1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh cao bằng

134 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 843,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, đãtồn tại tình trạng các doanh nghiệp "ma", "mất tích", bỏ trốn khỏi địa chỉ ĐKKD;nhiều đối tượng đã lợi dụng việc thủ tục thông thoáng để đăng ký thành lập doanhnghiệp, lấy t

Trang 1

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

BẾ THỊ TÚ HẰNG

TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH CAO BẰNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI - NĂM 2018

Trang 2

VỤ / HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

BẾ THỊ TÚ HẰNG

TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG

KÝ KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CAO

Trang 3

Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lậpcủa tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõràng.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Bế Thị Tú Hằng

Trang 4

Với tình cảm trân trọng nhất, tác giả xin chân thành cảm ơn tới các Giảngviên của Học viện Hành chính Quốc gia - những người đã dành thời gian quý báu đểtruyền đạt kiến thức và kinh nghiệm giúp tác giả nâng cao nhận thức và khả năngứng dụng vào thực tiễn công việc Xin trân trọng cảm ơn Ban Lãnh đạo Học viện,Lãnh đạo Ban quản lý đào tạo sau Đại học đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tácgiả trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Lê Thị Hương đãtận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện luận văn

Xin được gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè, đồngnghiệp đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện cho tác giả trong suốt quá trình học tập,công tác, nghiên cứu khóa học và hoàn thành luận văn

Mặc dù đã nỗ lực, cố gắng, song kinh nghiệm và khả năng còn hạn chế nênluận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng gópcủa quý thầy, cô, bạn bè, đồng nghiệp để tác giả có thể hoàn thiện luận văn tốt hơn

Cao Bằng, ngày tháng năm 2018

TÁC GIẢ

Bế Thị Tú Hằng

Trang 5

TT Chữ viết tắt Giải nghĩa

Trang 6

Hình 1.1 Hệ thống cơ quan QLNN về đăng ký doanh nghiệp 25Hình 1.2 Sơ đồ cơ quan QLNN theo vòng đời doanh nghiệp 26Hình 2.1 Bộ máy trực tiếp thực hiện ĐKDN ở cấp tỉnh là Phòng ĐKKD- Sở Kế

hoạch và Đầu tư

Bảng 2.1 Số lượng doanh nghiệp thành lập mới giai đoạn 2015 - Tháng 6 năm 2018

trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

Bảng 2.2 Số lượng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh Cao Bằng từ

2015 - tháng 6/2018 theo loại hình doanh nghiệp 50Bảng 2.3 Số liệu đăng ký hộ kinh doanh từ năm 2015 - đến tháng 6 2018 54Biểu 2.4 Thống kê số liệu giải thể doanh nghiệp, văn phòng đại diện từ năm 2014

đến tháng 8.2018

Biểu 2.5 Thống kê số liệu giải thể, thu hồi hộ kinh doanh từ năm 2014 đến tháng

6.2018 55

Bảng 2.6 Số liệu doanh nghiệp bỏ trốn khỏi nơi ĐKKD không thông báo với cơ

quan ĐKKD và cơ quan Thuế

Bảng 2.7 Tổng hợp các cuộc thanh tra, kiểm tra một số sở chuyên ngành từ

2014-2018 61

Biểu đồ 2.1 Thống kê tỷ lệ doanh nghiệp ĐKKD trên địa bàn tỉnh Cao Bằng từ

2015 - Tháng 6/2018 theo loại hình doanh nghiệp

Biểu đồ 2.2 Số ngày giải quyết trung bình thủ tục thành lập mới DN và số ngày giải

quyết thay đổi của Cao Bằng so với toàn quốc

Trang 7

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP

LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH 8

1.1 Pháp luật về đăng ký kinh doanh 8

1.1.1 Khái niệm pháp luật về đăng ký kinh doanh 8

1.1.2 Nội dung của pháp luật về đăng ký kinh doanh 12

1.2 Tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh 17

1.2.1 Khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh 17

1.2.2 Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh 18

1.2.3 Các giai đoạn tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh 23

1.3 Các yếu tố tác động đến tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh 29

1.3.1 Mức độ hoàn thiện của pháp luật về đăng ký kinh doanh 29

1.3.2 Văn hóa pháp luật về đăng ký kinh doanh 31

1.3.3 Năng lực tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh của các chủ thể có thẩm quyền 32

1.3.4 Sự phát triển của khoa học, công nghệ và ứng dụng trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh 33

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 35

Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CAO BẰNG 36

2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh Cao Bằng 36

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Cao Bằng 36

2.1.2.Nguồn nhân lực tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh của các chủ thể có thẩm quyền ở tỉnh Cao Bằng 37

2.1.3 Nhận thức pháp luật về đăng ký kinh doanh 38

Trang 8

2.2.1.Về hoạt động ban hành văn bản hướng dẫn, chỉ đạo về đăng ký kinh

doanh của chính quyền các cấp ở tỉnh Cao Bằng 40

2.2.2 Về phổ biến, giáo dục pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh 41

2.2.3 Về tổ chức bộ máy, nhân lực, vật lực phục vụ thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa bàn 44

2.2.4 Thực hiện trong thực tế pháp luật về đăng ký kinh doanh tại địa bàn tỉnh Cao Bằng 48

2.2.5 Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa bàn 57

2.2.6 Về công tác tổng kết, đánh giá tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh 62

2.3 Nhận xét về tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh Cao Bằng 63

2.3.1 Kết quả đạt được và nguyên nhân 63

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 68

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 74

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CAO BẰNG 75

3.1 Quan điểm bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh Cao Bằng 75

3.1.1 Bảo đảm quyền tự do kinh doanh trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh 75

3.1.2 Đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh và bình đẳng 76

3.1.3 Phân định rõ trách nhiệm các bên liên quan trong tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh 78

Trang 9

3.2 Giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật đăng ký kinh doanh trên

địa bàn tỉnh Cao Bằng 80

3.2.1 Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về đăng ký kinh doanh 80

3.2.2 Nâng cao năng lực tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh của các chủ thể có thẩm quyền ở tỉnh Cao Bằng 89

3.2.3 Đa dạng hóa và hiệu quả trong phổ biến, giáo dục pháp luật về đăng ký kinh doanh ở tỉnh Cao Bằng 91

3.2.4 Đảm bảo cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ, ứng dụng phục vụ tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh tại Cao Bằng 93

3.2.5 Kiểm soát có hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh Cao Bằng 94

3.2.6 Các giải pháp khác 96

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 99

KẾT LUẬN 100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đăng ký kinh doanh (ĐKKD) là hoạt động pháp lý khai sinh ra doanhnghiệp, hoạt động này có vai trò rất quan trọng không chỉ đối với chính doanhnghiệp được khai sinh mà còn với chủ thể cấp giấy khai sinh cho doanh nghiệp đó.Bởi vậy, trong những hoạt động quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, vấn đềquản lý hoạt động ĐKKD luôn luôn được chú trọng

Ngày 26/11/2014, Luật Doanh nghiệp năm 2014 được Quốc Hội thông qua

và có hiệu lực từ ngày 01/7/2015 giúp cho cộng đồng doanh nghiệp đã có sự pháttriển mạnh mẽ Số lượng doanh nghiệp thành lập tăng kéo theo sự gia tăng nhanhchóng về khối lượng công việc của đăng ký doanh nghiệp (ĐKDN) cũng như yêucầu quản lý nhà nước về ĐKDN Trước yêu cầu ngày càng tăng của khối lượngcông việc ĐKKD cũng như những hạn chế của quy định cũ, các quy định pháp luậtđối với hoạt động ĐKKD có nhiều thay đổi cần được đưa ra xem xét và kiến giải

Hiện nay, việc tổ chức thực hiện pháp luật về ĐKKD nói chung có nhiều cảithiện nhưng vẫn còn rất nhiều bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu hộinhập Cụ thể là: Hệ thống văn bản pháp luật về ĐKDN chưa đồng bộ; có nhiều chủthể có thẩm quyền thành lập và đăng ký các loại hình doanh nghiệp khác nhau; có

sự chồng chéo trong quản lý đối với ĐKDN giữa các loại hình doanh nghiệp (doanhnghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài); việc phối hợp giữa các

cơ quan nhà nước đối với ĐKDN còn nhiều tồn tại Chính vì vậy việc tổ chức thựchiện pháp luật đối với ĐKDN đã và đang gặp rất nhiều khó khăn với nhiều lý do cảkhách quan và chủ quan

Thực tế hiện nay tình trạng doanh nghiệp vi phạm các quy định của LuậtDoanh nghiệp (không chấp hành các nội dung trong hồ sơ ĐKDN, không chấp hànhcác nghĩa vụ theo quy định, đặc biệt là nghĩa vụ báo cáo ) có chiều hướng gia tăng

cả về số lượng và tính chất, mức độ vi phạm Quan ngại hơn cả chính tình trạng này

là điều kiện, cơ hội cho các cá nhân, doanh nghiệp tổ chức lợi dụng vi phạm pháp

Trang 11

luật, gây thiệt hại đến lợi ích của các cá nhân, tổ chức và toàn thể xã hội và làm đauđầu các cơ quan QLNN.

