1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

QUYỀN KHIẾU nại về THI HÀNH án dân sự từ THỰC TIỄN các cơ QUAN THI HÀNH án dân sự TỈNH QUẢNG BÌNH

123 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 95,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo khoản 1 Điều 2 Luật khiếu nại năm 2011 quy định: “ Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ công chức theo thủ tục do Luật này quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

…………/…………

BỘ NỘI VỤ

……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN VĂN TUẤN

QUYỀN KHIẾU NẠI VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ - TỪ THỰC TIỄN CÁC CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN VĂN TUẤN

QUYỀN KHIẾU NẠI VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ - TỪ THỰC TIỄN CÁC CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 60 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN QUANG THÁI

THỪA THIÊN HUẾ, NĂM 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Nguyễn Văn Tuấn, tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính là công trình nghiên cứu khoa học độc lập, do tôi thực hiện Các số liệu, kết quả được nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, xác thực và luận văn này chưa được ai công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào khác Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình.

Thừa Thiên Huế, ngàythángnăm 2018

Học viên

Nguyễn Văn Tuấn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính tại Học viện Hành chính Quốc gia, bên cạnh sự nổ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự động viên, hướng dẫn, giảng dạy và nhiều ý kiến đóng góp quý báu của các thầy giáo, cô giáo Khoa sau đại học – Học viện Hành chính Quốc gia cũng như gia đình, bạn bè trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

Tôi chân thành cảm ơn các anh, chị lãnh đạo, đồng nghiệp tại các cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa học Đặc biệt, tôi vô cùng biết ơn

TS Nguyễn Quang Thái đã giành nhiều thời gian hướng dẫn nhiệt tình trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này Xin chân thành cảm ơn và mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô giáo và bạn bè để luận văn này hoàn thiện hơn.

Học viên

Nguyễn Văn Tuấn

Trang 5

1.2 Các yếu tố cấu thành quyền khiếu nại THADS trên địa bàn tỉnh

2.1 Tình hình tổ chức, hoạt động của các cơ quan THADS có liên quan trực

tiếp tới thực hiện quyền khiếu nại về THADS tại các cơ quan THADS tỉnh

Quảng Bình 37

2.2 Kết quả và hạn chế; nguyên nhân của hạn chế thực hiện quyền khiếu nại

về THADS tại các cơ quan THADS tỉnh Quảng Bình 44

Tiểu kết chương 2 83

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN

Trang 6

3.1 Quan điểm 85

3.2 Giải pháp 90

Tiểu kết chương 3 104

KẾT LUẬN 105

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 2.1: Kết quả thi hành án dân THADS về việc của các cơ quan THADS

tỉnh Quảng Bình giai đoạn từ 2013 - 2017 40 Bảng 2.2: Kết quả THADS về tiền của các cơ quan THADS tỉnh Quảng Bình

giai đoạn từ 2013 - 2017 41 Bảng 2.3 Số liệu đơn thư khiếu nại, tố cáo và kết quả giải quyết của các cơ

quan THADS tỉnh Quảng Bình giai đoạn từ 2013 - 2017 41

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trải qua lịch sử đấu tranh, xây dựng và phát triển đất nước của dân tộc ta, gắn với mỗi giai đoạn lịch sử là sự ra đời các bản Hiến pháp

1946, 1959, 1980, 1992 và 2013 Trong mỗi giai đoạn lịch sử, các bản Hiến pháp đã ghi dấu lại sự tôn trọng và bảo vệ quyền con người Trên

cơ sở nhận thức pháp lý ngày càng sâu sắc và thực hiện công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia Hiến pháp 2013 một lần nữa lại khẳng định việc thừa nhận, tôn trọng và bảo

vệ quyền con người một cách mạnh mẽ, rõ ràng và hiện đại nhất.

Một trong những nội dung quan trọng của Hiến pháp 2013 là tiếp tục phát huy dân chủ, bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền con người, quyền công dân, trong đó có vấn đề khiếu nại Đây là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận Giải quyết khiếu nại là một lĩnh vực hết sức quan trọng trong

hệ thống quản lý nhà nước và điều hành xã hội Thực hiện tốt công tác giải quyết khiếu nại của nhân dân sẽ củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân vào chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước Đối với lĩnh vực thi hành án dân sự (THADS), đây là hoạt động phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội, trực tiếp ảnh hưởng đến quyền cơ bản của con người (như quyền về tài sản, nhân thân của các bên đương sự và những người có liên quan) Việc tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án sẽ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ

về tài sản của các bên đương sự Do tính chất công việc phức tạp nên khiếu

Trang 10

xét xử công minh, khách quan, đúng pháp luật, kịp thời ngăn chặn việc tẩu tán tài sản của đương sự, thì quá trình thi hành án sẽ thuận lợi, hạn chế được rất nhiều việc khiếu nại của các bên đương sự và người có liên quan Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nhiều đương sự có điều kiện thi hành

án nhưng vẫn cố tình chây ỳ, không tự nguyện thi hành án, thậm chí có trường hợp còn chống đối quyết liệt hoặc lợi dụng quyền tự do dân chủ của công dân làm đơn khiếu nại không đúng, khiếu nại vượt cấp nhằm để trì hoãn việc thi hành án Nhiều trường hợp khiếu nại, cơ quan THADS đã giải quyết khiếu nại hết thẩm quyền nhưng các đương sự vẫn tiếp tục khiếu nại gửi đến nhiều ngành, nhiều cấp, thậm chí có trường hợp còn tổ chức tụ tập đông người, kéo đến các cơ quan Đảng, nhà nước, gây rối trật

tự, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan, đơn vị hoặc ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương Bên cạnh đó, vẫn còn có những trường hợp cá nhân, tổ chức có thẩm quyền không quan tâm, chú trọng đến công tác giải quyết khiếu nại trong THADS, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên.

Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của công tác giải quyết khiếu nại nên thời gian qua, Bộ Tư pháp, Tổng cục THADS, các cơ quan THADS địa phương đã quan tâm, chú trọng đối với việc giải quyết khiếu nại thi hành án, xem công tác giải quyết khiếu nại là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác thi hành án dân sự.

Đối với tỉnh Quảng Bình, thời gian qua công tác giải quyết khiếu nại về THADS trên địa bàn tỉnh đã thu được những kết quả nhất định, góp phần giải quyết những quyền và lợi ích chính đáng của công dân liên quan đến quá trình THADS Tuy nhiên, so với yêu cầu thì công tác này vẫn còn có những hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được đòi hỏi của công tác THADS trong tình hình mới, một số

cơ quan THADS chưa coi trọng công tác giải quyết khiếu nại còn

Trang 11

đùn đẩy, né tránh; việc phân công, bố trí người làm công tác tham mưu giải quyết khiếu nại còn chưa tương xứng; có nơi việc giải quyết khiếu nại còn chậm, thiếu chặt chẽ làm cho đương sự bức xúc khiếu nại nhiều lần, vượt cấp.

