1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu, đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng đất rừng dựa và cộng đồng trên địa bàn tỉnh hoà bình (tt)

27 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU - Đánh giá thực trạng và kết quả công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình; - Xác định một số yếu tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hư

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học:

1 TS Phạm Phương Nam

2 TS Nguyễn Nghĩa Biên

Phản biện 1: PGS.TS Trần Quốc Vinh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Bá Ngãi

Hội chủ rừng Việt Nam

Phản biện 3: TS Mai Văn Phấn

Tổng cục Quản lý đất đai

Luận án sẽ được bảo vệ trước hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện, họp tại:

Học viện Nông nghiệp Việt Nam Vào hồi … ngày….tháng….năm 20…

Có thể tìm hiểu Luận án tại thư viện:

- Thư viện Quốc gia

- Thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Trang 3

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng đã hình thành và tồn tại ở nhiều nước trên thế giới, nhất là tại các nước đang phát triển (FAO, 2015; Gilmour, 2016) Ở Việt Nam

do đặc thù về địa hình, về dân tộc và các thành phần kinh tế nên hình thức quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng là rất phù hợp, đem lại một số lợi ích nhất định cho các cộng đồng dân tộc thiểu số sống dựa vào rừng Tuy nhiên, các nghiên cứu còn mang tính định tính, chưa định lượng được các yếu tố ảnh hưởng do vậy gây khó khăn cho công tác quản lý,

sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng

Hoà Bình là một tỉnh nằm ở cửa ngõ của vùng Tây Bắc Trên địa bàn tỉnh Hoà Bình có nhiều dân tộc cùng sinh sống (Mường, Kinh, Thái, Tày, Dao, H’mông…) nên việc quản lý, sử dụng đất rừng ở Hoà Bình từ trước đến nay dựa chủ yếu vào cộng đồng Tỉnh Hoà Bình đã thực hiện việc giao đất, giao rừng cho các chủ sử dụng đất Tuy nhiên, thực tế triển khai cho thấy nhiều vấn đề tồn tại trong quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng tại Hòa Bình Các quy định của nhà nước trong công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào các cộng đồng địa phương chưa được cụ thể, chủ yếu vận dụng những quy định chung nên nảy sinh mâu thuẫn trong quá trình quản lý, sử dụng đất rừng Các cộng đồng dân tộc thiểu số sống dựa vào rừng

tỷ lệ hộ nghèo vẫn cao, sống phụ thuộc vào gây áp lực lớn lên tài nguyên rừng Đa phần diện tích đất rừng giao cho cộng đồng đều là rừng tự nhiên nghèo kiệt, xa cộng đồng, địa hình khó khăn, hiểm trở, hạ tầng yếu kém gây lên sự khó khăn lớn cho việc quản lý, sử dụng đất

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Đánh giá thực trạng và kết quả công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình;

- Xác định một số yếu tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng tại tỉnh Hoà Bình;

- Đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Phạm vi về nội dung:

+ Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu diện tích đất rừng được giao cho các cộng đồng quản

lý, sử dụng (là đất rừng phòng hộ) trên địa bàn tỉnh Hoà Bình

+ Nghiên cứu thực trạng, một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng và đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

- Phạm vi về không gian: Đề tài thực hiện trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, trong đó tập trung nghiên cứu điểm tại 5 cộng đồng đại diện được giao đất rừng Đây là những cộng đồng người Việt Nam sinh sống trong cùng một thôn, làng, bản… có cùng phong tục tập quán, chung một dân tộc được Nhà nước giao đất, bao gồm: 01 thôn/bản dân tộc Tày là bản Nhạc (xã Đồng Chum, huyện Đà Bắc); 03 thôn/bản dân tộc Mường là thôn Đúc (xã Nam Phong, huyện Cao Phong); thôn Củ (xã Tú Sơn, huyện Kim Bôi); thôn Thung 2 (xã Quý Hoà, huyện Lạc Sơn) và 01

Trang 4

thôn/bản dân tộc Dao là xóm (thôn) Suối Bến (xã Tiến Sơn, huyện Lương Sơn)

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

Nghiên cứu đã xác định được 29 yếu tố thuộc 4 nhóm yếu tố có ảnh hưởng đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên định bàn tỉnh Hòa Bình theo mức độ như sau: Nhóm yếu tố những quy định của pháp luật có ảnh hưởng lớn nhất (33,44%); sau

đó đến nhóm yếu tố tự nhiên, cơ sở hạ tầng (32,27%), tiếp đến là nhóm yếu tố xã hội (25,13%) và nhóm yếu tố điều kiện kinh tế (9,16%) có ảnh hưởng ít nhất

1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.5.1 Ý nghĩa khoa học

Luận án đã hệ thống hóa và bổ sung, hoàn thiện cơ sở lý luận về quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng Xác định và đánh giá được mức độ các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng, trong đó nhóm yếu tố quy định của pháp luật có ảnh hưởng lớn nhất