Cao Bằng là tỉnh biên giới phía Bắc, có đường biên giới dài nhất (333 km),

từ lâu được gọi là phên dậu của Tổ quốc Tỉnh Cao Bằng có vị trí địa lý quan trọng,giữ vai trò chiến lược quốc phòng; là địa phương giàu tài nguyên khoáng sản, danhlam thắng cảnh, cửa khẩu biên giới… là những tiềm năng quý giá để phát triển kinh

tế - xã hội, nhưng do xa trung tâm, hạ tầng giao thông hạn chế nên từ lâu tỉnh CaoBằng được ví như nàng công chúa “ngủ quên” nơi biên viễn Trong xu thế phát triểnchung của cả nước, Cao Bằng cũng đang từng ngày đổi mới, cùng với cả nước đã vàđang hội nhập vào nền kinh tế khu vực ASEAN và toàn cầu Với xu thế phát triển

đó, nhu cầu phát triển của cộng đồng doanh nghiệp, với mong muốn nhanh chónggia nhập thị trường là điều tất yếu khách quan

Hiện nay, ở tỉnh Cao Bằng có khoảng hơn 1.300 doanh nghiệp Tuy nhiên, đãtồn tại tình trạng các doanh nghiệp "ma", "mất tích", bỏ trốn khỏi địa chỉ ĐKKD;nhiều đối tượng đã lợi dụng việc thủ tục thông thoáng để đăng ký thành lập doanhnghiệp, lấy tư cách pháp nhân của doanh nghiệp để hoạt động vi phạm pháp luật.Bên cạnh những thuận lợi trong công tác thực thi pháp luật doanh nghiệp của các cơquan QLNN tỉnh Cao Bằng thì hiện nay việc thực thi pháp luật về ĐKKD trên địabàn tỉnh Cao Bằng đối với ĐKDN theo Luật Doanh nghiệp cũng đang gặp nhiềuvướng mắc cần tiếp tục được tháo gỡ

Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhanh chóng thành lập, gia nhập thịtrường, hạn chế doanh nghiệp vi phạm pháp luật, hướng tới mục đích đảm bảo sựphát triển bền vững của cộng đồng doanh nghiệp, đảm bảo tính nghiêm minh củapháp luật phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Cao Bằng, việc nghiêncứu tổ chức thực hiện pháp luật ĐKKD trên địa bàn tỉnh Cao Bằng để tìm ra những

ưu điểm, hạn chế của pháp luật cũng như việc tổ chức thực hiện pháp luật đối vớiĐKDN với mục đích hoàn thiện pháp luật tăng cường hiệu quả việc thực thi có vaitrò vô cùng quan trọng, mang tính cấp thiết Xuất phát từ các lý do nêu trên, là cán

bộ đang công tác tại Phòng ĐKKD - Sở KH&ĐT Tỉnh Cao Bằng, đề tài: "Tổ chức

Trang 12

thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh Cao Bằng" đã được tácgiả lựa chọn nghiên cứu để làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý công.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Liên quan đến đề tài đã được một số tác giả nghiên cứu, có thể kể ra một sốcông trình nghiên cứu như:

Luận văn (2013) ”Hoàn thiện công tác đăng ký kinh doanh ở Việt Nam đếnnăm 2020" của tác giả Nguyễn Thị Việt Anh, Đại học kinh tế - Đại học quốc gia HàNội Tác giả đã phân tích, mổ xẻ các quy định pháp luật về đăng ký kinh doanhcũng như thực trạng đăng ký kinh doanh ở Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất hướnghoàn thiện

Luận văn (2012) “Giải pháp hoàn thiện công tác đăng ký kinh doanh trên địabàn tỉnh Phú Thọ” của tác giả Nguyễn Thị Khánh Chi, Trường Đại học kinh tế vàquản trị kinh doanh Luận văn làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về ĐKKD và phápluật tại Việt Nam, phân tích thực trạng hoạt động ĐKKDtrên địa bàn tỉnh Phú Thọ;

đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác ĐKKD trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Luận văn (2006) “ Đăng ký kinh doanh theo Luật doanh nghiệp Việt thực trạng và một vài kiến nghị” của tác giả Lê Thế Phúc, Đại học quốc gia Hà Nội.Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận của hoạt động ĐKKD, phân tích thực trạng phápluật và thực trạng áp dụng pháp luật về ĐKKD ở Việt Nam hiện nay; đề xuất mộtvài kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về ĐKKD trong điều kiện hiện nay

Nam-Luận văn (2017) “Đăng ký kinh doanh theo luật Doanh nghiệp 2014 từ thựctiễn thành phố Bắc Ninh” của tác giả Phạm Phương Nam, Học Viện khoa học xãhội Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận về ĐKKD và pháp luật về ĐKKD theo LuậtDoanh nghiệp năm 2014 trên địa bàn thành phố Bắc Ninh; đưa ra giải pháp hoànthiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về ĐKKD từ thực tiễn thànhphố Bắc Ninh

Luận án (2016) “Pháp luật về đăng ký kinh doanh ở Việt Nam hiện nay” củatác giả Nguyễn Thị Thu Thủy, Học viện Khoa học xã hội Luận án đi sâu nghiêncứu phân tích những vấn đề lý luận về ĐKKD và pháp luật về ĐKKD; thực trạng

Trang 13

pháp luật và thực hiện pháp luật về ĐKKD ở Việt Nam, tác giả đưa ra phươnghướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về ĐKKD ở Việt Nam.

Tác giả Hoàng Thanh Tuấn có bài viết “Luật doanh nghiệp 2014-Tạo thuậnlợi tối đa cho doanh nghiệp trong toàn bộ quá trình thành lập, hoạt động” đăng trêncổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia Bài viết đề cập đến những điểm mớicủa Luật Doanh nghiệp 2014 được sắp xếp theo thứ tự vòng đời của doanh nghiệp,

từ lúc ra nhập thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức lại cho đến lúc giảithể, rút lui khỏi thị trường Đặc biệt tác giả nhấn mạnh những quy định của LuậtDoanh nghiệp 2014 về việc bãi bỏ các yêu cầu về điều kiện kinh doanh tại thời điểmđăng ký thành lập doanh nghiệp, chuyển hoàn toàn từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”,giảm thời gian xử lý hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp, rút ngắn thời gian gianhập thị trường cho doanh nghiệp xuống còn 3 ngày làm việc

Bài viết của Tác giả Trần Thị Hồng Minh “Cải cách đăng ký kinh doanh và

sự phát triển của doanh nghiệp” trên trang điện tử của Tạp chí Tài chính ngày26/11/2017 Bài viết về những đóng góp nổi bật của công tác đăng ký kinh doanhvới sự phát triển của doanh nghiệp

Bài viết của Tác giả Võ Huy Hùng “Làm rõ bản chất của Giấy chứng nhậnđăng ký doanh nghiệp và trách nhiệm trong việc quản lý doanh nghiệp sau đăng kýthành lập” trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp ngày 20/7/2018 Bài viết làm

rõ bản chất, việc đăng ký doanh nghiệp hoàn toàn khác với việc cấp phép, tức là cơquan đăng ký kinh doanh không có quyền cho phép, Giấy chứng nhận đăng kýdoanh nghiệp cũng không phải là giấy phép kinh doanh (Khoản 2 Điều 6 Nghị định

số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp) Tácgiả chỉ rõ trách nhiệm quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước đối với doanhnghiệp trong theo dõi, giám sát, xử lý vi phạm Trách nhiệm của UBND các tỉnh,thành phố có trách nhiệm trong việc xây dựng Hệ thống quản lý rủi ro và giám sáthoạt động doanh nghiệp tại địa phương

Bài viết của Tác giả Hoàng Thanh Tuấn “Những thành tựu nổi bật trong quátrình phối hợp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế” trên cổng thông

Trang 14

tin Doanh nghiệp ngày 02/08/2017 Bài viết tổng kết những thành tựu nổi bật trongquá trình phối hợp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế trong việc cảithiện hơn nữa môi trường đầu tư kinh doanh, tạo thuận lợi tối đa cho người dân,doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp.

Tuy nhiên, lĩnh vực tổ chức thực hiện pháp luật đối với ĐKDN chưa có nhiềutác giả quan tâm; không dễ dàng để tìm thấy đề tài khoa học nghiên cứu về vấn đềnày chỉ có thể tìm được một vài bài báo trao đổi, đề cập đến thực thi ĐKKD dướigóc độ nghiệp vụ Ngay trong lĩnh vực kế hoạch đầu tư, theo khảo sát của tác giả,hiện chưa có nghiên cứu, tổng kết về vấn đề tổ chức thực hiện pháp luật về ĐKKDtrên địa bàn tỉnh Cao Bằng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: đưa ra những giải pháp nhằm bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về ĐKDN ở tỉnh Cao Bằng

Nhiệm vụ nghiên cứu: từ mục đích nêu trên, luận văn đã xác định những nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

+ Phân tích làm rõ thêm cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện pháp luật về ĐKKD.+ Đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về ĐKKD (ĐKDN) trênđịa bàn tỉnh Cao Bằng, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân

+ Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về ĐKKD trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu: những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức thựchiện pháp luật về đăng ký doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2014 trên địa bàntỉnh Cao Bằng

Phạm vi nghiên cứu

+ Về không gian: trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

+ Về thời gian: từ năm 2014 - 2018

Trang 15

+ Về nội dung: các quy định của pháp luật hiện hành về đăng ký kinh doanh

và tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Cao Bằngdưới góc độ chuyên ngành Quản lý công

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Phương pháp luận: luận văn sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật.Phương pháp nghiên cứu: phương pháp thực chứng, phương pháp phân tích

giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về ĐKKD trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa về mặt lý luận: đây là đề tài mới nhất được nghiên cứu trên địa bàntỉnh Cao Bằng từ cơ sở tổng hợp nghiên cứu pháp luật về ĐKKD và việc tổ chức thựchiện pháp luật về ĐKKD trên địa bàn tỉnh Cao Bằng Do đó luận văn sẽ góp phần về mặt

lý luận cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về ĐKKD

Ý nghĩa về mặt thực tiễn: đề tài đã đưa ra được quan điểm, giải pháp đảmbảo thực hiện pháp luật về ĐKKD trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, từ đó làm cơ sở cho cáccấp chính quyền ở Cao Bằng có thể vận dụng để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tácĐKKD trong thời gian tới Đề tài cũng là có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo chonhững người quan tâm đến lĩnh vực pháp luật về ĐKKD

