1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực thi chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố quy nhơn, tỉnh bình định

119 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 332,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đã triểnkhai thực thi chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Quy Nhơn và đãđạt được những kết quả quan trọng như: đã xây

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này làtrung thực và chưa được sử dụng ở bất kỳ công trình khoa học nào Tôi xincam đoan mọi thông tin trích dẫn và tài liệu trong luận văn đã được chỉ rõnguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Hữu Phúc

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Hai năm học tập và rèn luyện tại Học viện Hành chính Quốc gia, em đãtiếp thu được những kiến thức bổ ích và cần thiết để phục vụ cho công việctương lai cũng như trong hiện tại; đó là nhờ sự tận tâm truyền đạt và giúp đỡcủa quý thầy, cô giáo Học viện Hành chính Quốc gia trong suốt thời gian qua

Để hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự cố gắng và nỗ lực của bảnthân, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến: Ban Giám đốc, các Khoa, Ban,cùng toàn thể quý thầy, cô giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia đã quantâm, tạo điều kiện, truyền đạt những kiến thức và kỹ năng cho em trong suốt 2năm học Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới TS

Lê Văn Hòa, Thầy đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiệnthuận lợi để em nghiên cứu và hoàn thành luận văn của mình Em xin cảm ơn

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bình Định, Thành ủy Quy Nhơn,

Ủy ban nhân dân thành phố Quy Nhơn, Phòng Lao động - Thương binh và Xãhội thành phố; Phòng Tài chính - Kế hoạch thành phố, Văn phòng Thành ủy,Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố Quy Nhơn vàcác cơ quan hữu quan khác đã giúp đỡ, hỗ trợ, cung cấp tài liệu, số liệu cầnthiết để thực hiện luận văn

Trong suốt quá trình thực hiện luận văn, bản thân em đã cố gắng nghiêncứu, tìm hiểu nhưng khó có thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rấtmong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy, cô trong Hội đồng để nộidung luận văn được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Phúc

Trang 4

Lao động - Thương binh và xã hộiNgười khuyết tật và bảo vệ quyền trẻ emTrợ cấp xã hội

Trợ giúp xã hội

Ủy ban nhân dân

Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam

Trang 5

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢN

Sơ đồ 1.1 Bảo trợ xã hội với phát triển kinh tế - xã hội 12Bảng 2.1 Đánh giá kết quả thực thi chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên67Bảng 2.2 Đánh giá kết quả thực thi chính sách trợ cấp xã hội đột xuất 72Bảng 2.3 Đánh giá kết quả thực thi chính sách bảo hiểm y tế 73

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI 8

1.1 Bảo trợ xã hội và chính sách bảo trợ xã hội 8

1.1.1 Bảo trợ xã hội 8

1.1.2 Chính sách bảo trợ xã hội 13

1.2 Thực thi chính sách bảo trợ xã hội 20

1.2.1 Khái niệm thực thi chính sách công 20

1.2.2 Khái niệm thực thi chính sách bảo trợ xã hội 20

1.2.3 Vai trò của thực thi chính sách bảo trợ xã hội 21

1.2.3 Chủ thể tham gia thực thi chính sách bảo trợ xã hội 23

1.2.4 Quy trình thực thi chính sách bảo trợ xã hội 26

1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách bảo trợ xã hội 29

1.3 Kinh nghiệm thực thi chính sách bảo trợ xã hội ở một số địa phương và bài học cho thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định 33

1.3.1 Kinh nghiệm thực thi chính sách bảo trợ xã hội ở một số địa phương 33

Tiểu kết chương 1 45

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH 46

2.1 Khái quát về thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định 46

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 46

Trang 7

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 48

2.2 Tình hình triển khai thực thi chính sách bảo trợ xã hội ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định 54

2.2.1 Lập kế hoạch thực thi chính sách bảo trợ xã hội 54

2.2.2 Tuyên truyền, phổ biến chính sách bảo trợ xã hội 55

2.2.3 Phân công, phối hợp thực thi chính sách bảo trợ xã hội 56

2.2.4 Tổ chức thực hiện bảo trợ xã hội 56

2.2.5 Giám sát, kiểm tra, chỉ đạo thực thi chính sách bảo trợ xã hội 63

2.2.6 Đánh giá, tổng kết thực thi chính sách bảo trợ xã hội 64

2.3 Kết quả thực thi chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định giai đoạn 2015-2018 65

2.3.1 Kết quả thực thi chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên 65

2.3.2 Kết quả thực thi chính sách cứu trợ đột xuất 67

2.3.3 Kết quả thực thi chính sách bảo hiểm y tế 72

2.4 Đánh giá chung về thực thi chính sách bảo trợ xã hội tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định giai đoạn 2015-2018 73

2.4.1 Những mặt đạt được 73

2.4.2 Những hạn chế 78

2.4.3 Nguyên nhân hạn chế 80

Tiểu kết chương 2 83

Chương 3 QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO YÊU CẦU THỰC THI CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH 84

3.1 Quan điểm và mục tiêu thực thi chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định 84

3.1.1 Quan điểm chỉ đạo thực thi chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Quy Nhơn 84

Trang 8

3.1.2 Mục tiêu thực thi chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Quy

Nhơn 86

3.2 Giải pháp đảm bảo yêu cầu thực thi chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Quy Nhơn 87

3.2.1 Hoàn thiện công tác lập kế hoạch thực thi chính sách 87

3.2.2 Tuyên truyền, phổ biến chính sách bảo trợ xã hội 89

3.2.3 Hoàn thiện quy trình thực hiện bảo trợ xã hội 92

2.2.4 Hoàn thiện tổ chức bộ máy thực thi chính sách bảo trợ xã hội 92

3.2.5 Tăng cường kinh phí cho công tác bảo trợ xã hội 95

3.2.6 Tăng cường giám sát, kiểm tra việc thực hiện chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố 99

3.3 Một số kiến nghị 99

3.3.1 Đối với Quốc hội và Chính phủ 99

3.3.2 Đối với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội 101

3.3.3 Đối với tỉnh Bình Định 101

Tiểu kết chương 3 103

KẾT LUẬN 104

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Sau gần 45 năm kết thúc chiến tranh, những hậu quả của chiến tranh, giàhóa dân số, di cư, đô thị hóa, biến đổi khí hậu, tác động không mong muốn củakinh tế thị trường, phân hóa giàu nghèo đã và đang là nguyên nhân làm tăng sốlượng, quy mô dân số có hoàn cảnh khó khăn, cần đến trợ giúp của Nhà nước và

xã hội Bảo trợ xã hội là hệ thống các chính sách, chế độ, hoạt động của chínhquyền các cấp và hoạt động của cộng đồng xã hội dưới các hình thức và biệnpháp khác nhau, nhằm giúp các đối tượng thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnhtrong cuộc sống có điều kiện tồn tại và có cơ hội hòa nhập với cuộc sống chungcủa cộng đồng, góp phần bảo đảm ổn định và công bằng xã hội

Đảng và Nhà nước ta đã luôn chú trọng chăm lo đời sống của nhân dân

mà nổi bật là chính sách bảo trợ xã hội (BTXH) nhằm đảm bảo nâng cao đờisống vật chất và tinh thần cho nhân dân Chính sách BTXH đã được Nhà nướcnâng tầm lên ngang bằng với các chính sách phát triển kinh tế của đất nước

Chính sách bảo trợ xã hội là một chính sách xã hội rất quan trọng trong

hệ thống chính sách an sinh xã hội Trong bối cảnh toàn cầu hoá, những nỗlực cải thiện hệ thống bảo trợ xã hội (BTXH) cũng là một tiêu chí quan trọng

để đánh giá mức độ hội nhập vào khu vực và thế giới của một quốc gia

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định: “Tiếp tục sửađổi, hoàn thiện hệ thống BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp vàcứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viêntrong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế, dễ tổn thương, vượt qua khó khănhoặc các rủi ro trong cuộc sống chuyển các loại hình trợ giúp, cứu trợ sangcung cấp dịch vụ BTXH dựa vào cộng đồng; bảo đảm các đối tượng BTXH

có cuộc sống ổn định, hòa nhập tốt hơn vào cộng đồng, có cơ hội tiếp cận

Trang 10

nguồn lực kinh tế, dịch vụ công thiết yếu" Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày01/6/2012 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn đề chínhsách xã hội giai đoạn 2012-2020 cũng nhấn mạnh: “Nâng cao hiệu quả côngtác trợ giúp xã hội, tiếp tục mở rộng đối tượng thụ hưởng với hình thức hỗ trợthích hợp; nâng dần mức trợ cấp xã hội thường xuyên phù hợp với khả năngngân sách Nhà nước Xây dựng mức sống tối thiểu phù hợp với điều kiện kinh

tế - xã hội làm căn cứ xác định người thuộc diện được hưởng trợ giúp xã hội.Tiếp tục hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội Củng cố, nâng cấp hệ thống cơ

sở trợ giúp xã hội, phát triển mô hình chăm sóc người có hoàn cảnh đặc biệttại cộng đồng, khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào triển khaicác mô hình chăm sóc người cao tuổi, trẻ em mồ côi, người khuyết tật, nhất là

mô hình nhà dưỡng lão”