1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Luận án đã chỉ ra những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân trong quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng và đề xuất các giải pháp khắc phục để quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình được hoàn thiện hơn;

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho những nhà khoa học, nhà quản lý, người học và những người khác quan tâm đến công tác quản lý,

sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình Đặc biệt, các giải pháp được

đề xuất trong luận án có thể để các địa phương khác trên cả nước tham khảo, áp dụng nhằm giải quyết những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT RỪNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 2.1.1 Quản lý, sử dụng đất rừng

2.1.1.2 Sử dụng đất rừng

Việc sử dụng đất đã phát triển cả không gian bên trên và bên dưới mặt đất, phạm vi sử dụng đất đã mở rộng cả 3 chiều Sử dụng đất được đặc trưng bởi sự sắp xếp, hoạt động và đầu vào của người dân để sản xuất, thay đổi hoặc duy trì một loại sử dụng đất nhất định (FAO/UNEP, 1999) Như vậy, sử dụng đất, trong đó có sử dụng đất rừng, là một hệ thống các biện pháp tác động vào đất nhằm điều hòa mối quan hệ giữa con người với đất đai trong tổng hòa các mối

Trang 5

quan hệ với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường và các nguồn lực khác của xã hội nhằm tạo được hiệu quả mong muốn (Tô Xuân Phúc & Trần Hữu Nghị, 2014)

2.1.1.3 Mối quan hệ giữa quản lý với sử dụng đất rừng

Quản lý, sử dụng đất đai nói chung và quản lý, sử dụng đất rừng nói riêng là một cụm từ chỉ hai mặt của một vấn đề quản lý khai thác nguồn lực đất đai trong hoạt động kinh tế - xã hội

Nó luôn đi liền với nhau, gắn kết với nhau, không thể tách rời kể cả trong lý luận cũng như hoạt động thực tiễn Việc quản lý rừng được tổ chức theo điều 24, Luật Lâm nghiệp Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, tổ chức quản lý, bảo vệ rừng, bảo đảm các diện tích rừng có chủ Người sử dụng đất (chủ rừng) phải thực hiện việc quản lý rừng bền vững; có trách nhiệm quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng theo quy chế quản lý rừng (Quốc hội, 2017)

2.1.2 Quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng

“Cộng đồng” có thể được hiểu là những nhóm xã hội cùng chia sẻ một môi trường, trong một phạm vi địa lý; nơi họ cùng nhau nỗ lực, chung niềm tin, chung nguồn tài nguyên cùng có nhu cầu và chịu cùng rủi ro cũng như những điều kiện chung khác tác động đến cuộc sống của họ (Hoàng Thị Thanh Nhàn & Nguyễn Thị Hồng Nhung, 2015) Tại Điều 5, Luật Đất đai 2013 (Quốc hội, 2013) khái niệm “cộng đồng sử dụng đất” đã được quy định gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng một địa bàn thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục tập quán hoặc có chung dòng họ được nhà nước giao đất hoặc cộng nhận quyền sử dụng đất Đây cũng là quan điểm mà tác giả sử dụng thống nhất trong nghiên cứu của mình

Theo Nguyễn Bá Ngãi (2009) có ba loại hình quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng chủ yếu, bao gồm: Đất rừng do cộng đồng tự công nhận theo truyền thống từ lâu đời (các cộng đồng quản lý theo luật tục); đất rừng được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định lâu dài (các cộng đồng quản lý theo quy định của pháp luật) và đất rừng của các tổ chức nhà nước khoán cho các cộng đồng bảo vệ, khoanh nuôi và trồng mới (cộng đồng quản lý theo hợp đồng khoán)

Việc tổ chức quản lý, sử dụng đất rừng của cộng đồng ở mỗi vùng miền khác nhau là không giống nhau, tùy thuộc vào phong tục tập quán, bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc Tuy nhiên, có 3 hình thức tổ chức phổ biến là: Tổ chức theo dòng tộc (dòng họ), theo dân tộc; tổ chức theo thôn, làng, buôn, bản, ấp (gọi chung là thôn) và theo nhóm hộ/nhóm sở thích

2.1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng

2.1.3.1 Nhóm yếu tố những quy định của pháp luật

Việc sử dụng linh hoạt đất đai chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như: Chính sách, Luật và những qui định về sử dụng đất đai Trong đó, những quy định về quyền quản lý, sở hữu rừng và đất rừng; quy định về giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn; mối quan

hệ giữa các quy định của nhà nước với các quy ước, hương ước… được xem là các yếu tố tác động đến quản lý tài nguyên rừng công bằng và bền vững Pháp luật bao gồm cả những quy định của nhà nước và những luật tục của địa phương đều có ý nghĩa đối với việc sử dụng đất, đặc biệt là đối với các cộng đồng dân tộc thiểu số sống phụ thuộc vào rừng

