1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên ở thành phố hà nội

135 12 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Thanh niên TN là nguồn lực quan trọng quyết định sự phát triển tươnglai của mọi quốc gia; Tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên là vấn đề quantâm của cả Đảng và nhà

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀOTẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ THU HUYỀN

TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

VỀ THANH NIÊN Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp - Luật Hành chính

Mã số: 8380102

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS TƯỜNG DUY KIÊN

HÀ NỘI - NĂM 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây hoàn toàn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Tất cả tài liệu, số liệu và thông tin được trích dẫn trong luận văn hoàn toàn trungthực, đáng tin cậy

Những kết quả nghiên cứu trong luận văn đảm bảo không trùng lặp vớinhững công trình được công bố trước đó

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Huyền

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với lòng kính trọng và sự tri ân sâu sắc, trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơnchân thành tới quý thầy, cô Học viện Hành chính quốc gia đã trang bị cho tôinhiều kiến thức quý báu trong suốt thời gian qua

Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn Phó giáo sư, Tiến sỹ Tường Duy Kiên người thầy kính mến đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn tận tình từ lúc định hướngchọn đề tài cũng như quá trình hoàn thiện nghiên cứu, thầy luôn động viên vàtạo mọi điều kiện thuận lợi để giúp tôi có thể hoàn thành luận văn này

-Tôi cũng xin cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm giúp đỡ,cung cấp rất nhiều số liệu, chia sẻ nhiều kinh nghiệm thực tế để giúp tôi có thểhoàn thành nghiên cứu này

Trang 4

DANH MỤC VIẾT TẮT

STT

12345 6

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THANH NIÊN 9

1.1 Khái niệm, chủ thể, đối tượng về tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên và vai trò của việc tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên 9

1.1.1 Khái niệm về thanh niên, pháp luật về thanh niên 9

1.1.2 Chủ thể, đối tượng của việc tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên 13

1.1.3 Vai trò của việc tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên 16

1.2 Đặc điểm của việc tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên 19

1.3 Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên 22

1.3.1 Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thanh niên 22

1.3.2 Bảo đảm thanh niên thực thi đúng các quyền và nghĩa vụ 24

1.3.3 Tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên thông qua công tác tổ chức cán bộ, thực hiện quản lý, bồi dưỡng, bố trí cán bộ phụ trách tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên 26

1.3.4.Quan tâm đầu tư kinh phí và huy động các nguồn lực cho việc tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên 30

1.3.5 Thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên 30

1.3.6 Hợp tác quốc tế về thanh niên 32

1.4 Các yếu tố bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên 34

1.4.1 Yếu tố pháp luật 34

1.4.2 Yếu tố kinh tế - xã hội 34

Trang 6

1.4.3.Yếu tố năng lực hoạt động của cơ quan tổ chức thực hiện 351.4.4 Yếu tố truyền thống, văn hóa, phong tục tập quán 36

Tiểu kết chương 1 38 Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THANH NIÊN Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI 40 2.1 Những yếu tố tác động đến việc tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên ở Thành phố Hà Nội hiện nay 40

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 402.1.2 Kinh tế - Xã hội 44

2.2 Tình hình tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên ở thành phố Hà Nội 48

2.2.1 Tình hình phổ biến giáo dục pháp luật về thanh niên ở Hà Nội 482.2.2 Bảo đảm thanh niên thực thi đúng các quyền và nghĩa vụ 522.2.3 Tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên thông qua công tác tổ chức cán

bộ, thực hiện quản lý, bồi dưỡng, bố trí cán bộ phụ trách tổ chức thực hiện phápluật về thanh niên 612.2.4.Quan tâm đầu tư kinh phí và huy động các nguồn lực cho việc tổ chức thựchiện pháp luật về thanh niên trên địa bàn thành phố Hà Nội 632.2.5 Thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên 642.2.6.Hợp tác quốc tế về thanh niên 65

2.3 Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên ở Thành phố Hà Nội 67

2.3.1 Ưu điểm 672.3.2 Hạn chế 74

2.4 Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra về tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên ở Thành phố Hà Nội 77

2.4.1 Nguyên nhân 772.4.2 Những vấn đề đặt ra về tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên ở Thànhphố Hà Nội 80

Trang 7

Tiểu kết chương 2 83

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THANH NIÊN Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI85 3.1 Quan điểm bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên ở thành phố Hà Nội 85

3.1.1 Quan điểm bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên đáp ứng yêu cầu thực hiện đúng luật thanh niên 85

3.1.2 Quan điểm bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên phải khách quan, công khai, minh bạch, kịp thời 86

3.1.3 Quan điểm bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên phải căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội mỗi địa phương 87

3.2 Giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên ở Thành phố Hà Nội 88

3.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thanh niên 88

3.2.2 Đổi mới nhận thức tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên 93

3.2.3 Nâng cao chất lượng trong triển khai nội dung, hình thức, phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật về thanh niên 97

3.2.4 Tăng cường kiểm tra, tổng kết rút kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên 100

3.2.5 Củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên 101

Tiểu kết chương 3 104

KẾT LUẬN 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Mật độ dân số và các đơn vị hành chính năm 2018 42Bảng 2.2: Số liệu điều tra ý kiến thanh niên về sự cần thiết của giáo dục phápluật về thanh niên 49Bảng 2.3: Tình hình thanh niên bị xét xử 50

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thanh niên (TN) là nguồn lực quan trọng quyết định sự phát triển tươnglai của mọi quốc gia; Tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên là vấn đề quantâm của cả Đảng và nhà nước trong việc tập hợp, xây dựng lực lượng chính trị

và bổ sung nguồn lực phát triển kinh tế- xã hội của đất nước

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò và vị trí của

TN trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc Người biểu lộ niềm tinvững chắc vào thế hệ trẻ, là lớp người “xung phong trong công cuộc phát triểnkinh tế và văn hóa, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH)” và

trong mọi công việc, thanh niên thi đua thực hiện khẩu hiệu “Đâu cần, thanh

niên có; việc gì khó, TN làm” Người động viên, khích lệ: “TN phải xung phong đến những nơi khó khăn gian khổ nhất, nơi nào người khác làm ít kết quả, TN xung phong đều làm cho tốt”.

Nghị quyết 4 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII đã đánh giávai trò, vị trí quan trọng của TN trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc:

“Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ 21 có vịtrí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không phần lớn tuỳ thuộc vào lựclượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ TN; công tác thanh niêntrong đó vấn đề thực hiện pháp luật của thanh niên là vấn đề sống còn của dântộc, là một trong những nhân tố quyết định sựphát triển của đất nước” Đồngthời xác định: “Đảng và nhà nước lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ giáo dục phápluật cho TN”

Cùng với Hiến pháp năm 2013, xuất phát từ vị trí , vai trò quan trọng của

TN, việc Quốc hội khóa XIII thông qua Luật TN đã tạo một cơ sở pháp lý quantrọng cho việc tổ chức thành công cuộc tổ chức thực hiện pháp luật về TN, về cơbản Luật TN năm 2005 đã tháo gỡ được một số vướng mắc trong thực hiệnquyền và nghĩa vụ của TN trước đây, đáp ứng yêu cầu đổi mới xây dựng và bảo

Trang 10

vệ tổ quốc của lực lượng lòng cốt là TN Tuy nhiên, khi triển khai Luật trên thực

tế một số quy định vẫn còn nhiều ràng buộc, hạn chế quyền của TN tham giavào hoạt động xây dựng, quản lý mọi mặt đời sống xã hội hiện nay

Cũng như nhiều nơi trong cả nước, Hà Nội luôn là thành phố đi đầu trongcông tác giáo dục TN thực hiện pháp luật theo đúng quy định của Đảng và nhànước.Đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành tạo hành langpháp lý cho việc thực hiện công tác TN Tuy nhiên, thực tiễn những năm qua vàyêu cầu của tình hình đất nước trong thời kỳ mới cho thấy pháp luật về thanhniên bên cạnh những ưu điểm đã bộc lộ một số hạn chế như: Hiện nay, Hiếnpháp 2013 đã có những quy định mới về TN, về quyền và nghĩa vụ công dân.Nhiều quy định pháp luật về lao động, việc làm, giáo dục, nghĩa vụ quân sự… cóliên quan đến thanh niên đã sửa đổi, bổ sung Do đó, Luật Thanh niên cần đượcnghiên cứu sửa đổi, bổ sung để tháo gỡ những bất cập đang làm hạn chế hiệuquả thi hành Luật, kịp thời thể chế hóa Hiến pháp 2013 và đáp ứng yêu cầu thựctiễn phát triển của thanh niên với công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước trongtình hình mới

Bên cạnh đó, qua 10 năm triển khai thi hành Luật TN trên địa bàn thànhphố Hà Nội cho thấy quy định của Luật còn chồng chéo, thiếu thống nhất; tráchnhiệm của các chủ thể còn chung chung, không rõ ràng; cơ chế đảm bảo thi hành

mờ nhạt, khó khả thi Văn phong thể hiện còn mang tính Nghị quyết, chưa đúngvới văn phong của văn bản luật… Nội dung nhiều điều luật còn mang tính địnhhướng như “nâng cao,” “tăng cường,” “đẩy mạnh” mà chưa quy định nhữngnguyên tắc xử sự mang tính bắt buộc và được Nhà nước đảm bảo thực hiệnkhiến cho các quy định của Luật khó triển khai và chưa thực sự đi vào cuộc sốngcủa thanh niên, đặc biệt trong điều kiện đổi mới của đất nước

Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên ở thành phố Hà Nội” để viết luận văn thạc sỹ, chuyên ngành: Luật

Hiến pháp và Luật Hành chính

Trang 11

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm qua, vấn đề tổ chức thực hiện pháp luật về TN Công tácthanh niên (CTTN) đã được các Cấp ủy Đảng, các nhà nghiên cứu lý luận vàhoạt động thực tiễn quan tâm nghiên cứu Những quan điểm, chủ trương lớn vàbiện pháp chủ yếu về vấn đề này được thể hiện khá rõ trong các Văn kiện Đạihội đảng các cấp, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khóa VII (ngày 19/3/1993), văn kiện Đại hội Đảng toàn quốclần thứ VII, VIII, IX, X , XI,XII Và đặc biệt gần đây là Chỉ thị số 06/2005/CT-TTg ngày 21/3/2005 về phát huy vai trò TN tham gia phát triển kinh tế - xã hộitrong giai đoạn mới, Nghị quyết số 45/NQ-CP ngày 11/9/2009 về Chương trìnhhành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25/7/2008của Ban Chấp hành Trung ương Đảngvề tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đốivới CTTN thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa(CNH, HĐH); Quyếtđịnh số 2474/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệtChiến lược phát triển TN Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Nghị quyết số 25, Hộinghị TW7 (khóa X) “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với CTTN trongthời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH”

Hiện nay đã có một số đề tài, luận án, luận văn, công trình nghiên cứu vấn

đề tổ chức thực hiện pháp luật về TN như:

Sách liên quan đến đề tài

Hồ Chí Minh: “Về giáo dục và tổ chức TN”, Nxb TN, Hà Nội, 1980;

Nguyễn Phương Hồng: “Thanh niên, học sinh, sinh viên với sự nghiệp

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Nxb Học viện chính trị quốc gia, Hà

Nội, 1997;

Hồ Đức Việt: “ Tổ chức thực hiện pháp luật về TN đối với sự nghiệp công

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2002;

Trần Quy Nhơn: “Tư tưởng Hồ Chính Minh về vai trò của Thanh Niên

trong cách mạng Việt Nam”, 2004;

Phạm Đình Nghiệp: “Giáo dục pháp luật cho TN hiện nay”, Nxb Thanh

Trang 12

Niên, 2004;

Nguyễn Đức Tiến: “Phát triển lý tưởng Xã hội chủ nghĩa cho TN Việt Nam

hiện nay”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005;

Phạm Hồng Tung: "Thanh niên và lối sống của TN Việt Nam trong quá

trình đổi mới và hội nhập quốc tế", Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, 2011;

TS Lâm Quốc Tuấn, Ths Phạm Tất Thắng đồng (chủ biên): “Đảng cộng

sản Việt Nam lãnh đạo công tác TN trong giai đoạn hiện nay”, Nxb Chính trị

Quốc Gia, Hà Nội, 2011;

TS Hoàng Anh: “Giáo dục đạo đức với việc hình thành và phát triển nhân

cáchTN” Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, 2012.

Những cuốn sách trên đã làm rõ vị trí, vai trò của việc thực hiện pháp luật TNđối với sự nghiệp CNH, HĐH đối với cách mạng Việt Nam; phương pháp luận đểgiáo dục lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ, thực trạng công tác giáo dục, nội dung,hình thức phương pháp giáo dục pháp luật cho thế hệ trẻ Việt Nam trong điều kiệnmới hiện nay; xác định TN là lực lượng quyết định dến thành công của sự nghiệpxây dựng đất nước; Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước cộng hòa Xã hội Chủnghĩa Việt Nam là chủ thể lãnh đạoxây dựng pháp luật về TN, để TN phát huy vaitrò là lực lượng xung kích của cách mạng Việt Nam

Luận án, luận văn

Luận án về "Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về TN ở nước ta" của Nguyễn

Văn Tâm (2006), đã phân tích những vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về

TN nhà nước; sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về TN nhà nước; đề xuấtphương hướng và giải pháp tiếp tục đổi mới và hoàn thiện pháp luật về TN ởnước ta

Luận văn: “Quận ủy Tây Hồ, thành phố Hà Nội lãnh đạo công tác vận động TN

hiện nay” của Đỗ Ngọc Linh, Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành xây dựng Đảng và

chính quyền Nhà nước, Học viện báo chí và tuyên truyền, Hà Nội – 2016 Luận văn làm rõ sự lãnh đạo của Quận ủy, Tỉnh ủy đối với công tác vận động TN, đề xuất phương hướng giải pháp tăng cường sự vận động của Quận, Tỉnh ủy đối với công tác

Trang 13

vận động TN thời gian tới.

Luận văn: “ Ý thức thực hiện pháp luật của thanh, thiếu niên trong thời kỳ

hiện nay” của Đinh Thị Ánh Hồng, luận văn Thạc Sỹ chuyên ngành Lí luận và

lịch sử nhà nước và pháp luật, Khoa Luật, đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2010.Luận văn làm rõ tầm quan trọng của việc thực hiện pháp luật của thanh, thiếuniên, đề xuất phương hướng giải pháp tăng cường nâng cao ý thức thực hiệnpháp luật của thanh, thiếu niên trong thời kỳ hiện nay

Luận văn: “Giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên ở thành phố Hà Nội

hiện nay” của Trần Phúc Lộc, luận văn Thạc Sỹ chuyên ngành Lí luận và lịch sử

nhà nước và pháp luật, Khoa Luật, đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011 Luậnvăn nghiên cứu tầm quan trọng của việc giáo dục pháp luật cho TN thành phố

Hà Nội Nêu nên thực trạng của việc thực hiện của TN thành phố Hà Nội và đềxuất giải pháp nằng nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho TN thành phố HàNội trong giai đoạn hiện nay

Các bài đăng trên các báo, tạp chí

“Phát huy vai trò của tuổi trẻ trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” (2008) của Võ Văn Thưởng, Tạp chí Cộng sản điện tử, (6).

“Đổi mới phương thức hoạt động của Đoàn trong công tác đoàn kết, tập hợp TN thực hiện luật TN” (2007) của Võ Văn Thưởng, Tạp chí Dân vận, (12),

tr.10-13

Các công trình trên, tác giả đã đề cập toàn diện về vai trò của TN, công tácđoàn kết, tập hợp TN thực hiện pháp luật về TN, xác định nhiệm vụ, nội dung vàphương thức hoạt động để tổ chức thực hiện pháp luật về TN; nêu lên kinhnghiệm và bài học về đoàn kết, tập hợp TN và phong tràoTN

“Những yếu tố ảnh hưởng, tác động đến đời sống, đạo đức của thanh, thiếu niên hiện nay” (2009) của TS Hoàng Mạnh Đoàn, Tạp chí Tuyên giáo, (4), tr.50-

52 Tác giả đã nêu lên các yếu tố ảnh hưởng, tác động đến lối sống, đạo đức củamột bộ phận thanh, thiếu niên hiện nay và nêu lên những vấn đề để thực hiện tốtcông tác vận động thanh, thiếu niên học tập và làm theo tấm gương đạo

Trang 14

“Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác TN thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH” (2008) của Trương Tấn Sang, Tạp chí Cộng sản điện tử, (15) Tác

giả đã trình bày khái quát tình hình TN và CTTN; đánh giá thực trạng TN và

CTTN, nêu lên các giải pháp cụ thể hóa trong Nghị quyết lần thứ bảy Ban Chấphành Trung ương khóa X

“Mấy ý kiến về công tác thực hiện pháp luật ở nông thôn hiện nay” (2003)

của Trần Danh Hải, Tạp chí Dân vận, (3), tr.34-35 Công trình trên tác giả đãđánh giá khái quát tình hình TN nông thôn, công tác vận động TN thực hiệnpháp luật, nêu lên những đề nghị nhằm tăng cường công tác vận động tổ chứcthực hiện pháp luật về TN ở nước ta

Nhìn chung, các công trình nêu trên đã đề cập đến các khía cạnh, mức độkhác nhau về TN, giáo dục tổ chức thực hiện pháp luật về TN Đặc biệt, có một

số công trình đã nêu lên những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của TN, vềCTTN, về tổ chức thực hiện pháp luật về TN trong thời kỳ đổi mới hoặc thựctrạng CTTN ở một số địa phương Song cho đến nay vẫn chưa có công trìnhkhoa học nào nghiên cứu về tổ chức thực hiện pháp luật về TN ở thành phố HàNội trong giai đoạn hiện nay Vì vậy, đây là một vấn đề cần nghiên cứu nhằmđóng góp về mặt lý luận và tìm ra giải pháp chủ yếu tăng cường tổ chức thựchiện pháp luật về TN ở thành phố Hà Nội trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐHđất nước, hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 15

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về TN ở thành phố Hà Nội,tìm ra các ưu điểm và hạn chế khi tổ chức thực hiện pháp luật về TN ở thành phố

Hà Nội

Đề xuất một số quan điểm, giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật

về TN ở thành phố Hà Nội trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức thực hiện pháp luật về TN

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình tổ chức thực

hiện pháp luật đối với TN tại thành phố Hà Nội Thời gian nghiên cứu từ năm

Trang 16

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được tiến hành bằng cách sử dụng một số phương pháp nghiêncứu khoa học như:

- Phân tích các tài liệu sẵn có liên quan đến đề tài, đặc biệt là các văn bảnquy phạm pháp luật, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

- Thu thập, phân tích, tổng hợp, so sánh các số liệu, kết quả trong phạm vithời gian nghiên cứu

- Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn xem xét từng vấn đề nghiêncứu trong mối liên hệ giữalý luận, các quy định của pháp luật bầu cử với thựctiễn tổ chức thực hiện

- Phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh được sử dụng trong luận vănnhằm đối chiếu các vấn đề tương ứng trong tổ chức thực hiện pháp luật về TN

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Về mặt lý luận: luận văn hệ thống hóa và làm phong phú thêm lý luận về

tổ chức thực hiện pháp luật về TN tại các địa phương trên cả nước

- Về mặt thực tiễn: luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo choviệc nghiên cứu và ứng dụng trong công tác tổ chức thực hiện pháp luật về TNtrên địa bàn thành phố Hà Nội

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ

lục,luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận vềtổ chức thực hiện pháp luật về thanh

niên

Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên ở thành

phố Hà Nội

Chương 3: Quan điểm và các giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện

pháp luật về thanh niên ở thành phố Hà Nội

Trang 17

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN

PHÁP LUẬT VỀ THANH NIÊN

1.1 Khái niệm, chủ thể, đối tượng về tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên và vai trò của việc tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên

1.1.1 Khái niệm về thanh niên, pháp luật về thanh niên

1.1.1.1 Khái niệm về thanh niên

Khái niệm về TN có sự biến đổi theo quá trình phát triển xã hội - lịch sử

Xã hội loài người càng phát triển thì khái niệm TN càng phong phú và hoànthiện Để có quan niệm về TN một cách tương đối toàn diện, có thể rút ra một sốnội dung tổng quát về quan niệm TN như sau:

Thời kỳ nào cũng vậy, TN luôn được xem là rường cột của đất nước, tươnglai của dân tộc và hạnh phúc của gia đình TN là người có thể lực cường tráng,năng động sáng tạo, có ý chí kiên cường trong hoạt động lao động xã hội

Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng: “TN là người còn trẻ đang ở độ tuổitrưởng thành TN thường được xem là một nhóm xã hội lứa tuổi hoặc một látcắt chu kỳ sống của con người, có sự khác nhau với các nhóm đối tượng lứatuổi khác vì có một số đặc điểm tâm lý do lứa tuổi [43, tr 488 – 489]

TN còn được hiểu là lực lượng lao động dự trữ, một tài nguyên lớn củaquốc gia, dân tộc Do đó, có thể xem TN là động lực của sự nghiệp CNH, HĐH.Liên hợp quốc định nghĩa TN là nhóm người từ 15 đến 24 tuổi chủ yếu dựatrên cơ sở phân biệt các đặc điểm về tâm sinh lý và hoàn cảnh xã hội so với cácnhóm lứa tuổi khác Nhưng cũng Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về quyềntrẻ em lại xác định trẻ em đến dưới 18 tuổi

Ở Việt Nam có một thời gian khá dài tuổi TN được hiểu gần như đồng nhấtvới tuổi đoàn viên (15 đến 28 tuổi) Ngày nay do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hộiphát triển, thời gian học tập, đào tạo cơ bản của tuổi trẻ dài thêm, cùng với nhiềuđặc điểm khác mà chúng ta cho TN là những người trong độ tuổi từ 16 đến 30

Trang 18

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đất nước độc lập, thống nhất,

Bác Hồ dạy: "TN là chủ tương lai của nước nhà" Bác ví tuổi TN là mùa xuân của xã hội "Một năm khởi đầu từ mùa xuân, một đời khởi đầu từ tuổi trẻ, tuổi trẻ

là mùa xuân của xã hội" Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Bác

luôn đặt niềm tin vào sức mạnh của TN: "Với một thế hệ TN hăng hái kiên

cường, chúng ta nhất định thành công trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ Quốc" Người còn chỉ rõ,

TN là người kết nối quá khứ với tương lai: "TN là người tiếp sức mạnh cho thế

hệ TN già, đồng thời là người dìu dắt thế hệ TN tương lai" Với TN, Bác dạy:

"Nhiệm vụ của TN không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì Mà phải

tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà? Mình phải làm thế nào cho lợi ích nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào".

Theo Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khóa X (đã được Đại hội Đoàn

toàn quốc lần thứ X thông qua ngày 12/12/2012), “ TN Việt Nam tuổi từ 16 đến

30, tích cực học tập, lao động và bảo vệ Tổ quốc, được tìm hiểu về Đoàn và tán thành Điều lệ Đoàn, tự nguyện hoạt động trong một tổ chức cơ sở của Đoàn, có

lý lịch rõ ràng đều được xét kết nạp vào Đoàn”[42].

Theo Luật TN được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

thông qua tại kỳ họp thứ 8, khóa XI, có hiệu lực ngày 01/7/2006 nêu: “TN quy

định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”[37] TN là giai đoạn sung sức nhất của mỗi con người về thể chất, có sự

phát triển mạnh về trí tuệ, nhạy bén, năng động, sáng tạo, có nhiều ước mơ, hoàibão Đây là giai đoạn định hướng những giá trị cuộc sống của mỗi con người đểhình thành nhân cách TN nước ta là một tầng lớp xã hội rộng lớn, luôn cónhững đóng quan trọng trong các giai đoạn lịch sử phát triển của đất nước

Theo Nghị Quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung Ương Khóa X, TN là lựclượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai,vận mệnh dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm nhữngcông việc đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo TN là độ tuổi sung

Trang 19

sức nhất về thể chất và phát triển trí tuệ, luôn năng động, sáng tạo, muốn tựkhẳng định mình Song, do còn trẻ, thiếu kinh nghiệm nên TN cần được sự giúp

đỡ, chăm lo của các thế hệ đi trước và toàn xã hội

Từ những quan niệm trên, có thể hiểu TN là một nhóm người trong xã hội

-nhân khẩu đặc thù, với độ tuổi nằm trong giới hạn từ 16 đến 30 tuổi, được gắn với mọi giai cấp, dân tộc, mọi tầng lớp xã hội và tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế

- xã hội và đặc điểm của từng quốc gia, từng dân tộc Đây là lứa tuổi phát triển

mạnh mẽ về thể chất, tinh thần, phẩm chất, nhân cách của một công dân, hình thành thế giới quan và lý tưởng đạo đức cuộc sống

1.1.1.2 Khái niệm pháp luật về thanh niên

Theo GS.TS Phạm Hồng Thái và PGS.TS Đinh Văn Mậu, hệ thống pháp

luật là “Tổng thể các quy phạm pháp luật được quy định một cách khách quan

bởi các điều kiện kinh tế-xã hội, được phân chia thành các bộ phận cấu thành khác nhau (các ngành luật, phân ngành luật, chế định pháp luật), phù hợp với đặc điểm, tính chất của các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh, nhưng các bộ phận khác nhau ấy có mối quan hệ tác động qua lại chặt chẽ và thống nhất với nhau” [36]

Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn tiếp cận quan niệm pháp luật là cácquy phạm pháp luật Như vậy, pháp luật chỉ gắn với hệ thống văn bản quy phạmpháp luật về TN.Từ đó, có thể hiểu pháp luật về TN là các quy tắc xử sự do Nhànước ban hành để điều chỉnh hoạt động, những hành vi của người trong độ tuổi

TN vì mục tiêu giáo dục, bồi dưỡng, tạo điều kiện và môi trường cho TN pháttriển, trưởng thành, phát huy lực lượng TN trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc CNXH (Chủ nghĩa Xã hội)

Với khái niệm như vậy,nội hàm của pháp luật về TN bao gồm hệ thống vănbản quy phạm pháp luật quy định về TN do cơ quan nhà nước có thẩm quyềnban hành Như vậy pháp luật về TN sẽ được quy định trong nhiều văn bản quyphạm pháp luật cóthứ bậc khác nhau do nhiều chủ thể ban hành Bên cạnh việcquy định trong các văn bản như Hiến pháp, Luật TN 2005 và

Trang 20

các nghị định, thông tư, quyết định về TN, pháp luật về TN còn chịu sự điềuchỉnh của nhiều ngành luật khác như Luật Lao động điều chỉnh về tiền lương,thời gian làm việc, Luật Hình sự quy định về xử lý hình sự khi TN vi phạmpháp luật hình sự, Luật Dân sự… Ngoài ra còn rất nhiều văn bản dưới

luật khác có tính chất chuyên ngành điều chỉnh

Pháp luật về TN là lĩnh vực pháp luật liên ngành, được qui định trong nhiềuvăn bản quy phạm pháp luật do nhiều chủ thể ban hành Đặc điểm này của phápluật về TN đòi hỏi khi xây dựng, hoàn thiện pháp luật về TN cần phải phân địnhrành mạch thẩm quyền, phạm vi của từng chủ thể khi ban hành các văn bản quyphạm pháp luật, đồng thời phải tránh mâu thuẫn, đảm bảo tính thống nhất

Pháp luật về TN là những quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành đểđiều chỉnh, phối hợp thống nhất triển khai tổ chức thực hiện nhiệm vụ CTTNcủacác tổ chức, lực lượng trong xã hội nhằm đạt được các mục tiêu của Đảng vềcông tác giáo dục, bồi dưỡng và phát huy lực lượng TN

Pháp luật về TN bao gồm các nội dung:

Một là: Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật,chiến lược, chính sách, chương trình phát triển TN và CTTN

Hai là: Đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ làm CTTN

Ba là: Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạmtrong việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về TN và CTTN

Bốn là: Hoạt động hợp tác quốc tế về CTTN

1.1.1.3 Khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên

Để pháp luật về TN đi được vào cuộc sống bằng những hành vi hợp pháp củacác chủ thể sử dụng pháp luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phải tổchức đưa pháp luật vào thực thi trong hoạt động công vụ nhằm bảo đảm tính phápquyền, tuân thủ pháp luật của các công chức trong mọi hoạt động của mình

Tổ chức thực hiện pháp luật về TN là việc tổ chức, cá nhân thực hiện quyphạm pháp luật, chiến lược, chính sách về TN

Tổ chức thực hiện pháp luật về TN là những hoạt động của chủ thể thực hiện

Trang 21

tuyên truyền, giáo dục , phổ biến, thực hành, giám sát, kiểm tra các điểu luật liênquan đến TN.