Tất cả những vấn đề nêu trên cho thấy cần phải nghiên cứu một cách toàn diện cả về lý luận, pháp lý và thực tiễn công tác giải quyết khiếu nại về THADS là rất cần thiết Qua đó, thấy được cơ sở lý luận, thực trạng tình hình giải quyết khiếu nại thời gian qua với những bất cập, hạn chế, từ đó đưa ra những giải pháp để điều chỉnh cho phù hợp nhằm đảm bảo quyền công dân trong thực hiện quyền khiếu nại về THADS Với tính cấp thiết đó, tác giả chọn

đề tài “Quyền khiếu nại về thi hành án dân sự - Từ thực tiễn các cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình” làm luận văn thạc sĩ của mình.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận văn Những năm gần đây, trước những đòi hỏi khách quan của công tác THADS, đã có nhiều đề tài, công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến công tác THADS Cụ thể là:

- Hoàng Thế Anh (2013), Giám sát thi hành án dân sự, mã số

62380101, Luận án Tiến sĩ Luật học tại Đại học Quốc gia Hà Nội.

- Luận văn thạc sĩ “Nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại tại Tổng cục Thi hành án dân sự” của tác giả Lê Thị Kim Dung, năm 2009.

- Luận văn thạc sĩ “Khiếu nại và giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự” của tác giả Nguyễn Công Toàn, năm 2012.

- Luận văn thạc sĩ “Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực thi hành án dân

sự ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thanh Tuấn, năm 2016.

- Nguyễn Quang Thái (2008), Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ

Trang 12

- Nguyễn Thanh Thủy (2008), Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự

ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học – Học viện Chính trị

- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu khác được đăng trên các tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Luật học, Tạp chí Nhà nước và pháp luật Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu trực tiếp nào

về đề tài “Quyền khiếu nại về thi hành án dân sự - Từ thực tiễn các cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình”.

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Đề xuất, kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật khiếu nại về THADS, đảm bảo quyền khiếu nại về THADS nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, ổn định trật tự an toàn xã hội và phát triển kinh tế của địa phương.

Trang 13

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp lý về quyềnkhiếu nại về THADS; thực tiễn thực hiện quyền khiếu nại về THADS tại các cơ quan THADS tỉnh Quảng Bình thông qua thủ tục khiếu nại và giải quyết khiếu nại về THADS.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp lý quy định quyền khiếu nại về THADS; thực tiễn thực hiện quyền khiếu nại về THADS của các bên đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được ấn định trong bản án, quyết định của Tòa án phát sinh trong quá trình tổ chức THADS tại các cơ quan THADS tỉnh Quảng Bình gồm: Cục THADS tỉnh Quảng Bình và 08 Chi cục THADS các huyện, thị xã, thành phố trực thuộc Cục THADS tỉnh Quảng Bình.

- Thời gian: Giai đoạn từ năm 2013 - 2017 (5 năm).

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; quan điểm của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; kế thừa có chọn lọc của các công trình khoa học đã được công bố.

- Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn

đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: Phương pháp phân tích được áp dụng khi xem xét quy định của các văn bản pháp luật về quyền khiếu nại; quy trình thực hiện giải quyết khiếu nại của cá nhân, tổ chức

có thẩm quyền thông qua thủ tục giải quyết khiếu nại về THADS.

Trang 14

bảo đảm việc thực hiện quyền khiếu nại và kết quả giải quyết đơn khiếu nại Ngoài ra, tác giả luận văn còn sử dụng các phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic và phương pháp bình luận khi xem xét, đánh giá vụ việc khiếu nại phát sinh trong thực tiễn công tác.

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về quyền khiếu nại về THADS trên địa bàn cấp tỉnh.

Chương 2: Thực trạng thực hiện quyền khiếu nại về THADS tại các cơ quan THADS tỉnh Quảng Bình.

Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện quyền khiếu nại về THADS – Từ thực tiễn các cơ quan THADS tỉnh Quảng Bình.

Trang 15

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN KHIẾU NẠI

THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

1.1 Khái niệm, đặc điểm của quyền khiếu nại về thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh

1.1.1 Khái niệm quyền khiếu nại về thi hành án dân sự

Để làm rõ khái niệm quyền khiếu nại về THADS, trước hết cần phải làm rõ khái niệm: Khiếu nại, quyền khiếu nại, án dân sự, thi hành án dân sự, khiếu nại về THADS là gì.

Khiếu nại theo tiếng Latinh là: "Complain" có nghĩa là phàn nàn, kêu nài, thưa kiện, phản ứng, bất bình của người nào đó về vấn đề có liên quan đến lợi ích của mình [34, tr.205]

Theo Đại từ điển Tiếng Việt, khiếu nại là thắc mắc, đề nghị xem xét lại những kết luận, quyết định do cấp có thẩm quyền đã làm [30, tr.904]Khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân, được Hiến pháp, pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện Đó là hiện tượng phát sinh trong đời sống xã hội như là một phản ứng của con người trước một quyết định, một hành vi nào đó mà người khiếu nại cho rằng quyết định hay hành vi đó là không phù hợp với các quy tắc, chuẩn mực trong đời sống cộng đồng, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Điều 30 Hiến pháp 2013 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định rõ:

“1 Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của

Trang 16

2 Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật.

3 Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.”.

Việc ghi nhận quyền khiếu nại của công dân trong Hiến pháp 2013 đã tạo

cơ sở pháp lý cho công dân thực hiện quyền cơ bản của mình Và thông qua việc thực hiện quyền này, công dân đã góp phần tích cực vào hoạt động quản

lý nhà nước và xã hội, đồng thời bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.

Theo khoản 1 Điều 2 Luật khiếu nại năm 2011 quy định: “ Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ công chức theo thủ tục do Luật này quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”.[25, tr.1]

Như vậy, khiếu nại là đề nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính hay hành vi hành chính hoặc đề nghị của cán bộ công chức chịu tác động trực tiếp của quyết định kỷ luật đối với cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại Đề nghị này xuất phát từ nhận thức chủ quan của người khiếu nại cho rằng quyền và lợi ích chính đáng của mình bị xâm phạm Cơ quan có thẩm quyền chỉ có thể kết luận có vi phạm hay không sau khi đã xem xét một cách khách quan và thận trọng nội dung vụ việc với điều kiện được cung cấp đầy đủ tài liệu có liên quan Do đó, một mặt của khiếu nại là hình thức phản ứng tích cực của công dân, cơ quan, tổ chức với những hiện tượng vi phạm các quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ; mặt khác, khiếu nại là biện pháp ngăn chặn và loại trừ

vi phạm.