2.1.3.2 Nhóm yếu tố điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng

Sản xuất nông nghiệp nói chung và lâm nghiệp nói riêng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố trong

Trang 6

đó có yếu tố điều kiện tự nhiên như diện tích, vị trí của thửa đất, có liên quan đến mức độ giàu nghèo, trữ lượng các loài lâm sản và lâm sản ngoài gỗ của diện tích đất rừng khi giao cho cộng đồng Bên cạnh đó, khoảng cách từ nơi cư trú đến diện tích đất rừng được giao quyết định đến khả năng tiếp cận rừng Những diện tích đất rừng giao cho các cộng đồng càng gần khu dân

cư, địa hình thuận lợi thì càng dễ tiếp cận, dễ quản lý, sử dụng còn càng xa khu dân cư, địa hình phức tạp thì khả năng tiếp cận càng khó khăn, không thuận lợi trong việc quản lý, sử dụng đất Ngoài ra điều kiện hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội cũng ảnh hưởng rất lớn đến quản lý,

sử dụng đất

2.1.3.3 Nhóm yếu tố kinh tế

Theo nghiên cứu của tác giả Dương Viết Tình & Trần Hữu Nghị (2012) điều kiện kinh tế của hộ nói nên mức sống của người dân Việc tiếp cận các nguồn tài chính đối với người nông dân là rất khó khăn Chủ yếu đến từ các chương trình, dự án Có rất ít các tổ chức tín dụng tham gia vào việc cho người nông dân vay vốn sản xuất (Nguyễn Quang Tân

& cs., 2008) Bên cạnh đó, để công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng thực

sự đem lại hiệu quả thì công tác gây quỹ, các nguồn gây quỹ và việc sử dụng quỹ cũng thực sự cần thiết và quan trọng

2.1.3.4 Nhóm yếu tố xã hội

Theo tác giả Nguyễn Trần Hòa (2014), cũng như tác giả Hoàng Xuân Tý & Lê Trọng Cúc (1998) kiến thức bản địa là hệ thống kiến thức của người dân sống trong các cộng đồng tại một khu vực nào, nó tồn tại và phát triển trong những điều kiện nhất định với sự đóng góp của mọi thành viên trong cộng đồng ở một vùng địa lý xác định Đó là những thói quen, tập quán và những quy ước cộng đồng được quy ước hóa thông qua hành

vi, hoạt động thực tiễn sản xuất, ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội Vai trò của trưởng bản rất lớn trong mọi hoạt động từ bảo vệ rừng, phân bố lượng khai thác cho từng thành viên trong cộng đồng cũng như huy động nguồn nhân lực cho các hoạt động khác (Poffenberger & cs., 1998)

2.2 CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT RỪNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

2.2.1 Căn cứ pháp lý về quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng

- Quyết định 184/QĐ-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng năm 1982 và Chỉ thị

29/CT-TW ngày 12 tháng 11 năm 1983 của Ban Bí thư về việc đẩy mạnh giao đất, giao rừng, xây dựng rừng và tổ chức kinh doanh theo phương thức nông - lâm kết hợp

- Luật Đất đai 1987, Luật Đất đai 2993, Luật Đất đai 2003, Luật Đất đai 2013

- Nghị định 01/1995/NĐ-CP ngày 04 tháng 01 năm 1995 của Chính phủ ban hành quy định về việc giao khoán đất sử dụng và mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản trong các doanh nghiệp nhà nước

- Quyết định 245/1998/QĐ-TTg ngày 21 tháng 12 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp

- Thông tư 56/1999/TT- BNNPTNT ngày 30 tháng 3 năm 1999 của Bộ NN&PTNT

về hướng dẫn xây dựng quy ước bảo vệ phát triển rừng trong cộng đồng dân cư thôn, làng, buôn, bản, ấp

- Quyết định 08/2001/QĐ-TTg ngày 11 tháng 1 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên

Trang 7

- Quyết định 178/2001/QĐ-TTg ngày 12 tháng 11 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ quy định về quyền lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp

- Luật Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004

- Quyết định 106/2006/QĐ-BNN ngày 27 tháng 11 năm 2006 của Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn ban hành hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng dân cư thôn

- Thông tư 38/2007/TT-BNN ngày 25 tháng 4 năm 2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn

- Luật Lâm nghiệp 2017

2.2.2 Căn cứ pháp lý về giao đất, giao rừng cộng đồng

- Luật Đất đai 1993, Luật Đất đai 2003, Luật Đất đai 2013

- Nghị định số 02/1994/NĐ-CP ngày 15 tháng 1 năm 1994 của Chính phủ ban hành bản quy định về việc giao đất, lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp

- Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp

- Quyết định 672/QĐ-TTg ngày 26 tháng 4 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1/10000, xét duyệt cấp giấy CNQSDĐ lâm nghiệp

2.2.3 Căn cứ pháp lý về giao khoán đất rừng cho cộng đồng

Nghị định 01/1995/NĐ-CP ngày 04 tháng 01 năm 1995 của Chính phủ, văn bản này

đã tạo khuôn khổ pháp lý cho các tổ chức được Nhà nước giao đất có quyền giao khoán đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; quy định thời gian giao khoán đất lâm nghiệp đối với đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ là 50 năm, đất rừng sản xuất theo chu kỳ kinh doanh

2.2.4 Căn cứ pháp lý về hưởng lợi từ đất rừng cộng đồng

- Quyết định 08/2001/QĐ-TTg ngày 11 tháng 1 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên

- Quyết định 178/2001/QĐ-TTg ngày 12 tháng 11 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ quy định về quyền lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp

- Thông tư liên tịch số 80/2003/TTLT-BNN-BTC ngày 3 tháng 9 năm 2003 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài chính hướng dẫn Quyết định 178/2001/QĐ-TTg

2.2.5 Căn cứ pháp lý về đầu tư cho công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng

Vận dụng Quyết định 661/TTg ngày 29 tháng 7 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ

để đầu tư hỗ trợ cho cộng đồng đã được Nhà nước giao đất, giao rừng hoặc tham gia nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và trồng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng Ngoài

ra có thể vận dụng Quyết định 147/TTg ngày 10 tháng 09 năm 2007 về Một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007 - 2015

2.3 QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT RỪNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở MỘT SỐ

Trang 8

NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

2.3.1 Quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng ở một số nước trên thế giới

2.3.1.1 Quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng ở Philippines

Philippines đã thực hiện giao đất, giao rừng cho các cộng đồng dân cư từ những năm

1970 và đến những năm 1990 thì trở thành phương thức phổ biến và rộng rãi Calderon & Nawir (2006) đã nghiên cứu tính khả thi và lợi ích của mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng và quản lý rừng của các đối tượng không phải là cộng đồng tại Philippines và chỉ ra rằng cả hai hình thức đều đem lại tính khả thi và lợi ích cho việc quản lý, sử dụng đất rừng Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất trong sản xuất đó là thị trường tiêu thụ sản phẩm từ rừng, do việc nhập khẩu có chi phí thấp hơn chi phí bỏ ra để sản xuất trong nước Điều quan trọng trong quản lý dựa vào cộng đồng ở Philippines đó là việc phân quyền và trách nhiệm cụ thể hơn cho các cộng đồng (Pulhin, 2003)

2.3.1.2 Quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng ở Indonesia

Sau Hội nghị Lâm nghiệp thế giới tổ chức tại Jakarta vào năm 1978 (FAO, 1978), việc bảo tồn rừng thì chính phủ Indonesia mới nỗ lực tăng cường hợp tác với các cộng đồng trong hoạt động quản lý tài nguyên Có rất nhiều các chương trình, dự án đã được thực hiện nhằm mục tiêu quản lý, sử dụng đất rừng hiệu quả dựa vào cộng đồng Tuy nhiên, việc bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng ở Indonesia vẫn còn gặp rất nhiều những tồn tại, bất cập cần phải khắc phục như: Chưa có quy định rõ ràng liên quan đến quyền kiểm soát, quyền sở hữu đất và tài sản trên đất

2.3.1.3 Quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng ở Ấn Độ

Ở Ấn Độ việc quản lý đất rừng và rừng dựa vào cộng đồng đã thành công trong điều tiết các nguồn lợi từ rừng và cho thấy rừng thuộc quyền quản lý cộng đồng không bị suy thoái hơn rừng do Nhà nước quản lý hoặc ít nhất là như các bộ phận rừng của Nhà nước Nhưng nhìn chung, quản lý đất rừng dựa vào cộng đồng không phải là tối ưu, không có mô hình chung cho tất cả các cộng đồng Thay vào đó, nó nên được triển khai bằng nhiều hình thức Vấn đề phân cấp quản lý là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến sự thất bại trong quản lý dựa vào cộng đồng Nhiều chính quyền địa phương chưa được thực sự phân cấp quản lý trong việc quản lý rừng và đất rừng Nhiều cộng đồng địa phương đã bị ảo giác về sức mạnh trong quyền quản lý cộng đồng

2.3.1.4 Quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng ở Nepal

Năm 1976 Chính phủ đã ban hành Kế hoạch Lâm nghiệp Quốc gia Trong khuôn khổ

kế hoạch này, năm 1978 Chính phủ đưa ra quy định mới về bàn giao rừng quốc gia cho các cơ quan được lựa chọn tại địa phương trong đó có các nhóm người sử dụng gọi là cộng đồng Từ