Tổ chức thực hiện pháp luật về TN là quá trình hoạt động có mục đích làmcho những quy định pháp luật liên quan tới trách nhiệm của TN đi vào cuộc sống,trở thành những hành vi hợp pháp của TN và các cá nhân, tổ chức có liên quan.Thực hiện pháp luật TN được biểu hiện trên hai phương diện chủ yếu:không thực hiện hành vi trái pháp luật TN và thực hiện hành vi hợp pháp, tuânthủ pháp luật TN, pháp luật TN trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp củacác chủ thể sử dụng pháp luật đòi hỏi trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật

TN phải có nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp.Từ những phân tích ở

trên, chúng ta có thể hiểu Tổ chức thực hiện pháp luật về TN là hoạt động sắp

xếp, định hướng một cách có tổ chức, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch và thường xuyên, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện làm cho pháp luật

về TN được triển khai trong thực tiễn.

1.1.2 Chủ thể, đối tượng của việc tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên

1.1.2.1 Chủ thể của việc tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên

Tổ chức thực hiện pháp luật về TN là hoạt động có sự tham gia của cơ quannhà nước có thẩm quyền tác động tới các đối tượng là TN nhằm đạt mục đíchcủa cơ quan nhà nước Tổ chức thực hiện pháp luật về TN là hoạt động có địnhhướng, có chủ định của cơ quan nhà nước

Chủ thể ở đây có thể là một người, một tổ chức hay một tập thể lãnh đạo.Theo khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật về TN đã nêu, chủ thể ban hành luật

ở đây được xác định là Quốc hội Chính phủ là cơ quan dự thảo luật TN trìnhQuốc hội thông qua, Bộ Nội Vụ là cơ quan tham mưu cho Chính Phủ trình dựthảo luật TN cho Quốc hội xem xét và ban hành luật TN Các tổ chức chính trị -

xã hội, các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp, gia đình, nhàtrường và toàn xã hội phối hợp, theo sát thực tiễn cùng với Bộ Nội vụ tổ chứcthực hiện pháp luật về thanh niên khi được Quốc hội thông qua luật TN

Một văn bản luật được ban hành và thông qua đưa vào thực tiễn đời sống

Trang 22

xã hội phải dựa trên ba tiêu chí: Văn bản pháp luật là văn bản chứa đựng quy tắcchung; do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thông qua; có hiệulực bắt buộc chung, được áp dụng nhiều lần Luật TN do cơ quan nhà nước caonhất có thẩm quyền ban hành là Quốc hội Quốc hội đề ra các chủ trương, đườnglối để phát triển TN và đề ra luật về TN, hướng dẫnTN thực hiện nhiệm vụ củaluật TN đã đề ra theo chức năng của mình và kiểm tra, giám sát quá trình tổ chứcthực hiện công tác TN của các tổ chức đó.

Chính phủ là một chủ thể của xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật về

TN Xây dựng và thiện hiện luật TN là một trong những nhiệm vụ trọng tâm củaChính phủ Trên cơ sở chỉ đạo của CP, phân công của Thủ tướng CP, các Bộtrưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ đã quan tâm, tập trung các nguồn lực đểtriển khai thi hành luật TN và ban hành văn bản quy định chi tiết về TN.Tổ chứcthi hành luật, nghị quyết của Quốc hội về TN, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy banthường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước liên quan đếnTN;Chính phủ Đề xuất, xây dựng luật TN;

CP là cơ quan dự thảo luật TN trình Quốc hội ban hành luật TN CP tiếnhành việc thể chế hóa các chủ trương, đường lối về thanh niên và CTTN thànhcác chính sách và văn bản pháp luật như: Luật Thanh niên, các chính sách vềgiáo dục và đào tạo; về lao động - việc làm, về đời sống và tinh thần cho thanhniên Đồng thời sử dụng quyền lực của mình để tiến hành tổ chức thực hiện phápluật về TN Chính phủ còn thực hiện chức năng quản lý của mình đối với tổchức thực hiện pháp luật về TN bằng việc phối phợp và huy động sự tham giacủa các tổ chức chính trị - xã hội, cả gia đình, nhà trường và toàn xã hội trong tổchức thực hiện pháp luật về TN

Bộ Nội Vụ là cơ quan tham mưa chp CP dự thảo, tổ chức thực hiện banhành luật TN Bộ Nội Vụ xây dựng các quan điểm, chủ trương về những vấn đềliên quan đến TN bằng các văn bản pháp luật, các chính sách đối với TN, thựchiện sự quản lý về tổ chức thực pháp luật về TN trình Quốc hội thông qua Tổchức thực hiện pháp luật về TN là một dạng đặc thù, mang tính quyền lực nhà

Trang 23

nước đối với một đối tượng đặc biệt là TN; là quá trình tác động của hệ thốngcác cơ quan nhà nước đối với việc đề ra pháp luật về TN bằng chính sách, luậtpháp, cơ chế vận hành và tổ chức bộ máy, bằng kiểm tra, giám sát.

Các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội, xãhội nghề nghiệp, nhà trường và các tổ chức đoàn thể khác góp phần tích cực vàoviệc chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng và phát huy vai trò của TN Phối hợp, theo sátthực tiễn cùng với Bộ Nội Vụ tiến hành tổ chức thực hiện pháp luật về TN theoquy định của Quốc hội ban hành

Thực tiễn cho thấy, TN vừa là chủ thể đồng thời cũng là đối tượng chủđộng tổ chức thực hiện pháp luật về TN TN phải là chủ thể chủ động xung kích,sẵn sàng, tình nguyện đi đầu thực hiện các nghĩa vụ của TN, sẵn sàng nhậnnhiệm vụ ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh

tế - xã hội đặc biệt khó khăn, sẵn sàng đảm nhận các công việc khó khăn, giankhổ, cấp bách, nguy hiểm để đóng góp sức lực, trí tuệ, nhiệt tình và sáng tạo củatuổi trẻ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tiên phong thực hiện chínhsách pháp luật về chính TN

1.1.2.2 Đối tượng tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên

Đối tượng để tổ chức thực hiện pháp luật về TN là TN và các tổ chức TN.Pháp luật về TN hướng đến đối tượng là TN nhằm mục đích đảm bảo việc thựchiện quyền và nghĩa vụ của TN trong học tập, lao động, trong việc bảo vệ Tổquốc, trong hoạt động khoa học - công nghệ, bảo vệ tài nguyên môi trường, vănhóa - nghệ thuật, trong quản lý nhà nước và xã hội

Các tổ chức chính trị- xã hội tổ chức thực hiện pháp luật về TN nhằm địnhhướng, giáo dục một lớp người trẻ tuổi phát triển toàn diện vừa hồng vừa chuyênnhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn lực con người phù hợp với sự tiến bộ của xãhội hay con người mới - con người XHCN mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói TNViệt Nam cần phải luôn tích cực, có tinh thần học tập rèn luyện, có lối sống vănminh lành mạnh, nghiêm túc thực hiện chính sách và pháp luật của Nhà nước, có

ý thức trong việc bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội

Trang 24

Thông qua việc đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, TN cần phảiluôn cố gắng trong mọi hoạt động như: học tập, lao động, bảo vệ tổ quốc, bảo vệtài nguyên môi trường, trong hoạt động khoa học - công nghệ, trong quản lý nhànước về xã hội cũng như trong lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật Đối tượng TN cầnphải luôn nêu cao tinh thần, trách nhiệm, nghĩa vụ và vai trò của bản thân đốivới dân tộc.

Việc xác định chủ thể và đối tượng của việc tổ chức thực hiện pháp luật về

TN có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhận thức và hành động của cán bộ, cácnhà quản lý, Đoàn TN, các tổ chức chính trị- xã hội Về nhận thức: khắc phụcđược thái độ thờ ơ đối với việc thực hiện pháp luật về TN, coi việc thực hiệnpháp luật về TN là nhiệm vụ của tổ chức khác, không phải của mình, khắc phụcthái độ phê phán TN một chiều, ít thấy trách nhiệm của mình trong sự yếu kém,khuyết điểm mà TN mắc phải Về hành động: xác lập tính cộng đồng của Nhànước, các tổ chức và gia đình trong việc chăm lo đến thế hệ trẻ của nước nhàdưới sự quản lý của nhà nước, các tổ chức chính trị- xã hội; cán bộ, đảng viên,gia đình, nhà trường thấy rõ trách nhiệm của mình với TN, sống gương mẫu vềmọi mặt để TN học tập và noi theo

1.1.3 Vai trò của việc tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên

Luật Thanh niên được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2005 tại kỳhọp lần thứ 8 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2006 Trên cơ sở đó, Chínhphủ ban hành Nghị định số 120/2007/NĐ-CP ngày 23/7/2007 hướng dẫn thihành Luật Thanh niên Thời gian qua, với sự phối hợp của các cấp, các ngành,Luật Thanh niên năm 2005 đã từng bước đi vào thực tiễn, là cơ sở pháp lý quantrọng cho việc bảo đảm thực hiện quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp của thanhniên và cho việc ban hành các chính sách, pháp luật cho thanh niên; phát huy vaitrò xung kích, tình nguyện, sức sáng tạo, tiềm năng to lớn của thanh niên vàtrách nhiệm của thanh niên đối với đất nước và xã hội Luật Thanh niên ra đời đãgóp phần xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật đối với thanh niên trongcông cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời góp phần hoàn thiện hệ

Trang 25

thống pháp luật Việt Nam.Việc triển khai thi hành Luật Thanh niên đã góp phầnxây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam mới giàu lòng yêu nước, có đạo đức cáchmạng, ý thức công dân và lý tưởng xã hội chủ nghĩa; có trình độ học vấn, nghềnghiệp và việc làm; có văn hóa, sức khỏe, kỹ năng sống, ý chí vươn lên; xungkích, sáng tạo, làm chủ khoa học, công nghệ tiên tiến; từng bước hình thànhnguồn nhân lực trẻ có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Tổ chức thực hiện pháp luật về TN được tất cả các quốc gia, các thời đạicoi là vấn đề có ý nghĩa, có tầm quan trọng đặc biệt Thực hiện pháp luật về TNxuất phát từ vai trò, vị trí đặc biệt của TN TN không chỉ là lực lượng kế cận của

xã hội mà còn là lực lượng lao động chính tạo ra của cải vật chất nuôi sống xãhội Với bất cứ hoàn cảnh nào, sự tồn vong của một quốc gia cũng được quyếtđịnh bởi vai trò quan trọng của TN

Khi xác định vị trí, vai trò của việc tổ chức thực hiện pháp luật về TN đốivới tương lai của đất nước, nhân dịp Hội nghị Thanh niên Việt Nam năm 1947 ,

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi các bạn TN và khẳng định: “Nước nhà

thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do TN”.

Tương lai của TN gắn liền với vận mệnh và tương lai của dân tộc dưới sựlãnh đạo của Đảng Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rấtquan trọng và rất cần thiết Tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về TN khôngchỉ là quy định của Đảng của nhà nước, mà còn nhằm bồi dưỡng thế hệ chủ nhânhiện tại và tương lai của đất nước, lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định đến sự thành công của sự nghiệpCNH, HĐH đất nước, hội nhập quốc tế TN được đặt ở vị trí trung tâm trongchiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người Chăm lo, pháttriển TN vừa là mục tiêu, vừa là động lực đảm bảo cho sự ổn định và phát triểnbền vững của đất nước

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII), Đảng ta khẳng định: “Sự nghiệp đổi

mới có thành công hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước trên con

Trang 26

đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn tùy thuộc vào lực lượng TN, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ TN; tổ chức thực hiện pháp luật về TN là vấn

đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng”.

Tổ chức thực hiện pháp luật về TN có vai trò rất quan trọng trong việc giáodục TN, thực hiện hiệu quả chiến lược con người của Đảng ta hiện nay Thế hệ

TN cần phải cố gắng nâng cao trình độ học vấn đề đáp ứng cho nhu cầu pháttriển đất nước cũng như nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao của thời đại.Thực hiện chiến lược “trồng người” để nâng cao trình độ về mọi mặt cho TN của

Đảng Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Muốn xây dựng Xã hội chủ nghĩa,

trước hết cần có những con người Xã hội chủ nghĩa”, đó chính là những con

người mới đáp ứng nhu cầu phát triển của thời đại, là những con người quyếtđịnh đến sự tồn vong, thành bại của sự nghiệp cách mạng, của dân tộc Đồngthời, tổ chức thực hiện pháp luật về TN còn có vai trò thúc đẩy hình thành phẩmchất tốt đẹp cho TN và tạo ra động lực tinh thần cho sự nghiệp cách mạng, cũngnhư để đáp ứng yêu cầu cấp bách của sự nghiệp đổi mới đất nước

Tổ chức thực hiện pháp luật về TN tạo hành lang pháp lý để quyền và lợiích của TN phát triển toàn diện theo định hướng của Nhà nước pháp quyềnXHCN Nhà nước quản lý TN và CTTN bằng việc đưa ra các văn bản quy phạmpháp luật, điều khoản luật cụ thể; thể chế hoá đường lối, các văn bản luật về TN

và CTTN thành chương trình hành động và cụ thể hoá trong các chương trình,

kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh hằng năm củacác cấp, các ngành

Tổ chức thực hiện pháp luật về TN có vị trí, vai trò vô cùng to lớn, tổ chứcthực hiện pháp luật về TN luôn được nhà nước và các tổ chức chính trị- xã hộiquan tâm, chú trọng và xem đây là một bộ phận quan trọng trong CTTN Làmtốt việc tổ chức thực hiện pháp luật về TN mới phát huy được sức mạnh của thế

hệ trẻ trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước ngày càng vữngmạnh hơn

Trang 27

Có thể nhận thấy rằng, ngay từ đầu Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với ĐảngCộng sản Việt Nam vẫn luôn xác định và nhận thức một cách đúng đắn, sâu sắc

về vị trí và vai trò hết sức quan trọng của việc tổ chức pháp luật về TN Để TN

thực sự là “Rường cột” của đất nước thì việc bồi dưỡng, rèn luyện, đào tạo các

thế hệ trẻ là một việc cấp thiết Tổ chức pháp luật về TN là vấn đề sống còn củadân tộc, là một trong những nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạngtrong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc, tự do cho nhân dân dưới sự phốihợp của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội cùng nhau thực hiệnbồi dưỡng giáo dục TN đấu tranh chống lại kẻ thù Bước vào thời kỳ xây dựngđất nước, tổ chức pháp luật về TN vẫn con nguyên giá trị là một trong nhữngnhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp CNH, HĐN đất nước, hội nhậpquốc tế và xây dựng CNXH

Như vậy, việc tổ chức thực hiện pháp luật về TN luôn được đặt ở vị trítrung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người.Việc chăm lo, giáo dục, phát triển TN vừa là mục tiêu vừa là động lực đảm bảocho sự ổn định, phát triển vững mạnh của đất nước TN cần phải tích cực họctập, rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu và có trách nhiệm để trở thành người xứngđáng với vai trò là chủ nhân tương lai của dân tộc

1.2 Đặc điểm của việc tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 khóa X (NQ số 25/NQ - TW) “Về tăngcường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá” đã khẳng định lại quan điểm về công tác thanh niêncủa Đảng:

- Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước,

là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân

tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội Thanh niên được đặt ở vị trítrung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người.Chăm lo, phát triển TN vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự

Trang 28

ổn định và phát triển vững bền của đất nước chính vì vậy việc tổ chức và thực hiện pháp luật về thanh niên là rất cần thiết.

- Chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục thanh niên thành lớp người “vừa hồngvừachuyên” là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của nhà nước và các tổchức chính trị - xã hộiđịnh hướng cho thanh niên hành động, xác định các chuẩnmực cho thanh niên phấn đấu; xây dựng các tấm gương điển hình tiêu biểu chothanh niên học tập và noi theo,vai trò quan trọng của Đoàn thanh niên Cộng sản

Hồ Chí Minh, gia đình, nhà trường và xã hội

Nhà nước quản lý thanh niên và công tác thanh niên bằng việc đưa ra cácvăn bản quy phạm pháp luật, điều khoản luật cụ thể; thể chế hoá đường lối, cácvăn bản luật về thanh niên và công tác thanh niên thành chương trình hành động

và cụ thể hoá trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảođảm quốc phòng, an ninh hằng năm của các cấp, các ngành

Tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên mang đầy đủ đặc điểm của quátrình tổ chức thực hiện pháp luật nói chung Với bản chất là hoạt động xã hội củacon người, tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên hàm chứa những đặc điểmchung của các hoạt động xã hội khác đồng thời với bản chất pháp lý của mình, tổchức thực hiện pháp luật về thanh niên có những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất: Tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên bao giờ cũng thông

qua những hành vi cụ thể của con người Đời sống xã hội của con người bao giờcũng được bộc lộ thông qua các hành vi cụ thể trong các mối quan hệ xã hội.Hành vi cũng chính là các phương thức tồn tại của conngười, chính vì lẽ đó, việc

tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên thường tồn tại là những dạng hànhđộng tích cực là chủ yếu và phổ biến của các cá nhân hoặc cơ quan trong bộ máynhà nước

Thứ hai: Tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên là hành vi phù hợp với

pháp luật đối với thanh niên Việc phù hợp ở đây được hiểu là pháp luật cấmđiều gì làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của thanh niên thì chủ thểkhông làm, pháp luật có những quy định gì nhằm tạo điều kiện và bảo vệ quyền

Trang 29

lợi của thanh niên thì chủ thể tích cực tham gia và pháp luật cho phép làm gì thìcác chủ thể đưa ra quyết định để tổ chức thực hiện hành vi hoặc không tổ chứcthực hiện hành vi phù hợp.

Thứ ba: Tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên là một quá trình có mục

đích, nó bao gồm nhiều hoạt động kế tiếp nhau Để biến những quyền và nghĩa

vụ pháp lý bảo vệ thanh niên, tạo điều kiện cho thanh niên phát triển toàn diệnthì cần thiết phải thông qua hàng loạt các hoạt động cụ thể của con người mà cáchoạt động đó phải có mục đích, mục tiêu cụ thể

Các hoạt động cụ thể đó bao gồm: Chủ thể tìm hiểu các quy định của phápluật có nội dung cụ thể như thế nào, xem xét vị trí, chức năng vai trò của bảnthân, ra các quyết định về cách thức, thời gian hoạt động cụ thể Tất cả các hoạtđộng đó phải cần thiết xác định mục tiêu cụ thể là bảo vệ và bảo đảm quyền vàlợi ích hợp pháp và tạo điều kiện để thanh niên phát triển toàndiện

Quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên có ý nghĩa quan trọngbởi: Thanh niên là lực lượng xã hội hùng hậu, có nhiều đóng góp to lớn, quantrọng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là lực lượng trực tiếp kế tục sựnghiệp cách mạng trong giai đoạn tiếp theo và quyết định tương lai của đất

nước Vì vậy, đòi hỏi mục tiêu, mục đích không chỉ có ý nghĩa trong việc thiết

lập, xây dựng các quy phạm pháp luật cụ thể mà còn là đòi hỏi đối với các chủthể trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về thanhniên

Thứ tư: Quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên được bảo đảm

bằng cả hệ thống chính trị

Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoáVII về công tác thanh niên trong thời kỳ mới đã đánh giá vai trò, vị trí quantrọng của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: “Sự nghiệpđổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ 21 có vị trí xứngđáng trong cộng đồng thế giới hay không phần lớn tuỳ thuộc vào lực lượngthanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên; công tác thanh niên

là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành

Trang 30

bại của cách mạng” Đồng thời xác định: “Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị tổchức thực hiện nhiệm vụ công tác thanhniên”.

Thể chế hoá quan điểm, chủ trương của Đảng, khoản 1 Điều 4 Luật Thanhniên quy định: “Thanh niên là tương lai của đất nước, là lực lượng xã hội hùnghậu, có tiềm năng to lớn, xung kích trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.Đào tạo, bồi dưỡng và phát huy thanh niên là trách nhiệm của Nhà nước, giađình và xã hội” Nhà nước sử dụng các hình thức bảo đảm pháp lý, sử dụng các

tổ chức xã hội hoặc các thiết chế khác nhau phù hợp với đối tượng thanh niên

Thứ năm, tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên vừa mang tính tổ chức

thực hiện quyền lực nhà nước, vừa mang tính xã hội rộng rãi, thông qua các hìnhthức: chấp hành, tuân thủ, sử dụng và áp dụng Luật Thanh niên

1.3 Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên

1.3.1 Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thanh niên

Tổ chức phổ biến, tuyên truyền pháp luật về TN là một trong những nội dungquan trọng của công tác tổ chức thực hiện pháp luật về TN, nhằm giúp TN khôngtiến hành những hoạt động mà pháp luật TN cấm Đồng thời, việc tuyên truyền giúp

TN nhận thức được những hành vi phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mà quy phạmpháp luật về TN cụ thể quy định về các nghĩa vụ pháp lý theo luật TN

Phương thức tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục trong việc tổ chức thực hiện pháp luật TN là phương thức quan trọng trong vận động TN tham gia xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc để xứng đáng là lực lượng lòng cốt trẻ và nhiệt huyết của đất nước Nhà nước và các tổ chức chính trị- xã hội tiến hành công tác tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục bằng việc tổ chức các lớp học bồi dưỡng, tập huấn, các lớp chuyên đề, qua các phương tiện truyền thông, thông tin đại chúng, thông qua việc chỉ đạo tổ chức các chương trình hoạt động cụ thể Công tác tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục đã góp phần quan trọng và có tác động mạnh mẽ đến nhận thức của TN, giúp TN hiểu biết sâu sắc và thực hiện đúng đắn đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; đồng thời, giúp TN có tinh thần, trách nhiệm, có ý thức trong học tập, lao động, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, nắm bắt thông tin kịp thời, có định hướng và

Trang 31

nhạy cảm với mọi vấn đề của thời đại Từ những hiểu biết, nhìn nhận vấn đề mộtcách nhạy bén, kịp thời TN sẽ có những hành động để đưa ra quyết định đúngđắn, tích cực và sáng suốt trong sự nghiệp xây dựng đất nước, nhằm phát huyđược năng lực của tuổi trẻ, sự sáng tạo để công hiến cho dân tộc và trở thànhngười có ích cho xã hội.

Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật TN có thể thực hiện dưới nhiềuhình thức khác nhau như: tuyên truyền miệng; thông qua các cuộc thi tìm hiểu;thông qua tờ rơi; thông qua hệ thống thông tin đại chúng…

Tuyên truyền miệng về pháp luật là một hình thức tuyên truyền khá phổbiến mà người nói trực tiếp nói với người nghe về lĩnh vực pháp luật trong đóchủ yếu là các văn bản pháp luật đó nhằm nâng cao nhận thức về pháp luật, niềmtin vào pháp luật và ý thức pháp luật cho người nghe và kích thích người nghehành động theo các chuẩn mực pháp luật.Tuyên truyền miệng về pháp luật cónhiều ưu thế thể hiện ở tính linh hoạt, có thể tiến hành ở bất cứ nơi nào, trongbất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào và số lượng người nghe; người nói có điều kiệnthuận lợi để giải thích, phân tích, làm sang tỏ nội dung cần tuyên truyền, hai bên

có thể hỏi đáp trực tiếp để đáp ứng yêu cầu của nhau Trong công tác tuyêntruyền, phổ biến, giáo dục pháp luật từ trước đến nay, hình thức phổ biến, giáodục pháp luật thông qua tuyên truyền miệng được sử dụng phổ biến, rộng rãi và

có mối quan hệ chặt chẽ với các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác.Tuyên truyền, phổ biến pháp luật TN còn có thể thực hiện thông qua việcbiên soạn, phát hành tài liệu pháp luật Tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật gồmnhiều loại như đề cương tuyên truyền, văn bản pháp luật, sách hướng dẫn, giảithích pháp luật, sách pháp luật bỏ túi, sách hỏi đáp pháp luật, tờ rơi, tờ gấp, bảntin, tranh áp phích, lịch… Trong tuyên truyền miệng, trong các hoạt động giảngdạy và học tập pháp luật TN tại các trường đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho cán

bộ làm công tác phổ biến pháp luật về TN … đều sử dụng tài liệu pháp luật đểthực hiện tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật Hiệu quả của công tác phổbiến, giáo dục pháp luật chịu sự tác động nhất định của chất lượng các tài liệu

Trang 32

pháp luật, vì vậy, việc biên soạn, phát hành các tài liệu này cũng được chú trọng

cả hình thức và nội dung

Ngoài ra, để pháp luật TN trở nên gần gũi và trở thành nhận thức trong hoạtđộng quản lý nhà nước, việc tuyên truyền phổ biến pháp luật còn có thể thực hiệnthông qua tổ chức cuộc thi tìm hiểu pháp luật; thông qua hoạt động thực thi phápluật; thông qua việc thực hiện ký cam kết không vi phạm pháp luật…

1.3.2 Bảo đảm TN thực thi đúng các quyền và nghĩa vụ

Về nghĩa vụ, luật TN quy định nghĩa vụ của thanh niên đối với Đảng, Nhànước và nhân dân bao gồm: trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốcgia; tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân; liên hệ chặt chẽ với nhân dân,lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; chấp hành nghiêm chỉnhđường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước

Quyền và nghĩa vụ của TN được quy định tại Luật Thanh niên được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005, có hiệu lực từ ngày 01/7/2006 , được quy định rõ như sau:

Điều 9 Quyền và nghĩa vụ của TN trong học tập quy định: Được học tập và

bình đẳng về cơ hội học tập.Tích cực học tập hoàn thành chương trình phổ cậpgiáo dục và vươn lên học tập ở trình độ cao hơn; thường xuyên học tập nâng caotrình độ học vấn, chuyên môn, nghề nghiệp; tham gia xây dựng môi trường vănhoá học đường; trung thực trong học tập Xung kích tham gia các chương trìnhphát triển giáo dục và đào tạo, xây dựng xã hội học tập

Điều 10 Quyền và nghĩa vụ của TN trong lao động quy định: Lao động để

lập thân, lập nghiệp, làm giàu chính đáng, góp phần xây dựng đất nước.Chủđộng tiếp cận thông tin thị trường lao động; lựa chọn việc làm và nơi làm việcphù hợp với khả năng của bản thân và nhu cầu của xã hội Rèn luyện tác phongcông nghiệp, năng lực quản lý, kinh doanh, tuân thủ kỷ luật lao động; phát huysáng kiến, cải tiến kỹ thuật; nâng cao trình độ nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu pháttriển khoa học và công nghệ Xung kích thực hiện các chương trình phát triển

Trang 33

kinh tế - xã hội ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.