Trang 17

Trong quá trình tổ chức THADS, hoạt động của cơ quan THADS trực tiếp tác động đến người được thi hành án, người phải thi hành án và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giáo dục, thuyết phục họ tự nguyện thực hiện các nghĩa vụ theo nội dung bản án, quyết định hoặc cưỡng chế buộc họ thực hiện các nghĩa vụ

đó nên họat động thi hành án nói chung và hoạt động thi hành án dân sự nói riêng

có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với toàn bộ quá trình giải quyết vụ án Bởi vì, bản án, quyết định chỉ có ý nghĩa khi bản án án, quyết định đó được thi hành trên thực tiễn, khi đó quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự vì thế cũng được bảo vệ một cách trọn vẹn, đầy đủ hơn, góp phần đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Theo quy định tại Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự có đề cập đến vụ án dân sự là các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được gọi chung là vụ án dân sự Có thể hiểu một cách đơn giản, án dân sự là các tranh chấp xảy ra giữa các đương sự

mà theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì cá nhân, tổ chức tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Như vậy, ta có thể hiểu khái niệm: Thi hành án dân sự là việc

tổ chức thi hành các bản án, quyết định được đưa ra thi hành theo quy định của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân cơ quan, tổ chức [24, tr.2]

Hoạt động THADS là một vấn đề hết sức hệ trọng, liên quan trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước, đến trật

tự kỷ cương pháp luật và ảnh hưởng sâu sắc đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, hay nói rộng hơn là quyền dân sự cơ bản

Trang 18

Hoạt động THADS trực tiếp tác động đến các quyền và lợi ích không những của người phải thi hành án mà cả người được thi hành án và người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Xét về mặt tâm lý, mặc dù nghĩa vụ phải thi hành các khoản về tiền, tài sản đã được xác định rõ trong bản án, quyết định của Tòa án nhưng người phải thi hành án luôn có tâm lý không muốn thi hành, thi hành không đầy đủ hoặc dây dưa kéo dài việc thi hành án Còn người được thi hành án thì luôn mong muốn được nhận tiền, tài sản càng sớm càng tốt, bất cứ một hành vi hay quyết định nào của cơ quan THADS, Chấp hành viên làm chậm quá trình được nhận tiền, tài sản hoặc khiến họ chỉ được nhận tiền, tài sản ít hơn so với họ mong đợi đều dẫn đến tâm lý cho rằng cơ quan THADS và Chấp hành viên làm trái pháp luật hoặc bênh vực phía người phải thi hành án.

Bên cạnh đó, hoạt động THADS là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước nên trong quá trình tổ chức thi hành án có thể xảy ra hiện tượng cơ quan THADS và Chấp hành viên, cán bộ làm công tác thi hành án lạm dụng quyền hành, áp đặt ý chí một cách trái pháp luật lên các chủ thể, hoặc do nhận thức hạn chế mà áp dụng sai pháp luật, tổ chức thi hành sai bản án dẫn đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích của tổ chức, công dân bị xâm phạm.

Từ những phân tích nêu trên, khái niệm khiếu nại về THADS có thể hiểu như sau: Khiếu nại về THADS là việc đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án đề nghị người có thẩm quyền xem xét lại quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan THADS, Chấp hành viên khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi

đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Về khái niệm quyền khiếu nại về THADS: Luật Thi hành án dân sự không đưa ra khái niệm cụ thể về quyền khiếu nại, tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 140 Luật THADS có nêu: “Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Trang 19

có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan THADS, Chấp hành viên nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” [24, tr.146].

Từ quy định này có thể hiểu quyền khiếu nại về THADS là đề nghị của

cá nhân, cơ quan, tổ chức chịu tác động trực tiếp của quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan THADS, Chấp hành viên, vì cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình Chủ thể của quyền khiếu nại trong THADS gồm người được thi hành

án, người phải thi hành án (đương sự) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người đã được xác định trong bản án hoặc người chịu sự tác động trực tiếp bởi các quyết định, hành vi trong THADS Do vậy, những người không có liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định không có quyền khiếu nại.

1.1.2 Đặc điểm của quyền khiếu nại về thi hành án dân sựThứ nhất, khiếu nại về THADS là quyền của công dân mà cụ thể là quyền của các đương sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được ấn định trong bản án, quyết định của Tòa án và các cơ quan tài phán khác khi họ là người được thi hành án, người phải thi hành án hay là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án của các bên đương sự Mục đích của khiếu nại

là bảo vệ và khôi phục lại quyền và lợi ích của người khiếu nại đã bị quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan THADS, Chấp hành viên xâm hại Mặt khác, đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước Nhà nước luôn bảo đảm quyền công dân, việc tiếp nhận và giải quyết các thắc mắc, kiến nghị, các khiếu nại của người dân từ rất lâu đã được Nhà nước Việt Nam quan tâm và luôn coi đó là một trong những nhiệm

Trang 20

Thứ hai, khiếu nại về THADS là việc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính mà quyết định, hành vi đó có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Như vậy, khiếu nại là đề nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính hay hành vi hành chính Đề nghị này xuất phát từ nhận thức chủ quan của người khiếu nại cho rằng quyền

và lợi ích chính đáng của mình bị xâm phạm Do đó, một mặt, khiếu nại là hình thức phản ứng tích cực của công dân, cơ quan, tổ chức với những hiện tượng vi phạm các quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ; mặt khác, khiếu nại là biện pháp ngăn chặn và loại trừ vi phạm.

Thứ ba, chủ thể thực hiện quyền khiếu nại về THADS là cá nhân,

cơ quan, tổ chức có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan trực tiếp tới quyết định hành chính, hành vi hành chính Như vậy, chủ thể khiếu nại

có thể là công dân, có thể là cơ quan, tổ chức, có thể là cán bộ, công chức chứ không chỉ là công dân như trước đây Ngoài ra, cá nhân, tổ chức nước ngoài cũng được hưởng quyền khiếu nại về THADS nếu họ

là người được thi hành án, người phải thi hành án và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được ấn định trong bản án, quyết định của Tòa án; bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.

