao về mặt hàng lâm sản ngoài gỗ nào đó thì người dân sẽ ào ạt vào rừng để khai thác về bán dù đó là trái pháp luật hoặc khai thác một cách bừa bãi sai quy định Tuy nhiên nhu cầu về thị trường cũng là một yếu tố ảnh hưởng tốt đến hưởng lợi của người dân, đó là nơi giúp người dân tiêu thụ những sản phẩm thu hái từ rừng, kích thích người dân tích cực tham gia bảo vệ rừng để có sản phẩm thu hái bán ra thị trường Bên cạnh đó, việc tiếp cận các nguồn tài chính đối với người nông dân là rất khó khăn Chủ yếu đến từ các chương trình, dự án Có rất ít các tổ chức tín dụng tham gia vào việc cho người nông dân vay vốn sản xuất (Bien, 2000; Nguyễn Quang Tân & cs., 2008)
Để việc quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng thực sự đem lại hiệu quả thì công tác gây quỹ, các nguồn gây quỹ và việc quản lý, sử dụng quỹ cũng thực sự cần thiết và quan trọng Theo Ivan (2006) quỹ và tài chính là thực sự cần thiết, quyết định đến sự phát triển của ngành lâm nghiệp Các khoản tiền này có thể
là từ các nhà tài trợ, các khoản đầu tư, các khoản vay, các khoản tài trợ và đến từ trong nước hay nước ngoài, từ các tổ chức hoặc cá nhân
2.1.3.4 Nhóm yếu tố xã hội
Theo tác giả Nguyễn Trần Hòa (2014), cũng như tác giả Hoàng Xuân Tý &
Lê Trọng Cúc (1998) kiến thức bản địa là hệ thống kiến thức của người dân sống trong các cộng đồng tại một khu vực nào, nó tồn tại và phát triển trong những điều