đó, việc quản lý, sử dụng đât rừng dựa vào cộng đồng trở thành xu thế của các chính sách và chương trình phát triển rừng ở Nepal Tuy nhiên, việc này cũng chưa giải quyết được vấn đề sinh kế cho người dân trong cộng đồng như mong đợi, các chính sách cũng chưa hỗ trợ tối ưu cho việc quản lý, sử dụng đất rừng

2.3.1.5 Quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng ở Canada

Ở Canada mô hình quản lý dựa vào cộng đồng cũng đã được hình thành từ những năm 1990 Hầu hết các mô hình quản lý dựa vào cộng đồng thời điểm này đều dựa vào sự bảo trợ của các tổ chức phi chính phủ (khoảng 60%) còn lại khoảng 40%

Trang 9

các cộng đồng hoạt động thông qua quản lý của chính quyền địa phương Hiện nay, các cộng đồng được tổ chức rất chặt chẽ Chính quyền địa phương chỉ đóng vai trò quản lý thông qua việc giao trách nhiệm cho các cộng đồng địa phương Đa số các cộng đồng có Hội đồng quản trị là các thành viên hội đồng được bầu (chiếm khoảng 88% trong tổng số) Một số cộng đồng có ủy ban tư vấn công cộng, nhưng đây không phải là xu hướng chủ đạo

2.3.1.6 Quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng ở Anh

Tại Vương Quốc Anh quản lý dựa vào cộng đồng rất đa dạng Trước thực trạng diện tích rừng bị suy giảm, cùng với quá trình đô thị hóa, mật độ dân số tăng cao đã hình thành nên các cộng đồng quản lý rừng với mục đích gìn giữ bản sắc dân tộc và đảm bảo phát triển kinh tế, tạo sự kết nối với các vùng xung quanh Nghiên cứu của (Lawrence & cs., 2009) chỉ

ra rằng việc hỗ trợ tài chính cho việc quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng đang giảm và các ưu tiên phải được xem xét kỹ lưỡng, thay vào đó là việc xem xét trao quyền cho cộng đồng, giúp cộng đồng có quyền quyết định trong hoạt động sản xuất

2.3.2 Quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam

2.3.2.1 Công tác quản lý, sử dụng đất rừng ở vùng núi phía bắc

- Ở Lào Cai: cộng đồng quản lý, sử dụng đất rừng tại xã Lùng Sui, huyện Si Ma Cai

là một điển hình trong công tác quản lý, sử dụng đất dựa vào cộng đồng Phần lớn cộng đồng quản lý, bảo vệ đất rừng chủ yếu là để duy trì không gian tín ngưỡng và quỹ tài nguyên cho sinh kế Các thành viên trong cộng đồng cùng nhau quản lý, bảo vệ hoàn toàn dựa trên nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi

- Ở Cao Bằng: Công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng tương đối tốt như của các hộ gia đình, tuy nhiên vẫn chưa huy động hết được công sức của cộng đồng trong công tác quản lý, sử dụng

- Ở Sơn La: quản lý đất rừng mang lại hiệu quả trên các mặt xã hội và môi trường hơn là hiệu quả kinh tế Trong khi đó, khi sản xuất hàng hoá phát triển việc quản lý rừng cộng đồng chuyển sang một hình thức mới đó là tạo thành xu hướng cộng đồng nhóm hộ trong quản lý rừng

2.3.2.2 Công tác quản lý, sử dụng đất rừng ở vùng núi trung Bộ

- Ở Nghệ An: Công tác quản lý, sử dụng đất rừng trên địa bàn được thực hiện dựa vào các tổ chức đoàn thể của cộng đồng: Thành lập các cụm liên gia tự quản, thanh niên, dân quân Các tổ đội này cùng nhau liên kết hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của chính quyền các thôn bản

- Ở Thừa Thiên - Huế: Cộng đồng dân cư thôn quản lý bảo vệ có hiệu quả hơn so với nhóm hộ Chất lượng rừng do cộng đồng dân cư thôn quản lý bảo vệ ngày càng được nâng cao, cơ cấu thu nhập của người dân thay đổi so với trước khi giao rừng Nhờ đó mà rừng cộng đồng hạn chế được hiện tượng xói mòn, lở núi, cát bay; bảo đảm được nguồn nước cho sinh hoạt, sản xuất và hoạt động du lịch sinh thái ở các thôn

Trang 10

2.3.2.3 Công tác quản lý, sử dụng đất rừng ở vùng núi Tây nguyên

- Ở Gia Lai: quản lý, sử dụng đất và rừng dựa vào cộng đồng ở Tây Nguyên trong đó

có tỉnh Gia Lai đã được hình thành từ lâu đời gắn với phong tục, tập quán, truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây Ban quản lý của cộng đồng cùng với các nhóm trưởng nhận đất rừng tổ chức xây dựng, thực thi và giám sát kế hoạch quản lý đất rừng của chính mình