Có nhiều quyết định hành chính, hành vi hành chính có thể xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, tuy nhiên cá nhân, tổ chức thường phản ứng trước nhà nước đối với những quyết định hành chính, hành vi hành chính ảnh hưởng hoặc xâm hại trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Trang 21

Thứ tư, đối tượng thực hiện quyền khiếu nại về THADS là quyết định thi hành án, quyết định về thi hành án (quyết định cưỡng chế kê biên, quyết định phong tỏa tài khoản, quyết định khấu trừ thu nhập,…); hành vi trong hoạt động thi hành án là hành vi của Thủ trưởng cơ quan THADS, Chấp hành viên Trong hoạt động THADS, cơ quan THADS thực hiện hoạt động thi hành

án thông qua nhiều hình thức khác nhau mà pháp luật quy định, trong đó, việc

ra các quyết định thi hành án, quyết định về thi hành án là quyết định hành chính tư pháp, được hiểu là quyết định bằng văn bản của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn

đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính Hành vi hành chính được hiểu

là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong

cơ quan hành chính nhà nước (của Thủ trưởng cơ quan THADS, Chấp hành viên) khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

Thứ năm, việc thực hiện quyền khiếu nại về THADS theo thủ tục hành chính được quy định trong Luật khiếu nại, Luật THADS

và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Có nhiều cách hiểu khác nhau về thủ tục hành chính Dưới góc độ quản lý nhà nước nói chung, thủ tục hành chính được hiểu là công cụ, phương tiện quan trọng để các cơ quan hành chính thực hiện việc quản lý đối với từng ngành, lĩnh vực cụ thể Còn dưới góc độ xã hội, thủ tục hành chính được xác định là cầu nối để chuyển tải các quy định cụ thể về chính sách của Nhà nước vào cuộc sống, đảm bảo cho người dân, tổ chức tiếp cận và thực hiện tốt các chính sách, trong đó, cơ bản và chủ yếu là thực hiện các quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân, tổ chức.

Trang 22

hướng giải thích từ ngữ: “Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức thực hiện,

hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức”.1.2 Các yếu tố cấu thành quyền khiếu nại về thi hành án dân

sự trên địa bàn tỉnh

1.2.1 Chủ thể quyền khiếu nại về thi hành án dân sự

Theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011, người có quyền khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức có quyền lợi bị xâm hại bởi một quyết định hành chính, hành vi hành chính, một quyết định kỷ luật cán

bộ, công chức hoặc người đại diện hợp pháp của những người này khi họ thực hiện quyền khiếu nại Có nghĩa là, người có quyền khiếu nại phải là người bị tác động trực tiếp bởi chính quyết định hoặc hành vi đó.

Theo quy định tại Điều 140 Luật THADS năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì những người có quyền khiếu nại về THADS bao gồm: Một là, người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành Tức là người được bản án, quyết định của Tòa án nhân dân các cấp đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của các cơ quan có thẩm quyền ghi nhận là được hưởng một hoặc một số quyền lợi nào đó (như tiền hoặc tài sản, ) và phải được cơ quan THADS ấn định trong quyết định thi hành án.

Hai là, người phải thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành Được hiểu là người có nghĩa vụ phải thực hiện trách nhiệm pháp lý nào đó (như buộc phải bồi thường dân sự, buộc phải trả nợ, giao trả một khoản nào đó về tiền hoặc tài sản, buộc thực hiện hay không thực hiện công việc nhất định ) mà bản án, quyết định của Tòa án nhân dân các cấp đã có hiệu lực hoặc quyết định của cơ quan có thẩm

Trang 23

quyền buộc họ phải thực hiện và là người được ấn định buộc phải thực hiện nghĩa vụ trong quyết định thi hành án.

Ba là, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụliên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự Như vậy, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là người có quyền lợi, nghĩa vụ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết định của tòa án Những người này không phải là bị can, bị cáo, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án… nhưng lại có liên quan đến các quyết định của Tòa án, quyết định thi hành án của cơ quan THADS, quyết định về thi hành án, hành vi của Chấp hành viên

mà trong quá trình tổ chức thi hành án quyết định, hành vi đó của Chấp hành viên làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ.

1.2.2 Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại về thi hành án dân sự

Thứ nhất: Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại về THADS

Để đảm bảo cho người khiếu nại được thực hiện quyền khiếu nại một cách hiệu quả, đồng thời nhằm tránh việc người khiếu nại lợi dụng quyền khiếu nại làm mất uy tín của cán bộ, cơ quan nhà nước, làm mất thời gian, công sức của các cơ quan hữu quan, khoản 1 Điều 143 Luật THADS năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định người khiếu nại có quyền sau đây:

- Tự mình khiếu nại hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khiếu nại;

- Nhờ luật sư giúp đỡ về pháp luật trong quá trình khiếu nại;

- Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại;

- Được biết các bằng chứng để làm căn cứ giải quyết khiếu nại; đưa ra bằng chứng về việc khiếu nại và giải trình ý kiến của mình về bằng chứng đó;

Trang 24

- Được khiếu nại tiếp nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại;

- Rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết khiếu nại Đồng thời với quyền, nhằm tránh việc người khiếu nại lợi dụng quyền

khiếu nại làm mất uy tín của cán bộ, cơ quan nhà nước, làm mất thời gian, công sức của các cơ quan hữu quan, Luật THADS năm 2008 được sửa đổi,

bổ sung năm 2014 cũng quy định người khiếu nại có nghĩa vụ phải: Khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền giải quyết; trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung cấp thông tin, tài liệu đó; chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành và quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Thứ hai: Quyền và nghĩa vụ của người bị khiếu nại về THADS

Để tạo điều kiện cần thiết bảo vệ quyền và nghĩa vụ của người bị khiếu nại về THADS, khoản 1 Điều 144 Luật THADS năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định người bị khiếu nại có các quyền sau đây:

- Được biết các căn cứ khiếu nại của người khiếu nại; đưa ra bằng chứng về tính hợp pháp của quyết định, hành vi bị khiếu nại;

- Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại.

Đồng thời, người bị khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây: Phải giải trình về quyết định, hành vi bị khiếu nại, cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan khi người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại yêu cầu; chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thi hành và quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp; bồi thường, bồi hoàn, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật.