Trang 16

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận của tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh

Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

Trang 17

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC THỰC HIỆN

PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH 1.1 Pháp luật về đăng ký kinh doanh

1.1.1 Khái niệm pháp luật về đăng ký kinh doanh

Khái niệm đăng ký kinh doanh

Đăng ký kinh doanh là một thủ tục pháp lý mà theo đó nhà đầu tư phải khaibáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về dự kiến hoạt động của mình theo đúngquy định của pháp luật với các nội dung cụ thể, được Nhà nước thừa nhận ghi tênvào sổ ĐKKD đồng thời cấp cho chủ thể ĐKKD giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh Giấy chứng nhận ĐKKD là bằng chứng pháp lý chứng minh chủ thể kinhdoanh tiến hành các hoạt động kinh doanh một cách hợp pháp, được nhà nước côngnhận và bảo hộ

ĐKKD được hiểu là một hoạt động pháp lý áp dụng cho các chủ thể kinhdoanh khi gia nhập thị trường Như vậy, để gia nhập thị trường và được hoạt độngthì doanh nghiệp cần cả điều kiện cần và đủ cụ thể là: những loại hình kinh doanh,

DN chỉ cần điều kiện cần tức là chỉ cần đăng ký doanh nghiệp và được cấpGCNĐKDN, đối với các lĩnh vực, ngành nghề không cần điều kiện, và phải có thêmđiều kiện đủ, đối với những lĩnh vực, ngành nghề theo pháp luật đầu tư và chuyênngành quy định là ngành nghề kinh doanh có điều kiện

Thông qua hoạt động ĐKKD các chủ thể sẽ được đảm bảo về quyền và nghĩa

vụ, được xác lập một địa vị pháp lý hợp pháp để các chủ thể kinh doanh tiến hành mọihoạt động kinh doanh chính thức trên thị trường trong nước cũng như thị trường nướcngoài Do đó, hoạt động ĐKKD không chỉ áp dụng cho các chủ thể tiến hành hoạt độngkinh doanh là những doanh nghiệp mà ở đó còn áp dụng cho cả chủ thể hoạt động kinhdoanh khác như hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, hộ kinh doanh

ĐKKD là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước, đồng thời là mộtcông cụ để thực hiện quyền tự do kinh doanh của công dân Thông qua cơ chế

“đăng ký” để công nhận quyền tự do kinh doanh của công dân, thực hiện một cơ

Trang 18

chế quản lý mới của nhà nước, xoá bỏ cơ chế “xin cho”, công dân được kinh doanhtất cả những gì mà pháp luật không cấm, có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trongnhững hoạt động kinh doanh của mình, được tự do lựa chọn hình thức đầu tư kinhdoanh phù hợp và được Nhà nước bảo hộ Do đó, để đạt được mục tiêu gia nhập thịtrường cho các chủ thể kinh doanh được thuận lợi, công tác ĐKKD phải đơn giản,minh bạch và bình đẳng, thủ tục nhanh gọn, chi phí thấp Chính những điều này đểnhà nước tôn trọng quyền tự do kinh doanh hợp pháp của các chủ thể kinh doanh.

Mặt khác, nền kinh tế của các quốc gia đang trên đà hội nhập kinh tế quốc tế,việc mở rộng quyền tự do kinh doanh tạo điều kiện cho các chủ thể kinh doanh dễtiếp cận với những thị trường và đối tác lớn về kinh tế sẽ làm gia tăng lợi ích củachính mình và giúp kinh tế quốc gia phát triển Hoạt động ĐKKD không có sự phânbiệt giữa chủ thể kinh doanh trong nước và ngoài nước, mọi hoạt động ĐKKD phảiphù hợp với nền kinh tế thị trường được vận hành ổn định, an toàn, bình đẳng, nhằmđảm bảo cho sự phát triển bền vững, phù hợp với các lợi ích công cộng

Xuất phát từ nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, quản lý nhànước đối với việc thành lập doanh nghiệp thông qua hoạt động đăng ký kinh doanh

là để hướng tới việc khơi dậy ý tưởng kinh doanh, ý thức làm giàu cho bản thân vàđất nước

“Đăng ký kinh doanh là một hoạt động pháp lý trong đó chủ thể kinh doanhthực hiện việc đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan đăng ký kinhdoanh) nhằm ghi nhận sự ra đời của một mô hình kinh doanh và xác định địa vịpháp lý của chủ thể kinh doanh đó trên thị trường ” [28]

Từ những phân tích trên, tác giả có thể khái quát: “Đăng ký kinh doanh là một hoạt động pháp lý theo đó thủ tục đăng ký kinh doanh có tính bắt buộc chủ thể kinh doanh thực hiện việc đăng ký thông tin đăng ký kinh doanh với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan đăng ký kinh doanh) nhằm ghi nhận sự ra đời của một mô hình kinh doanh và xác định địa vị pháp lý của chủ thể kinh doanh đó trên thị trường ”

Trang 19

Thuật ngữ ĐKKD được sử dụng phổ biến trước đây nhưng đã có điều chỉnhqua những chặng đường phát triển của quản lý nhà nước về ĐKKD.

Trong Luật Doanh nghiệp năm 2005, thuật ngữ ĐKKD được sử dụng Sau đó,

từ Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp, Nghị định 102/2010/NĐ- CPhướng dẫn Luật doanh nghiệp thuật ngữ này chuyển thành đăng ký doanh nghiệp vàsau này là Luật Doanh nghiệp năm 2014 cùng văn bản hướng dẫn thi hành

Thuật ngữ “Đăng ký doanh nghiệp” được giải thích tại Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về Đăng ký doanh nghiệp “Đăng ký

doanh nghiệp là việc người thành lập doanh nghiệp đăng ký thông tin về doanh nghiệp

dự kiến thành lập, doanh nghiệp đăng ký những thay đổi hoặc dự kiến thay đổi trong thông tin về đăng ký doanh nghiệp với cơ quan đăng ký kinh doanh và được lưu giữ tại

Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp Đăng ký doanh nghiệp bao gồm đăng

ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký thay đổi những nội dung đăng ký doanh nghiệp và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo khác theo quy định của nghị định này”.

Về bản chất, hai thuật ngữ này được sử dụng giống nhau là thủ tục đăng kýkhai sinh ra doanh nghiệp, điều chỉnh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệpnhưng xét trên phương diện câu chữ, nó lại có sự khác nhau trên một số phươngdiện như: ĐKKD đề cập đến mục đích hoạt động quản lý nhà nước, ĐKDN hướngđến hậu quả pháp lý một cách trực tiếp là doanh nghiệp Việc ĐKKD là do CQNNtrao cho chủ thể quyền cũng như giao phó nghĩa vụ theo quy định [28]

Đặc điểm, đối tƣợng, hình thức của Đăng ký kinh doanh

- Đặc điểm đăng ký kinh doanh

Thứ nhất, ĐKKD là một trong những dịch vụ hành chính công do cơ quan

QLNN trực tiếp thực hiện

Thứ hai, theo quy định trong Luật doanh nghiệp ĐKKD cũng là thủ tục đầu

tiên để tiến hành hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp

Thứ ba, bất kỳ một doanh nghiệp nào khi đăng ký gia nhập thị trường đều

phải thực hiện theo một khung pháp lý chung gồm các TTHC sau: 1) ĐKKD (baogồm đăng ký mã số thuế), 2) Công bố mẫu con dấu

Trang 20

Thứ tư, để thành lập 1 trong 4 loại hình doanh nghiệp (Công ty TNHH, Công

ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh) thì nhà đầu tư sẽ thực hiệnthủ tục ĐKDN với cơ quan ĐKKD cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính

-Đối tượng đăng ký kinh doanh theo Luật doanh nghiệp bao gồm: (1) Doanhnghiệp tư nhân; (2) Công ty cổ phần; (3) Công ty hợp danh; (4) Công ty TNHH(Gồm Công ty TNHH 1 thành viên và Công ty TNHH 2 thành viên)

- Hình thức đăng ký kinh doanh: Theo tính chất ĐKDN, có các hình thứcĐKDN sau: (1) Đăng ký thành lập mới các loại hình doanh nghiệp; (2) Đăng ký thayđổi các loại hình doanh nghiệp; (3) Đăng ký chuyển đổi các loại hình doanh nghiệp

• Khái niệm pháp luật về đăng ký kinh doanh

Pháp luật về ĐKKD ở Việt Nam lần đầu được “khai sinh” bằng chế địnhriêng trong văn bản quy phạm pháp luật vào năm 1990, khi Quốc hội thông quaLuật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty cùng các văn bản hướng dẫn ra đời đãmang lại sự cải thiện lớn về tính công khai trong các quy định về hồ sơ, trình tự, thủtục và điều kiện ĐKKD, tính minh bạch trong tổ chức bộ máy quản lý nhà nước vềĐKKD Những quy định này đã góp phần tạo điều kiện cho chủ thể kinh doanhđược thực hiện quyền tự do kinh doanh [28]

Trong quá trình thực thi thủ tục ĐKKD, cả doanh nghiệp và cơ quan ĐKKDcũng như các cơ quan nhà về kinh tế có liên quan đều phải chịu sự tác động và điều

chỉnh của pháp luật, vì vậy, có thể đưa ra khái niệm: “Pháp luật về đăng ký kinh doanh là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận

để nhằm điều chỉnh những vấn đề về điều kiện, nội dung và trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh của các chủ thể kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cũng như trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh ”.