Trong những năm qua, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đã triểnkhai thực thi chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Quy Nhơn và đãđạt được những kết quả quan trọng như: đã xây dựng kế hoạch, tổ chức tuyêntruyền, tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá các chính sách về BTXH Tuynhiên, việc thực thi các chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn vẫn còn nhữnghạn chế như: bỏ sót đối tượng đủ điều kiện hưởng, quy trình chưa đảm bảo vềthời gian, các thủ tục có lúc còn chậm, văn bản quy định đôi lúc chưa phù hợpvới thực tế…

Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Thực thi chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định” với mục tiêu nghiên cứu thực

trạng thực thi các chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Quy Nhơn,tỉnh Bình Định, từ đó đề xuất các giải pháp đảm bảo yêu cầu thực thi chínhsách này trong thời gian tới

Trang 11

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Trong những năm gần đây, an sinh xã hội nói chung và bảo trợ xã hộinói riêng là một trong những lĩnh vực được các nhà nghiên cứu cả trong vàngoài nước quan tâm Ở Việt Nam, có thể chỉ ra một số các nghiên cứu quantrọng có liên quan tới lĩnh vực nghiên cứu này như:

- GS, TS Mai Ngọc Cường (chủ biên), Xây dựng và hoàn thiện hệ thống

an sinh xã hội ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009 Đề tài

nghiên cứu cấp nhà nước đã khái quát về hệ thống chính sách an sinh xã hội ở ViệtNam thời gian qua, với những cấu thành chủ yếu là bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,trợ giúp xã hội và ưu đãi xã hội Với nhiều số liệu được cập nhật, phân tích cặn kẽ,đặc biệt công trình đã phân tích chỉ rõ những hạn chế yếu kém của hệ thống các chínhsách an sinh xã hội cũng như đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm hoànthiện hệ thống ở nước ta trong giai đoạn 2010-2015

- Tạ Thị Hồng, Chính sách an sinh xã hội đối với người khó khăn hiện nay ở tỉnh Thái Nguyên, Luận văn Thạc sỹ, năm 2013 Luận văn tập trung làm rõ

những vấn đề lí luận về chính sách an sinh xã hội nói chung và an sinh xã hội chongười có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Trên cơ sở đó, tác giả

đã đánh giá thực trạng và chỉ ra những vấn đề còn bất cập trong thực hiện chínhsách an sinh xã hội đối với người có hoàn cảnh khó khăn ở tỉnh Thái Nguyên và đềxuất một số phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chínhsách an sinh xã hội đối với người có hoàn cảnh khó khăn ở tỉnh Thái Nguyên trongthời gian tới

- Mai Ngọc Cường (chủ nhiệm đề tài), Cơ sở khoa học của việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006-2015, Đề tài cấp

nhà nước, Chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước, Bộ Khoa học và Công nghệ,

2009 Công trình nghiên cứu làm rõ những vấn đề cơ bản về an sinh xã hội và hệ thống chính sách ASXH trong nền kinh tế thị trường; Đánh giá thực trạng

Trang 12

của hệ thống ASXH và việc thực hiện chính sách ASXH; Phân tích xu hướng đổimới hệ thống ASXH, hệ thống chính sách ASXH; đề xuất các giải pháp xâydựng hệ thống tổng thể quốc gia về ASXH ở Việt Nam giai đoạn 2006-2015.

- Phạm Văn Sáng, Ngô Quang Minh, Bùi Văn Huyền, Nguyễn Anh Dũng,

Lý thuyết và mô hình An sinh xã hội: Phân tích thực tiễn ở Đồng Nai), Nhà xuất bản

Chính trị Quốc gia, Hà Nội -2009 Cuốn sách trình bày những bất cập, xu hướng vậnđộng và kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và phát triển hệ thống an sinh xã hội, đồngthời phân tích an sinh xã hội nhìn từ đối tượng thụ hưởng và những trụ cột chính trong

an sinh xã hội thực tiễn ở tỉnh Đồng Nai

- Nguyễn Thị Linh Giang, Thực thi chính sách an sinh xã hội trên địa bàn Tây Nguyên, Luận án tiến sĩ Quản lý công Luận án đã hệ thống hóa cơ sở

khoa học những vấn đề lý luận về thực thi chính sách ASXH; tiến hành phân tích,đánh giá thực trạng thực thi một số chính sách ASXH ở Tây Nguyên, từ đó đề xuấtmột số giải pháp cho việc tổ chức thực thi chính sách ASXH ở Tây Nguyên đượcđảm bảo trong thời gian tới

Có thể thấy các nghiên cứu trên đã đưa ra được một cách nhìn tổng quát

về chính sách an sinh xã hội nói chung và bảo trợ xã hội nói riêng trên thếgiới và ở Việt Nam, các giải pháp hoàn thiện hệ thống bảo trợ xã hội songchưa có nghiên cứu, bài viết nào đi sâu vào việc thực thi chính sách bảo trợ xãhội ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở khoa học về thực thi chính sách bảo trợ xãhội và thực trạng thực thi chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phốQuy Nhơn, tỉnh Bình Định, luận văn đề xuất các giải pháp đảm bảo yêu cầuthực thi chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh BìnhĐịnh trong thời gian tới

Trang 13

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung thực hiện các nhiệm

vụ nghiên cứu dưới đây:

- Nghiên cứu cơ sở khoa học về thực thi chính sách bảo trợ xã hội

- Nghiên cứu thực trạng thực thi chính sách bảo trợ xã hội trên địa bànthành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định và nghiên cứu kinh nghiệm thực thi chínhsách bảo trợ xã hội ở một số địa phương

- Đề xuất các giải pháp đảm bảo yêu cầu thực thi chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4 1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động thực thi chính sách bảotrợ xã hội trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở khoa học về thực thi chính sách bảotrợ xã hội và thực trạng thực thi chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phốQuy Nhơn, tỉnh Bình Định giai đoạn từ 2015 đến 2018 và đề xuất các giải phápđến năm 2020, tầm nhìn 2030 Chính sách bảo trợ xã hội gồm những chính sáchthành phần sau: Trợ cấp xã hội thường xuyên tại cộng đồng; Trợ giúp xã hội độtxuất; Chăm sóc nuôi dưỡng tại cộng đồng; Chăm sóc nuôi dưỡng tại cơ sở bảotrợ xã hội, nhà xã hội; Bảo hiểm y tế Tuy nhiên, luận văn chỉ tập trung nghiêncứu các chính sách sau: (1) Trợ cấp xã hội thường xuyên (hàng tháng);

(2) Trợ giúp xã hội đột xuất; (3) Bảo hiểm y tế

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Phương pháp luận

Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, tác giả vận dụng phươngpháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin;

Trang 14

Tư tưởng Hồ Chí Minh; vận dụng các quan điểm, đường lối, chủ trương củaĐảng làm cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu nội dung đề tài luận văn.Đồng thời, dựa trên nền tảng khoa học chính sách công để xây dựng khung lýthuyết cho đề tài.

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tác giả sử dụng phương pháp này

để nghiên cứu các tài liệu sẵn có (sách, báo khoa học, luận văn, luận án, văn bảnquản lý của nhà nước, các báo cáo ) liên quan đến lý luận về chính sách công vàthực thi chính sách công, chính sách bảo trợ xã hội, thực thi chính sách bảo trợ xãhội trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

- Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp: Tác giả sử dụng phươngpháp so sánh để đối chiếu giữa thực tế và lý thuyết, so sánh số liệu thống kê phảnánh kết quả thực thi chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Quy Nhơngiữa các năm khác nhau Sử dụng phương pháp phân tích để xem xét và đánh giáthực trạng thực thi chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Quy Nhơn,phân tích các quan điểm khoa học Sử dụng phương pháp tổng hợp để đưa ranhững nhận định và kết luận khoa học

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn đã hệ thống hóa được cơ sở khoa học về thực thi chính sáchbảo trợ xã hội Luận văn đã khái quát được nội dung chính sách bảo trợ xã hội

và đánh giá được thực trạng thực thi chính sách bảo trợ xã hội trên địa bànthành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định Đồng thời, luận văn đã đề xuất đượcmột số giải pháp đảm bảo yêu cầu thực thi chính sách bảo trợ xã hội trên địabàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định trong thời gian tới

Luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan thực thi chínhsách bảo trợ xã hội ở thành phố Quy Nhơn và những địa phương có điều kiệntương tự Luận văn cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu,

Trang 15

giảng dạy, học tập về chính sách công ở Học viện Hành chính Quốc gia và các cơ sở đào tạo khác.

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm: Phần mở đầu, Phần nội dung, Phần kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục Phần nội dung được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học về thực thi chính sách bảo trợ xã hội.

Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn

thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

Chương 3: Quan điểm, mục tiêu và giải pháp đảm bảo yêu cầu thực thi

chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI

1.1 Bảo trợ xã hội và chính sách bảo trợ xã hội

1.1.1 Bảo trợ xã hội

1.1.1.1 Khái niệm bảo trợ xã hội

Bảo trợ xã hội (BTXH) được hiểu theo các quan điểm tiếp cận, tínhchất, chức năng, hình thức và mô hình khác nhau Phần lớn các tài liệu nghiêncứu chưa lý giải một cách toàn diện về khái niệm BTXH, nhưng cũng đã giảithích thuật ngữ, từ ngữ gần với BTXH (Trợ giúp xã hội, công tác xã hội, phúclợi xã hội, an sinh xã hội, cứu tế xã hội, cứu trợ xã hội, dịch vụ xã hội)

Bộ LĐTBXH (1999): “Bảo trợ xã hội là hệ thống các chính sách, chế

độ, hoạt động của chính quyền các cấp và hoạt động của cộng đồng xã hội dưới các hình thức và biện pháp khác nhau, nhằm giúp các đối tượng thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộc sống có điều kiện tồn tại và có cơ hội hoà nhập với cuộc sống chung của cộng đồng, góp phần bảo đảm ổn định

và công bằng xã hội”.

Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cho rằng: “Bảo trợ xã hội là sự cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế của nhà nước hoặc tập thể nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp” Định nghĩa này nhấn mạnh về bảo hiểm và mở rộng tạo việc làm cho

những đối tượng ở khu vực kinh tế không chính thức

Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) cho rằng: “Bảo trợ xã hội là một

hệ thống chính sách công nhằm giảm nhẹ tác động bất lợi của những biến động đối với các hộ gia đình và cá nhân” Định nghĩa này nhấn mạnh vào

tính dễ bị tổn thương của con người nếu không có sự bảo trợ xã hội, tác hạicủa thiếu bảo trợ xã hội đối với nguồn vốn con người

Theo tài liệu “Social Protection Index for Commited Poverty Reduction”

Trang 17

của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB): Bảo trợ xã hội là các chính sách, chương trình giảm nghèo và giảm sự yếu thế bởi sự thúc đẩy có hiệu quả thị trường lao động, giảm thiểu rủi ro của người dân và nâng cao năng lực của họ để đối phó với rủi ro và suy giảm hoặc mất thu nhập ADB cũng

cho rằng bảo trợ xã hội có 5 hợp phần chính (i) Các chính sách và chươngtrình thị trường lao động, (ii) Bảo hiểm xã hội, (iii) Trợ giúp xã hội, (iv) Quỹ

hỗ trợ phát triển cộng đồng và (v) Bảo vệ trẻ em Đây cũng là hợp phần cótính truyền thống của bảo trợ xã hội theo quan niệm của ADB

Quan niệm của cơ quan quốc tế phát triển Anh (DFID): “Bảo trợ xã hội

là những hành động công ích nhằm giảm thiểu tính dễ bị tổn thương, nguy cơ gây sốc và bần cùng hoá là những điều không thể chấp nhận được về mặt xã hội” Định nghĩa này nhấn mạnh tính dễ bị tổn thương và bần cùng hoá Bảo

trợ xã hội hướng vào những người nghèo nhất là những người thuộc tầng lớp

có hoàn cảnh không ai mong muốn trong xã hội

Theo từ điển Tiếng Việt cụm từ “Bảo trợ” có nghĩa là giúp đỡ cho tổ chức hoặc cá nhân có khó khăn về vật chất trong cuộc sống Còn cụm từ “Trợ giúp” có nghĩa giúp đỡ về vật chất cho đỡ khó khăn, thiếu thốn Hai thuật ngữ

“bảo trợ xã hội” và “trợ giúp xã hội” có nghĩa gần tương đồng nhau, tuy

nhiên trong các văn bản, sách báo và giáo trình hiện nay phần lớn sử dụng

thuật ngữ “trợ giúp xã hội” Các văn bản pháp luật về bảo trợ xã hội hiện hành sử dụng cụm từ “trợ giúp xã hội thường xuyên” thay cho “bảo trợ xã hội thường xuyên” hay “cứu tế xã hội thường xuyên”.

Tổng hợp các giải thích trên cho thấy, hầu hết các khái niệm chưa mô tảđầy đủ về BTXH, mà cần giải thích toàn diện hơn nữa về BTXH Bảo trợ xãhội không chỉ là hoạt động của cộng đồng và xã hội mà phải là trách nhiệmcủa Nhà nước, không những thế còn là hoạt động có tính chất về công tác xãhội, không dành riêng cho một, hoặc một số đối tượng xã hội, đồng thời

Trang 18

BTXH không phải là giải pháp toàn diện về an sinh xã hội, mà chỉ là một hợpphần của an sinh xã hội Như vậy, có thể hiểu BTXH là các biện pháp, giảipháp, hoạt động trợ giúp bảo đảm của Nhà nước và xã hội đối với các đốitượng BTXH (người bị thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộc sống)nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn trước mắt cũng như lâu dài trongcuộc sống Việc bảo đảm này thông qua các hoạt động cung cấp tài chính, vậtphẩm, các điều kiện vật chất khác cho đối tượng nhằm thúc đẩy phát triển conngười giúp họ giảm nghèo lâu dài.

Từ đó, có thể quan niệm về bảo trợ xã hội như sau: Bảo trợ xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước, xã hội, cộng đồng bằng những biện pháp và các hình thức khác nhau đối với các đối tượng bị lâm vào cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói… vì nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến không đủ khả năng tự lo liệu được cho cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình, nhằm giúp họ tránh được mối đe dọa của cuộc sống thường nhật hoặc giúp họ vượt qua những khó khăn, ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng.

Ngay từ khi ra đời cho đến nay, an sinh xã hội nói chung và bảo trợ xãhội nói riêng đã được đón nhận như một sự đảm bảo cho cuộc sống và đặcbiệt có ý nghĩa đối với một bộ phận thành viên xã hội, bộ phận “người yếuthế” Là sự bảo vệ phổ cập và đồng nhất đối với mọi thành viên xã hội trên cơ

sở sự tương trợ cộng đồng, chia sẻ rủi ro, bảo trợ xã hội là hoạt động mangđậm tính nhân đạo, có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và pháp luật

Bảo trợ xã hội là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật ansinh xã hội, điều chỉnh việc trợ giúp vật chất và tinh thần cho nhóm đối tượng

có vị thế bất lợi, thiệt thòi, ít có cơ may trong cuộc sống như người bìnhthường khác và không đủ khả năng tự lo liệu Ý nghĩa pháp luật của bảo trợ

xã hội xuất phát từ quyền cơ bản của con người Mỗi người sống trong xã hội

Trang 19

đều có quyền được sống, được bình đẳng, được thương yêu, đùm bọc, bảo vệkhỏi những biến cố bất lợi, đặc biệt là khi sự sống bị đe dọa.

1.1.1.2 Vai trò của bảo trợ xã hội

Mỗi quốc gia trên thế giới đều hướng tới là đạt được sự tiến bộ xã hội,nghĩa là vừa phải bảo đảm tăng trưởng kinh tế, vừa bảo đảm phát triển xã hội.Thước đo của phát triển xã hội là việc giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinhtrong quá trình phát triển kinh tế Trong đó, có chăm sóc dân cư khó khăn,giải quyết vấn đề bất bình đẳng trong xã hội Bảo trợ xã hội là một trongnhững công cụ quản lý của Nhà nước và có vai trò chính sau:

Thứ nhất, Bảo trợ xã hội thực hiện chức năng bảo đảm an sinh xã hội(ASXH) của Nhà nước

Thông qua luật pháp, chính sách, các chương trình BTXH, Nhà nướccan thiệp và tác động giữ ổn định xã hội, ổn định chính trị, phân hoá giàunghèo và giảm phân tầng xã hội, tạo sự đồng thuận xã hội giữa các nhóm xãhội trong quá trình phát triển Kinh tế thị trường càng phát triển thì xu hướngphân hoá giàu nghèo, phân tầng xã hội và bất bình đẳng càng gia tăng Để tạo

ra sự phát triển bền vững, đòi hỏi Nhà nước càng phải phát triển mạnh mẽBTXH để điều hòa, hóa giải hoặc giảm thiểu các mâu thuẫn xã hội phát sinhtrong quá trình phát triến BTXH sẽ giúp cho việc điều tiết, hạn chế nguyênnhân nảy sinh mâu thuẫn xã hội, bất ổn của xã hội

Thứ hai, Bảo trợ xã hội thực hiện một phần chức năng tái phân phối lạicủa cải xã hội

Với chức năng này BTXH sẽ điều tiết phân phối thu nhập, cân đối, điềuchỉnh nguồn lực để tăng cường cho các vùng nghèo, vùng chậm phát triến, tạonên sự phát triển hài hoà giữa các vùng, giảm bớt sự chênh lệch giữa cácvùng; giữa các nhóm dân cư, nhất là hỗ trợ nhóm người “yếu thế”

Thứ ba, Bảo trợ xã hội có vai trò phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu và khắc phục

Trang 20

rủi ro, tăng cường khả năng chống chịu và giải quyết một số vấn đề xã hội nảysinh Bảo trợ xã hội trực tiếp giải quyết những vấn đề liên quan đến giảmthiểu rủi ro, hạn chế tính dễ bị tổn thương và khắc phục hậu quả của rủi rothông qua các chính sách và chương trình cụ thể nhằm giúp cho các thànhviên xã hội ổn định cuộc sống, tái hoà nhập cộng đồng, bảo đảm mức sống tốithiếu cho dân cư khó khăn, nhất là trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thịtrường và hội nhập quốc tế.

Đồng thời, trong thế giới hiện đại, với mô hình “quảng canh” khai tháctài nguyên quá mức để phát triển kinh tế, chiến tranh, bệnh dịch, tác độngkhách quan của các quy luật kinh tế, ảnh hưởng chủ quan trong quá trìnhquyết định của các chủ thể quản lý, thường dẫn đến nảy sinh các vấn đề xãhội và gia tăng người nghèo, người khuyết tật, trẻ em mồ côi, người cao tuổi

cô đơn Bộ phận dân cư này thường chịu nguy cơ tổn thương cao, không tựchủ quyết định cuộc sống và phụ thuộc vào sự hỗ trợ của xã hội, Nhà nước.Các chính sách trợ cấp xã hội, cấp thẻ bảo hiếm y tế, hỗ trợ giáo dục đối vớingười tàn tật, người cao tuổi, trẻ em mồ côi, người nghèo, dân tộc thiểu số sẽgiúp cho bộ phận dân cư giảm bớt khó khăn, ổn định an ninh trật tự xã hội

Sơ đồ 1.1 Bảo trợ xã hội với phát triển kinh tế - xã hội

(Nguồn: Cục BTXH)

Trang 21

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, bên cạnh "cơ hội" cũng có nhiều

"thách thức", "rủi ro"; khi nói đến cơ hội, đến sự thuận lợi mang lại từ hộinhập quốc tế thường là cơ hội cho phát triển kinh tế, ngược lại sự thách thức,rủi ro lại là vấn đề xã hội như bất bình đẳng gia tăng, phân hoá giàu nghèo,phân tầng xã hội, nghèo đói, bần cùng hoá và ô nhiễm môi trường Do vậy,kinh tế thị trường càng phát triển mạnh thì vai trò của BTXH càng lớn, có nhưvậy mới đảm bảo sự hài hoà giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội trongtừng bước đi và giai đoạn phát triển của đất nước

Bảo trợ xã hội tốt sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh vàbền vững, vì ngay cả các nhà đầu tư không chỉ chú ý đến các yếu tố kinh tế

mà còn chú ý đến các yếu tố của an toàn, ổn định xã hội Một xã hội ổn địnhgiúp các nhà đầu tư yên tâm đầu tư phát triển lâu dài, tạo cho kinh tế tăngtrưởng nhanh và ổn định, ngược lại một xã hội không ổn định sẽ dẫn đến việcđầu tư ngắn hạn, làm ăn theo kiểu "chộp giật" làm cho kinh tế tăng trưởngkhông bền vững Mặt khác bản thân sự phát triển BTXH cũng là một lĩnh vựcdịch vụ tạo nguồn tài chính cho phát triển kinh tế Đồng thời tăng trưởng tạo

ra nguồn lực để giải quyết các vấn đề xã hội, góp phần ổn định xã hội và tạo

ra sự phát triển bền vững về kinh tế

1.1.2 Chính sách bảo trợ xã hội

1.1.2.1 Khái niệm chính sách công: Chính sách công là một tập hợp

các quyết định liên quan với nhau do nhà nước ban hành, bao gồm các mụctiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêuphát triển [48, tr.10]

1.1.2.2 Khái niệm chính sách bảo trợ xã hội

Chính sách bảo trợ xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước

ta, thể hiện tính nhân văn sâu sắc, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, “lálành đùm lá rách” vốn là truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Là một bộ

Trang 22

phận của hệ thống chính sách an sinh xã hội, bảo trợ xã hội hướng tới nhữngđối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như người già, người tàn tật, trẻ em

mồ côi không nơi nương tựa, người nhiễm HIV/AIDS, hoặc người gặp rủi ro

do thiên tai,… nhằm giúp họ vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống, hòa nhậpcộng đồng Thời gian qua, chính sách bảo trợ xã hội đã và đang phát huy tácdụng là tấm lưới an toàn cho các đối tượng bảo trợ xã hội, góp phần thực hiệnmục tiêu “Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với thúc đẩy tiến bộ xã hội và côngbằng ở mỗi giai đoạn và trong suốt quá trình phát triển”

Chính sách bảo trợ xã hội là hệ thống các giải pháp đảm bảo thu nhập

và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình trước những biếnđộng về kinh tế, xã hội và tự nhiên làm cho họ bị giảm hoặc mất khả năng laođộng hoặc mất việc làm, bị ốm đau, bệnh tật hoặc tử vong; cho những ngườigià cô đơn, trẻ em mồ côi, người khuyết tật, những người yếu thế, những nạnnhân chiến tranh, những người bị thiên tai địch họa

Đây là hệ thống các chính sách nhằm phòng ngừa, giảm thiểu và khắcphục rủi ro, thông qua các hoạt động trợ giúp xã hội, trợ cấp xã hội và cứu trợ

xã hội của Nhà nước

1.1.2.3 Nội dung chính sách bảo trợ xã hội

- Trợ cấp xã hội thường xuyên (hàng tháng)

+ Đối tượng: Theo Nghị định 136/2013/NĐ-CP, thì các đối tượng sau đây được hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng

1 Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng thuộc một trong các trường hợp quy định sau đây:

(i) Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;

(ii) Mồ côi cả cha và mẹ;

(iii) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại mất tích theo quy định củapháp luật;

Trang 23

(iv) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;

(v) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang trong thời gian chấp hành

án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tạitrường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

(vi) Cả cha và mẹ mất tích theo quy định của pháp luật;

(vii) Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;

(viii) Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trạigiam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáodưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

(ix) Cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lạiđang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;(x) Cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lạiđang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyếtđịnh xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ

sở cai nghiện bắt buộc;

(xi) Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảotrợ xã hội, nhà xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tạitrại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáodưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc

2 Người từ16 tuổi đến 22 tuổi thuộc một trong các trường hợp quy địnhtại Khoản 1 nêu trên mà đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyênnghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất

3 Trẻ em bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo; người bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo không còn khả năng lao động mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp ưu đãi người có công hàng tháng, trợ cấp hàng tháng khác.

Trang 24

4 Người thuộc hộ nghèo không có chồng hoặc không có vợ; có chồng hoặc

vợ đã chết; có chồng hoặc vợ mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới

16 tuổi hoặc đang nuôi con từ 16 tuổi đến 22 tuổi nhưng người con đó đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất (sau đây gọi chung là người đơn thân nghèo đang nuôi con).

5. Người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

(i) Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ vàquyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưngngười này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng;

(ii) Người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc diện quy định tại Điểm aKhoản này mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xãhội hàng tháng;

(iii) Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng.

6 Trẻem khuyết tật, người khuyết tật thuộc diện hưởng trợ cấp xã hộitheo quy định của pháp luật về người khuyết tật

+ Mục tiêu: Xây dựng và phát triển hệ thống trợ cấp xã hội thườngxuyên phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, nângcao chất lượng dịch vụ trợ cấp xã hội thường xuyên ngang tầm các nước tiên tiếntrong khu vực, đáp ứng nhu cầu trợ cấp thường xuyên của người dân, hướng tớimục tiêu phát triển xã hội công bằng và hiệu quả

Trợ cấp xã hội là khoản tiền của Nhà nước cấp cho đối tượng chínhsách hàng tháng để mua lương thực, thực phẩm và các chi tiêu cần thiết khácphục vụ cho nhu cầu cuộc sống Các chế độ trợ cấp được tính toán dựa vàocác mức chi tiêu tối thiểu để bảo đảm duy trì cuộc sống cho đối tượng (bao

Trang 25

gồm cả chi phí nuôi dưỡng và chi phí cho người chăm sóc trong nhữngtrường hợp không tự chăm sóc được bản thân).

Các nhóm đối tượng khác nhau được hưởng các mức trợ cấp khác nhaudựa vào theo nguyên tắc bảo đảm không thấp hơn mức chuẩn chung và khókhăn nhiều hỗ trợ nhiều, khó khăn ít hỗ trợ ít Chế độ trợ cấp được điều chỉnhphù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nước và khả năng ngânsách Nhà nước

- Cứu trợ xã hội đột xuất:

+ Đối tượng: Theo Điều 12, 13, 14, 15, 16, 17 Nghị định

136/2013/NĐ-CP Thứ nhất, Hỗ trợ 15 kg gạo/người/tháng trong thời gian không quá 03

tháng cho mỗi đợt trợ giúp đối với tất cả thành viên hộ gia đình thiếu đói trong

và sau thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa, giáp hạt hoặc lý do bất khả kháng khác

Thứ hai, Người bị thương nặng do thiên tai, hỏa hoạn; tai nạn giao

thông, tai nạn lao động đặc biệt nghiêm trọng hoặc các lý do bất khả khángkhác tại nơi cư trú hoặc ngoài nơi cư trú được xem xét hỗ trợ với mức bằng

10 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội (Mức chuẩn trợ cấp, trợ giúp xã hội (sau đâygọi chung là mức chuẩn trợ giúp xã hội) là 270.000 đồng)

Thứ ba, Hộ gia đình có người chết, mất tích do thiên tai, hỏa hoạn; tai

nạn giao thông, tai nạn lao động đặc biệt nghiêm trọng hoặc các lý do bất khảkháng khác được xem xét hỗ trợ chi phí mai táng với mức bằng 20 lần mứcchuẩn trợ giúp xã hội (Mức chuẩn trợ cấp, trợ giúp xã hội (sau đây gọi chung

là mức chuẩn trợ giúp xã hội) là 270.000 đồng)

Thứ tư, Hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn có

nhà ở bị đổ, sập, trôi, cháy hoàn toàn do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khảkháng khác mà không còn nơi ở thì được xem xét hỗ trợ chi phí làm nhà ở vớimức tối đa không quá 20.000.000 đồng/hộ

Trang 26

Thứ năm, Trẻ em có cả cha và mẹ chết, mất tích do thiên tai, hỏa hoạn

hoặc lý do bất khả kháng khác mà không còn người thân thích chăm sóc, nuôidưỡng được hỗ trợ gồm: (Tiền ăn trong thời gian sống tại hộ nhận chăm sóc,nuôi dưỡng; Chi phí điều trị trong trường hợp phải điều trị tại các cơ sở khámbệnh, chữa bệnh mà không có thẻ bảo hiểm y tế; Chi phí đưa đối tượng về nơi

cư trú hoặc đến cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội)

Thứ sáu, Hộ gia đình bị mất phương tiện, tư liệu sản xuất chính do

thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác, mất việc làm được xem xéttrợ giúp tạo việc làm, phát triển sản xuất theo quy định

+ Mục tiêu: Triển khai rộng rãi ở cộng đồng để giải quyết cho người dân

bị ảnh hưởng bởi thiên tai được hỗ trợ, khắc phục hậu quả, khôi phục sản xuất và ổnđịnh đời sống, huy động được phong trào tương thân, tương ái của mọi tầng lớp nhândân, của các tổ chức quần chúng, các doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế và cộng đồngngười Việt Nam ở nước ngoài, nhờ đó đã đóng góp được một phần đáng kể chonhững thiếu hụt nguồn lực từ ngân sách nhà nước

Cứu trợ đột xuất (CTĐX) là một bộ phận hợp thành chính sách bảo trợ

xã hội, là sự trợ giúp về vật chất, tinh thần của Nhà nước, các tổ chức đoànthể, cộng đồng xã hội cho các đối tượng gặp rủi ro, bất hạnh trong cuộc sống

để họ có điều kiện vượt qua khó khăn ổn định cuộc sống

- Cấp thẻ Bảo hiểm y tế:

+ Đối tượng: Theo quy định tại Điều 9, Nghị định 136/2013/NĐ-CP thìcác đối tượng sau đây được Nhà nước cấp thẻ BHYT bao gồm:

(i) Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng

(ii) Người từ 16 tuổi đến 22 tuổi thuộc một trong các trường hợp quyđịnh tại Khoản 1 Điều này mà đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyênnghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất

Trang 27

(iii) Trẻ em bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo; người bị nhiễm HIV thuộc hộnghèo không còn khả năng lao động mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hộihàng tháng, ưu đãi người có công hàng tháng, trợ cấp hàng tháng khác.

(iv) Người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Ngườicao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc

có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độtrợ cấp xã hội hàng tháng; người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc diện quy địnhtại Điểm a Khoản này mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàngtháng, trợ cấp xã hội hàng tháng; người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người cónghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điềukiện tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóctại cộng đồng

(v) Con của người đơn thân nghèo đang nuôi con Người thuộc hộnghèo không có chồng hoặc không có vợ; có chồng hoặc vợ đã chết; có chồnghoặc vợ đã chết theo quy định của pháp luật,

(vi) Người khuyết tật nặng và người khuyết tật đặc biệt nặng

(vii) Người từ đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp hàng tháng khác mà chưa được cấp BHYT miễn phí

+ Mục tiêu: Mang lại rất nhiều lợi ích thiết thực cho người dân, nhất làcác gia đình có mức thu nhập thấp khi chẳng may đau ốm hay có vấn đề về sứckhỏe, là hình thức bảo hiểm để chăm sóc sức khỏe cho nhân dân không vì mụcđích lợi nhuận, do nhà nước tổ chức thực hiện và toàn dân tham gia, để bảo vệ sứckhỏe cho mỗi người khi chẳng may ốm đau, tai nạn, nhằm đảm bảo an sinh xã hội,mang lại công bằng về chăm sóc sức khỏe cho mọi người, đặc biệt là người nghèo,người cận nghèo và đồng bào dân tộc sống ở vùng sâu, vùng xa

Trang 28

Trợ giúp y tế nhằm giúp cho đối tượng bảo đảm các điều kiện chăm sócsức khỏe, khám chữa bệnh, phục hồi chức năng Chính sách trợ giúp y tếđược thực hiện bằng việc cung cấp nguồn tài chính trực tiếp để thanh toán cácdịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng hoạt động, sử dụng cácdịch vụ y tế cần thiết khác Đồng thời, cũng có thể hỗ trợ chi phí để các cánhân có thể tham gia bảo hiểm y tế để sử dụng các dịch vụ do BHYT thanhtoán khi sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ, phục hồichức năng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

1.2 Thực thi chính sách bảo trợ xã hội

1.2.1 Khái niệm thực thi chính sách công

Thực thi chính sách là một giai đoạn trong quy trình chính sách, tronggiai đoạn đó, chính sách được đưa vào áo dụng trong cuộc sống nhằm đem lạinhững kết quả thực tế đáp ứng mục tiêu đã đề ra

Có thể nói, thực thi chính sách công là quá trình đưa chính sách côngvào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chươngtrình, dự án thực thi chính sách công và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiệnthực hóa mục tiêu chính sách công [48, tr 97]

1.2.2 Khái niệm thực thi chính sách bảo trợ xã hội

Thực thi chính sách là một khâu hợp thành chu trình chính sách, là toàn

bộ quá trình chuyển hoá ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thựcvới các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng

Thực thi chính sách bảo trợ xã hội là quá trình đưa chính sách bảo trợ

xã hội vào trong thực tiễn thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máynhà nước, nhằm hiện thực hoá mục tiêu chính sách

Chính sách bảo trợ xã hội bao gồm cả hệ thống chính sách của Nhànước như chính sách trợ cấp xã hội, chính sách cứu đói, chính sách hỗ trợchăm sóc sức khỏe, chính sách hỗ trợ giáo dục cho bộ phận dân cư yếu thế Vì

Trang 29

vậy, BTXH có vai trò và là trách nhiệm của Nhà nước, không những thế màcòn là hoạt động có tính chất về công tác xã hội, không dành riêng cho mộthoặc một số đối tượng xã hội, đồng thời BTXH không phải là giải pháp toàndiện về ASXH mà là một phần của ASXH Chính sách của Nhà nước vềBTXH là hệ thống các quy định, giải pháp hỗ trợ của Nhà nước đối với cácđối tượng BTXH với mục tiệu giúp các đối tượng khắc phục những khó khăntrước mắt cũng như lâu dài trong cuộc sống Việc bảo đảm này thông qua cáchoạt động hỗ trợ tài chính, nhu yếu phẩm và các điều kiện vật chất khác chocác nhóm đối tượng.

1.2.3 Vai trò của thực thi chính sách bảo trợ xã hội

Tổ chức thực thi chính sách là trung tâm kết nối các bước trong chutrình chính sách thành một hệ thống, nhất là với hoạch định chính sách So vớicác khâu khác trong chu trình chính sách, tổ chức thực thi có vị trí đặc biệtquan trọng, vì đây là bước hiện thực hoá chính sách trong đời sống xã hội

Nếu đưa vào thực thi một chính sách tốt không những mang lại lợi ích

to lớn cho các nhóm đối tượng thụ hưởng, mà còn góp phần làm tăng uy tíncủa Nhà nước trong quá trình quản lý xã hội Tuy nhiên, để có được mộtchính sách tốt các nhà hoạch định phải trải qua một quá trình nghiên cứu, tìmkiếm rất công phu Nhưng dù tốt đến đâu thì chính sách cũng trở thành vônghĩa nếu nó không được đưa vào thực hiện Những luận giải trên đây chochúng ta nhận thức được đầy đủ về vị trí quan trọng của thực thi chính sách,

từ đó có ý thức tự giác trong việc tổ chức thực thi chính sách

Tổ chức thực thi chính sách là một khâu quan trọng trong chu trình chínhsách, nhằm biến chính sách vào hiện thực đời sống xã hội để đạt được các mụctiêu theo định hướng Đối với một chính sách cụ thể như chính sách BTXH, việcthực thi chính sách này có ý nghĩa rất đặc biệt, cụ thể ở các mặt sau:

Trang 30

Thứ nhất, biến ý đồ chính sách thành hiện thực Chính sách thể hiện ýchí và thái độ của nhà nước trước một vấn đề cụ thể, hay nói một cách khácchính sách là một công cụ được nhà nước sử dụng để chuyển tải thái độ ứng

xử của mình đến các đối tượng quản lý thông qua một chính sách cụ thể đượcthể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật Việc thực hiện chính sáchBTXH nhằm từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và trợgiúp cho những người có hoàn cảnh khó khăn Một chính sách có thể coi làthất bại nếu không được đưa vào tổ chức thực thi, không biến ý chí của chủthể ban hành vào trong điều kiện thực tiễn

Thứ hai, từng bước hiện thực hóa các mục tiêu chính sách và mục tiêuchung Có thể khẳng định rằng mục tiêu của chính sách BTXH chỉ đạt đượckhi chính sách đó được đưa vào thực thi Bởi lẽ, việc thực thi chính sáchBTXH bao gồm tổng thể các hoạt động có tổ chức được chính phủ thực hiệnnhằm hướng tới các mục tiêu Trong quá trình đưa chính sách BTXH vào thựchiện các cơ quan thực thi chính sách phải xây dựng được các chương trình, đề

án, kế hoạch và các thủ tục có liên quan để hiện thực hóa các mục tiêu củachính sách và tiến hành các bước theo quy định để thực hiện các chương trình,

đề án, kế hoạch và thủ tục đó

Thứ ba, khẳng định tính đúng đắn của chính sách BTXH Tính đúng đắncủa chính sách có thể hiểu ở 2 khía cạnh Đầu tiên, khi chính sách được đưa ra đãthể hiện tính đúng đắn của nó khi đã nhận ra được các mâu thuẫn, bất cập vềnhững vấn về trong xã hội đã nảy sinh trong thực thi công vụ cần giải quyết bằngchính sách Đồng thời, khi chính sách được các chủ thể ban hành thừa nhận tínhđúng đắn, chúng phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn của một chính sách tốttrước khi đưa vào thực thi Thứ hai, tính đúng đắn của chính sách biểu hiện ởmức độ cao hơn khi chúng được hưởng ứng một cách rộng rãi trong thực tiễn,nhất là phía người dân đối tượng thụ hưởng chính sách

Trang 31

Thứ tư, giúp hoàn thiện chính sách BTXH Việc hoạch định chính sáchBTXH không thể tránh được yếu tố chủ quan từ phía tập thể xây dựng chính sáchhay khoảng trống về mặt thời gian giữa lúc hoạch định tới khi đưa vào thực thi.Bên cạnh đó cũng phải bàn thêm về sự vận động liên tục của các yếu tố bênngoài môi trường Thông qua việc thực hiện chính sách BTXH cụ thể bằng cácchương trình, đề án, kế hoạch, các cơ quan, đơn vị hay cá nhân tổ chức thực hiệnchính sách gặp phải những vướng mắc cần phải có sự thay đổi về biện phápchính sách nhằm hoàn chỉnh chính sách Đồng thời có những kinh nghiệm đượcđúc rút trong hoạch định chính sách BTXH trong thời gian tới.

1.2.3 Chủ thể tham gia thực thi chính sách bảo trợ xã hội

1.2.3.1 Cơ quan nhà nước ở trung ương

- Chính phủ:

Chính phủ thống nhất quản lý về chính sách bảo trợ xã hội trên phạm vi

cả nước Chính phủ quy định cơ chế phối hợp giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ,

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong công tác quản lýhoạt động bảo trợ xã hội

- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội:

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủchủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ liên quan thực hiện chính sách vềbảo trợ xã hội Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội giao cho Cục bảo trợ xãhội là lực lượng chuyên trách trực tiếp thực hiện chính sách về bảo trợ xã hội.Cục bảo trợ xã hội có trách nhiệm giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lýnhà nước về người tàn tật, người cao tuổi, trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội,giảm nghèo trong phạm vi cả nước theo quy định của pháp luật

1.2.3.2 Cơ quan nhà nước ở địa phương

- Cấp tỉnh:

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm:

Trang 32

a) Hướng dẫn, kiểm tra và giám sát các quận, huyện tổ chức quản lý, thực hiện chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn.

b) Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành có liên quan trong việc quản lý đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh

c) Hằng năm, tại thời điểm lập dự toán ngân sách địa phương, Sở Laođộng - Thương binh và Xã hội chủ trì, lập dự toán kinh phí đảm bảo cho việc thựchiện chính sách bảo trợ xã hội của các đơn vị theo phân cấp quản lý gửi Sở Tàichính tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh xemxét, quyết định

d) Tổng hợp, báo cáo định kỳ trước các ngày 15/01 và 15/7 hằng năm vàbáo cáo đột xuất về tình hình thực hiện chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xãhội về Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Ủy ban nhân dân tỉnh

- Cấp huyện:

Ủy ban nhân dân các quận, huyện có trách nhiệm:

a) Có biện pháp quản lý tốt các đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn.Hướng dẫn, kiểm tra và giám sát cấp xã, phường trong việc xác định và quản lýđối tượng

b) Tổ chức thực hiện chính sách trợ cấp, trợ giúp đối tượng bảo trợ xãhội trên địa bàn Tiếp nhận và thẩm định phê duyệt hồ sơ đề nghị trợ cấp xã hộicủa cấp xã, phường

c) Tổng hợp, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình và kết quả thựchiện chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội về Sở Lao động - Thươngbinh và Xã hội để tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh

d) Hằng năm, tại thời điểm lập dự toán ngân sách địa phương, Ủy bannhân dân các quận, huyện lập dự toán kinh phí thực hiện chính sách trợ giúp đốitượng bảo trợ xã hội theo phân cấp gửi Sở Tài chính tổng hợp báo cáo Ủy

Trang 33

ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định theo quy định vàgửi Sở Lao động - Thương binh và Xã hội để theo dõi, phối hợp thực hiện.

đ) Thực hiện chi trợ cấp đúng đối tượng, đúng chế độ và quyết toántheo quy định hiện hành của Nhà nước

1.2.3.3 Các chủ thể tham gia

Nhà nước là chủ thể hoạch định chính sách và đồng thời cũng là chủthể triển khai thực thi chính sách Thực thi chính sách BTXH, nhà nước đã sửdụng bộ máy từ Trung ương xuống đến các địa phương mà chủ yếu là bộ máyhành chính nhà nước với lực lượng nòng cốt là đội ngũ CBCC hành chính nhànước được trao thẩm quyền nhất định trong việc sử dụng các công cụ quản lýnhà nước như: quyền lực chính trị, được ban hành các chính sách, xây dựngcác kế hoạch, xây dựng và thẩm định, phê duyệt các đề án, dự án, để điềutiết, định hướng các hoạt động nhằm đảm bảo chính sách đi đúng mục tiêu đãđịnh Bên cạnh đó, Nhà nước còn nắm giữ vai trò chủ đạo trong điều phối vàtạo điều kiện, môi trường để các chủ thể khác: tổ chức chính trị - xã hội, cácdoanh nghiệp, nhà đầu tư, cá nhân,… với mong muốn, mục đích khác nhaucùng tham gia thực thi chính sách BTXH nhưng phải hướng đến và đạt đượcmục tiêu chung Là chủ thể chịu trách nhiệm chính trong triển khai thực thichính sách BTXH, nhà nước có trách nhiệm giám sát, kiểm tra và điều chỉnhkịp thời khi chính sách BTXH chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn theohướng tích cực nhất để giải quyết các vấn đề trong đời sống KT - XH

Ngoài những cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm thực thi chính sáchnêu trên, quá trình thực thi chính sách BTXH còn có sự tham gia của các chủthể bên ngoài nhà nước đã góp phần giải quyết được bài toán về nguồn lực

Có thể kể đến một số chủ thể khác như:

Các tổ chức Chính trị - Xã hội: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổchức thành viên như: Công đoàn, Hội Nông dân, Hội liên hiệp phụ nữ, Đoàn

Trang 34

Thanh niên, Hội Cựu chiến binh Các tổ chức này đóng vai trò khá trung tâm và

có tác động rất mạnh đến các chủ thể khác trong quá trình thực thi chính sách

Các hiệp hội nghề nghiệp - xã hội ở trung ương và địa phương, cáchiệp hội nghiên cứu khoa học, công nghệ,…

Các tổ chức phi Chính phủ, tổ chức đa phương, các doanh nghiệpthuộc mọi thành phần kinh tế, người dân

Ngoài ra còn có các chủ thể khác với tư cách là cá nhân cũng tham giavào quá trình thực thi chính sách BTXH như: các nhà khoa học, các chuyên gia,các đối tác (trong và ngoài nước) và cá nhân Các cá nhân này cùng với sự hiểubiết, kinh nghiệm sẽ tư vấn, đưa ra các kịch bản mà các chính sách BTXH sẽ gặpphải trên thực tế để giúp nhà nước đưa ra được các sáng kiến, giải pháp phù hợpnhằm rút ngắn được thời gian triển khai thực hiện các chính sách trong thực tế.Đồng thời, họ đưa ra những ý kiến phản biện giúp cho việc xây dựng chính sáchhoàn chỉnh hơn cũng như tham gia vào việc tìm kiếm và hỗ trợ nguồn lực đểtriển khai thực hiện các chính sách BTXH

1.2.4 Quy trình thực thi chính sách bảo trợ xã hội

Thực thi chính sách bảo trợ xã hội ở cấp huyện gồm các bước cơ bản sau đây:

1.2.4.1 Lập kế hoạch thực thi chính sách bảo trợ xã hội

Kế hoạch triển khai thực thi chính sách bảo trợ xã hội được xây dựngtrước khi đưa chính sách bảo trợ xã hội đi vào cuộc sống Các cơ quan triểnkhai thực thi chính sách từ trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kếhoạch, chương trình thực hiện Kế hoạch triển khai thực thi chính sách baogồm những nội dung cơ bản sau: Kế hoạch về tổ chức, điều hành; Kế hoạchcung cấp các nguồn vật lực; Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện; Kế hoạchkiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách; Dự kiến những nội quy, quy chế về tổchức, điều hành; về trách nhiệm, nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ, côngchức và các cơ quan nhà nước tham gia; tổ chức điều hành chính sách;

Trang 35

về các biện pháp khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong tổ chức thực thichính sách bảo trợ xã hội.

1.2.4.2 Tuyên truyền, phổ biến về chính sách bảo trợ xã hội

Đây là hoạt động quan trọng, có ý nghĩa lớn với cơ quan nhà nước vàcác đối tượng thực thi chính sách bảo trợ xã hội

Phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo trợ xã hội tốt giúp cho các đốitượng chính sách và mọi người dân tham gia thực thi đều hiểu rõ về mục đích,yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàncảnh nhất định về tính khả thi của chính sách bảo trợ xã hội để người dân tựgiác thực hiện theo yêu cầu quản lý của Nhà nước

Đồng thời còn giúp cho mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chứcthực thi nhận thức đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách BTXHvới đời sống xã hội để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp choviệc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực thi có hiệu quả kế hoạch

tổ chức thực hiện chính sách được giao

1.2.4.3 Phân công, phối hợp thực thi chính sách bảo trợ xã hội

Muốn tổ chức thực thi chính sách BTXH có hiệu quả phải tiến hànhphân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địaphương, các yếu tố tham gia thực thi chính sách BTXH và các quá trình ảnhhưởng đến mục tiêu chính sách BTXH

Trong thực tế thường hay phân công cơ quan chủ trì và các cơ quanphối hợp thực hiện một chính sách cụ thể nào đó Chính sách bảo trợ xã hội cóthể tác động đến lợi ích của một bộ phận dân cư, nhưng kết quả tác động lạiliên quan đến nhiều yếu tố, quá trình thuộc các bộ phận khác nhau, nên cầnphải phối hợp chúng lại để đạt yêu cầu quản lý Hoạt động phân công, phốihợp cần được thực hiện theo tiến trình, có kế hoạch một cách chủ động, sáng

Trang 36

tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách.

1.2.4.4 Tổ chức thực hiện bảo trợ xã hội

- Công tác quản lý đối tượng bảo trợ xã hội tại địa phương

- Công tác tiếp nhận, thẩm định, xét duyệt hồ sơ

- Công tác chi trả chế độ trợ giúp xã hội

- Kinh phí thực hiện chính sách trợ giúp xã hội

- Kết quả triển khai các chương trình, đề án liên quan đến việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội

1.2.4.5 Giám sát, kiểm tra, chỉ đạo thực thi chính sách bảo trợ xã hội

Các điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường ở cácvùng, địa phương không giống nhau, cũng như trình độ, năng lực tổ chức điềuhành của cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước không đồng đều, dovậy nhà nước có thẩm quyền phải tiến hành theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việcthực thi chính sách bảo trợ xã hội Qua kiểm tra, đôn đốc, các mục tiêu vàbiện pháp chủ yếu của chính sách lại được khẳng định để nhắc nhở mỗi cán

bộ, công chức, mỗi đối tượng thực thi chính sách tập trung chú ý những nộidung ưu tiên trong quá trình thực thi chính sách Căn cứ kế hoạch kiểm tra,đôn đốc đã được phê duyệt, các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiệnhoạt động kiểm tra có hiệu quả

Kiểm tra, theo dõi sát sao tình hình tổ chức thực thi chính sách bảo trợ

xã hội vừa kịp thời bổ sung, hoàn thiện chính sách bảo trợ xã hôi, vừa chấnchỉnh công tác tổ chức thực thi chính sách bảo trợ xã hội, giúp cho việc nângcao hiệu lực, hiệu quả của việc thực hiện mục tiêu chính sách bảo trợ xã hội