Trang 25

1.2.3 Thực hiện quyền khiếu nại THADS thông qua thủ tục giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự

Trong quá trình thực hiện quyền khiếu nại về THADS của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cũng như trong quá trình giải quyết khiếu nại của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thì mỗi bước thực hiện đều được quy định chặt chẽ về trình tự thủ tục và thời hạn thực hiện [31] Nếu vì lý do chủ quan hay khách quan mà các bước giải quyết khiếu nại không được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn quy định làm chậm trễ giải quyết khiếu nại của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì việc khiếu nại của đương sự có thể xảy ra bất cứ giai đoạn nào của quá trình giải quyết khiếu nại Do vậy, trong quá trình thực hiện quyền khiếu nại, một mặt người khiếu nại cần phải nắm rõ những quy định của pháp luật nói chung và pháp luật khiếu nại về THADS nói riêng để thực hiện quyền khiếu nại của mình một cách triệt để Mặt khác, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại cần thiết phải nắm vững các quy định của pháp luật, quy chế giải quyết khiếu nại để quá trình thực hiện đảm bảo quyền lợi cho các đương sự

và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Bên cạnh đó, giải quyết khiếu nại về THADS là hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nên trong quá trình thực hiện có thể xảy ra hiện tượng Thủ trưởng cơ quan THADS, cán bộ làm công tác tham mưu lạm dụng quyền hành, áp đặt ý chí một cách trái pháp luật, né tránh việc giải quyết khiếu nại hoặc do nhận thức hạn chế áp dụng sai pháp luật làm chậm trể việc giải quyết khiếu nại, thậm chí có trường hợp từ chối đơn khiếu nại Do đó, trong quá trình thực hiện quyền khiếu nại thì người khiếu nại và cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại cần

Trang 26

Để giải quyết khiếu nại về THADS, người giải quyết khiếu nại phải thực hiện rất nhiều công việc, từ thụ lý đơn, nghiên cứu đơn, lập kế hoạch giải quyết cho đến xác minh, thu thập chứng cứ, làm rõ các nội dung khiếu nại, kiến nghị cấp có thẩm quyền ra quyết định giải quyết khiếu nại, hoàn chỉnh hồ

sơ, tài liệu… Tuy nhiên, trước khi thụ lý giải quyết có thể tóm lược việc giải quyết khiếu nại được chia làm 06 bước gồm: (i) xử lý đơn; (ii) thụ lý đơn khiếu nại, yêu cầu báo cáo giải trình, cung cấp hồ sơ, tài liệu; (iii) tổ chức xác minh, đối thoại tại địa phương; (iiii) ban hành quyết định giải quyết khiếu nại;

(iiiii) gửi quyết định giải quyết khiếu nại, công khai kết quả giải quyết khiếu nại và hoàn chỉnh hồ sơ; (iiiiii) đôn đốc, theo dõi và kiểm tra việc thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành.

Bước 1: Xử lý đơn khiếu nại

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, công chức nghiên cứu nội dung đơn khiếu nại, đề xuất người có thẩm quyền xử lý như sau:

- Trường hợp đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 142 Luật THADS thì thụ lý đơn khiếu nại; trong trường hợp đơn chưa đủ điều kiện giải quyết thì có văn bản trả lời cho người khiếu nại biết

lý do hoặc hướng dẫn người khiếu nại bổ sung thông tin, tài liệu liên quan đến khiếu nại để được thụ lý giải quyết Khiếu nại về THADS là quyền cơ bản của công dân, tuy nhiên không phải công dân nào cũng biết đầy đủ quyền khiếu nại của mình, do đó cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có trách nhiệm hướng dẫn đầy đủ, giải thích rõ ràng cho đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết để thực hiện.

- Trường hợp đơn khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan THADS cấp mình giải quyết thì chuyển đơn đến cơ quan THADS có thẩm quyền để giải quyết theo quy định và thông báo cho người khiếu nại biết.

- Trường hợp đơn khiếu nại không thuộc thẩm quyền hoặc đã có quyết

Trang 27

định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành thì không thụ lý nhưng phải có văn bản hướng dẫn, trả lời cho người khiếu nại biết Việc hướng dẫn, trả lời chỉ thực hiện một lần.

- Trường hợp đơn khiếu nại đã được chuyển, hướng dẫn, trả lời, giải quyết theo quy định của pháp luật nhưng đương sự vẫn tiếp tục có đơn khiếu nại cùng nội dung; đơn khiếu nại giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ, nhân danh tập thể, không có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại; đơn đồng thời gửi nhiều cơ quan, trong đó đã đề gửi cơ quan có thẩm quyền giải quyết; đơn đã mời người khiếu nại hai lần để xác định nội dung khiếu nại, yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu nhưng người khiếu nại không đến, không cung cấp theo yêu cầu mà không có lý do thì lưu đơn.

Bước 2: Thụ lý đơn khiếu nại, yêu cầu báo cáo giải trình, cung cấp hồ sơ, tài liệu

Một là, thụ lý đơn khiếu nại

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại lần đầu hoặc kể từ ngày nhận được báo cáo, hồ sơ, tài liệu có liên quan của cơ quan THADS cấp dưới đối với đơn khiếu nại lần hai, công chức được giao giải quyết khiếu nại có nhiệm vụ phải vào sổ thụ lý để giải quyết và thông báo về việc thụ lý đơn khiếu nại bằng văn bản cho người khiếu nại biết.

Khi nhận được đơn khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại căn cứ vào các quy định tại Điều 11 Luật Khiếu nại năm 2011, Điều 141 Luật THADS năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 và khoản 5 Điều 4 Quy chế giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS (Ban hành kèm theo Quyết định số 1318/QĐ-TCTHADS ngày 30/9/2013 của Tổng Cục trưởng Tổng cục THADS) để xác định xem vụ việc có đủ điều kiện thụ lý hay không Người

Trang 28

- Quyết định, hành vi bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại;

- Người khiếu nại không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà không

có người đại diện hợp pháp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

- Người đại diện không có giấy tờ chứng minh về việc đại diện hợp pháp của mình;

- Thời hiệu, thời hạn khiếu nại đã hết mà không có lý do chính đáng;

- Việc khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành án, trừ trường hợp cần thiết thuộc diện xem xét lại theo thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp;

- Khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại lần hai;

- Có văn bản thông báo đình chỉ việc giải quyết khiếu nại mà sau 30 ngày người khiếu nại không tiếp tục khiếu nại;

- Việc khiếu nại đã được Toà án thụ lý hoặc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Toà án, trừ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính của Toà án;

- Không xem xét, giải quyết đơn khiếu nại giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ, nhân danh tập thể, không có chữ ký, sao chụp chữ

ký, hoặc nội dung khiếu nại đã được cấp có thẩm quyền giải quyết hay khiếu nại lại nhưng không có bằng chứng mới, trừ trường hợp

xử lý đơn theo quy định của pháp luật về phòng chống tham nhũng;

- Không thụ lý giải quyết đối với khiếu nại về quyết định, hành vi trong nội bộ cơ quan thi hành án để chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ; quyết định, hành vi trong chỉ đạo điều hành của

cơ quan thi hành án cấp trên đối với cơ quan thi hành án cấp dưới.

Khi người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại không thụ lý đơn khiếu nại để giải quyết thì phải thông báo và nêu rõ lý do.

Trang 29

Hai là, thực hiện báo cáo giải trình, cung cấp hồ sơ, tài liệu

Trường hợp đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại do văn thư chuyển, công chức được giao tham mưu giải quyết khiếu nại có nhiệm vụ soạn thảo công văn yêu cầu người bị khiếu nại báo cáo giải trình bằng văn bản và cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan trình Lãnh đạo Vụ (Phòng) xem xét, cho ý kiến, ký ban hành.

Trường hợp người bị khiếu nại là Chấp hành viên thì Lãnh đạo Phòng (Chi Cục trưởng) trực tiếp yêu cầu Chấp hành viên báo cáo giải trình bằng văn bản, cung cấp hồ sơ vụ việc mà không cần có công văn yêu cầu Thời hạn thực hiện là không quá 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu thì phải có báo cáo giải trình Trường hợp khiếu nại đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án thì thời hạn thực hiện không quá 01 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu.

Đối với cơ quan THADS cấp dưới thì thời hạn thực hiện báo cáo giải trình, cung cấp hồ sơ, tài liệu là không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản Đồng thời với việc phát hành công văn yêu cầu theo đường bưu điện, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có thể sử dụng điện thoại, fax hoặc thư điện tử, v.v… yêu cầu cơ quan THADS thực hiện.Thủ trưởng cơ quan quản lý THADS, Thủ trưởng cơ quan THADS được yêu cầu phải báo cáo giải trình và chịu trách nhiệm về tính trung thực, đầy đủ, chính xác của báo cáo, hồ sơ, tài liệu Hồ sơ, tài liệu sao gửi phải đánh bút lục, có xác nhận của Thủ trưởng đơn vị.

Trường hợp nội dung đơn khiếu nại, báo cáo giải trình của người bị khiếu nại và hồ sơ, tài liệu có liên quan đã rõ ràng, có đủ

Trang 30

Trường hợp người khiếu nại rút một phần hoặc toàn bộ khiếu nại thì người có thẩm quyền giải quyết ra thông báo đình chỉ việc giải quyết khiếu nại đối với nội dung khiếu nại đã rút và thông báo cho người khiếu nại biết Việc rút khiếu nại phải được thể hiện bằng văn bản và việc giải quyết khiếu nại kết thúc khi có thông báo đình chỉ.

Trường hợp có văn bản yêu cầu hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành

án của người có thẩm quyền thì tiếp tục giải quyết khiếu nại nếu khiếu nại không ảnh hưởng đến nội dung bản án, quyết định của Tòa án.

Bước 3: Tổ chức xác minh, đối thoại tại địa phương

Một là, xây dựng Kế hoạch xác minh, đối thoại

Trường hợp giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi trước khi áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế; quyết định, hành

vi sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày ra thông báo thụ lý, công chức tham mưu giải quyết khiếu nại phải dự thảo xong kế hoạch trình Lãnh đạo Vụ (Phòng, Chi cục) xem xét, cho ý kiến.

Trường hợp giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án thì trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày

ra thông báo thụ lý, công chức tham mưu giải quyết khiếu nại phải dự thảo xong kế hoạch trình Lãnh đạo Vụ (Phòng, Chi cục) xem xét, cho ý kiến.

Trường hợp giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra thông báo thụ lý, công chức tham mưu giải quyết khiếu nại phải dự thảo xong kế hoạch trình Lãnh đạo Vụ (Phòng, Chi cục) xem xét, cho ý kiến Trường hợp giải quyết khiếu nại lần hai thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra thông báo thụ lý, công chức tham mưu giải quyết khiếu nại phải dự thảo xong kế hoạch trình Lãnh đạo Vụ (Phòng) xem xét, cho ý kiến.

Trang 31

Trường hợp giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định, hành vi

về áp dụng biện pháp cưỡng chế thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày

ra Thông báo thụ lý, công chức tham mưu giải quyết khiếu nại phải dự thảo xong kế hoạch trình Lãnh đạo Vụ (Phòng) xem xét, cho ý kiến.

Hai là, tổ chức việc xác minh, đối thoại

Người được giao thực hiện việc xác minh, đối thoại phải tổ chức việc xác minh, đối thoại theo thời hạn sau: Trường hợp giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án thì ngay trong ngày; trường hợp giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi trước khi áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế; quyết định, hành

vi sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế là 01 ngày làm việc; trường hợp giải quyết khiếu nại lần đầu về áp dụng biện pháp cưỡng chế và giải quyết khiếu nại lần hai là 03 ngày làm việc, kể từ ngày phê duyệt.

Bước 4: Ban hành quyết định giải quyết khiếu nại

Trên cơ sở kết quả xác minh, đối thoại, hoặc kết quả trưng cầu giám định (nếu có), người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải ra quyết định giải quyết khiếu nại trong thời hạn quy định tại Điều 146 Luật Thi hành án dân sự.

Trường hợp vụ việc có tính chất phức tạp cần xác minh, thẩm tra, đối thoại, trưng cầu giám định, tổ chức họp, trao đổi ý kiến với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan hoặc tiến hành các biện pháp cần thiết khác theo quy định của pháp luật thì thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá

30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại Trường hợp nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại ra quyết định giải quyết khiếu nại cho từng người hoặc ra quyết định giải quyết khiếu nại kèm theo danh sách những người khiếu nại.

Trang 32

Để đảm bảo việc giải quyết khiếu nại phải chặt chẽ, khách quan, đầy

đủ, Điều 151 Luật THADS năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu phải có các nội dung sau đây:

- Ngày, tháng, năm ra quyết định;

- Họ, tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại;

- Nội dung khiếu nại;

- Kết quả xác minh nội dung khiếu nại;

- Căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại;

- Kết luận nội dung khiếu nại là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ;

- Giữ nguyên, sửa đổi, huỷ bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ một phần quyết định, hành vi bị khiếu nại hoặc buộc chấm dứt việc thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại;

- Việc bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật gây ra;

- Hướng dẫn quyền khiếu nại lần hai của đương sự.

Do tính chất của việc giải quyết khiếu nại lần hai khác với lần một, nên Điều 153 Luật THADS năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định nội dung cơ bản cần có của quyết định giải quyết lần hai bao gồm các nội dung sau:

- Ngày, tháng, năm ra quyết định;

- Họ, tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại;

- Nội dung khiếu nại;

- Kết quả xác minh nội dung khiếu nại;

- Căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại;

- Kết luận về nội dung khiếu nại và việc giải quyết của người

có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu;

Trang 33

- Giữ nguyên, sửa đổi, huỷ bỏ hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ một phần quyết định, hành vi bị khiếu nại hoặc buộc chấm dứt thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại;

- Việc bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật gây ra.

Quy trình giải quyết khiếu nại phải đảm bảo về mặt thời hạn Thời hạn giải quyết khiếu nại được tính từ ngày ban hành Thông báo thụ lý đơn khiếu nại Theo quy định tại Điều 146 Luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của Luật THADS năm 2014 thì thời hạn giải quyết khiếu nại về THADS được quy định cụ thể như sau:

Đối với quyết định, hành vi về thi hành án trước khi áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày, lần hai là 30 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại Đối với quyết định về áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản và quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp bảo đảm khác thì thời hạn giải quyết khiếu nại là 05 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.

Đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp cưỡng chế thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 30 ngày, lần hai là 45 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.

Trường hợp cần thiết, đối với những vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại Đối với quyết định, hành vi sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày, lần hai là

30 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.

Trang 34

Trường hợp ở vùng sâu, vùng xa, đường sá xa xôi, đi lại khó khăn, vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiêu nại.

Việc phân loại thời hạn như trên phù hợp với tính chất của giai đoạn thi hành án, vừa không làm ảnh hưởng nhiều đến tiến trình thi hành án, vừa kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại, thuận lợi cho việc khắc phục hậu quả nếu như việc khiếu nại được xác định là có cơ sở.

Bước 5: Gửi quyết định giải quyết khiếu nại và công khai kết quả giải quyết khiếu nại và hoàn chỉnh hồ sơ

- Gửi quyết định giải quyết khiếu nại: Người giải quyết khiếu nại có trách nhiệm gửi quyết định giải quyết khiếu nại cho các đối tượng: người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền và lợi ích liên quan

và người giải quyết khiếu nại trước đó (nếu là giải quyết khiếu nại tiếp theo) Theo quy định của Luật THADS hiện hành thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định phải được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, người khiếu nại, người bị khiếu nại, cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan.

- Công khai quyết định giải quyết khiếu nại: Theo quy định của pháp Luật THADS hiện hành thì trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày ra quyết định giải quyết khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có trách nhiệm công khai quyết định giải quyết khiếu nại theo một trong các hình thức như: công bố tại cuộc họp cơ quan nơi người bị khiếu nại công tác; thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc cổng/trang thông tin điện tử của cơ quan giải quyết khiếu nại; niêm yết tại trụ sở làm việc hoặc nơi tiếp công dân của cơ quan ban hành quyết định giải quyết khiếu nại Việc công khai quyết định giải quyết khiếu nại là một trong những nội dung mới của Luật Khiếu nại và của Luật Thi hành án dân sự.

Trang 35

- Hoàn chỉnh hồ sơ giải quyết khiếu nại: Sau khi ra và ban hành quyết định giải quyết khiếu nại, người giải quyết khiếu nại phải hoàn chỉnh hồ

sơ Hồ sơ được lập và lưu trữ theo quy định của pháp luật, được đánh số bút lục sắp xếp theo trình tự thời gian, phải lập danh mục hồ sơ có phê duyệt của người ra quyết định xác minh nhằm giúp cho việc quản lý, theo dõi công tác giải quyết khiếu nại, đồng thời còn làm tài liệu cho các cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết khiếu nại ở cấp tiếp theo.

Điều 149 Luật THADS năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định hồ sơ giải quyết khiếu nại phải gồm những loại tài liệu sau:

- Đơn khiếu nại hoặc văn bản ghi nội dung khiếu nại;

- Văn bản giải trình của người bị khiếu nại;

- Biên bản thẩm tra, xác minh, kết luận, kết quả giám định;

- Quyết định giải quyết khiếu nại;

- Tài liệu khác có liên quan.

Nếu người khiếu nại tiếp tục khiếu nại thì hồ sơ đó phải được chuyển cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết tiếp theo (khi có yêu cầu).

Bước 6: Đôn đốc, theo dõi và kiểm tra việc thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành

Sau khi quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành, trong phạm

vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại

có trách nhiệm đôn đốc, theo dõi, kiểm tra cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện nội dung giải quyết khiếu nại Trách nhiệm tổ chức thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại, Thủ trưởng cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS được giao tổ chức thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại có trách nhiệm thực hiện và báo cáo người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.

Trang 36

1.2.3.2 Giải quyết khiếu nại lần hai

Ngoài việc thực hiện các bước, thủ tục như lần một, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có quyền yêu cầu người giải quyết khiếu nại lần đầu, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu và những bằng chứng liên quan đến nội dung khiếu nại, tiến hành các biện pháp khác theo quy định của pháp luật để giải quyết khiếu nại.

Trường hợp nội dung đơn khiếu nại, báo cáo giải trình của người bị khiếu nại và hồ sơ, tài liệu có liên quan đã rõ ràng, có đủ căn cứ, cơ sở pháp lý để kết luận, giải quyết thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại không cần thiết phải tiến hành xác minh, đối thoại, mà có thể ra ngay quyết định giải quyết khiếu nại.[9]

Trường hợp khiếu nại được giải quyết mà đương sự vẫn tiếp tục khiếu nại nhưng không đưa ra bằng chứng mới thì người giải quyết khiếu nại lưu đơn khiếu nại và thông báo để đương sự biết.[12]

1.2.3.3 Giải quyết khiếu nại trong trường hợp đặc biệt

Theo điểm b khoản 4 Điều 142 Luật THADS quy định Bộ trưởng

Bộ Tư pháp giải quyết các khiếu nại sau đây “Trường hợp cần thiết,

Bộ trưởng Bộ Tư pháp có quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thi hành quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này” Theo quy định khoản 4 Điều 38 Nghị định số 62/2015/NĐ-

CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS, quyết định giải quyết khiếu nại đã

có hiệu lực thi hành được xem xét lại trong các trường hợp sau đây:

- Quyết định, hành vi bị khiếu nại là trái pháp luật nhưng quyết định giải quyết khiếu nại cho rằng quyết định, hành vi đó là đúng pháp luật;

- Việc giải quyết khiếu nại đã vi phạm quy định của pháp luật

về thủ tục giải quyết khiếu nại về thi hành án

Trang 37

- Có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản kết quả giải quyết khiếu nại Đây là quy định mang tính đặc thù của ngành thi hành án.