Theo khái niệm trên, pháp luật về ĐKKD được hiểu là những quy phạm phápluật điều chỉnh mối quan hệ xã hội giữa chủ thể đăng ký kinh doanh và cơ quanĐKKD trong việc ĐKKD, thủ tục ĐKKD, các biện pháp chế tài để đảm bảo việcĐKKD được thực hiện đúng pháp luật và những vấn đề khác liên quan đến hoạtđộng ĐKKD

Trang 21

Sự quy định pháp luật về ĐKKD là một tất yếu khách quan, tạo ra nhữngđảm bảo pháp lý về điều kiện, trình tự, thủ tục, để chủ thể kinh doanh vận dụng khởi

sự doanh nghiệp, yên tâm khi lựa chọn một mô hình kinh doanh Thông qua việcban hành những QPPPL về ĐKKD để nhà nước ghi nhận sự ra đời của một thực thểkinh doanh, đồng thời kiểm soát quá trình hình thành, phát triển của một loại hìnhkinh doanh theo hướng tích cực, loại bỏ những doanh nghiệp không đảm bảo cácđiều kiện theo quy định của pháp luật ngay từ đầu, nhằm tạo nên một môi trườngkinh doanh lành mạnh, bình đẳng, đảm bảo những lợi ích của nền kinh tế thị trường

Mặt khác, pháp luật về ĐKKD không chỉ phản ánh quy trình thành lập doanhnghiệp mà còn điều chỉnh những yêu cầu về hành vi kinh doanh của chủ thể kinhdoanh sau khi thành lập đi vào hoạt động, tăng cường khâu hậu kiểm, trách nhiệmpháp lý của các chủ thể kinh doanh thực hiện đúng cam kết của mình khi thành lậpdoanh nghiệp

Như vậy, khái niệm pháp luật về ĐKKD không chỉ giới hạn trong LuậtDoanh nghiệp, mà sẽ còn bao hàm cả những quy phạm pháp luật của Hiến pháp, Bộluật Dân sự, Luật Đầu tư, Luật Hợp tác xã, văn bản dưới luật là khái niệm có nộihàm rộng

Ngoài ra, pháp luật về ĐKKD còn được hiểu theo nghĩa hẹp, đó là các QPPL donhà nước ban hành được quy định tại Luật doanh nghiệp và các văn bản dưới luật điềuchỉnh các quan hệ pháp luật phát sinh trong quá trình thành lập doanh nghiệp

Hiện nay, pháp luật về ĐKKD được hiểu là tổng hợp những quy định về giátrị pháp lý của giấy chứng nhận ĐKKD, điều kiện kinh doanh, thủ tục ĐKKD, cácbiện pháp chế tài để đảm bảo việc ĐKKD được thực hiện đúng pháp luật [28].Cùng với các văn bản theo hệ thống pháp luật về ĐKKD, nhiều luật, pháp lệnh mớihoặc sửa đổi bổ sung có liên quan tới công tác quản lý ĐKKD cũng được ban hành

1.1.2 Nội dung của pháp luật về đăng ký kinh doanh

Hệ thống pháp luật đã bảo đảm ĐKKD bằng việc thể chế hóa các chính sách,

kế hoạch của Đảng, nhà nước trong công tác bảo đảm ĐKKD và quy định các

Trang 22

phương tiện, biện pháp, nhân lực, để đảm bảo thực hiện các chính sách, kế hoạch

đó Chính vì thế, pháp luật trong ĐKKD đã trở thành một công cụ hữu hiệu để quản

lý lĩnh vực này Đặc biệt, thời gian qua pháp luật về ĐKKD ở nước ta đã từng bướcđược xây dựng và hoàn thiện, góp phần điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đếnlĩnh vực ĐKKD Pháp luật về ĐKKD bao gồm các nội dung sau đây:

Thứ nhất, quy định các quy tắc xử sự chung cho mọi chủ thể trong lĩnh vực

ĐKKD

Luật Doanh nghiệp quy định về việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại,giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp, bao gồm công ty trách nhiệmhữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân; quy định vềnhóm công ty

Pháp luật về ĐKKD là những quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ xãhội giữa chủ thể ĐKKD và cơ quan ĐKKD trong việc ĐKKD, thủ tục ĐKKD, cácbiện pháp chế tài để đảm bảo việc ĐKKD được thực hiện đúng pháp luật và nhữngvấn đề khác liên quan đến hoạt động ĐKKD

Thứ hai, quy định các chế tài ràng buộc các cá nhân, tổ chức thực hiện những

yêu cầu của pháp luật để đảm bảo ĐKKD

Sự quy định pháp luật về ĐKKD là một tất yếu khách quan, tạo ra nhữngđảm bảo pháp lý về điều kiện, trình tự thủ tục, để chủ thể kinh doanh vận dụng khởi

sự doanh nghiệp, yên tâm khi chọn một mô hình kinh doanh Thông qua việc banhành những QPPL về ĐKKD để nhà nước ghi nhận sự ra đời của một thực thể kinhdoanh, đồng thời kiểm soát quá trình hình thành, phát triển của một loại hình kinhdoanh theo hướng tích cực, loại bỏ những doanh nghiệp không đảm bảo các điềukiện kinh doanh Toàn bộ quy trình ĐKKD các chủ thể đều phải tuân theo quy địnhcủa pháp luật để buộc các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật ĐKKD phảithực hiện nghiêm chỉnh

Thông qua pháp luật về ĐKKD, Nhà nước sẽ tạo nên một trật tự xã hội màtrong đó, các chủ thể kinh doanh hoạt động với quy mô, lĩnh vực địa bàn đều có lợi

Trang 23

ích khác nhau nhưng đều bình đẳng trong “một sân chơi chung” để cùng tồn tại , tạotiền đề cần thiết cho sự phát triển xã hội.

Thứ ba, quy định các tiêu chuẩn bảo đảm ĐKKD, đồng thời công nhận quyền

tự do kinh doanh

Pháp luật về ĐKKD đảm bảo và thừa nhận quyền tự do kinh doanh, quyềnthành lập doanh nghiệp và ĐKKD với điều kiện chủ thể đáp ứng đủ các điều kiệntheo quy định của pháp luật như: có đủ năng lực hành vi dân sự (đối với cá nhân);phải được thành lập hợp pháp, phải có tài sản riêng phải có thẩm quyền kinh doanh(đối với tổ chức) Trong nền kinh tế thị trường, pháp luật về ĐKKD luôn khuyếnkhích các chủ thể tham gia vào hoạt động ĐKKD, thành lập doanh nghiệp trên cơ sởquy định của pháp luật Pháp luật ĐKKD ghi nhận các chủ thể được quyền tham giathành lập doanh nghiệp và ĐKKD Đồng thời với những quy định điều kiện về chủthể thành lập doanh nghiệp là một quy định bắt buộc không thể thiếu được nhằmđảm bảo chủ thể khi tham gia vào thương trường hoàn toàn có khả năng thực hiệnđược ý tưởng của mình, đạt được hiệu quả cao, góp phần tăng trưởng, phát triểnkinh tế của đất nước, đồng thời gánh chịu được hậu quả pháp lý mà mình gây ra.Các chủ thể kinh doanh khi có nhu cầu khởi sự doanh nghiệp đều được hoạt động vàchịu sự điều chỉnh trong cùng một chế định pháp luật về ĐKKD, đều được bìnhđẳng trước pháp luật về thực hiện quyền và nghĩa vụ, không phân biệt quy mô, loạihình, lĩnh vực đầu tư, ngành, nghề…

Thứ tư, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các cơ quan

quản lý nhà nước về đăng ký kinh doanh

Như ta đã biết, tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội đều cần phải có sự quản lýcủa nhà nước và ĐKKD cũng không là ngoại lệ Hơn thế, bảo đảm ĐKKD còn làmột hoạt động, nhiệm vụ quan trọng bởi ĐKKD là vấn đề tương đối phức tạp nênrất cần có hệ thống tổ chức quản lý phù hợp, hiệu quả Pháp luật Việt Nam hiện nay

đã ngày càng thể hiện vai trò to lớn trong việc tạo ra cơ chế hoạt động cho các tổchức, cơ quan bảo đảm ĐKKD Việc ban hành các văn bản pháp luật tạo ra cơ sởpháp lý để các cơ quan nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của

Trang 24

mình, đảm bảo hoàn thành tốt công tác quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp và

hộ kinh doanh Nhờ sự phân chia như vậy của pháp luật đã tạo ra sự phối hợp ngàycàng nhịp nhàng, đồng bộ giữa các cơ quan, nâng cao hiệu quả của quản lý Nhànước về doanh nghiệp

Pháp luật là công cụ và phương tiện đảm đương vai trò dẫn dắt và chi phối xãhội bằng việc kiến tạo môi trường, cơ hội pháp lý như nhau đối với các thành viêntrong xã hội thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau phát huy khả năng của mình đểkhởi nghiệp và phát triển Pháp luật đảm đương vai trò kiến tạo môi trường, cơ hộipháp lý bình đẳng cho mọi thành viên của xã hội phát huy tài năng, trí tuệ, sức lực

để hoàn thiện và phát triển bản thân mình, đồng thời phát triển xã hội Với vai trònày, xã hội nói chung và các thành viên của xã hội nói riêng sẽ có điều kiện để pháttriển

*Vai trò của pháp luật Đăng ký kinh doanh

Thứ nhất, Pháp luật về ĐKKD góp phần mở rộng quyền tự do kinh doanh

Có thể nói, việc mở rộng đối tượng có quyền thành lập là phù hợp với đòihỏi của cơ chế thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư có thể tự nhậnthức pháp luật để tiến hành thành lập doanh nghiệp một cách đúng pháp luật Việchạn chế một số đối tượng thành lập doanh nghiệp xuất phát từ yêu cầu bảo vệ lợi íchcủa nhà nước, lợi ích của xã hội cũng như lợi ích của bản thân các nhà đầu tư

Sự quy định các đối tượng có quyền thành lập, góp vốn hoạt động kinhdoanh trong cùng một đạo luật để tạo cơ hội thuận lợi, dễ dàng và bình đẳng cho haiđối tượng trên khi thành lập doanh nghiệp, tạo nên sự thống nhất, tránh những quyphạm pháp luật chồng chéo trong hệ thống pháp luật nói chung

Thứ hai, Pháp luật về ĐKKD rút gọn thủ tục gia nhập thị trường

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc thành lậpdoanh nghiệp được coi là quyền cơ bản của nhà đầu tư song lại có ảnh hưởng khôngnhỏ đến lợi ích toàn xã hội Vì vậy, trình tự thành lập doanh nghiệp phải được tiếnhành trong khuôn khổ của pháp luật Các quy định về thành lập doanh nghiệp khôngnhững phải đảm bảo quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư mà còn phải đáp ứng

Trang 25

nhu cầu của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp Quy trình ĐKKD cho doanhnghiệp càng rút ngắn thì càng có lợi cho doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian, chiphí, hoạt động gia nhập thị trường càng sớm càng tốt.

Thứ ba, Pháp luật về ĐKKD góp phần minh bạch môi trường kinh doanh

MTKD là toàn bộ các yếu tố và điều kiện có ảnh hưởng trực tiếp hay giántiếp đến hoạt động của các doanh nghiệp tạo nên thị trường, bao gồm nhiều yếu tốcấu thành trong đó yếu tố đầu tiên là môi trường pháp lý quy định về việc gia nhậpthị trường của doanh nghiệp, quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và

sự rút lui của doanh nghiệp khỏi thị trường

Do đó, MTKD có vai trò quan trọng quyết định sự thành công và kéo dài sựtồn tại của doanh nghiệp trên thị trường Trong đó, Chính phủ có trách nhiệm tạonên một MTKD bình đẳng, thông thoáng, khuyến khích cho doanh nghiệp Chínhphủ có vai trò to lớn trong việc giám sát, thực hiện, duy trì pháp luật nhằm điều tiếtnền kinh tế vĩ mô thông qua các chính sách Hiện nay, nhiều nhà đầu tư muốn gianhập thị trường ở những nước có cơ chế chính sách thông thoáng, tiết kiệm chi phí,thời gian Do đó, trong bối cảnh hội nhập kinh tế, nhiều quốc gia đã mạnh dạn tháo

gỡ, cắt bỏ những thủ tục không cần thiết để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu

tư tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh

Pháp luật về ĐKKD trải qua 20 năm hình thành và phát triển trong giai đoạnphát triển kinh tế - chính trị khác nhau Từ những quy phạm về ĐKKD được quyđịnh dưới hình thức Nghị định, Thông tư cho đến những cải cách mang tính đột phácủa Luật Doanh nghiệp năm 1999, 2005 Hiện nay, Luật Doanh nghiệp 2014, trên

cơ sở kế thừa và phát huy những ưu điểm của các đạo luật trước đó ban hành và ápdụng trong thực tiễn cho đến thời điểm hiện nay được đánh giá là một đạo luật quantrọng có tác động lớn đến hoạt động kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp và làmột thành tựu lớn trong hệ thống pháp luật về ĐKKD của Việt Nam

Những cải cách trên đã góp phần phục vụ sự tăng trưởng mạnh mẽ của khốikinh tế tư nhân, cải thiện môi trường kinh doanh đầu tư của Việt Nam

Trang 26

1.2 Tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh

1.2.1 Khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh

Tổ chức là các hoạt động cần thiết để xác định cơ cấu, hệ thống của bộ máy,xác định những công việc phù hợp với từng bộ phận và giao trách nhiệm cho từngnhà quản lý để vận hành các bộ phận hoạt động đạt hiệu quả cao nhất có thể Côngtác tổ chức bao gồm việc thành lập nên các bộ phận trong tổ chức để đảm nhận cáchoạt động cần thiết và xác định các mối quan hệ về nhiệm vụ, quyền hành và tráchnhiệm giữa các bộ phận đó Mục tiêu của công tác tổ chức là tạo nên một môitruờng nội bộ thuận lợi cho mỗi cá nhân, mỗi bộ phận phát huy được năng lực vànhiệt tình của mình, đóng góp tốt nhất vào sự hoàn thành mục tiêu chung của tổchức [55]

Tổ chức thực hiện pháp luật là một chuỗi hoạt động nằm trong một chính thểthống nhất, bắt đầu từ hướng dẫn thi hành luật, tuyên truyền, phố biến, giáo dụcluật, triển khai, thực hiện, cho đến kiểm tra, giám sát và đánh giá, tổng kết việc tổchức thực hiện pháp luật Để triển khai thực hiện pháp luật, Chính phủ ban hành cácNghị định; Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ ban hành các Thông tưhướng dẫn thi hành pháp luật; Chính quyền địa phương triển khai thực hiện phápluật dựa trên các Nghị định và Thông tư huớng dẫn thi hành pháp luật

Việc triển khai tổ chức thực hiện pháp luật phải được thực hiện đồng bộ, gắn kếtchặt chẽ với nhiệm vụ trọng tâm về xây dựng và thực thi văn bản quy phạm pháp luật,khắc phục các hạn chế, thu hút sự tham gia tích cực của các thành phần có liên quan,việc triển khai thực thi pháp luật phải có sự kiểm tra, kiểm soát của các cấp các ngành

có liên quan, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật

Như vậy, tổ chức thực hiện pháp luật về ĐKKD là hoạt động sắp xếp, định hướng một cách có tổ chức, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch và thường xuyên,

do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện làm cho pháp luật về ĐKKD được triển khai trong thực tiễn.

Trang 27

1.2.2 Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh

Tổ chức thực hiện pháp luật về ĐKKD là hoạt động có sự tham gia của cơquan nhà nuớc có thẩm quyền tác động tới lĩnh vực ĐKKD nhằm đạt đuợc mục đíchcủa cơ quan nhà nước Do vậy, có thể nói, tổ chức thực hiện pháp luật về ĐKKD làhoạt động có định hướng, có chủ đích của các cơ quan nhà nước như Bộ Kế hoạch

và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công an … và các Bộ ngành, các cấp chính quyền địaphương, cơ quan ĐKKD các cấp

* Bộ Kế hoạch và Đầu tư [Khoản 1, Điều 16, [17]:

+ Trình cấp có thẩm quyền ban hành, ban hành theo thẩm quyền văn bản quyphạm pháp luật về ĐKDN, đăng ký hộ kinh doanh, văn bản hướng dẫn về

chuyên môn, nghiệp vụ, biểu mẫu, chế độ báo cáo phục vụ công tác đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh và việc ĐKDN qua mạng điện tử;

+ Hướng dẫn, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ ĐKDN cho cán bộ làm công tácĐKDN và tổ chức, cá nhân có yêu cầu; đôn đốc, chỉ đạo, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện ĐKDN;

+ Công bố nội dung ĐKDN; cung cấp thông tin về nội dung ĐKDN, tìnhtrạng pháp lý và báo cáo tài chính của doanh nghiệp lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia vềĐKDN cho các cơ quan có liên quan của Chính phủ, cho tổ chức, cá nhân có yêu cầu;+ Hướng dẫn Phòng ĐKKD thực hiện việc chuẩn hóa dữ liệu, cập nhật dữliệu ĐKDN tại địa phương sang Cơ sở dữ liệu quốc gia về ĐKDN;

+ Tổ chức xây dựng, quản lý, phát triển Hệ thống thông tin quốc gia vềĐKDN; hướng dẫn việc xây dựng kinh phí phục vụ vận hành Hệ thống thông tin quốc gia

về ĐKDN tại địa phương;

+ Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính trong việc kết nối giữa Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và Hệ thống thông tin đăng ký thuế;

+ Phát hành ấn phẩm thông tin doanh nghiệp để thực hiện đăng thông tin về ĐKDN, thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp trên toàn quốc;

+ Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp

Trang 28

* Cục quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Cục Quản lý đăng ký kinh doanh là đơn vị thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư,giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ĐKDN, hộ kinh doanh,hợp tác xã và các loại hình khác theo quy định của pháp luật [8]

Cục Quản lý đăng ký kinh doanh có tư cách pháp nhân; con dấu riêng và tàikhoản cấp 2; kinh phí hoạt động do ngân sách nhà nước cấp và được tổng hợp trong

dự toán hàng năm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Về nhiệm vụ và quyền hạn của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh như sau:

1 Chủ trì hoặc tham gia xây dựng, soạn thảo cơ chế, chính sách và các vănbản quy phạm pháp luật về ĐKDN, hộ kinh doanh, hợp tác xã và các loại hình kháctheo quy định của pháp luật trình cấp có thẩm quyền ban hành

2 Ban hành hoặc tham gia xây dựng hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hànhcác văn bản hướng dẫn, chỉ đạo về quy trình chuyên môn, nghiệp vụ, biểu mẫu, chế

độ báo cáo phục vụ công tác ĐKDN, hộ kinh doanh, hợp tác xã và các loại hìnhkhác theo quy định của pháp luật cho cơ quan ĐKKD cấp tỉnh, cấp huyện và các tổchức, cá nhân trên phạm vi cả nước

3 Theo dõi, giám sát, tổng hợp tình hình thực hiện ĐKDN, hộ kinh doanh,hợp tác xã và các loại hình doanh nghiệp khác theo quy định của pháp luật trên phạm vi

cả nước; theo dõi, tổng hợp tình hình sau đăng ký doanh nghiệp

4 Về thông tin đăng ký doanh nghiệp và các loại hình khác:

a) Tổ chức xây dựng, quản lý, vận hành Hệ thống thông tin quốc gia về đăng

ký doanh nghiệp, hộ kinh doanh, hợp tác xã;

b) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc kết nối và traođổi thông tin về đăng ký doanh nghiệp, hộ kinh doanh, hợp tác xã và các loại hình khác theo quy định của pháp luật;

c) Cung cấp thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp,

hộ kinh doanh, hợp tác xã cho các tổ chức, cá nhân;

d) Phát hành ấn phẩm, tài liệu hướng dẫn, phổ biến pháp luật về ĐKDN, hộkinh doanh, hợp tác xã và các loại hình khác theo quy định của pháp luật

Trang 29

5 Hướng dẫn, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc lĩnh vực phụtrách của Cục Quản lý ĐKKD cho cơ quan ĐKKD và tổ chức, cá nhân khi có yêu cầu.

6 Thực hiện hợp tác quốc tế về các lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh

7 Quản lý tổ chức, biên chế, tài sản được giao theo quy định của pháp luật

và phân cấp của Bộ

8 Thực hiện các nhiệm vụ khác theo phân công của Bộ trưởng

* Bộ Tài chính [Khoản 2, Điều 16, [17]

+ Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc kết nối giữa Hệ thốngthông tin quốc gia về ĐKDN và Hệ thống thông tin đăng ký thuế nhằm cung cấp mã sốdoanh nghiệp, mã số đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, mã số địa điểm kinh doanhphục vụ đăng ký doanh nghiệp và trao đổi thông tin về doanh nghiệp;

+ Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn về chế độ thu,nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí ĐKDN, đăng ký hộ kinh doanh, đăng ký hoạt

động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh, phí cung cấp thông tin vàcông bố nội dung về đăng ký doanh nghiệp

- Bộ Công an: chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan hướng dẫn việc

xác định nội dung kê khai trong hồ sơ ĐKDN là giả mạo [Khoản 3, Điều 16, [17]

- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi chức

năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện pháp luật về điềukiện kinh doanh; kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm việc chấp hành các điều kiệnkinh doanh thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước; rà soát và công bố trên trang thôngtin điện tử của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ danh mục cácngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, điều kiện kinh doanh thuộc phạm viquản lý nhà nước và gửi cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư để đăng tải trên Cổng thông tinquốc gia về đăng ký doanh nghiệp [Khoản 4, Điều 16,[17]

- Các bộ, cơ quan ngang bộ chỉ đạo các cơ quan chuyên môn định kỳ gửi cho

Cơ quan ĐKKD nơi doanh nghiệp có trụ sở chính các thông tin sau đây [Khoản 3, Điều 208; [39]

Trang 30

+ Thông tin về giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinhdoanh, chứng chỉ hành nghề, giấy chứng nhận hoặc văn bản chấp thuận về điều kiệnkinh doanh đã cấp cho doanh nghiệp và quyết định xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính của doanh nghiệp;

+ Thông tin về tình hình hoạt động và nộp thuế của doanh nghiệp từ báo cáo thuế của doanh nghiệp;

+ Phối hợp, chia sẻ thông tin về tình hình hoạt động doanh nghiệp để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước

- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bố trí đủ nhân lực,

kinh phí và nguồn lực khác cho cơ quan đăng ký kinh doanh để đảm bảo thực hiệncác nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Nghị định này.[ Khoản 5,Điều 6,17]

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện quản lý nhànước đối với doanh nghiệp trong phạm vi địa phương Ủy ban nhân dân tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được phân công chịutrách nhiệm chỉ đạo các cơ quan chuyên môn trực thuộc và UBND cấp huyện định

kỳ gửi cho Cơ quan ĐKKD nơi doanh nghiệp có trụ sở chính các thông tin theo quyđịnh tại khoản 2 Điều này [Khoản 4 và 5, Điều 208; [39]

Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp được phân cấp quản lý từ trung ươngtới địa phương theo các cấp (từ cấp tỉnh đến cấp quận, huyện) Công tác này đượcthực hiện thông qua sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân (UBND) đối với các cơ quanchuyên môn trực thuộc và UBND cấp huyện Nhiệm vụ chính theo Luật quy định làxây dựng, ban hành các quy định hướng dẫn và tổ chức thực hiện tại địa phương

* Tổ chức hệ thống Đăng ký kinh doanh và thẩm quyền cấp ĐKDN và điều chỉnh ĐKKD.

Cơ quan ĐKKD được tổ chức ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh [ Điều 13; [17]

Ở cấp tỉnh có Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư Ở cấp huyện do Phòng Tài chính – Kế hoạch thuộc UBND cấp huyện

Trang 31

Riêng thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có thể thành lập thêmmột hoặc hai Phòng ĐKKD Việc thành lập thêm Phòng ĐKKD do UBND thànhphố quyết định sau khi thống nhất với Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

- Ở cấp tỉnh: Nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng Đăng ký kinh doanh [Điều 14 [17]

+ Trực tiếp nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp; xem xét tính hợp lệ của hồ sơđăng ký doanh nghiệp và cấp hoặc từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.+ Phối hợp xây dựng, quản lý, vận hành Hệ thống thông tin quốc gia về đăng

ký doanh nghiệp; thực hiện việc chuẩn hóa dữ liệu, cập nhật dữ liệu đăng ký doanhnghiệp tại địa phương sang Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp

+ Cung cấp thông tin về ĐKDN lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về ĐKDNtrong phạm vi địa phương quản lý cho UBND cấp tỉnh, Cục thuế địa phương, các cơquan có liên quan và các tổ chức, cá nhân có yêu cầu theo quy định của pháp luật.+ Yêu cầu doanh nghiệp báo cáo về việc tuân thủ các quy định của Luật Doanh nghiệp theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 209 Luật Doanh nghiệp

+ Trực tiếp kiểm tra hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tradoanh nghiệp theo nội dung trong hồ sơ ĐKDN ; hướng dẫn cơ quan ĐKKD cấp huyện

về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký hộ kinh doanh; hướng dẫn doanh nghiệp

và người thành lập doanh nghiệp về hồ sơ, trình tự, thủ tục ĐKDN

+ Yêu cầu doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định tại Khoản 9 Điều 7 Nghị định này

+ Thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với doanh nghiệp thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 62 Nghị định này

+ Đăng ký cho các loại hình khác theo quy định của pháp luật

- Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện [17,Điều 15]

Ủy ban nhân dân cấp huyện giao cho Phòng Tài chính - Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ đăng ký hộ kinh doanh, hợp tác xã theo quy định của pháp luật

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện:+ Trực tiếp nhận hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh; xem xét tính hợp lệ của hồ sơ

và cấp hoặc từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh

Trang 32

+ Phối hợp xây dựng, quản lý, vận hành hệ thống thông tin về hộ kinh doanhhoạt động trên phạm vi địa bàn; định kỳ báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện, PhòngĐăng ký kinh doanh cấp tỉnh, cơ quan thuế cấp huyện về hộ kinh doanh trên địa bàn.

+ Trực tiếp kiểm tra hộ kinh doanh theo nội dung trong hồ sơ đăng ký trên phạm

vi địa bàn; phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra doanh nghiệp; xácminh nội dung ĐKDN, chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh củadoanh nghiệp trên phạm vi địa bàn theo yêu cầu của Phòng ĐKKD cấp tỉnh

+ Yêu cầu hộ kinh doanh báo cáo tình hình kinh doanh khi cần thiết

+ Yêu cầu hộ kinh doanh tạm ngừng kinh doanh ngành, nghề kinh doanh cóđiều kiện khi phát hiện hộ kinh doanh không có đủ điều kiện theo quy định củapháp luật, đồng thời thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý theoquy định của pháp luật

+ Thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh trong các trường hợptheo quy định

Đăng ký cho các loại hình khác theo quy định của pháp luật

1.2.3 Các giai đoạn tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh

1.2.3.1 Giai đoạn ban hành văn bản hướng dẫn, chỉ đạo

Muốn tổ chức thực hiện pháp luật về ĐKKD đạt hiệu quả cần có sự chỉ đạoquyết liệt của Chính phủ đối với công tác ĐKKD Nhiều văn bản mang tính chiếnlược sẽ được ban hành để chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương triển khai đồng bộcác giải pháp về ĐKKD, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, thu hútđầu tư Như vậy, mới tạo được sự chuyển biến rõ rệt trong hoạt động của các cơquan quản lý nhà nước và nhận thức của xã hội về ĐKKD Ngoài ra, Thủ tướngChính phủ thường xuyên chỉ đạo trực tiếp qua các buổi họp giao ban trực tuyến vớicác địa phương hoặc trực tiếp thị sát, kiểm tra tình hình tại một số điểm nóng, qua

đó để giải quyết dứt điểm các vướng mắc của doanh nghiệp

Đối với công tác ĐKKD tại địa phương, cần phải ban hành các văn bản chỉđạo về việc tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước về ĐKKD và chỉ đạo quyết

Trang 33

liệt đặc biệt nhấn mạnh vai trò và quy định trách nhiệm của người đứng đầu địaphương trong triển khai các nhiệm vụ liên quan đến doanh nghiệp, người dân.

Các Bộ trong phạm vi quyền hạn của mình trình Chính phủ hoặc ban hànhcác văn bản chỉ đạo tầm chiến lược Trên cơ sở chiến lược, các Bộ xây dựng và banhành các đề án như: Đề án Số 8925/ĐA-BKHĐT ngày 26/12/2011 của Bộ Kế hoạch

và Đầu về đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký thành lập

Nghị quyết số 59/NQ-CP ngày 07/8/2015 của Chính phủ về thi hành LuậtDoanh nghiệp và Luật Đầu tư [13]; Quyết định số 419/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 củaChính phủ Phê duyệt Đề án đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sauđăng ký thành lập [4]

1.2.3.2 Giai đoạn phổ biến, giáo dục pháp luật về đăng ký kinh doanh

Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được xác định là nhiệm vụ trọng tâm,

đi trước một bước trong các hoạt động ĐKKD Việc nâng cao kiến thức về ĐKKDcho các đối tượng được các Bộ, ngành và địa phương cần phải được đẩy mạnh vớinhiều hình thức đa dạng, phong phú Các hoạt động tuyên truyền giáo dục trên cácphương tiện thông tin đại chúng phải được triển khai đồng bộ, theo hướng dẫn củaTrung ương về ĐKKD nhằm nâng cao vai trò của UBND các cấp, vai trò quản lýcủa các cơ quan chức năng, trách nhiệm của các cơ quan chức năng và doanhnghiệp trong công tác ĐKKD

Để nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác ĐKKD từ Trung ương đến

cơ sở, các bộ ngành sẽ thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo chứng chỉ, các lớp tậphuấn về ĐKKD Cùng với đó, việc nâng cao nhận thức cho doanh nghiệp và toàn xãhội nói chung qua các hình thức như nói chuyện, hội thảo, tọa đàm, phát thanh,truyề ộc thi, các sản phẩm truyền thông như tờ gấp, poster, các băng đĩa hình cũngcần được chú ý phát triển

1.2.3.3 Giai đoạn tổ chức bộ máy, chuẩn bị nhân lực, vật lực phục vụ

thực hiện pháp luật về ĐKKD

- Về tổ chức bộ máy phục vụ thực hiện pháp luật về ĐKDN (Hình 1.1)

Trang 34

+ Quốc hội ban hành và sửa đổi các luật liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp.

+ Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân các cấp xét xử và kiểm soát việc tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp cũng như cơ quan QLNN

+ Chính phủ thống nhất thực hiện các chức năng quản lý hành chính nhànước trên cơ sở phân công, phân cấp quản lý Chính phủ và Thủ tướng Chính phủtrực tiếp ban hành nghị định, quyết định và các chính sách cụ thể liên quan đếndoanh nghiệp; các biện pháp chỉ đạo và kiểm tra việc thi hành Hiến pháp, pháp luật,các quyết định của Chính phủ trong doanh nghiệp

Hình 1.1: Hệ thống cơ quan QLNN về đăng ký doanh nghiệp

Quốc hội

Chính phủ

Thủ tướng chính phủ

Ban hành văn bản Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định

UBND cấp tỉnh

Các Bộ

Ban hành Quyết định, thông tư

Kiể m tra, giám sát

Cơ bản thực hiện

trực tiếp theo địa

quản lý gián tiếp

Trang 35

+ UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng QLNN đối với doanh nghiệp ở địaphương, tổ chức thực hiện QLNN đối với doanh nghiệp theo ngành, lĩnh vực trênđịa bàn theo thẩm quyền UBND cấp huyện, cấp xã tổ chức thực hiện QLNN đốivới doanh nghiệp sau đăng ký thành lập trên địa bàn theo thẩm quyền phân cấp hànhchính và từng lĩnh vực cụ thể có liên quan.

Ngoài cách tiếp cận hệ thống bộ máy QLNN theo phân cấp về hành chính,đứng trên góc độ hệ thống các cơ quan nhà nước liên quan trực tiếp đến “vòng đời”của doanh nghiệp (từ khi doanh nghiệp thành lập đến khi giải thể, phá sản doanhnghiệp), hệ thống này khái quát như hình 1.2

Hình 1.2 Sơ đồ cơ quan QLNN theo vòng đời doanh nghiệp

Cơ quan đăng ký kinh Cơ quan Thuế

Giải thể Doanh nghiệp đăng ký Doanh nghiệp đã hoạt động Doanh nghiệp chấm

thành lập sản xuất-kinh doanh

Các cơ quan quản lý chuyên ngành; lĩnh

vực kinh doanh có điều kiện, môi trường, lao động, xuất nhập khẩu, an

ninh trật tự

Phá sản Tòa án

Như vậy, liên quan trực tiếp đến “vòng đời” của doanh nghiệp, có một số cơquan đầu mối quan trọng trong công tác QLNN đối với doanh nghiệp như: cơ quanĐKKD, cơ quan thuế, cơ quan quản lý chuyên ngành…Trong đó, cơ quan ĐKKD,

cơ quan thuế đóng vai trò trung tâm, đầu mối theo dõi thông tin chung về hoạt độngcủa doanh nghiệp [4]

- Về nhân lực:

+ Tại Trung ương, ngoài các cán bộ, công chức tham gia trực tiếp công tácquản lý tại Cục ĐKKD (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) sẽ có các cán bộ kiêm nhiệm thuộccác đơn vị của các Bộ, ngành như: Bộ Y tế, Bộ NNPTNT, Bộ Công thương…

Trang 36

+ Cơ quan ĐKKD cấp tỉnh: nhân lực là cán bộ công chức tại Bộ phận mộtcửa và Phòng Đăng ký kinh doanh- Sở KH&ĐT sẽ là các cán bộ trực tiếp giải quyếtTTHC về đăng ký doanh nghiệp cho tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân Ngoài ra, cán bộcông chức tại các sở ngành khác trực tiếp giải quyết thủ tục hành chính về ĐKKD cho tổchức, doanh nghiệp và cá nhân hoặc cán bộ công chức ở các sở ngành đều có thể tư vấnpháp luật cho tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân.

+ Cơ quan ĐKKD cấp huyện: nhân lực là cán bộ công chức tại Bộ phận mộtcửa và Phòng Tài chính - Kế hoạch các huyện sẽ là các cán bộ trực tiếp giải quyết TTHC

về đăng ký kinh doanh của HTX, hộ gia đình

- Điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật ĐKKD: các trụ sở làm việc sẽ đượctrang bị đầy đủ, hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, các phương tiện kỹthuật điều kiện làm việc tốt để triển khai nhiệm vụ Hàng năm NSNN bố trí đầu

tư đảm bảo các điều kiện cần thiết về xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng về ĐKKD

- Công tác phân công, phân cấp, phối hợp liên ngành về thực hiện pháp luật

về ĐKKD là hoạt động phối hợp liên ngành về quản lý ĐKKD được thực hiện thống nhấtdưới sự chỉ đạo của Bộ, ngành, UBND các cấp về ĐKKD theo quan điểm của Đảng vàNhà nước đổi mới căn bản mối quan hệ giữa nhà nước với doanh nghiệp: thể hiện cụ thểqua việc: (i) thay đổi cơ bản phương thức quản lý từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”; (ii)chuyển từ quan hệ giám sát, quản lý sang quan hệ đối tác, hỗ trợ phát triển là chủ yếu;(iii) chuyển từ can thiệp hành chính, trực tiếp vào doanh nghiệp sang can thiệp gián tiếpthông qua hệ thống pháp luật, kế hoạch, cơ

chế chính sách và các công cụ điều tiết vĩ mô [4]

1.2.3.4 Giai đoạn thực hiện trong thực tế pháp luật về ĐKKD

Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luậtĐKKD Bởi lẽ, muốn thực hiện được pháp luật ĐKKD thì phải để pháp luật được sửdụng, được áp dụng trong thực tế Ở giai đoạn này, nhà nước sẽ thông qua các cơquan nhà nước có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể phápluật về ĐKKD thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào

Trang 37

những quy định của pháp luật ĐKKD để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thayđổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật về ĐKKD cụ thể.