Điều 11 Quyền và nghĩa vụ của TN trong bảo vệ Tổ quốc quy định: Bảo vệ

Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của TN TN được huấn luyệnchương trình giáo dục quốc phòng; thực hiện nghĩa vụ quân sự, tham gia các lựclượng vũ trang theo quy định của pháp luật Tham gia xây dựng nền quốc phòngtoàn dân, giữ gìn bí mật quốc gia, xung kích đấu tranh chống mọi hành vi xâmhại đến an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội

Điều 12 Quyền và nghĩa vụ của TN trong hoạt động khoa học, công nghệ

và bảo vệ tài nguyên, môi trường quy định: Được nghiên cứu khoa học và công

nghệ, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống Trung thực và có tinhthần hợp tác trong nghiên cứu khoa học và công nghệ Tham gia các hoạt độngbảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên; đấu tranh chống các hành vi huỷhoại tài nguyên, môi trường

Điều 13 Quyền và nghĩa vụ của TN trong hoạt động văn hoá, nghệ thuật,

vui chơi, giải trí quy định: Được tham gia các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, vui

chơi, giải trí lành mạnh Thường xuyên rèn luyện đạo đức, tác phong, hành

vi ứng xử văn hoá; thực hiện nếp sống văn minh Giữ gìn và phát huy bản sắcvăn hoá dân tộc, bảo vệ di sản văn hoá; tích cực tham gia xây dựng đời sống vănhoá cộng đồng

Điều 14 Quyền và nghĩa vụ của TN trong bảo vệ sức khoẻ, hoạt động thể

dục, thể thao quy định: Được bảo vệ, chăm sóc, hướng dẫn nâng cao sức khoẻ,

kỹ năng sống lành mạnh, phòng ngừa bệnh tật Được chăm lo phát triển thể chất;tích cực tham gia các hoạt động thể dục, thể thao, rèn luyện thân thể Phòng,chống HIV/AIDS; phòng, chống ma tuý và các tệ nạn xã hội khác

Điều 15 Quyền và nghĩa vụ của TN trong hôn nhân và gia đình quy định:

Được giáo dục kiến thức về hôn nhân và gia đình, thực hiện hôn nhân tự nguyện,tiến bộ, một vợ một chồng.Vợ chồng bình đẳng, xây dựng gia đình hạnh phúc.Giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam; kính trọng ông

bà, cha mẹ và người lớn tuổi; chăm sóc, giáo dục con, em trong gia

Trang 34

đình Gương mẫu thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình, về dân số và kếhoạch hoá gia đình.

Điều 16 Quyền và nghĩa vụ của TN trong quản lý nhà nước và xã hội quy

định: Nâng cao ý thức công dân, chấp hành pháp luật, góp phần xây dựng Nhà

nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Được ứng cử,

đề cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của pháp luật;được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị với cơ quan, tổ chức về những vấn

đề mà mình quan tâm; tham gia góp ý xây dựng các chính sách, pháp luật liênquan đến TN và các chính sách, pháp luật khác Tham gia tuyên truyền, vậnđộng nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước

Nghĩa vụ không được làm những việc mà pháp luật không cho phép gồmnhững việc không được làm liên quan đến đạo đức của người TN chân chính;những việc không được làm liên quan đến bí mật nhà nước và những việc khôngđược làm khác liên quan đến sản xuất, kinh doanh, công tác nhân sự quy định tạiLuật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí vànhững việc khác theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền

1.3.3 Tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên thông qua công tác tổ chức cán bộ, thực hiện quản lý, bồi dưỡng, bố trí cán bộ phụ trách tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên

Bằng việc tuyên truyền cho cán bộ phụ trách hoạt động thực hiện pháp luậtcủa TN thấy được tầm quan trọng của TN và việc tổ chức thực hiện pháp luật về

TN để cùng thống nhất hành động, vận động TN thực hiện đúng pháp luật vàthấy được nhiệm vụ của TN đối với quê hương, đất nước Qua đó phân công cán

bộ phụ trách việc tổ chức pháp luật về TN phối hợp cùng với các tổ chức trong

hệ thống chính trị tiến hành tổ chức và thực hiện pháp luật về TN

Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đoàn các cấp thực sự có năng lực, nhiệt tình,

có khả năng vận động quần chúng, có tinh thần trách nhiệm, có ý thức và là những người có phẩm chất để tuyên truyền phổ biến luật TN một cách hợp lý nhất Cán bộ làm công tác tổ chức thực hiện pháp luật về TN là lực lượng trực tiếp tiếp nhận và

Trang 35

thực hiện nhiệm vụ của Đảng, của Nhà nước - là những người trực tiếp đưa chủtrương, chính sách, các văn bản luật TN đến với TN, hướng dẫn sâu sát cùngtầng lớp TN tổ chức thực hiện pháp luật về TN Việc tổ chức thực hiện pháp luật

về TN thông qua công tác cán bộ, thực hiện quản lý, bồi dưỡng, bố trí sắp xếpcán bộ, tổ chức cán bộ phụ trách tuyên truyền, phổ biến luật TN

Thông qua đội ngũ cán bộ làm công tác phổ biến luật TN, đặc biệt là đội ngũ cán

bộ phụ trách trực tiếp việc tổ chức thực hiện pháp luật về TN để động viên, khuyến khích, giáo dục, bồi dưỡng TN, vận động TN tham gia phát triển KT- XH, giữ gìn trật

tự an toàn xã hội Cán bộ là những người gần, gắn bó với TN và là người trực tiếp tham gia vào các tổ chức, các phong trào TN, tập hợp, quản lý, giáo dục, định hướng cho TN hoạt động theo tinh thần của Đảng, Nhà nước - đúng đường lối, chủ trương của Đảng chính sách, pháp luật của Nhà nước Chính vì vậy, Nhà nước và các tổ chức chính tri- xã hội đã xác định cần phải tập trung vào công tác cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp một đội ngũ cán bộ có đủ trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức để phụ trách việc tổ chức pháp luật về TN, nhằm đảm bảo việc tổ chức thực hiện pháp luật về TN được thực hiện một cách hiệu quả và chất lượng.

Căn cứ vào Luật TN, việc tổ chức quản lý TN phải đảm bảosự lãnh đạo củaĐảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước; kết hợp giữa tiêu chuẩn,nhận thức của TN; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ trách nhiệm

cá nhân và phân công, phân cấp rõ ràng; phẩm chất chính trị, đạo đức và nănglực thi hành công vụ; thực hiện bình đẳng giới

Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước đối với việc tổ chức thực hiệnpháp luật về TN là nội dung xuyên suốt mà các cơ quan Đảng thực hiện sự lãnhđạo của mình đối với TN Nhà nước lãnh đạo, đôn đốc, kiểm tra việc ban hành

và tổ chức triển khai các quyết định (đã được phê duyệt), chính sách, chươngtrình, kế hoạch, các đề án, dự án về TN và tổ chức thực hiện pháp luật về TN củacác cơ quan Nhà nước đã đề ra

Luật Thanh niên được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005, có hiệu lực từ ngày 01/7/2006, đã quy định rõ trách nhiệm của Nhà

Trang 36

nước, gia đình và xã hội với TN từ điều 17 đến điều 23, trong đó có thể kế đến một số điều như:

Điều 17 Trong học tập và hoạt động khoa học, công nghệ, luật TN quy

định: Nhà nước quản lý và có chính sách tạo điều kiện cho TN hoàn thành

chương trình phổ cập giáo dục, được học nghề, có cơ hội vươn lên học tập ởtrình độ cao hơn; miễn, giảm học phí, cấp học bổng, cho vay tín dụng để TN họctập; cấp sách giáo khoa, hỗ trợ về đời sống cho TN của hộ nghèo hoàn thànhchương trình phổ cập giáo dục; tạo điều kiện cho TN tham gia hoạt động khoahọc và công nghệ, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, hỗ trợthực hiện các ý tưởng sáng tạo trong hoạt động khoa học và công nghệ; khuyếnkhích sự đóng góp của tổ chức, cá nhân giúp đỡ TN trong học tập và nghiên cứukhoa học Nhà trường có trách nhiệm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện vềđức, trí, thể, mỹ; giáo dục hướng nghiệp, nâng cao năng lực tự học, kỹ năng thựchành, phương pháp tư duy khoa học cho TN Gia đình có trách nhiệm chăm locho TN học tập, hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục, phát triển tài năng;phối hợp với nhà trường giáo dục thái độ học tập đúng đắn, rèn luyện nền nếphọc tập và định hướng nghề nghiệp cho TN

Điều 18 Trong lao động: Nhà nước quản lý có chính sách khuyến khích

các tổ chức, cá nhân giải quyết việc làm cho TN; ưu đãi về thuế, tín dụng, đấtđai để phát triển giáo dục nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu đa dạng về học nghề choTN; phát triển hệ thống các cơ sở dịch vụ tư vấn giúp TN tiếp cận thị trường laođộng; ưu tiên dạy nghề và giải quyết việc làm cho TN nông thôn, TN sau khihoàn thành nghĩa vụ quân sự, TN tình nguyện sau khi hoàn thành nhiệm vụ thựchiện chương trình, dự án phát triển KT- XH; TN của hộ nghèo được vay vốn từquỹ Quốc gia giải quyết việc làm, quỹ xoá đói, giảm nghèo, vốn tín dụng ưu đãi

để phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tự tạo việc làm Nhà nước có cơ chế,chính sách giao cho tổ chức TN huy động TN thực hiện các chương trình, dự ánphát triển kinh tế - xã hội ở vùng có điều kiện KT- XH khó khăn, vùng có điềukiện KT - XH đặc biệt khó khăn và các chương trình, dự án khác để TN có điều

Trang 37

kiện phấn đấu, rèn luyện, lập thân, lập nghiệp Nhà nước có chính sách ưu đãi vềthuế, tín dụng, đất đai để khuyến khích các doanh nghiệp tạo chỗ ở cho lao độngtrẻ của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân xây nhà cho thuê, bán cho TN theophương thức trả dần với thời hạn và giá cả hợp lý ở những nơi tập trung đônglao động trẻ Gia đình có trách nhiệm giáo dục ý thức lao động, tôn trọng sự lựachọn nghề nghiệp, việc làm của TN; tạo điều kiện cho TN có việc làm.