Đối với việc Bộ tưởng Bộ Tư pháp xem xét lại các quyết định đã có hiệu lực thì không có quy trình cụ thể nào về việc xem xét này, chỉ cần các vụ việc có tình tiết như được nêu trên là đủ điều kiện và với những

vụ việc được xem xét lại thì không quy định về thời hiệu, không có các bước như thông báo thụ lý, không quy định về thời gian và không có hình thức giải quyết trong trường hợp này mà tùy theo từng vụ việc Bộ trưởng có thể ban hành kết luận, có vụ việc lại ban hành quyết định 1.3 Các yếu tố bảo đảm quyền khiếu nại trong thi hành án dân sự

1.3.1 Yếu tố về chính trị

Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội

là nguyên tắc được ghi nhận qua các bản Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Với quy định đó, các hoạt động tư pháp cũng phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Bằng nhiều cách khác nhau,

sự lãnh đạo của Đảng luôn được xem là chủ trương lớn và có tính chất quyết định đến các hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động THADS nói riêng, cụ thể là Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm trong công tác trong thời gian tới đã định hướng

“thành lập cảnh sát tư pháp trên cơ sở tổ chức và lực lượng hiện có ở ngành công an để hỗ trợ công tác thi hành án dân sự, khẩn trương ban hành Bộ Luật tố tụng dân sự, Bộ Luật tố tụng hình sự, Luật Thi hành án dân sự, làm cơ sở pháp lý cho hoạt động của các cơ quan tư pháp”.

Như vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực THADS có ý nghĩa rất lớn đối với ngành THADS, trong đó có hoạt động khiếu nại đối với cả công tác

Trang 38

Luật Thi hành án dân sự và đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 Sự ra đời của hệ thống văn bản pháp luật theo các chủ trương, quan điểm của Đảng

về THADS là một trong những bước tiến lớn trong công tác THADS, nó đã trực tiếp quy định quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quá trình tổ chức thi hành án, quá trình thực hiện quyền khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực THADS, quy định rõ thẩm quyền giải quyết khiếu nại, cũng như trình tự, thủ tục thực hiện quyền khiếu nại thông qua công tác giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của mỗi cấp.

Tiếp tục thể hiện vai trò lãnh đạo của Đảng trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, ngày 26/5/2014, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 35-CV/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và coi đây là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, đồng thời tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc đối với công tác này Theo đó, các cấp ủy Đảng, mà trước hết là cấp ủy các tổ chức Đảng trong hệ thống cơ quan THADS, tiếp đến là cấp

ủy Đảng ở địa phương phải quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác giải quyết khiếu nại về THADS Coi đây là một trong những nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng và cần thiết trong công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, góp phần đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, ổn định tình hình để phát triển kinh tế - xã hội địa phương và toàn quốc.

Đối với các cơ quan THADS tỉnh Quảng Bình, nhận thức được vai trò quan trọng trong lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đối với công tác THADS, vì vậy, sau khi Luật THADS năm 2008, có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2009, Cục THADS tỉnh Quảng Bình đã tham mưu cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Bình ban hành Chỉ thị số 34-CT/TU ngày 09/02/2010

về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác THADS trên địa bàn tỉnh, nhằm tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong công tác

Trang 39

THADS Trong đó có nội dung chỉ đạo, yêu cầu cấp ủy Đảng chính quyền địa phương, các cơ quan hữu quan tăng cường sự chỉ đạo phối hợp với cơ quan THADS trên địa bàn đảm bảo thực hiện tốt công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với những

vụ việc tồn đọng, bức xúc kéo dài và những vụ việc mới phát sinh ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn địa phương.

Bên cạnh đó, có sự tham gia của cả hệ thống chính trị ở địa phương vào công tác giải quyết khiếu nại trong THADS Biểu hiện cụ thể nhất là công tác giám sát hoạt động giải quyết khiếu nại của các cơ quan THADS và công tác tham gia tuyên truyền pháp luật về THADS, pháp luật về giải quyết khiếu nại,

tố cáo về THADS Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên có vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ đoàn viên, hội viên của tổ chức mình thực hiện các quyền khiếu nại, đồng thời vận động đoàn viên, hội viên của tổ chức mình sống và làm việc theo pháp luật Người khiếu nại thuộc tổ chức nào thì tổ chức đó phối hợp với cơ quan THADS để nắm bắt tình hình, xử lý thông tin, lấy tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục là chính để thành viên của tổ chức mình thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại theo luật định.1.3.2 Yếu tố về pháp luật

Sự hoàn chỉnh của hệ thống pháp luật về THADS và pháp luật về khiếu nại là rất cần thiết, là hành lang pháp lý quan trọng tạo điều kiện cho người dân, cá nhân, tổ chức thực hiện quyền khiếu nại của mình thông qua công cụ pháp luật Đối với việc khiếu nại trong lĩnh vực THADS, quyền khiếu nại của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có được giải quyết một cách thấu đáo hay không còn phụ thuộc vào mức độ hoàn chỉnh của pháp luật, gồm pháp luật THADS và pháp luật về khiếu nại và các văn bản pháp luật liên quan Bởi vì

Trang 40

Khiếu nại nói chung và hoạt động khiếu nại trong lĩnh vực THADS nói riêng thì ý thức pháp luật, trách nhiệm công vụ là yếu tố góp phần quan trọng Quyền khiếu nại có được đảm bảo hay không còn phụ thuộc vào quá trình thực hiện quyền khiếu nại của công dân, cá nhân, tổ chức và phụ thuộc vào quá trình giải quyết khiếu nại của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.

Do đó, người khiếu nại cũng như người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải nắm vững các quy định của pháp luật, phải trung thực, khách quan đồng thời phải có ý thức, thái độ đúng đắn tuân thủ quy định của pháp luật.

1.3.3 Yếu tố về văn hóa

Trình độ văn hóa có ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền khiếu nại của người dân, bởi vì trình độ văn hóa được nâng cao thì dân trí cũng được nâng cao, từ đó người dân tiếp cận với các quy định của pháp luật thì tầm hiểu biết sẽ rộng hơn tạo được điều kiện cho việc tuyên truyền, phổ biến sâu rộng pháp luật cho nhân dân.

Điều này rất quan trọng, vì qua số liệu thống kê và kết quả xử lý, phân loại đơn thư khiếu nại cho thấy, có đến trên 90% các khiếu nại của công dân nói chung và trong lĩnh vực THADS nói riêng là không được chấp nhận, do khiếu nại không có cơ sở Việc khiếu nại, không dựa trên những hiểu biết về quy định của pháp luật, mà chủ yếu dựa trên sự mong muốn của đương sự được giải quyết theo hướng có lợi cho họ.

Hiện nay, có nhiều văn bản pháp luật thực sự cần thiết cho người dân như:

Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Đất đai; Luật Thi hành án dân sự, (để người dân hiểu và biết được quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia các giao dịch dân sự, tham gia tố tụng dân sự, thực hiện quyền và nghĩa vụ trong quá trình

tổ chức thi hành án); Luật khiếu nại (để người dân hiểu đúng về quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại, hiệu lực của

Ngày đăng: 02/11/2020, 08:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w