- Ở Đắk Nông: giao đất, giao rừng cho cộng đồng được quản lý tốt hơn, người dân có niềm vui và ý thức được rừng là tài sản của mình Người dân đã quan tâm đầu tư vào các khu rừng của mình, một số khu rừng giao cho cộng đồng đầu tư chăm sóc, làm giàu rừng, áp dụng kiến thức bản địa để kinh doanh

2.4 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT RỪNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

2.4.1 Một số công trình nghiên cứu về quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên thế giới

Trên thế giới quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng đã trở thành phương thức khá phổ biến Có nhiều dự án cũng như các nghiên cứu về lĩnh vực này được thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới như các nghiên cứu của Guiang & cs (2001) và của Pulhin & Pulhin (2003), Calderon & Nawir (2006), Royer & cs (2016), Anup & cs (2015), Agrawal

& Chhatre (2006)…

Các nghiên cứu của Guiang & cs (2001) và của Pulhin & Pulhin (2003) chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê cơ bản theo dõi lịch sử của quản lý dựa vào cộng đồng, kiểm tra các thành tựu của quản lý rừng dựa vào cộng đồng và các mối quan tâm của cộng đồng Đồng thời đưa ra những triển vọng của việc quản lý dựa rừng dựa vào cộng đồng đối với việc phát triển các vùng cao của Philippines (Pulhin & Pulhin (2003) So sánh tính khả thi

và lợi ích của mô hình quản lý rừng cộng đồng và quản lý rừng của các đối tượng không phải

là cộng đồng tại Philippines Từ đó đánh giá được hiệu quả của các mô hình quản lý rừng tại địa phương và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các mô hình quản lý rừng cộng đồng (Calderon & Nawir, 2006) Một số nghiên cứu được thực hiện tại các cộng đồng sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp (Royer & cs., 2016), thực hiện tại 03 cộng đồng của Indonesia Tuy nhiên, số lượng mẫu phỏng vấn nhỏ (mỗi làng chỉ phỏng vấn 10 cá nhân) và mỗi làng tổ chức 1 cuộc thảo luận nhóm về lợi ích và mối quan tâm của người dân về quản

lý đất rừng của cộng đồng và thống kê, so sánh giữa các làng với nhau Phân tích những thuận lợi, khó khăn, tồn tại và đề xuất một số giải pháp phát triển mô hình quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng tại địa phương Nhưng những đề xuất giải pháp chỉ mang tính chung chung, chưa có mô hình cụ thể

Một số nghiên cứu khác đã sử dụng các phương pháp có tính hệ thống và khoa học hơn như phương pháp phân tích lợi ích, chi phí (Anup & cs., 2015), nghiên cứu đã tính toán hiệu quả kinh tế trung bình hàng năm từ rừng cộng đồng bằng việc điều tra trực tiếp 50% các hộ gia đình trong cộng đồng được giao quản lý, sử dụng đất rừng cộng đồng tại Nepal

Mô hình phân tích hồi quy (Agrawal & Chhatre, 2006) đã đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý, sử dụng đất rừng của các cộng đồng tại ở Ấn Độ và cho thấy có 2 nhóm yếu tố

Trang 11

ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý, sử dụng đất của cộng đồng là yếu tố độ cao và yếu tố thị trường

Như vậy có thể thấy, đã có nhiều nghiên cứu về quản lý sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng và cho thấy mô hình này đã đem lại hiệu quả, nhất là đối với các dân tộc thiểu số sống dựa vào rừng Tuy nhiên, tất cả các nghiên cứu này đều mới chỉ nghiên cứu trên các cộng đồng nhỏ, sử dụng các phương pháp đơn giản, chưa đánh giá được đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng

2.4.2 Một số công trình nghiên cứu về quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam

Ở Việt Nam, mô hình quản lý dựa vào cộng đồng đã được hình thành từ rất lâu đời, đặc biệt gắn với các cộng đồng dân tộc thiểu số (Nguyễn Bá Ngãi & cs, 2009) Đã có nhiều tác giả thực hiện các nghiên cứu tại khắp các vùng miền Bắc, miền Trung và miền Nam như Nguyễn Bá Ngãi & cs (2009); Bảo Huy (2009); Viết Tình & Trần Hữu Nghị (2012); Lê Quang Vĩnh & Ngô Thị Phương Anh (2012); Võ Đình Tuyên (2012); Nghiên cứu của Đỗ Anh Tuân (2012); Vũ Quốc Phương & cs (2014)…