Điều 23 Trong tham gia quản lý nhà nước và xã hội, luật TN quy định:

Nhà nước có chính sách quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng TN nhằm xâydựng đội ngũ cán bộ quản lý, lãnh đạo trẻ; tạo điều kiện cho TN tham gia quản

lý nhà nước và xã hội Các cơ quan, tổ chức trước khi quyết định những chủtrương, chính sách liên quan đến TN có trách nhiệm lấy ý kiến của TN hoặc tổchức TN Đoàn TN Cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức khác của TN có tráchnhiệm nghiên cứu nhu cầu, nguyện vọng của TN để kiến nghị với các cơ quannhà nước giải quyết, tạo điều kiện cho TN phát triển

Phát huy vai trò quản lý việc thực hiện pháp luật TN trong việc đào tạo, bồidưỡng, lựa chọn, sắp xếp cán bộ Đoàn hợp lý, có đủ tư cách, phẩm chất chínhtrị, trình độ năng lực, kỹ năng nghiệp vụ về công tác đoàn; đặc biệt chú trọng tớiviệc đào tạo đội ngũ cán bộ trẻ có đủ phẩm chất và năng lực xuất thân từ cácphong trào Đoàn TN để bổ sung vào hàng ngũ cán bộ nguồn Bên cạnh đó, cầnquan tâm xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về TN làm cơ sở tham mưu, nhằm đềxuất các cơ chế, chính sách phù hợp phát triển TN và tổ chức thực hiện pháp luật

về TN; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về TN cấp quốc gia nhằm phục vụ chocông tác nghiên cứu và hoạch định chính sách để lãnh đạo và quản lý việc tổchức thực hiện pháp luật về TN, công tác TN đạt hiệu quả

Ngoài những quy định trên, TN lãnh đạo, quản lý còn được đánh giá theocác nội dung: kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnhđạo, quản lý; năng lực lãnh đạo, quản lý; năng lực tập hợp, đoàn kết TN Việcđánh giá TN được thực hiện hàng năm, trước khi bổ nhiệm, quy hoạch, điềuđộng, đào tạo, bồi dưỡng, khi kết thúc thời gian luân chuyển, biệt phái

Trang 38

1.3.4.Quan tâm đầu tư kinh phí và huy động các nguồn lực cho việc tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên

Việc đầu tư ngân sách, kinh phí và huy động các nguồn lực trong tổ chức thựchiện pháp luật về TN là rất cần thiết và quan trọng, đây cũng là một phương thứclãnh đạo tổ chức thực hiện pháp luật về TN được nhà nước và các tổ chức chính trị-

xã hội chú trọng, quan tâm Tổ chức thực hiện pháp luật về TN không thể được tiếnhành nếu như không có ngân sách, không có kinh phí hoạt động Mọi hoạt động của

tổ chức thực hiện pháp luật về TN như: công tác đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục TNhay đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền, phổ biến luât TN; công tác hỗ trợ TNtrong lao động, học tập, trong hướng nghề; công tác tuyên truyền, công tác vậnđộng, các hoạt động tổ chức, kiểm tra, giám sát… đều cần phải có kinh phí đầu tưcũng như các nguồn lực (con người, cơ sở vật chất - kỹ thuật, phương tiện) đềuđược tiến hành khi có ngân sách, có kinh phí và có nguồn lực cần thiết

Phương thức đầu tư kinh phí, huy động các nguồn lực cho tổ chức thực hiệnpháp luật về TN được xem là phương thức hiện thực hóa những phương thức lãnhđạo củanhà nước và các tổ chức TN: các chỉ thị, nghị quyết, chương trình, kếhoạch, các văn bản luật; thông qua công tác tổ chức cán bộ; thông qua phương thứctuyên truyền, giáo dục, thuyết phục; qua công tác kiểm tra, giám sát nhằm phát huyvai trò, tiềm năng của TN trong tổ chức thực hiện pháp luật về TN

1.3.5 Thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thực hiện pháp luật về thanh niên

Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trongviệc thực hiện chính sách, pháp luật về TN và công tác TN là một trong nhữngnội dung quan trọng nhằm nâng cao ý thức thực hiện pháp luật về TN trong các

cơ quan, đơn vị, tổ chức Đây chính là cơ chế hữu hiệu để điều chỉnh và xử lýnhững sai sót có thể có nhằm đảm bảo hoàn thành các mục tiêu đã đề ra

Ở góc độ từng văn bản cụ thể, giám sát và đánh giá có rất nhiều ý nghĩa đốivới việc nâng cao hiệu quả của việc tổ chức thực hiện pháp luật Đó là công cụ

để kiểm soát việc thực hiện pháp luật và đặc biệt là để hạn chế sự lạm quyền củacác công chức, viên chức trong quá trình tổ chức thực thi các văn bản quy phạm

Trang 39

pháp luật Giám sát và đánh giá cũng tạo ra áp lực để các cá nhân, tổ chức cótrách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật phải thực hiện theo đúng bổn phận củamình, tránh trường hợp trễ nải trong việc thực hiện nhiệm vụ Và giám sát, đánhgiá cũng là công cụ để thu thập phản hồi nhằm điều chỉnh bản thân các quy địnhcủa văn bản quy phạm pháp luật.

Thực tế cũng đã cho thấy có những bài học thành công trong việc tổ chứcthực hiện pháp luật nhờ thực hiện việc giám sát một cách chặt chẽ công tác tổchức thực hiện pháp luật Chẳng hạn, lệnh cấm đốt pháo được thực thi một cáchkhá nghiêm chỉnh ở nước ta một phần là do cơ chế giám sát chặt chẽ từ trênxuống trong hệ thống hành chính với việc xác định trách nhiệm rất rõ ràng.Ởgóc độ vĩ mô, cơ chế giám sát việc tổ chức thực hiện pháp luật gắn liền với việc

cơ chế kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh của quyền lực nhà nước

Kiểm soát quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền được hiểu làmột hệ thống những cơ chế được thực hiện bởi Nhà nước và xã hội nhằm giữcho việc thực thi quyền lực nhà nước đúng mục đích, hiệu quả Kiểm soát quyềnlực nhà nước bao gồm kiểm soát phạm vi hoạt động của cơ quan Nhà nước;kiểm soát quá trình thông qua và sửa đổi Hiến pháp; kiểm soát tổ chức và hoạtđộng của bộ máy nhà nước; kiểm soát những người thực thi quyền lực và có thểkiểm soát từ bên ngoài và bên trong nhà nước Kiểm soát từ bên ngoài nhà nước

là kiểm soát từ nhân dân và xã hội, kiểm soát từ bên trong là kiểm soát do chínhNhà nước thực hiện Trong hệ thống đó, trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật

ở tầm vĩ mô của các cơ quan nhà nước sẽ được xác định rõ ràng Và đây cũngchính là động lực chính trị cơ bản nhất để vận hành có hiệu quả hệ thống cơquan có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật

Thanh tra, kiểm tra cũng tạo áp lực để các cá nhân, tổ chức có trách nhiệm

tổ chức thực hiện pháp luật phải thực hiện theo đúng bổn phận của mình, tránhtrường hợp trễ nải trong thực hiện các quy định pháp luật về TN Đây cũng làcông cụ để thu thập phản hồi nhằm điều chỉnh bản thân các quy định của vănbản quy phạm pháp luật

Trang 40

Cơ chế giám sát việc tổ chức thực hiện pháp luật nói chung và pháp luật về

TN nói riêng gắn liền với cơ chế kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh của quyềnlực nhà nước Kiểm soát quyền lực nhà nước trong hệ thống Nhà nước phápquyền được hiểu là một hệ thống những cơ chế được thực hiện bởi Nhà nước và

xã hội nhằm giữ cho việc thực thi quyền lực nhà nước đúng mục đích, hiệu quả.Kiểm soát quyền lực nhà nước bao gồm kiểm soát phạm vi hoạt động của cơquan nhà nước; kiểm soát quá trình thông qua và sửa đổi Hiến pháp; kiểm soát

tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; kiểm soát những người thực thiquyền lực và có thể kiểm soát từ bên ngoài và bên trong nhà nước.Kiểm soát từbên ngoài nhà nước là kiểm soát từ nhân dân và xã hội, kiểm soát từ bên trong làkiểm soát do chính Nhà nước thực hiện Trong hệ thống đó, trách nhiệm tổ chứcthực hiện pháp luật ở tầm vĩ mô của các cơ quan nhà nước sẽ được xác định rõràng Và đây cũng chính là động lực chính trị cơ bản nhất để vận hành có hiệuquả hệ thống cơ quan có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật

Bên cạnh đó, công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận,kiến nghị, quyết định xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về TN là mộtnội dung quan trọng trong hoạt động thanh tra, kiểm tra Kết quả theo dõi, đônđốc, kiểm tra sau thanh tra có ý nghĩa đặc biệt quan trọng quyết định hiệu lựccủa hoạt động thanh tra, xác định hoạt động thanh tra có đạt được kết quả đề rahay không

Việc tổ chức thực hiện pháp luật về TN cũng như các lĩnh vực pháp lý khácluôn đảm bảo hai giai đoạn: giai đoạn xây dựng cơ sở pháp lý về TN để hìnhthành quan hệ pháp luật giữa TN với đơn vị công tác và các chủ thể khác của xãhội, và giai đoạn mỗi TN, cá nhân và tổ chức liên quan tham gia quan hệ phápluật và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo luật

1.3.6 Hợp tác quốc tế về thanh niên

Trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay, công tác quốc tế thanh niênđược tăng cường đẩy mạnh nhằm góp phần khẳng định và nâng cao uy tín, vị thếcủa thanh niên trên trường quốc tế, tăng cường mở rộng mặt trận đoàn kết, tập

Ngày đăng: 02/11/2020, 09:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w