Trang 37

1.2.4.6 Đánh giá, tổng kết thực hiện chính sách bảo trợ xã hội

Đánh giá, tổng kết trong các bước tổ chức thực thi chính sách bảo trợ

xã hội được xem là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo, điều hành và chấphành chính sách của các đối tượng thực thi chính sách bảo trợ xã hội

Đối tượng được xem xét, đánh giá, tổng kết về chỉ đạo, điều hành thựcthi chính sách là các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương Ngoài

ra, còn xem xét vai trò ,chức năng của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội

và xã hội trong việc tham gia thực thi chính sách Cơ sở đánh giá tổng kếtcông tác chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách trong cơ quan hành chính nhànước là kế hoạch được giao và những nội quy, quy chế được xây dựng ở bước

2 của quy trình này Đồng thời còn kết hợp sử dụng các văn bản liên tịch giữa

cơ quan nhà nước với các tổ chức xã hội và các văn bản quy phạm khác để xem xéttình hình phối hợp chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách của các tổ chức chính trị

- xã hội với Nhà nước

Bên cạnh việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành của các cơquan nhà nước, chúng ta còn xem xét đánh giá việc thực thi của các đối tượngtham gia thực hiện chính sách bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp

và gián tiếp từ chính sách nghĩa là tất cả các thành viên xã hội với tư cách làcông dân Thước đo đánh giá kết quả thực thi chính sách của các đối tượng này

là tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách và ý thức chấp hành những quyđịnh về cơ chế, biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thựchiện mục tiêu chính sách trong từng điều kiện về không gian và thời gian

1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách bảo trợ xã hội

Trong quá trình tổ chức thực thi chính sách trên thực tế luôn chịu sự tácđộng và ảnh hưởng của các nhân tố có liên quan Các nhân tố này có thể tạo ranhững biến đổi thúc đẩy hoặc cản trở kết quả việc thực thi chính sách Do đó

để tạo điều kiện cho việc nghiên cứu, phát hiện các yếu tố ảnh hưởng đến

Trang 38

hoạt động tổ chức thực thi chính sách một cách thuận lợi, cần thiết phải phânloại các yếu tố tác động một cách thích hợp Tùy theo mục đích, yêu cầu củangười tổ chức thực thi chính sách mà tiến hành phân loại các yếu tố ảnhhưởng theo những cách khác nhau.

Nhìn chung, hiện nay các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực thichính sách cơ bản được phân chia theo nguyên nhân tác động thành các nhómnhân tố chủ quan và khách quan

cơ quan công quyền khi được giao nhiệm vụ tổ chức thực thi chính sách, cần nêucao tinh thần trách nhiệm và chấp hành tốt kỷ luật công vụ trong lĩnh vực này mớiđạt hiệu quả thực thi Trau dồi năng lực thực tế để thực hiện tốt hoạt động chínhsách, năng lực thực tế quy định việc đề ra những kế hoạch dự kiến thực hiện, tổchức hiệu quả nguồn lực huy động, làm tăng hiệu lực hiệu quả của chính sách.Năng lực thực tế và đạo đức công vụ của cán bộ, công chức còn thể hiện ở thủ tụcgiải quyết những vấn đề trong quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với cá nhân và

tổ chức trong xã hội Nhìn chung, cán bộ, công chức có năng lực thực thi chínhsách tốt, không những chủ động điều phối được các yếu tố chủ quan tác động theođịnh hướng mà còn khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của các yếu tố kháchquan để công tác tổ chức thực thi chính sách mang lại kết quả thực sự

+ Thực hiện đúng, đầy đủ các bước trong qui trình tổ chức thực thi

Trang 39

chính sách Mỗi bước trong qui trình đều có vị trí, ý nghĩa nhất định đối vớiquá trình thực thi chính sách Việc làm này được thực hiện tốt sẽ củng cốthêm lòng tin của người dân vào chính sách của Nhà nước.

Cách thức thực thi chính sách: chính sách bảo trợ xã hội khi được thựchiện cần có các kế hoạch cụ thể, có chương trình và hành động bài bản, chuđáo của cơ quan chủ chốt với các cơ quan liên quan nhằm bảo đảm tính hiệuquả cũng như thành công của chính sách trong quá trình thực hiện

+ Cách ứng xử của các chủ thể thực hiện: nhân tố này có ảnh hưởngtrong quá trình thực hiện chính sách do sự nhiệt tình, quan tâm và có trách nhiệmcủa các nhân viên làm việc thực thi chính sách này sẽ là những người giải quyếtcác vấn đề cũng như là những người làm việc trực tiếp với các đối tượng hưởngcác chế độ chính sách về bảo trợ xã hội

- Yếu tố khách quan:

Là những nhân tố xuất hiện và tác động đến tổ chức thực thi chính sách

từ bên ngoài, độc lập với ý muốn của chủ thể quản lý Những yếu tố kháchquan bao gồm:

+ Môi trường thực thi chính sách: là không gian chứa đựng toàn bộ cácthành phần vật chất và phi vật chất tham gia thực thi chính sách như các nhóm lợiích có được từ chính sách trong xã hội; các điều kiện vật chất kỹ thuật trong nềnkinh tế; bầu không khí chính trị; xã hội trật tự; quan hệ quốc tế rộng mở Trongđiều kiện thực tế nếu các bộ phận cấu thành môi trường vận động phù hợp vớitrình độ tổ chức điều hành của các cơ quan nhà nước, với cơ chế chính sách đangtồn tại sẽ có tác dụng thúc đẩy hoạt động tổ chức thực thi chính sách Ngược lại,

nó sẽ kìm hãm, cản trở các hoạt động này dẫn đến thực thi chính sách kém hiệuquả Do vậy, khi tổ chức thực thi chính sách, chủ thể chính sách cần phải có sự chủđộng trong xác định môi trường mà chính sách sẽ tồn tại trong thực tế để có sựđiều chỉnh cho phù hợp

Trang 40

+ Thái độ và phản ứng của đối tượng chính sách: Chính sách khi thực thi

sẽ tác động đến rất nhiều đối tượng trong xã hội Có những nhóm đối tượng đượchưởng nhiều lợi ích, có nhóm đối tượng bị tác động tiêu cực Chính điều này đã tácđộng làm cho việc thực thi chính sách bị ảnh hưởng Trong xã hội càng có sự đa dạng

và phức tạp về các giai tầng thì càng làm cho việc thực thi chính sách khó khăn hơn

Do vậy, khi hoạch định chính sách cần phải tính đến những đối tượng liên quan vàtrong quá trình thực thi chính sách có thể có những nhóm đối tượng mới nảy sinh như

là hệ quả của chính sách đó Nhóm đối tượng này tác động rất lớn đến việc thực hiệnmục tiêu của chính sách

+ Sự quan tâm, hỗ trợ của cấp trên: Để chính sách bảo trợ xã hội đốivới cán bộ, công chức đạt được hiệu quả, một yếu tố rất quan trọng có ảnh hưởngđến hiệu quả của chính sách trong thực tiễn Do chính sách này ảnh hưởng và tácđộng đến một phạm vi đối tượng rất rộng, đồng thời hướng đến những đối tượnggắn chặt với Nhà nước, do vậy những chế độ chính sách này cần phải được các cấptrên quan tâm và có những điều chỉnh theo thời gian cũng như vấn đề một cáchhợp lý

+ Điều kiện vật chất cần cho quá trình thực thi chính sách Đây là yếu

tố ngày càng có vị trí quan trọng để cùng đội ngũ CBCC và các yếu tố khácthực hiện thành công chính sách của Nhà nước Để thực hiện chính sách trongnền kinh tế thị trường hội nhập hiện nay, Nhà nước luôn phải tăng cường cácnguồn lực vật chất và đội ngũ CBCC, trong đó nguồn lực vật chất cần tăngnhanh cả về số lượng và chất lượng Trong thực tế, do chỉ thiếu các điều kiệnvật chất, kỹ thuật cho công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách thì các cơquan nhà nước khó có thể chuyển tải những nội dung chính sách đến với chủthể tham gia và đối tượng thụ hưởng một cách thường xuyên

+ Sự đồng tình ủng hộ của người dân.

Việc thực hiện các mục tiêu chính sách không chỉ do các cơ quan nhà

Ngày đăng: 02/11/2020, 08:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w