Tổ chức thực hiện pháp luật ĐKKD trong thực tế là giai đoạn luôn luôn đòihỏi phải có sự tham gia của các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩmquyền Ngoài ra, thực hiện pháp luật ĐKKD còn là hoạt động của cơ quan, cán bộ,công chức có thẩm quyền thực hiện thông qua các công cụ hữu ích, các quy địnhcủa luật nhằm làm cho các chủ thể thực thi nêu cao ý thức trách nhiệm trong thựchiện pháp luật ĐKKD Trên thực tế, khi triển khai thực hiện pháp luật trong thựctiễn, không phải bộ phận nào cũng làm tốt, làm nhanh như nhau, vì thế cần phải đônđốc để vừa thúc đẩy các chủ thể nỗ lực nhiều hơn để hoàn thành nhiệm vụ, vừaphòng, chống những hành vi vi phạm quy định trong pháp luật ĐKKD

1.2.3.5 Giai đoạn kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về đăng ký kinh doanh

Công tác thanh, kiểm tra về ĐKKD sẽ thực hiện theo kế hoạch của Thanh tratỉnh và kế hoạch của các cơ quan chuyên môn tham mưu cho UBND các cấp, có thểtập trung vào những vụ việc nổi cộm, cần tháo gỡ hoặc xử lý kịp thời Cùng với việc

xử phạt hành chính, các đoàn của Trung ương và các địa phương sẽ áp dụng biệnpháp xử lý thu hồi các loại giấy phép kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng kýdoanh nghiệp Ngoài việc thanh, kiểm tra theo kế hoạch, các Bộ, ngành, địa phương

đã tiến hành nhiều đợt thanh, kiểm tra đột xuất theo chuyên ngành đã phát hiện và

xử lý các vụ vi phạm pháp luật về ĐKKD

Việc thanh, kiểm tra tại các doanh nghiệp được phân cấp rõ ràng cho từngngành, từng cấp, có kế hoạch được xây dựng từ năm trước, có sự phối kết hợp giữacác cấp, các ngành trong quá trình xây dựng kế hoạch,

Khi xây dựng, phê duyệt kế hoạch thanh tra hàng năm không để xảy ra tìnhtrạng thanh tra, kiểm tra quá 01 lần/năm đối với doanh nghiệp; trường hợp kế hoạchthanh tra trùng lặp, chồng chéo với hoạt động kiểm toán nhà nước thì chủ động phốihợp, trao đổi với Kiểm toán nhà nước, Thanh tra Chính phủ để thống nhất phương

án xử lý theo quy định hiện hành, đảm bảo sự kế thừa kết quả thanh tra, kiểm toán,

Trang 38

không làm cản trở hoạt động bình thường của doanh nghiệp, cần tiến hành rà soát,điều chỉnh kế hoạch thanh tra đã được phê duyệt theo tinh thần trên [52]

Do vậy sẽ hạn chế sự chồng chéo thanh, kiểm tra tại các doanh nghiệp trongthực hiện Trong quá trình thanh tra, kiểm tra, các trường hợp vi phạm sẽ được xử lýbằng nhiều hình thức khác nhau, đảm bảo đúng pháp luật, được công khai kịp thờitrên phương tiện thông tin đại chúng

1.2.3.6 Giai đoạn tổng kết, đánh giá

Hàng năm, các tỉnh, thành phố sẽ thực hiện công tác tổng kết, đánh giá tìnhhình thực thi chính sách, pháp luật về ĐKDN và triển khai nhiệm vụ của những nămtiếp theo Trong quá trình đánh giá, tổng kết, đối tượng được xem xét, đánh giá tổngkết về chỉ đạo tổ chức thực hiện pháp luật là các cơ quan nhà nước từ Trung ươngđến địa phương, mà cụ thể ở đây là cơ quan thuộc Bộ: Bộ Kế hoạch và Đầu tư,Tổng cục thuế và một số bộ, ban ngành có liên quan

Xem xét cả vai trò, chức năng của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hộitrong việc tham gia tổ chức thực hiện pháp luật ĐKKD Cơ sở để đánh giá, tổng kếtcông tác chỉ đạo, điều hành thực hiện pháp luật ĐKKD trong cơ quan nhà nước làcác kế hoạch được giao và những quy định, quy tắc được đề ra Đồng thời còn kếthợp sử dụng các văn bản liên tịch giữa cơ quan nhà nước đối với các tổ chức xã hội

và các văn bản quy phạm khác để xem xét tình hình phối hợp chỉ đạo, điều hành tổchức thực hiện pháp luật ĐKKD

Bên cạnh đó, việc đánh giá tổng kết còn bao gồm cả việc thực hiện pháp luậtcủa các đối tượng tham gia: tổ chức, cá nhân, các doanh nghiệp Thước đo đánh giákết quả việc tổ chức thực hiện pháp luật của các đối tượng này chính là tinh thầnhưởng ứng với mục tiêu chính sách và ý thức chấp hành những quy định mà phápluật ĐKKD đã đề ra

1.3 Các yếu tố tác động đến tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh

1.3.1 Mức độ hoàn thiện của pháp luật về đăng ký kinh doanh

Đây là yếu tố đầu tiên tác động rất lớn đến tổ chức thực hiện pháp luật về ĐKKD, bởi các quy định của pháp luật về ĐKKD là cơ sở pháp lý cho quá trình tổ

Trang 39

chức thực hiện pháp luật về ĐKKD, để các cơ quan nhà nước và các tổ chức, doanhnghiệp, cá nhân có liên quan tới lĩnh vực này tuân thủ trong quá trình thực thi phápluật.

Có nhiều tiêu chuẩn để xác định mức độ hoàn thiện của một hệ thống phápluật trong đó có bốn tiêu chuẩn cơ bản là: tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp

và trình độ kỹ thuật pháp lý của hệ thống pháp luật

Thứ nhất, tính toàn diện là tiêu chuẩn đầu tiên thể hiện mức độ hoàn thiện

của pháp luật về ĐKKD Có thể nói đây là tiêu chuẩn để định lượng pháp luật vềĐKKD Nếu pháp luật mà toàn diện thì tính hiệu quả sẽ rất cao, và việc tổ chức thựchiện nó cũng đơn giản hơn, gặp ít vướng mắc, khó khăn hơn

Thứ hai, tính đồng bộ của pháp luật về thể hiện sự thống nhất của nó Khi xem

xét mức độ hoàn thiện của pháp luật ĐKKD cần phải chú ý xem giữa các bộ phận của

hệ thống pháp luật ĐKKD đó có trùng lặp, chồng chéo hay mâu thuẫn không

Thứ ba, tính phù hợp của pháp luật thể hiện sự tương quan giữa trình độ của

pháp luật ĐKKD với trình độ phát triển của kinh tế xã hội Pháp luật ĐKKD phảiphản ánh đúng trình độ phát triển của kinh tế xã hội, nó không thể cao hơn hoặcthấp hơn trình độ phát triển đó Tính phù hợp của hệ thống pháp luật thể hiện nhiềumặt Khi xem xét tiêu chuẩn này cần chú ý đến các mặt và giải quyết tốt mối quan

hệ giữa pháp luật ĐKKD với kinh tế, chính trị, đạo đức, tập quán, truyền thống vàcác quy phạm xã hội khác

Thứ tư, trình độ kỹ thuật pháp lý: kỹ thuật pháp lý là một vấn đề rộng lớn,

phức tạp trong đó có ba điểm quan trọng, cần thiết phải chú ý khi xây dựng và hoànthiện pháp luật, gồm (1) kỹ thuật pháp lý thể hiện ở những nguyên tắc tối ưu đượcvạch ra để áp dụng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật; (2) trình độ kỹthuật pháp lý thể hiện ở việc xác định chính xác cơ cấu của pháp luật; và (3) cáchbiểu đạt bằng ngôn ngữ pháp lý phải đảm bảo tính cô đọng, lô gíc, chính xác và mộtnghĩa

Hệ thống pháp luật về ĐKKD càng toàn diện, mức độ hoàn thiện của phápluật càng cao thì giúp cho hoạt động tổ chức thực hiện về ĐKKD càng hiệu quả,

Trang 40

góp phần mang lại lợi ích cho Nhà nước, lợi ích của các tổ chức và cá nhân Ngượclại, với một hệ thống pháp luật ĐKKD ở mức hoàn thiện thấp sẽ ảnh hưởng tiêu cựcđến quá trình tổ chức thực hiện luật ĐKKD, làm cho hoạt động của các tổ chức, cánhân bị trì trệ, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của tổ chức, cá nhân đó Tuynhiên, để pháp luật đi vào đời sống của người dân không chỉ đòi hỏi phải có một hệthống pháp luật hoàn thiện mà phải có sự kết hợp nhiều yếu tố với nhau.

1.3.2 Văn hóa pháp luật về đăng ký kinh doanh

Văn hóa pháp luật về ĐKKD được hình thành từ tổng thể các hoạt động xãhội - pháp luật trên cả phương diện lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực ĐKKD

Đó chính là hệ thống các giá trị, chuẩn mực pháp luật được kết tinh từ tríthức pháp luật, tình cảm, niềm tin đối với pháp luật về ĐKKD và hành vi pháp luậttrong lĩnh vực ĐKKD; có ảnh hưởng sâu rộng tới các hình thức pháp luật từ tuânthủ, chấp hành, sử dụng, cho tới áp dụng pháp luật về ĐKKD Văn hóa pháp luậtđược thể hiện ra trong đời sống pháp luật thông qua quá trình thực hiện pháp luật(hành vi pháp luật và lối sống theo pháp luật của các chủ thể) Giữa văn hóa phápluật và hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Văn hóa pháp luật là cơ sở nền tảng khuôn mẫu tư duy và chuẩn mực hành vi củahoạt động tổ chức thực hiện pháp luật, có định hướng đúng đắn Ngược lại hoạtđộng thực hiện pháp luật có tác dụng bổ sung làm phong phú sâu sắc thêm cho cácgiá trị chuẩn mực của văn hóa pháp luật

Văn hóa pháp luật là một bộ phận hợp thành của nền văn hóa dân tộc và hàmchứa trong nó ba yếu tố: ý thức pháp luật; hệ thống pháp luật và trình độ, kỹ năng,nghệ thuật áp dụng pháp luật trong đời sống xã hội

Như vậy, văn hóa pháp luật ĐKKD là một thể thống nhất bao gồm các thành

tố cơ bản, giữa chúng vừa có mối liên hệ hữu cơ, chịu sự tác động thường xuyên củađời sống kinh tế, chính trị, văn hóa của quốc gia, dân tộc và thời đại Hệ thống phápluật ĐKKD được thể hiện với ý nghĩa là các sản phẩm vật chất của ý thức pháp luậtĐKKD, của trình độ nhận thức, hiểu biết về pháp luật ĐKKD của cán bộ,

Ngày đăng: 02/11/2020, 08:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w