Nghiên cứu của Vũ Quốc Phương & cs (2014) Nguyễn Bá Ngãi & cs (2009), Dương Viết Tình & Trần Hữu Nghị (2012), Lê Quang Vĩnh & Ngô Thị Phương Anh (2012), Võ Đình Tuyên (2012) đều đã sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) sử dụng các công cụ như: Khảo sát thôn bản, phân tích kinh tế hộ gia đình bằng cách phỏng vấn bán cấu trúc để thu thập các thông tin Kết quả của các nghiên cứu cho thấy mô hình quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng hợp lý và có hiệu quả hơn mô hình quản lý của các nhóm hộ Qua nghiên cứu này cũng cho thấy mô hình quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng đã khuyến khích người dân trong các cộng đồng tham gia tích cực hơn vào công tác chăm sóc, bảo vệ rừng và dẫn đến chất lượng rừng ngày càng được nâng cao

Nghiên cứu của Bảo Huy (2009) đã thực hiện nghiên cứu trong vòng 6 năm đối với một số cộng đồng dân tộc thiểu số sống gần rừng ở Tây Nguyên, Đỗ Anh Tuân (2012) đã tiến hành điều tra 18 thôn, bản, thuộc 17 xã ở 13 huyện của 8 tỉnh Yên Bái, Sơn La, Điện Biên, Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế và Đăk Nông cho thấy quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng ở mỗi vùng khác nhau lại có đặc trưng khác nhau Điểm đặc biệt của các nghiên cứu này là đã đánh giá được một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng của các cộng đồng dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên, sử dụng phương pháp chấm điểm từ kết quả phỏng vấn người dân và cho thấy có một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng như chính sách sử dụng đất; cơ sở

hạ tầng; phong tục, tập quán; quy định của pháp luận cho đối tượng cộng đồng còn thiếu, chưa cụ thể; tài nguyên sẵn có của diện tích đất rừng còn nghèo, do diện tích giao cho cộng đồng chủ yếu là đất rừng phòng hộ nghèo kiệt; địa hình khó khăn, phức tạp trong khi hạ tầng còn yếu kém; người dân trong cộng đồng chưa phát huy hết được những kiến thức bản địa trong quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng Tuy nhiên, những nghiên cứu này các chỉ tiêu chủ yếu đều được đánh giá một cách định tính, chưa xác định được chính xác các yếu tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố để có thể đề xuất các kiến nghị hiệu quả hơn

Trang 12

2.5 ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Qua nghiên cứu và phân tích tổng quan tài liệu tổng quan cho thấy việc quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng đã và đang trở thành một trong những phương thức phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam Đã có nghiều nghiên cứu về công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng, nhưng có thể khẳng định chưa có nghiên cứu nào thực hiện đánh giá kết quả của công tác quản lý, sử dụng đất rừng một cách toàn diện trên cả ba khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường trong điều kiện cụ thể của một địa phương Chưa phân tích được mối liên hệ giữa thu nhập từ đất rừng cộng đồng với điều kiện kinh tế hộ để trả lời câu hỏi thu nhập từ đất rừng của cộng đồng có ý nghĩa như thế nào đối với từng điều kiện kinh tế hộ Đồng thời, có thể khẳng định chưa có nghiên cứu về việc sử dụng phương pháp định lượng để xác định các yếu tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng

Từ thực trạng công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên cơ sở kết quả nghiên cứu tổng quan tài liệu, luận án định hướng tập trung nghiên cứu vào những vấn đề sau: (1) Thực trạng công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình (Hiện trạng sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng; hiện trạng diện tích đất rừng giao cho các cộng đồng; vai trò của đất rừng được giao đối với cộng đồng; việc xây dựng quy ước; công tác hưởng lợi từ đất rừng cộng đồng); (2) Kết quả quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng theo các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường; (3) Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng; (4) Những thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng; và (5) Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Đề tài được thực hiện trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, tiếp giáp với vùng đồng bằng sông Hồng, là cửa ngõ của vùng núi Tây Bắc, tiếp giáp với thủ đô Hà Nội; đặc biệt trên địa bàn tỉnh

có đường quốc lộ 6 chạy qua, đây là con đường huyết mạch nối liền thủ đô Hà Nội và các tỉnh miền xuôi với vùng Tây Bắc của Tổ quốc Đã có nhiều cộng đồng tham gia vào công tác quản

lý, sử dụng đất rừng trong đó tập trung vào các cộng đồng dân tộc thiểu số sống trên địa bàn tỉnh, chủ yếu là cộng đồng người Mường, cộng đồng người Tày và cộng đồng người Dao

3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

- Thời gian thực hiện đề tài luận án: từ năm 2014

- Thời gian thu thập số liệu:

+ Số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn từ năm 2011 – 2017;

+ Số liệu sơ cấp được thu thập vào năm 2015

3.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Hoạt động quản lý, sử dụng đất rừng giao cho cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

và các yếu tố ảnh hưởng

3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của tỉnh Hoà Bình;

- Thực trạng quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

Trang 13

- Đánh giá kết quả hoạt động quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình;

- Đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình;

- Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.5.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Các điểm nghiên cứu được lựa chọn đảm bảo tiêu chí: Thôn (bản) được giao đất, giao rừng; đa dạng các thành phần dân tộc sống trên địa bàn tỉnh; phù hợp với quy mô dân số của các dân tộc (Donova & cs., 1997) Số điểm nghiên cứu được chọn là 5 thôn (bản) Trong đó, 01 cộng đồng người Tày là bản Nhạc (xã Đồng Chum, huyện Đà Bắc); 03 cộng đồng người Mường (là cộng đồng có dân số đông nhất trên địa bàn tỉnh, chiếm khoảng 60%) gồm: thôn Đúc (xã Nam Phong, huyện Cao Phong); thôn Củ (xã Tú Sơn, huyện Kim Bôi); thôn Thung 2 (xã Quý Hòa, huyện Lạc Sơn); và 01 cộng đồng người Dao là xóm Suối Bến (xã Tiến Sơn, huyện Lương Sơn)

3.5.2 Phương pháp thu thập số liệu

3.5.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Các tài liệu có liên quan đến các điều kiện về tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Hòa Bình Các văn bản pháp quy có liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng và các văn bản, tài liệu có liên quan; được thu thập tại các cơ quan quan lý nhà nước

về đất đai các cấp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

3.5.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

- Tiến hành phỏng vấn trực tiếp 41 cán bộ là những người lãnh đạo có liên quan trực tiếp đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hoà Bình Trên cơ sở phỏng vấn các chuyên gia, các cán bộ quản lý làm căn cứ để tác giả thiết kế bảng hỏi phục vụ cho công tác nghiên cứu

- Điều tra, phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi 219 hộ tại các điểm điều tra Các hộ điều tra được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng

3.5.3 Phương pháp đánh giá kết quả công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng

- Chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh tế: Thu nhập hộ được tính như sau:

Thu nhập hộ = Tổng thu nhập của hộ – Chi phí vật chất – Tiền công thuê ngoài

- Chỉ tiêu đánh giá kết quả xã hội: Trong công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa

vào cộng đồng việc đánh giá hiệu quả xã hội được thể hiện thông qua một số chỉ tiêu sau:

Sự tham gia của người dân trong quản lý, sử dụng đất rừng, thể hiện bằng số công lao động; nhận thức của người dân trong công tác quản lý, sử dụng đất rừng cộng đồng; sự thay đổi nhận thức của người dân về vai trò của rừng

- Chỉ tiêu đánh giá kết quả môi trường: Sự thay đổi chất lượng nguồn nước: Đây

là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả về mặt môi trường của các diện tích đất rừng quản lý, sử dụng dựa vào cộng đồng vì phần lớn những diện tích này đều là rừng phòng hộ đầu nguồn nước Tuy nhiên, việc phân tích chất lượng nguồn nước rất khó khăn, phức tạp nên chỉ có thể sử dụng phương pháp thống kê và đánh giá từ người dân địa phương

3.5.4 Phương pháp thống kê so sánh

Ngày đăng: 02/11/2020, 14:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Cộng đồng tham gia quản lý, sử dụng đất rừng đã được hình thành từ lâu đời. Đến nay với chính sách giao đất, giao rừng và thực hiện nhiều chính sách khác nhận thức của người  dân về vai trò của việc quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng đã được thay - Nghiên cứu, đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng đất rừng dựa và cộng đồng trên địa bàn tỉnh hoà bình (tt)
ng đồng tham gia quản lý, sử dụng đất rừng đã được hình thành từ lâu đời. Đến nay với chính sách giao đất, giao rừng và thực hiện nhiều chính sách khác nhận thức của người dân về vai trò của việc quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng đã được thay (Trang 18)
Bảng 4.5. Ý kiến của cộng đồng về chất lượng rừng - Nghiên cứu, đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng đất rừng dựa và cộng đồng trên địa bàn tỉnh hoà bình (tt)
Bảng 4.5. Ý kiến của cộng đồng về chất lượng rừng (Trang 19)
Bảng 4.7. Ý kiến của cộng đồng về chất lượng nguồn nước - Nghiên cứu, đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng đất rừng dựa và cộng đồng trên địa bàn tỉnh hoà bình (tt)
Bảng 4.7. Ý kiến của cộng đồng về chất lượng nguồn nước (Trang 20)
Bảng 4.8. Kết quả kiểm định chất lượng thang đo Cronbach’ Alpha của các biến đặc trưng - Nghiên cứu, đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng đất rừng dựa và cộng đồng trên địa bàn tỉnh hoà bình (tt)
Bảng 4.8. Kết quả kiểm định chất lượng thang đo Cronbach’ Alpha của các biến đặc trưng (Trang 21)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm