1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

QUẢN lý NHÀ nước về hội TRÊN địa bàn TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

120 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 116,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam, theo Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ, hội được hiểu là “tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

…………/…………

BỘ NỘI VỤ

Trang 3

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

HUỲNH VÂN NGỌC BÍCH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘI

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 60 34 04 03 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS TRƯƠNG QUỐC CHÍNH

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng Những kết quả khoa học chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào.

Thừa Thiên Huế, ngày tháng năm 2018

Học viên

Huỳnh Vân Ngọc Bích

Trang 5

LỜI CÁM ƠN

Tôi xin chân thành cám ơn Quý Thầy, Cô của Học viện Hành chính quốc gia và Cơ sở Học viện Hành chính khu vực miền Trung đã tận tâm giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong thời gian dài tôi học tập tại Học viện Đặc biệt, tôi xin chân thành cám ơn PGS.TS Trương Quốc Chính đã nhiệt tình hướng dẫn cho tôi hoàn thành luận văn này.

Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cám ơn Ban lãnh đạo, các anh, chị đồng nghiệp của Sở Nội vụ tỉnh Thừa Thiên Huế đã hết lòng hỗ trợ, cung cấp số liệu và đóng góp ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn.

Dù đã rất cố gắng nhưng trình độ bản thân còn hạn chế, trong luận văn của tôi sẽ không tránh khỏi thiếu sót, kính mong các thầy,

cô giáo đóng góp ý kiến để nội dung nghiên cứu này hoàn thiện hơn.

Xin trân trọng cám ơn!

Học viên Huỳnh Vân Ngọc Bích

Trang 6

MỤC LỤC Trang bìa

Lời cam đoan

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 – Sự phân bổ các hội đặc thù cấp huyện và cấp xã tỉnh Thừa ThiênHuế 49 Bảng 2.2 – Biên chế được giao cho các hội cấp tỉnh giai đoạn 2013 – 2017 51 Bảng 2.3 – Kinh phí nhà nước cấp cho các hội đặc thù giai đoạn 2013-2017 56 Bảng 2.4 – Kinh phí các hội, quỹ tiếp nhận từ các tổ chức nước ngoài giaiđoạn 2013 - 2017 (Nguồn: Sở Tài chính) 57Bảng 2.5 – Bảng so sánh số ngày thực hiện các thủ tục về hội 62Bảng 2.6 – Số thủ tục về hội thực hiện trong giai đoạn 2013 – 2017

63 Bảng 2.7 – Thống kê đội ngũ công chức quản lý nhà nước đối với hội tỉnhThừa Thiên Huế năm 2017 70

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lập hội là quyền tự do của công dân, là sự thể hiện dân chủ của một chế độ nhà nước, do vậy quyền này thường được các nước trên thế giới ghi nhận trong những văn bản có giá trị pháp lý rất cao như Hiến pháp, Luật do cơ quan lập pháp quốc gia ban hành Một số quốc gia hiện vẫn sử dụng Luật dân sự để điều chỉnh các hội vì xem hội cũng chỉ là một chủ thể của đời sống dân sự Phổ biến hơn cả, nhiều quốc gia có đạo luật riêng về các hội, chủ yếu xuất phát từ đặc thù của các hội là phi lợi nhuận và có số lượng thành viên rất đông đồng nghĩa với tầm ảnh hưởng lớn Do việc được ghi nhận trong các văn bản có giá trị pháp lý rất cao như vậy nên quyền lập hội cũng được bảo đảm thực hiện trên thực tế ở mức cao nhất.

Ở Việt Nam, theo Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm

2010 của Chính phủ, hội được hiểu là “tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan”.

Những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đang chuyển mạnh sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng Cùng với sự chuyển mình đó, các hội đã có những bước phát triển mạnh mẽ cả

về số lượng, chất lượng, quy mô, phạm vi, phương thức và hiệu quả hoạt động Tính đến tháng 6 năm 2016, ở Việt Nam có gần 500 hội hoạt động trên toàn quốc,

và hơn 68.000 hội cấp tỉnh, huyện, xã thu hút hàng chục triệu hội viên tham gia.

Có thể thấy việc cho phép thành lập các tổ chức hội là xu thế tất yếu

Trang 9

trong quá trình quản lý hành chính của Nhà nước Trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay, đã có gần 200 hội cấp tỉnh, cấp huyện và hơn 600 hội cấp xã đang hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau; trong đó các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa, lao động – thương binh và xã hội có nhiều hội được tổ chức, hoạt động trong thời gian qua Nhìn chung, các hoạt động của các hội đã tiếp tục góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, tạo nên phong trào xã hội hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội trên địa bàn tỉnh một cách mạnh mẽ Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hội hoạt động kém hiệu quả, chưa đi vào nề nếp, ý thức chấp hành kỷ cương, pháp luật còn lỏng lẻo, nhất là chế độ thông tin báo cáo các hoạt động của hội không thường xuyên, có hội không thực hiện nghĩa vụ báo cáo; chưa xây dựng kế hoạch công tác nên không chủ động trong các hoạt động của hội; sự gắn kết giữa các hội viên còn hạn chế, nhiều hội chưa tổ chức đại hội nhiệm kỳ theo quy định; việc xây dựng quỹ hội ở một số nơi còn yếu không đủ đảm bảo nguồn kinh phí để trang trải các hoạt động của hội

Những tồn tại nói trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó, một phần là

do công tác quản lý nhà nước về hội còn nhiều bất cập như việc thiếu hụt các văn bản luật và dưới luật; thủ tục còn rườm rà, thời gian thực hiện kéo dài; sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước còn lỏng lẻo trong quản lý các hoạt động của hội; đội ngũ công chức còn thiếu kinh nghiệm; công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo còn hình thức, nể nang.

Hiện nay chưa có đề tài nghiên cứu khoa học nào đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về hội trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế Hơn nữa, đây cũng là lĩnh vực chuyên môn mà học viên đang công tác Với những lý do như trên, tôi chọn đề tài “Quản lý nhà nước về hội trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế” để nghiên cứu

và thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp cao học của mình.

Trang 10

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Vấn đề quản lý nhà nước về hội trên thực tế đã có nhiều tác giả nghiên cứu, thể hiện ở nhiều nghiên cứu khoa học, các bài viết trên tạp chí, hội thảo, các sách chuyên khảo, tham khảo Một

số nghiên cứu tiêu biểu có thể kể đến như sau:

- Sách "Vai trò của các tổ chức xã hội đối với phát triển và quản lý xã hội" của Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương 26 , trong đó tập trung phân tích các vấn đề về quan niệm tổ chức xã hội - khái niệm bao hàm cả khái niệm hội; nhận thức về phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội và vai trò của các tổ chức xã hội ở nước ta; quá trình hình thành và phát triển của các tổ chức xã hội; phương hướng phát huy vai trò của các tổ chức xã hội và hoạt động của một số hội tiêu biểu đối với phát triển và quản lý xã hội.

- Sách "Pháp luật về quyền tự do lập hội, hội họp hòa bình trên thế giới và của Việt Nam" của tác giả Nguyễn Hoàng Anh 1 cũng đưa ra nhiều vấn đề về quyền tự do lập hội: khái niệm, vai trò, cách bảo vệ quyền tự do bằng luật pháp, giới hạn, mối quan hệ giữa hiệp hội và các định chế quyền lực nhà nước pháp quyền; khái quát quyền tự do lập hội trong luật nhân quyền Quốc tế, thành tố cấu thành, nội dung của pháp luật về tự do hiệp hội của các nước Liên bang Nga, Nhật Bản, Pháp.

- Sách “Hội và tự do hiệp hội: Một cách tiếp cận dựa trên quyền” 39 của

Lã Khánh Tùng, Nghiêm Hoa, Vũ Công Giao đã trình bày quan điểm về cách tiếp cận dựa trên quyền để có khuôn khổ pháp lý tốt đảm bảo quyền tự do hiệp hội, góp phần vào cuộc thảo luận xung quanh việc xây dựng Luật về Hội

ở Việt Nam Quan điểm này được đưa ra trên cơ sở tham chiếu chuẩn mực về

tự do hiệp hội trong luật nhân quyền quốc tế, cũng như tham khảo một số thực hành tốt trong luật pháp của một số quốc gia khác Những câu hỏi chính các tác giả đặt ra và đi tìm câu trả lời là: 1) Tự do hiệp hội trở thành

Trang 11

một quyền như thế nào?; 2) Luật nhân quyền quốc tế quy định như thế nào về quyền tự do hiệp hội?; 3) Hội được điều chỉnh như thế nào trong pháp luật các quốc gia (bao gồm Việt Nam)?; và 4) Một số kiến nghị cho việc vận động chính sách và pháp luật bảo vệ tự do hiệp hội.

- Kỷ yếu hội thảo đã xuất bản “Bảo đảm quyền tự do lập hội theo Hiến pháp 2013: Lý luận và thực tiễn” do PGS.TS Vũ Công Giao làm chủ biên 19 , tập hợp chủ yếu một số bài viết của các giảng viên và cộng tác viên của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội Các bài viết trong tài liệu này đã đưa ra nhiều vấn đề thảo luận như lịch sử phát triển của hội ở Việt Nam, các ý kiến góp ý về dự thảo Luật về hội, quản lý nhà nước về hội; Luật về hội ở một số nước và kinh nghiệm cho Việt Nam.

Ngoài các tài liệu sách tham khảo, có khá nhiều bài viết trên các tạp chí liên quan đến vấn đề này, có thể kể đến bài viết “Vài nét về vai trò tổ chức hội quần chúng ở nước ta hiện nay” của tác giả Lê Hữu Ái và Dương Thị Phượng

2 Bài viết đã đưa ra khái niệm về hội, 05 tính chất và 03 vai trò của hội, bên cạnh đó, bài viết còn đưa ra một số vấn đề đặt ra đối với hội quần chúng tại thành phố Đà Nẵng Tác giả Đỗ Thị Ngọc Phượng của Viện Dân số, Gia đình và Trẻ em cũng có bài viết“Vai trò của các tổ chức xã hội và một vài khuyến nghị” đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị 28 , đã làm rõ vai trò của các tổ chức xã hội, nêu ra một số vấn đề khó khăn, thách thức đối với các tổ chức xã hội từ

đó đề xuất một số kiến nghị nhằm phát huy vai trò của các tổ chức xã hội Một bài viết khác của Thạc Sỹ Đỗ Văn Thắng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh với tiêu đề “Hoàn thiện thể chế quản lý và phát triển các tổ chức xã hội ở nước ta” 32 đã khái quát hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý các tổ chức xã hội ở nước ta hiện nay, đưa ra những nhận xét cũng như phương hướng để hoàn thiện thể chế quản lý và phát triển các tổ chức xã hội

ở nước ta Bài viết “Một số vấn đề về hội và

Trang 12

quản lý nhà nước đối với hội ở nước ta hiện nay” của PGS TS Nguyễn Minh Phương, đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị 27 cũng đã nêu bật thực trạng tổ chức, hoạt động hội và quản lý nhà nước về hội từ đó đưa

ra những định hướng nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hội Trên website lyluanchinhtri.vn cũng đăng tải bài viết “Vai trò của các tổ chức xã hội và thực trạng quy định pháp luật về tổ chức xã hội ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Tố Uyên 40 một lần nữa lại làm rõ vai trò của các tổ chức xã hội, thực trạng các quy định pháp luật về hội ở Việt Nam từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp lý cho tổ chức xã hội ở Việt Nam và góp ý hoàn thiện Luật về hội.

Xét về góc độ nghiên cứu khoa học, gần đây có nhiều đề tài khoa học cấp Bộ do Bộ Nội vụ nghiệm thu cũng đều liên quan đến

đề tài về hội Có thể kể đến các đề tài sau:

- “Chuyển giao một số nhiệm vụ của các cơ quan hành chính nhà nước cho các hội, tổ chức chính phủ” do Tiến sĩ Quang Thị Ngọc Huyền làm chủ nhiệm năm 2014.

- “Đổi mới quản lý nhà nước đối với hội, tổ chức phi chính phủ ở nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế” do ông Nguyễn Tiến Thành, Chánh Văn phòng Bộ Nội vụ làm chủ nhiệm năm 2016 đã trình bày cơ

sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hội, tổ chức phi chính phủ; phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với hội, quỹ ở Việt Nam hiện nay; từ những bất cập đặt ra trong thực tiễn nhóm tác giả cũng đã đưa ra những quan điểm, phương hướng, giải pháp đổi mới quản lý nhà nước đối với hội, quỹ trong điều kiện hội nhập quốc tế.

Thêm vào đó, cũng có nhiều đề tài luận án, luận văn nghiên

cứu về các vấn đề liên quan đến hội như:

Trang 13

- Luận án Tiến sĩ Luật học của tác giả Phạm Thị Hồng 24 với tên

đề tài “Hoàn thiện pháp luật về hội ở Việt Nam hiện nay” đã nghiên cứu

và làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật về hội ở Việt Nam, phân tích và đánh giá thực trạng hoàn thiện pháp luật về hội ở Việt Nam

từ năm 1945 đến này, từ đó đề xuất các giải pháp trong thời gian tới.

tên “Hoàn thiện pháp luật về hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay” 22 cũng đề cập đến các vấn đề như khái niệm, đặc điểm của hội, những tính chất, vị trí, vai trò của hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế; phân tích thực trạng pháp luật về hội ở nước ta từ sau cách mạng tháng 8 đến nay

và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và phù hợp với các đặc thù chính trị - xã hội ở Việt Nam hiện nay.

“Hoàn thiện nội dung quản lý nhà nước đối với các hội quần chúng ở nước ta hiện nay” 38 Luận văn đã đưa ra các khái niệm, cơ sở hình thành, hình thức, tính chất, vai trò, nội dung quản lý nhà nước đối với hội quần chúng; thực trạng quản lý nhà nước đối với hội ở thời điểm bảo vệ và một số giải pháp nhằm hoàn thiện nội dung quản lý nhà nước đối với hội quần chúng.

Nhìn chung, các tài liệu, bài viết, đề tài nghiên cứu khoa học, luận án, luận văn đã nghiên cứu nhiều vấn đề có liên quan mật thiết đến đề tài của luận văn, đã

hệ thống được các cơ sở lý luận liên quan, đưa ra thực trạng trong công tác quản

lý nhà nước về hội, đánh giá chung tình hình quản lý, trong đó có cả những kết quả đạt được cũng như các hạn chế, bất cập và nguyên nhân của các hạn chế, đồng thời các đề tài cũng đề xuất được nhiều giải pháp nhằm hoàn thiện, đổi mới nội dung, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với các tổ chức xã hội, hội, các tổ chức chính phủ và khá nhiều bài viết đóng góp các ý kiến nhằm hoàn thiện dự thảo Luật về hội Tuy nhiên, hầu hết các đề tài đều đề cập

Trang 14

đến khái niệm tổ chức xã hội với nghĩa bao hàm cả khái niệm hội trong đó; thêm nữa, phần lớn đều tập trung vào phần pháp luật đối với hội và chỉ một số ít đề tài, bài viết có liên quan đến nội dung quản lý nhà nước về hội

và cũng chưa thật sự đi sâu vào vấn đề này Bên cạnh đó, hiện vẫn chưa

có một đề tài nghiên cứu khoa học nào đánh giá thực trạng công tác quản

lý nhà nước đối với các hội hoạt động trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế,

do đó, đề tài của luận văn sẽ được triển khai theo hướng nghiên cứu sâu hơn về hội cũng như công tác quản lý nhà nước về hội và đặc biệt là thực trạng quản lý nhà nước về hội trên phạm vi địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Thông qua việc phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với các hội đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, đề xuất một số giải pháp về quản lý nhà nước nhằm đảm bảo hoạt động của các hội thực chất và hiệu quả hơn.

Với mục đích như trên, luận văn tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Hệ thống lại một số nội dung lý luận cơ bản của quản lý nhà nước về hội.

- Phân tích đánh giá công tác quản lý nhà nước về hội trên địa bàn tỉnhThừa Thiên Huế hiện nay.

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý nhà nước về hội trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Là hoạt động quản lý nhà nước về hội hoạt động trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu việc quản lý nhà nước đối với hội có phạm vi hoạt động trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến nay.

Trang 15

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận: phép biện chứng duy vật; cơ sở lý luận là Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về hội.

Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu bao gồm:

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết, tài liệu lưu trữ và kế thừa có chọn lọc các nghiên cứu khoa học trước;

- Phương pháp thu thập, phân tích, xử lý thông

tin; - Phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh.

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần hệ thống hóa một số nội dung lý luận liên quan đến quản lý nhà nước về hội.

- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình giảng dạy, học tập, nghiên cứu và

có thể sử dụng trong quá trình thực hiện công tác quản lý nhà nước về hội tại tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn hiện nay và tham chiếu cho một số địa phương khác có đặc điểm tương đồng.

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn được cấu trúc thành 03 chương chính, ngoài ra còn có phần

mở đầu, phần kết luận, mục lục, phụ lục và tài liệu tham khảo, cụ thể như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước đối với hội Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về hội hoạt động trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay

Chương 3: Một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện quản

lý nhà nước về hội trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘI

1.1 Những vấn đề lý luận chung về hội

1.1.1 Quan niệm về hội của một số quốc gia và của Việt Nam

1.1.1.1 Quan niệm về hội của một số quốc gia trên thế giớiTrong tiếng Anh, ý niệm “hội” được thể hiện qua hai khái niệm

“association” chỉ hình thức tổ chức của các cá nhân có cùng mối quan tâm hay “society” chỉ một cộng đồng có tổ chức Cả hai khái niệm này đều

có từ gốc La-tinh là socius/socielis hàm ý là sự liên hệ, giao lưu, đồng hành giữa con người với nhau và hình thành nên xã hội (“society”) 1, tr.11

Theo Đại diện đặc biệt của Tổng thư ký Liên hợp quốc về bảo vệ quyền con người, khái niệm “hội” lại được nhắc đến như bất kỳ nhóm

cá nhân hoặc pháp nhân tụ họp cùng nhau để cùng hành động, biểu đạt, thúc đẩy, theo đuổi hay bảo vệ một mối quan tâm chung Từ “hội” trong đó bao gồm các tổ chức xã hội dân sự, câu lạc bộ, hợp tác, tổ chức phi chính phủ, các hội mang tính tôn giáo, đảng phái chính trị, công đoàn, các quỹ hoặc thậm chí các hội trực tuyến 1, tr.227-228

Quan niệm về hội trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới được diễn giải và định nghĩa theo những cách khác nhau, và thường các nước nhắc đến quyền lập hội, quyền hội họp hơn là nêu ra một khái niệm cụ thể về hội Tuy nhiên, ở một số nước đã đưa những định nghĩa đầy đủ và cụ thể và được quy định trong Luật về hội hay các Luật Dân sự liên quan Có thể điểm qua một số nước định nghĩa hội bằng việc nhấn mạnh một đặc điểm quan trọng của hội, đó là không vì mục tiêu lợi nhuận như Pháp, Thái Lan, Ba Lan Cụ thể như định nghĩa của Pháp tại Điều 1 Luật về Hội ngày 01/7/1901 đưa ra định nghĩa: “Hội là một hợp đồng giao kết hai hoặc nhiều người cùng đóng

Trang 17

góp, bằng kiến thức và sinh hoạt thường xuyên, vào việc thực hiện một mục đích không phải là mục đích để chia lời” 1, tr.61 Hay như định nghĩa của Thái Lan xuất phát từ quan niệm cho rằng tự do lập hội cũng là một dạng của tự do thoả thuận hợp đồng và hội là do các cá nhân cùng thỏa thuận thành lập, quy định tại Điều 1274 của Bộ luật dân sự và thương mại cho rằng: “Hợp đồng thành lập hội liên hiệp là một hợp đồng, qua đó, nhiều người thoả thuận hợp nhau lại để cùng tiến hành một hoạt động chung ngoài mục đích chia lời” 1, tr.22-23 Luật về Hội của Ba Lan năm 1989 lại quy định một cách đơn giản, hiện đại và cởi mở hơn: “Hội là sự liên kết tự nguyện, tự quản, bền vững và không vì mục đích lợi nhuận” 19, tr.53

Khác với nhiều quốc gia trên thế giới, ở Nga lại không gọi là quyền lập hội hay Luật về Hội mà gọi là Luật về hiệp hội xã hội và quyền tự do hiệp hội Theo đó, các nhà lập pháp Nga sử dụng thuật ngữ “hiệp hội xã hội” thay cho thuật ngữ “hội”, tại Điều 5 Luật Liên bang số 82 về các hiệp hội xã hội năm 1995, sửa đổi bổ sung tới tháng 01/2016, thuật ngữ “hiệp hội xã hội” được hiểu là “các liên kết được lập ra theo sáng kiến của người dân trên cơ sở tự nguyện có lợi ích chung để đạt được những mục tiêu chung được quy định trong điều lệ của hiệp hội” 19, tr.290

Một số nước lại không có một đạo luật cụ thể nào quy định về quyền tự

do hiệp hội như Trung Quốc hay Mỹ, khái niệm hội được đúc kết qua một số quy định được các tác giả Việt Nam nghiên cứu trong các bài báo tôi xin trích dẫn ở đây Đối với Trung Quốc, các quy định liên quan đến hội được điều chỉnh bởi Quyết định số 250 điều chỉnh việc đăng ký và quản lý các tổ chức xã hội Quốc vụ viện, trong đó, khái niệm “hội” được sử dụng dưới thuật ngữ “tổ chức xã hội” (social organization) là các tổ chức phi lợi nhuận tự nguyện, có

tư cách pháp nhân, do công dân lập nên nhằm đạt được mong muốn chung của các thành viên và quản lý các hoạt động theo điều lệ của mình 19,

Trang 18

tr.304 Khái niệm “hội” (association) theo pháp luật Hoa Kỳ lại được hiểu theo nghĩa rất rộng là bất kỳ hình thức liên kết nào giữa cá nhân, trong đó

có cả những liên kết không được hiểu theo nghĩa thông thường của từ

“hội” như liên kết giữa vợ và chồng trong gia đình, giữa các cá nhân chung sống như vợ chồng, bao gồm cả những cặp đôi đồng giới Vì vậy để hiểu một cách chính xác, có lẽ nên dịch cụm từ “freedom of association” trong pháp luật Hoa Kỳ là “quyền tự do liên kết” 19, tr.313

Như vậy, điểm qua một số quan niệm về “hội” có thể thấy điểm chung của các quan niệm này đều xoay quanh ý nghĩa là sự liên kết một cách tự nguyện giữa các cá nhân không vì mục tiêu lợi nhuận.

1.1.1.2 Quan niệm về hội ở Việt Nam hiện nay

Trong tiếng Việt, theo cách hiểu thông thường, danh từ “hội” có hai nghĩa gần nhau dùng để chi: 1) cuộc vui tổ chức chung cho đông đảo người tham dự, theo phong tục hoặc nhân dịp đặc biệt; 2) tổ chức quần chúng rộng rãi của những người cùng chung một nghề nghiệp hoặc có chung một hoạt đồng Chữ “hội” có thể hiểu đơn giản là tụ họp lại, gặp nhau 1, tr.22-23

Theo Từ điển hành chính của ông Tô Tử Hạ lại cho rằng: “Hội

là tổ chức tự nguyện của các công dân, tổ chức cùng ngành nghề, cùng giới, cùng sở thích… tập hợp lại nhằm đáp ứng nguyện vọng, lợi ích chính đáng của hội viên, không vì mục đích vụ lợi” 22, tr.24

Ngoài ra, điểm qua một số sách và các bài viết liên quan của các tác giảViệt Nam cũng có đưa ra các khái niệm về hội như sau:

- Sách “Vai trò của các hội trong đổi mới và phát triển đất nước” của tác giả Thang Văn Phúc nêu cách hiểu về hội là những tổ chức tự nguyện của quần chúng Những tổ chức đó tập hợp đông đảo người cùng ngành nghề, hoặc cùng sở thích… Họ cùng góp kiến thúc, sức lực và hành động một cách thường xuyên để đạt một mục đích nào đó, do những người tự nguyện sáng

Trang 19

lập đề ra, mục đích đó không trái với lợi ích dân tộc và Tổ quốc, không vụ lợi và trong khuôn khổ pháp luật 24, tr.12

- Sách “Pháp luật về quyền tự do lập hội, hội họp hòa bình trên thế giới và của Việt Nam” đề xuất định nghĩa như sau:

Hội là tổ chức liên kết tự nguyện của nhân dân với sự tham gia chính thức của ít nhất 2 cá nhân hoặc tổ chức, thường xuyên đóng góp kiến thức và sinh hoạt, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, không vì mục đích lợi nhuận nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước 1, tr.139

- Tác giả Nguyễn Đăng Dung trong bài viết “Mối quan hệ giữa xã hội dân

sự và hội và dự thảo Luật hội ở Việt Nam” lại hiểu khái niệm Hội theo nghĩa “là

sự thỏa thuận, liên kết, tập hợp, quy tụ của nhiều người với nhau thành nhóm

để hướng đến các mục đích, lợi ích hay sự quan tâm chung” 19, tr.32

Trong các văn bản pháp luật về hội, nước ta cũng đưa ra những định nghĩa cụ thể và rõ ràng, phù hợp với tình hình phát triển của các hội ngay từ khi ban hành các văn bản đầu tiên Trong Sắc luật 038-TT/STU ngày 22/12/1972 sửa đổi Dụ số 10 ngày 06/8/1950 quy định thể lệ lập hội (ban hành dưới chế độ Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại), tại điều thứ nhất đã đưa ra một định nghĩa:

“Hội là giao ước của nhiều người thỏa thuận góp kiến thức hay hoạt động liên tục để theo đuổi mục đích thuộc các lãnh vực tôn giáo, tế tự, từ thiện, văn hóa, giáo dục, xã hội, khoa học, mỹ thuật, giải trí, đồng nghiệp tương tế, ái hữu, thanh niên và thể dục, thể thao không có tính cách chính trị, thương mại hoặc phân chia lợi tức” 1, tr.109 Sắc lệnh số 52/SL ngày 22 tháng 4 năm 1946 của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã đề cập đến khái niệm “hội” tại Điều 1 như sau: “Hội là một đoàn thể có tính cách vĩnh cửu gồm hai hoặc nhiều người giao ước hiệp lực mà hành

Trang 20

động để đạt mục đích chung; mục đích ấy không phải để chia lợi tức” 1, tr.115 Và theo quy định hiện hành của Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội (sau đây gọi tắt là Nghị định 45) thì hội được định nghĩa là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước 17, tr.1

Như vậy, nhìn chung ta có thể thấy khái niệm hội của Việt Nam được trình bày cụ thể hơn, diễn đạt chi tiết hơn về đặc trưng của các hội, trong khi khái niệm của quốc tế thường diễn đạt theo cách khái quát hơn Tuy nhiên, vẫn có một số điểm khác như sau:

- Ở Việt Nam có Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong khi trên thế giới không tồn tại loại hình này;

- Hội theo cách tiếp cận của thế giới không chỉ có các tổ chức chính thức (có đăng ký, có tư cách pháp nhân) mà còn bao gồm những tổ chức không chính thức (không đăng ký, không có tư cách pháp nhân);

- Ở Việt Nam một số ý kiến cho rằng hội bao gồm cả tổ chức hội không có hội viên (các quỹ, trung tâm, viện nghiên cứu…).

Tuy nhiên, trong luận văn này khái niệm hội vẫn sẽ được hiểu theo Nghị định 45 Như vậy có nghĩa là hội không bao gồm Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các tổ chức giáo hội theo như quy định tại Khoản 2 Điều 1 của Nghị định 45.

Trang 21

1.1.2 Phân loại, tính chất và vai trò của hội

1.1.2.1 Phân loại

- Phân loại theo tính chất:

+ Tổ chức chính trị - xã hội, chính trị - xã hội - nghề

nghiệp; + Hội xã hội, xã hội - nhân đạo- từ thiện;

+ Hội xã hội - nghề nghiệp;

+ Hiệp hội các tổ chức kinh tế.

- Phân loại theo phạm vi:

+ Hội có phạm vi hoạt động cả nước hoặc liên tỉnh;

+ Hội có phạm vi hoạt động trong tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là tỉnh);

+ Hội có phạm vi hoạt động trong huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là huyện);

+ Hội có phạm vi hoạt động trong xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là xã).

- Phân loại theo hình thức tổ chức:

+ Hình thức tổ chức theo dạng hội;

+ Hình thức tổ chức theo dạng liên hiệp hội;

+ Hình thức tổ chức theo dạng tổng hội;

+ Hình thức tổ chức theo dạng liên đoàn;

+ Hình thức tổ chức theo dạng hiệp hội;

+ Hình thức tổ chức theo dạng câu lạc bộ.

1.1.2.2 Tính chất của hội

- Tính xã hội – chính trị: Hội là tổ chức có tính xã hội, bởi lẽ nó chỉ xuất hiện

từ khi con người có ý thức về sức mạnh tập thể, mặt khác, con người còn là sự tổng hòa các mối quan hệ trong xã hội Xã hội càng phát triển, dân chủ thì nhu cầu và nguyện vọng gắn bó với nhau trong một tổ chức càng xuất hiện

Trang 22

nhiều hơn Sự phát triển của các hội đến một giới hạn nhất định sẽ thể hiện tính chính trị, gắn liền với chính trị Khẳng định hội là tổ chức mang tính xã hội – chính trị vì trong xã hội có giai cấp và có đấu tranh giai cấp, không một cá nhân hay tổ chức nào đứng ngoài cuộc đấu tranh đó Do đó, hội chính là nơi để các cá nhân tham gia vào hoạt động chính trị xã hội.

- Tính tự nguyện: Bất kỳ hội nào được lập ra cũng đều xuất phát dựa trên ý chí, nguyện vọng của mỗi thành viên, tự do khỏi mọi sự ép buộc Mỗi cá nhân, tổ chức có thể tự nguyện xin trở thành thành viên và cũng có thể tự nguyện xin ra khỏi hội Tính chất tự nguyện còn được biểu hiện trong việc lựa chọn mục tiêu, nội dung hoạt động theo nguyện vọng, sở thích, sở trường của tập thể hội viên Đây còn là một nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động nội bộ và trong mối quan hệ với bên thứ ba, nhờ đó các hội dễ liên hiệp, hợp tác với nhau cũng như

dễ tách khỏi nhau khi không thống nhất nội dung phối hợp.

- Tính tự quản: là biểu hiện của cách thức quản lý của mỗi tổ chức hội Các hội viên của hội tự quyết định cách thức quản lý của tổ chức mà mình tham gia thông qua Điều lệ của hội, mà không có sự can thiệp từ bên ngoài Nhà nước không can thiệp vào các hoạt động cụ thể của hội mà chỉ giám sát thông qua việc xem báo cáo và duy trì trật tự công cộng, đảm bảo quyền và tự do của mỗi hội viên Do vậy, Nhà nước dùng pháp luật định ra một số yêu cầu về nội dung cần phải có của Điều lệ hội, cũng như can thiệp và xử lý những trường hợp hoạt động của hội vi phạm trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, xã hội.

- Tính tự trang trải về tài chính: Tổ chức hội hoạt động dựa vào nguồn tài chính do các hội viên đóng góp, do sự quyên góp của công chúng, sự tài trợ tình nguyện của doanh nghiệp, các tổ chức ngoài hội và có thể bằng cả sự

hỗ trợ tài chính từ nguồn ngân sách nhà nước Việc tự trang trải tài chính hoạt động sẽ khiến cho các hội phải hoạt động năng động hơn, dành được uy tín

Trang 23

trước các nhà tài trợ Đồng thời, đây cũng là một yếu tố khiến cho hội độc lập hơn với khu vực Nhà nước và Thị trường, từ đó, hội sẽ có khả năng làm tốt chức năng giám định, phản biện xã hội đối với chính sách và hoạt động của Nhà nước, làm cho Nhà nước hoạt động minh bạch và có trách nhiệm hơn.

- Tính không vụ lợi: Đây thực chất là đặc trưng phân biệt tổ chức hội với Nhà nước (là tổ chức hoạt động mang tính quyền lực công) và doanh nghiệp, công ty (là tổ chức hoạt động vì mục đích lợi nhuận) Các hoạt động của hội thường hướng tới một hoặc những mục tiêu sau: tương trợ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các hội viên; hoạt động vì cộng đồng, vì xã hội trong các lĩnh vực của đời sống bổ trợ, bổ sung vào những nơi mà Nhà nước không đảm đương được; và chia sẻ, hưởng thụ những giá trị văn hóa, nghệ thuật Tuy hội là tổ chức không hướng tới mục đích lợi nhuận, nhưng hội vẫn có thể có những hoạt động

có lợi nhuận để trang trải những hoạt động của mình.

- Tính nghề nghiệp, cộng đồng, giới và sở thích: Trình độ phát triển của xã hội loài người càng phát triển thì nhu cầu trao đổi tâm lý, bảo vệ lợi ích của con người ngày càng cao Sự liên kết đó không lấy tiêu chuẩn chính trị làm cơ sở mà lấy tiêu chuẩn tự nguyện theo nghề nghiệp, theo cộng đồng, sở thích, giới, lứa tuổi làm nền tảng để tập hợp Tính nghề nghiệp, cộng đồng của hội càng cao, thì việc tách thành hội chuyên ngành, chuyên lĩnh vực, chuyên sở thích càng nhiều và càng phong phú.

- Tính thời đại (hay hội nhập): Xu thế toàn cầu hóa ngày càng được tăng cường thì nhu cầu giao lưu, trao đổi giữa các cá nhân, tổ chức càng tăng, trong đó có các tổ chức hội Mục tiêu hoạt động của hội không đơn thuần ở mục tiêu cá nhân, tập đoàn, dân tộc, mà đã bao hàm cả mục tiêu nhân đạo, nhân loại, quốc tế Mặt khác, phạm vi hoạt động và quan hệ không chỉ bó hẹp

ở phạm vi dân tộc, quốc gia, mà đã mở rộng ra phạm vi quốc tế Do đó, trong

Trang 24

thực tế nhiều hội đã gia nhập các tổ chức hội quốc tế và đóng vai trò quan trọng trong các tổ chức đó.

1.1.2.3 Vai trò của hội

- Góp phần thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa: Hoạt động của các hội đóng vai trò quan trọng trong việc huy động tối đa mọi nguồn lực của xã hội và sự hưởng ứng một cách tự nguyện của quần chúng Sự phát triển của các hội còn tạo ra một nguồn thông tin xã hội đầy đủ, đa dạng, nhiều chiều phản ánh tâm trạng, nguyện vọng, nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân về Đảng và Nhà nước Trong điều kiện và hoàn cảnh như hiện nay, vai trò của hội càng được nâng lên và chuyển biến theo hướng tích cực, từ các tổ chức hình thức, thụ động dần dần thành tổ chức thực sự là của quần chúng, thỏa mãn các nhu cầu cá nhân đồng thời góp phần thúc đẩy phát triển xã hội.

- Góp phần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý của nhà nước: Các hội là một trong những tổ chức để Đảng tập hợp, lôi kéo quần chúng, là sợi dây nối Đảng với quần chúng Hội phản ánh trung thực những nhu cầu, tâm tư nguyện vọng của hội viên với Đảng và Nhà nước, đồng thời hướng dẫn các hội viên tuân thủ pháp luật mà Nhà nước ban hành và tham gia dưới các góc độ tư vấn, phản biện để Đảng và Nhà nước có những chủ trương, đường lối, chính sách đúng phù hợp với thực tiễn đời sống.

- Đáp ứng nhu cầu và lợi ích chính đáng, tạo môi trường thuận lợi để phát huy tính năng động, tích cực xã hội của các hội viên và các thành viên trong cộng đồng: Hội được thành lập, tồn tại và phát triển trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội Thông qua các hoạt động của hội, tính năng động, tích cực xã hội của mỗi công dân sẽ được phát huy mạnh mẽ Các sinh hoạt của hội là môi trường thuận lợi để hình thành và phát triển tri thức và kỹ năng quản lý xã hội của

Trang 25

công dân Bên cạnh đó, hội còn là một tổ chức liên kết tự nguyện của những người cùng nghề nghiệp, nhu cầu, sở thích cho nên hội viên tin cậy và ủy quyền đại diện lợi ích của mình cho hội Như thế cũng có thể nói hội là môi trường xã hội giáo dục và tập luyện

ý thức dân chủ, năng lực thực hành dân chủ cho các công dân.

- Tham gia xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật, giám sát, phản biện

xã hội đối với cơ chế, chính sách, pháp luật, xây dựng môi trường dân chủ:

Do vị thế độc lập về tổ chức bộ máy và nguồn tài chính, nên các hội có thể đưa ra những nhận xét, đánh giá, kiến nghị, khuyến nghị với nhà nước về bảo đảm dân chủ, phát huy quyền làm chủ của người dân, đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng, xây dựng môi trường đầu tư lành mạnh Bên cạnh đó, các hội còn góp phần tham gia quản lý nhà nước bằng việc thực hiện quyền giám sát, phản biện đối với các chủ trương, chính sách và văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước; xây dựng môi trường thực hành dân chủ và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền; tham gia trực tiếp việc giám sát, kiểm tra hoạt động của bộ máy công quyền và hành vi của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, góp phần ngăn chặn và khắc phục tình trạng quan liêu, tha hóa và lạm quyền trong các cơ quan nhà nước.

- Thực hiện các cam kết, phối hợp với Nhà nước trong cung ứng các dịch vụ công góp phần phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội: Các hội tham gia chủ động, tích cực và tự nguyện thực hiện một số công việc của Nhà nước trong cung ứng dịch vụ công, hỗ trợ cho hoạt động của Chính phủ trong việc phân phối dịch vụ, tăng chất lượng dịch

vụ, làm giảm gánh nặng của Nhà nước Do đó có thể nói, sự tham gia của các hội trong cung ứng dịch vụ công là một bước tiến mới trong phương thức quản lý nhà nước theo hướng dân chủ hóa và phục vụ đối với các quá trình xã hội nói chung, phát triển xã hội nói riêng.

Trang 26

- Góp phần khắc phục những hạn chế của cơ chế kinh tế thị trường, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, từ thiện, nhân đạo, khắc phục những hậu quả của thiên tai, bảo vệ môi trường: Các tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp có vai trò tập hợp các pháp nhân và thể nhân kinh tế nhằm phối hợp sức mạnh kinh doanh, tự dàn xếp, thỏa thuận, cùng nhau hành động để khai thác và phát huy lợi thế của các cá nhân và tổ chức, tăng khả năng cạnh tranh; bảo vệ hàng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm, thương lượng giải quyết tranh chấp thương mại; nắm bắt nhu cầu tiêu dùng của xã hội, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng; thẩm định, phản biện xã hội đối với các chính sách kinh tế của Nhà nước Thêm vào đó, các hội còn có vai trò phân phối dịch vụ, tăng chất lượng dịch vụ, góp phần xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế, giúp đỡ hội viên và cộng đồng; trao đổi kinh nghiệm làm ăn, tiêu thụ sản phẩm; giải quyết việc làm và tạo thêm thu nhập cho hội viên.

- Mở rộng hợp tác quốc tế, thực hiện đối ngoại nhân dân để phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội: Các hội đã góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, tăng cường sự hiểu biết, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau trong việc giải quyết các vấn đề có tính chất toàn cầu như bảo vệ môi trường sinh thái, chống đói nghèo, giảm nhẹ thiên tai… Do xu thế đẩy mạnh hội nhập quốc tế, mở rộng đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan

hệ quốc tế, nên các quan hệ đối ngoại không chỉ theo con đường của Nhà nước, mà còn theo “kênh” của các tổ chức nhân dân, các hội.

1.2 Quản lý nhà nước về hội

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về hội

1.2.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước

Để nghiên cứu khái niệm quản lý nhà nước trước hết cần làm rõ khái

niệm quản lý Có nhiều cách tiếp cận khái niệm quản lý từ đó tạo thành những

Trang 27

trường phái khác nhau với những quan điểm khác nhau, một số khái niệm tiêu biểu có thể kể đến như là:

- Theo F.W.Taylor, quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó biết được rằng họ đã hoàn thành công việc đó một cách tốt nhất và rẻ nhất 20, tr.7

- Henry Fayol lại định nghĩa quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nỗ lực của mỗi thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt mục tiêu đã định trước 20, tr.7

- Theo Mary Parker Follet thì quản lý là nghệ thuật đạt được mục tiêu thông qua con người 20, tr.7

- Theo Giáo trình quản lý học đại cương thì quản lý là sự tác động có tổ chức, có đích hướng của chủ thể lên các đối tượng nhằm đạt được những mục tiêu định trước 20, tr.8

Như vậy, khái niệm quản lý có thể hiểu được theo nhiều nghĩa khác nhau, tuy nhiên, trong luận văn này sẽ tiếp cận quản lý dưới góc

độ như sau: Quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức

và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính

ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định.

Theo Giáo trình quản lý nhà nước, quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc Xã hội chủ nghĩa 23, tr.407

Trang 28

Như vậy, quản lý nhà nước là sự tác động bằng pháp luật của các chủ thể mang quyền lực nhà nước tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ hoạt động từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp Cụ thể:

Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, cá nhân trong bộ máy quản lý nhà nước được trao quyền, gồm: cơ quan lập pháp,

cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp;

Đối tượng quản lý của Nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, công dân làm việc bên ngoài lãnh thổ quốc gia.

Quản lý nhà nước là quản lý toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống

xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao.

Quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng công cụ pháp luật nhà nước, chính sách để quản lý xã hội.

Mục tiêu của quản lý nhà nước là phục vụ nhân dân, duy trì

sự ổn định và phát triển của toàn xã hội.

Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước, đó là hoạt động chấp hành và điều hành của hệ thống hành chính nhà nước trong quản lý xã hội theo khuôn khổ pháp luật nhà nước nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.

Trong luận văn này, quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng 1.2.1.2 Quản lý nhà nước về hội

Từ các khái niệm về quản lý, quản lý nhà nước và Hội, tác giả đưa ra khái niệm quản lý nhà nước về hội là sự tác động có tổ chức

và điều chỉnh của Nhà nước tới tổ chức, hoạt động của các hội nhằm phục vụ nhân dân và duy trì sự ổn định, phát triển của xã hội.

Trang 29

Cụ thể, quản lý nhà nước về hội là hoạt động do các cơ quan trong bộ máy nhà nước có chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp thực hiện tác động lên các hội hoạt động trong phạm vi cả nước, tỉnh, thành phố, quận, huyện, phường xã trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội mà các hội hoạt động: kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao nhằm thỏa mãn nhu cầu của nhân dân Hoạt động quản lý nhà nước về hội mang tính quyền lực nhà nước, lấy pháp luật làm công cụ quản lý chủ yếu.

Quản lý nhà nước về hội ngoài những điểm chung như: tính quyền lực phục tùng, tính tổ chức điều hành, tính khoa học, tính kế hoạch, tính chủ động sáng tạo… còn có những điểm riêng xuất phát từ đặc điểm của hội, đó là:

Thứ nhất, quản lý nhà nước về hội có mục tiêu đảm bảo tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các hội trong tổ chức và hoạt động Nhà nước không nên can thiệp sâu vào công việc nội bộ của các hội mà chỉ là tạo điều kiện mọi mặt cho các hội hoạt động, đồng thời tạo điều kiện để các hội tham gia vào các hoạt động xã hội Nếu nhà nước can thiệp vào tổ chức và hoạt động của các hội thì vô hình chung là Nhà nước đã làm mất đi tính chất tự nguyện, tự quản; ý nghĩa và vai trò của các hội đã bị Nhà nước hóa thì tác dụng và sự thu hút của hội đối với quần chúng cũng bị giảm sút đi rất nhiều.

Thứ hai, quản lý nhà nước về hội trên cơ sở tôn trọng và bảo đảm lợi ích chính đáng của các hội Hội với tư cách là một tổ chức và hoạt động hợp pháp của công dân, vì lợi ích tập thể, của cộng đồng hay của toàn xã hội phải được Nhà nước tôn trọng đồng thời tạo điều kiện pháp lý và điều kiện xã hội khác để các hội thực hiện hoạt động của mình Sự tôn trọng của Nhà nước nói chung và của hệ thống chính quyền nói riêng đối với hội

là xuất phát từ bản chất tôn trọng nhân dân của Nhà nước.

Thứ ba, nội dung quản lý nhà nước về hội đa dạng, đặc điểm này xuất phát từ nhu cầu lập hội của người dân Trong xu thế hội nhập hiện nay, nhu

Trang 30

cầu tham gia hội của người dân là rất lớn, xuất hiện nhiều tổ chức hội với nội dung hoạt động phong phú và đa dạng Do đó, quản lý nhà nước về hội cũng phải đa dạng để đáp ứng với yêu cầu lập hội của người dân.

1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về hội

Nội dung quản lý nhà nước về hội quy định tại Điều 36, Nghị định 45 gồm 09 nội dung như sau: (1) Xây dựng trình hoặc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về hội; (2) Hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương, các hội và công dân thi hành pháp luật về hội (3) Cho phép thành lập; chia, tách; sáp nhập; hợp nhất; giải thể; đổi tên và phê duyệt điều lệ hội theo quy định tại Điều 14 của Nghị định này (4) Hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức làm công tác quản lý hội (5) Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hội (6) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về hội; kiểm tra việc thực hiện điều lệ hội đối với các hội (7) Quản lý việc ký kết hợp tác quốc tế về hội theo quy định của pháp luật (8) Giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về hội (9) Tổng hợp báo cáo tình hình tổ chức, hoạt động và quản lý hội.

Ngoài quy định tại Nghị định 45 thì hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào quy định nội dung quản lý nhà nước về hội Trong dự thảo Luật về hội ngày 24/10/2016 có quy định nội dung này tại Điều 28 gồm 06 nội dung như sau: (1) Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về hội (2) Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hội (3) Cấp Giấy chứng nhận đăng

ký thành lập hội, Giấy chứng nhận đăng ký hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hội; công nhận điều lệ hội và người đứng đầu hội; đình chỉ hoạt động có thời hạn, giải thể, giải tán hội (4) Hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về hội (5) Thanh tra, kiểm tra hội trong việc quản lý, sử dụng tài sản, tài chính do ngân sách nhà nước hỗ trợ khi thực hiện nhiệm

vụ được Nhà nước giao và do cá nhân, tổ chức trong nước tài trợ (6) Giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về hội.

Trang 31

Trong luận văn này, học viên sẽ triển khai nghiên cứu quản lý nhà nước

về hội ở 05 nội dung chính: (1) Xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật

về hội; (2) Thủ tục hành chính liên quan đến hội; (3) Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hội; (4)Đội ngũ công chức tham gia quản lý nhà nước về hội; (5) Thanh tra, kiểm tra, giải quyết kiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về hội.

1.2.2.1 Xây dựng, ban hành và thực thi các văn bản pháp luật về hội Thời gian gần đây, các tổ chức hội bùng nổ với số lượng lớn, lại hoạt động trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau, thêm vào đó thành phần hội viên đông đảo, nhiều thành phần và mức độ am hiểu pháp luật về hội khác nhau, do đó, trong quá trình hoạt động khó tránh khỏi những mâu thuẫn Vì vậy, Nhà nước phải ban hành một hệ thống văn bản đầy đủ và chặt chẽ, vừa tạo điều kiện cho các hội hoạt động nhưng vẫn đảm bảo việc quản lý hiệu quả.

Hiện nay, chúng ta đã xây dựng được một hệ thống các văn bản liên quan đến quản lý nhà nước về hội khá chặt chẽ bao gồm:

- Hiến pháp, các Bộ Luật, Luật điều chỉnh các nội dung liên quan đến hội; - Các văn bản do Chủ tịch nước ban hành, quy định về quyền lập hội và

tổ chức, hoạt động của hội;

- Các Nghị định của Chính phủ để triển khai nhưng điều đã quy định trong Hiến pháp và các Luật liên quan đến quản lý nhà nước về hội;

- Chỉ thị, quyết định do Thủ tướng Chính phủ ban hành;

- Các Thông tư, Quyết định của các bộ, cơ quan ngang bộ để cụ thể hóa các quy định của Chính phủ và hướng dẫn cho các đơn vị, địa phương thực hiện.

- Các văn bản của UBND tỉnh hướng dẫn, bổ sung các quy định tùy theo tình hình địa phương mình đang quản lý cho phù hợp.

Với các văn bản hiện hành, thể chế quản lý nhà nước về hội đã được

thể hiện tương đối đầy đủ trên các phương diện: quy định về quyền lập hội

của công dân Việt Nam, quan niệm về hội, quy định quyền và nghĩa vụ của

Trang 32

hội, điều kiện, trình tự, thủ tục liên quan đến hội, trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập hội Quy định về pháp nhân của hội, tạo nguồn tài chính cho hội, các chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập; quy định về hoạt động tư vấn, phản biện và giám sát xã hội, về ký kết thỏa thuận quốc tế Nhìn chung, hệ thống pháp luật điều chỉnh về hội của nước ra đã được bổ sung, cụ thể hóa phù hợp, tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền lập hội, cũng như tạo điều kiện cho các hội thực hiện vai trò của mình và nâng cao nhận thức của nhân dân về vai trò của hội Tuy nhiên, việc xây dựng hệ thống thể chế pháp luật vẫn còn nhiều vấn đề bất cập có thể điểm ra một số hạn chế nổi bật như sau:

Thứ nhất, pháp luật về hội đã trở nên lạc hậu, bất cập, thiếu tính đồng bộ, thống nhất ví dụ như Luật số 102/SL-L004 quy định về quyền lập hội tồn tại đã hơn 50 năm mà chưa có văn bản tương xứng để thay thế.

Thứ hai, hệ thống pháp luật liên quan đến việc thành lập hội vẫn nặng về quản lý hành chính và coi nhẹ tự do ý chí, tự do thỏa thuận thành lập các hội của người dân Cạnh đó, khuôn khổ pháp lý hiện hành

về hội thiếu sự bình đẳng giữa các hội như quy định về 28 hội đặc thù

là một trong những biểu hiện rõ nhất của sự bất bình đẳng này.

Thứ ba, các nhóm, hội khi gây quỹ, nhận tài trợ hoặc triển khai các hoạt động, đặc biệt là những hoạt động có yếu tố nước ngoài, hiện vẫn gặp rất nhiều rào cản pháp lý cũng như những vướng mắc về thủ tục trên thực tế Liên quan đến việc gây quỹ, hiện nay có nhiều loại quy định khác nhau với các loại tổ chức.

Thứ tư, cơ chế bảo vệ quyền lập hội hiện vẫn thiếu hụt, khi quyền này

bị vi phạm, các cá nhân, nhóm không tìm được cơ chế, cơ quan để khiếu nại, khiếu kiện hoặc có khiếu nại nhưng việc giải quyết lại không thấu đáo Để bảo

vệ quyền của công dân, hiện nay có các cơ chế khiếu nại, khiếu kiện theo

Trang 33

thủ tục hành chính Tuy nhiên, một số vụ việc đã cho thấy khiếu nại về quyền lập hội của người dân không được cơ quan hành chính giải quyết tường tận, kịp thời.

Trong thời gian sắp đến, khi Luật về Hội được ban hành, Nhà nước sẽ có những quy định phù hợp hơn, khắc phục được những hạn chế trên sẽ làm cho hệ thống luật pháp về hội ngày càng hoàn thiện, đảm bảo quyền của công dân và phát huy vai trò của các hội.

1.2.2.2 Các thủ tục hành chính liên quan đến hội

Tham khảo một số luật về hội trên thế giới, thường có hai kiểu thủ tục thành lập hội phổ biến là thủ tục thông báo (hay đăng ký) và thủ tục xin cấp phep (tạm gọi là mô hình xin – cho) Thủ tục thông báo (đăng ký) được nhiều quốc gia sử dụng Theo đó việc các cá nhân khai báo với cơ quan nhà nước chỉ đề cơ quan nhà nước công nhận về mặt pháp lý đối với sự liên kết tự nguyện của cá nhân, tổ chức.

Ở Việt Nam, Nghị định 45 vẫn đóng vai trò chính trong việc đưa ra những quy định về thủ tục hành chính này Theo đó, những thủ tục hành chính liên quan đến hội bao gồm các thủ tục về thành lập hội; chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, đổi tên và phê duyệt điều lệ Ngoài ra, theo Quyết định số 579/QĐ-BNV ngày 15/7/2015 của Bộ Nội vụ về việc công bố thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Nội vụ về lĩnh vực phi chính phủ, có quy định cụ thể những thủ tục hành chính liên quan tới hội của các cấp với những nội dung về trình tự, cách thức thực hiện, thành phần, số lượng hồ sơ, thời hạn giải quyết.

Thủ tục liên quan đến hội hiện nay khá rườm rà, trong dự thảo Luật về hội đã có những điều chỉnh tích cực, tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề gây tranh cãi, đặc biệt ở các khía cạnh sau:

Trang 34

Thứ nhất, điều kiện thành lập hội còn có những điểm thiếu rõ ràng, không hợp lý Chẳng hạn như quy định“lĩnh vực hoạt động chính không trùng lặp với lĩnh vực hoạt động chính của hội đã được thành lập” dễ gây cản trở tùy tiện đối với người muốn thành lập hội mới.

Thứ hai, thủ tục thành lập còn có quá nhiều quy định rườm rà, gây khó khăn ví dụ như để xin thành lập hội, thì phải có quyết định thành lập ban vận động hội của cơ quan quản lý lĩnh vực, chuyên ngành mà hội hoạt động.

Thứ ba, các thời hạn quy định cho các thủ tục về hội là quá dài (như 60 ngày đối với việc đăng ký thành lập hội) không phù hợp với tình hình phát triển của hội hiện nay.

Thứ tư, trong khi hình thức các hội hiện nay rất đa dạng (gồm nhiều hình thức như câu lạc bộ, hiệp hội, liên hiệp hội, liên đoàn ) thì việc quy định quá chi tiết về cơ cấu tổ chức hội hay quyền và nghĩa vụ của hội là không cần thiết, không khả thi và vi phạm nguyên tắc tôn trọng tính tự chủ, tự quản của hội.

Do đó, cần đơn giản hóa tối đa các thủ tục, để việc thành lập chỉ mang tính đăng ký, thông báo thay vì xin phép Quy trình nên đơn giản, dễ tiếp cận, không phân biệt đối xử, không phiền hà, miễn phí Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận “đăng ký” phải cung cấp văn bản giải trình chi tiết và kịp thời nếu từ chối việc đăng ký một hội Các quy định cần bảo đảm bất kỳ hội nào, dù đăng

ký hay không, có tư cách pháp nhân hay không, cũng có thể hoạt động tự do,

và các thành viên của hội có thể hoạt động trong một môi trường thuận lợi và

an toàn Các hội được tự do quyết định mà không bị can thiệp phi lý.

1.2.2.3 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hội

Nội dung quản lý nhà nước về hội thông qua hệ thống tổ chức bộ máy được xác định trên nguyên tắc nêu trong Chỉ thị số 42-CT/TW của Ban chấp hành Trung ương khóa VIII: Hội hoạt động ở cấp nào, đặt dưới sự lãnh đạo

Trang 35

của cấp ủy Đảng, quản lý của chính quyền cấp đó Cấp ủy Đảng ở mỗi cấp phải chú trọng và có trách nhiệm tăng cường công tác lãnh đạo đối với các hội cùng cấp thông qua việc định hướng hoạt động của hội Đảng đoàn các liên hiệp hội và các hội chỉ đạo các thành viên và hội viên của mình chấp hành các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và tổ chức và hoạt động của hội.

Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hội được xác định như sau:

- Quốc hội: ban hành các văn bản pháp luật quy định về tổ chức, hoạtđộng và quản lý hội; quy định công tác quản lý về mặt nhà nước nhằm tạo hành lang pháp lý cho các hội.

- Chính phủ: ban hành các văn bản hướng dẫn và quy định chi tiết những văn bản pháp luật mà Quốc hội ban hành; quy định những chính sách ưu đãi và tạo những điều kiện hỗ trợ đảm bảo cho sự hoạt động của các hội; chỉ đạo các cơ quan chức năng thực hiện tốt các nhiệm vụ quản lý nhà nước theo thẩm quyền được phân công, phân cấp.

- Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội phối hợp chặt chẽ với các hội, nhất là cơ sở, nhằm thực hiện tốt công tác vận động nhân dân.

- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ đối với hội hoạt động thuộc lĩnh vực do

Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý trong phạm vi cả nước:

+ Bộ Nội vụ giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hội, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Bộ trưởng Bộ Nội vụ có thẩm quyền quản lý đối với hội có phạm vi hoạt động cả nước hoặc liên tỉnh.

+ Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể việc hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước cho hội có hoạt động gắn với nhiệm vụ của Nhà nước; việc quản lý, sử dụng tài sản, tài chính của hội; quản lý việc tiếp nhận,

sử dụng các nguồn tài trợ của cá nhân, tổ chức nước ngoài cho hội.

Trang 36

+ Các Bộ và cơ quan ngang bộ có trách nhiệm phối hợp, tham gia ý kiến với Bộ Nội vụ trong việc quản lý hoạt động của các hội thuộc phạm vi lĩnh vực, chuyên ngành mà mình quản lý.

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm quản lý đối với hội hoạt động trong phạm vi tỉnh Căn cứ tình hình thực tế ở địa phương

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý hoạt động đối với hội có phạm vi hoạt động trong xã.

Có thể thấy việc phân cấp bộ máy quản lý nhà nước về hội tuy đã được phân cấp cụ thể nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, trong đó việc hai hoặc nhiều

bộ cùng tham gia quản lý hội như đã nêu ở trên dẫn đến tình trạng việc quản

lý chưa được cụ thể hóa, do đó trong nhiều trường hợp thiếu đầu mối thống nhất quản lý, gây khó khăn cho hoạt động của hội Trên cơ sở đó, trong thời gian tới chúng ta cần phải nghiên cứu xác định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ,

vị trí việc làm, kiện toàn tổ chức làm công tác quản lý nhà nước về hội để thực hiện chức năng này một cách hiệu quả hơn.

1.2.2.4 Đội ngũ công chức tham gia quản lý nhà nước về hộiNguồn nhân lực chủ yếu để tổ chức thực hiện pháp luật về hội hiện nay vẫn là đội ngũ công chức của Bộ Nội vụ, công chức Sở Nội vụ các tỉnh, thành phố và các công chức Phòng Nội vụ đối với các tỉnh, thành phố có phân cấp quản lý các hội có phạm vi hoạt động cấp xã Đặc điểm dễ nhận thấy của đội ngũ này là ít về số lượng, trong khi đó phải thực hiện cả 3 khâu: tham mưu xây dựng các văn bản về hội, tổ chức thực hiện pháp luật về hội và bảo vệ pháp luật về hội theo dõi và quản lý hàng chục ngàn hội trên cả nước Để việc quản lý nhà nước về hội được thực hiện tốt, thì phải có sự phân công hợp lý, thay đổi tâm lý, cách nghĩ, cách làm và phương pháp làm việc của đội ngũ này một cách phù hợp Trình độ, năng lực của đội ngũ công chức tham gia quản lý nhà nước về hội lại càng là vấn đề cần lưu ý Trong tình hình số lượng

Trang 37

hội ngày càng gia tăng mạnh với hội viên đông đảo, nhiều thành phần, trình

độ khác nhau, rất dễ xuất hiện những vấn đề phức tạp thì yêu cầu đội ngũ này phải có đủ khả năng, năng lực hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được giao Lúc này, người công chức phải có trình độ, kiến thức và kỹ năng quản lý với tầm nhìn rộng lớn hơn, kỹ năng phân tích, tổng hợp, đánh giá bao quát hơn, đặc biệt là đối với những công chức lãnh đạo, quản lý Kết quả hoạt động của đội ngũ công chức này có tầm quan trọng quyết định chất lượng và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của công tác quản lý nhà nước về hội.

Xây dựng đội ngũ công chức là công việc thường xuyên, liên tục của nền hành chính nói chung và trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hội nói riêng và từ những yêu cầu, đòi hỏi ngày một lớn của các hội, trong thời gian đến chúng ta cần phải lưu ý hơn đến việc xây dựng đội ngũ công chức tham gia quản lý nhà nước về hội nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong tiến trình hội nhập quốc tế, đặc biệt là cần tăng số lượng biên chế cho đội ngũ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với hội và đưa ra các chính sách hỗ trợ, đào tạo, bồi dưỡng thêm cho đội ngũ này để đảm bảo đủ sức đảm đương nhiệm vụ tham mưu, giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hội trong cả nước.

1.2.2.5 Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý

vi phạm pháp luật về hội

Ở đâu có quản lý thì ở đó thanh tra, kiểm tra và tất yếu sẽ phát sinh các vấn đề liên quan đến khiếu nại, tố cáo Trong quản lý nhà nước

về hội cũng phải bao gồm các nội dung về những hoạt động này.

Trong thực tế, công việc này cho tới nay thực hiện chưa tốt Kiểm tra còn mang nặng tính hình thức, qua loa chỉ dựa trên báo cáo chủ quan của các hội, ít kiểm tra thực tế Việc kiểm tra thực hiện điều lệ chưa nghiêm túc, chưa

Trang 38

đi sâu vào kiểm tra tư cách pháp nhân của các hội, hoặc các lĩnh vực về

tổ chức và tài chính của hội Rất hiếm có hội nào bị nhận định hoạt động kém hiệu quả, hoặc vi phạm pháp luật bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy phép hoạt động Bên cạnh đó, một số công chức vẫn còn chưa nhận thức hoặc nhận thức chưa đầy đủ ý nghĩa và vai trò của thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và vẫn còn lúng túng vè thẩm quyền, nội dung và việc thực hiện nghiệp vụ này.

Những thiếu sót trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý khiếu nại, tố cáo dẫn đến việc chấp hành pháp luật của các hội đôi khi chưa nghiêm chỉnh, nhiều khi vượt quá điều lệ của hội đã đăng ký như: lập ra nhiều tổ chức trực thuộc để làm dịch vụ nhằm mang lại kinh phí hoạt động cho hội, song đôi khi lại núp bóng hội để thu lợi nhuận cho một số cá nhân Một số ít hội không hoạt động hoặc ít hoạt động, hoặc hoạt động trái mục đích, biến dạng Do đó, cần thiết phải nâng cao nhận thức của công chức tham gia quản lý nhà nước

về hội; quy định rõ nội dung và trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về hội; kiểm tra việc tuân thủ tôn chỉ, mục đích đã được phê duyệt và việc quản lý và sử dụng tài sản tài chính của các tổ chức, nhất là đối với việc sử dụng nguồn tài trợ của nước ngoài và tổ chức quốc tế đối với các hội; giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về hội Ngoài ra, cần phải có cơ quan, thủ tục giám sát việc thực thi quyền lập hội, thẩm quyền giám sát có thể trao cho bộ tư pháp, bên cạnh đó còn cần phải quy định các hình thức chế tài như phạt tiền, giải tán hội

để xử lý các vi phạm của hội.

1.2.3 Những nhân tố tác động đến quản lý nhà nước về hội

1.2.3.1 Hệ thống pháp luật

Để quản lý và định hướng cho các hội hình thành, vận động và phát

triển theo một trật tự nhất định, thì pháp luật chính là công cụ hữu hiệu và

Trang 39

quan trọng nhất Với tư cách là công cụ để Nhà nước thực hiện sự quản lý, pháp luật phải được xây dựng trên cơ sở đảm bảo sự chính xác, đầy đủ, thống nhất, là những chuẩn mực để các hội dựa vào đó vận động phát triển và

để Nhà nước có thể thực hiện việc kiểm tra, giám sát một cách dễ dàng.

Mặc dù trong tất cả các Hiến pháp của nước ta từ trước đến nay đều long trọng ghi nhận quyền tự do lập hội, nhưng pháp luật về hội của nước ta còn rất yếu, thiếu đồng bộ và chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra Hiến pháp của nước ta không thể áp dụng trực tiếp, cho đến nay vẫn áp dụng Luật về quyền lập hội ban hành từ năm 1957 và các Nghị định của Chính phủ qa các thời kỳ Hiện nay, quản lý Nhà nước về hội đang được áp dụng theo Nghị định 45 Việc xây dựng Luật về Hội đã được triển khai 14 năm qua với 15 lần dự thảo nhưng vẫn chưa được thông qua trong nhiệm kỳ này của Quốc hội.

Pháp luật là công cụ quản lý nhà nước về hội, pháp luật còn là phương tiện hữu hiệu và công bằng bảo vệ quyền tự do hiệp hội Nếu yếu tố pháp luật không được đề cao sẽ lúng túng trong quản lý Nhà nước, quyền tự do hội họp của người dân dễ bị xâm hại Hội thực chất là lĩnh vực dân sự gắn liền với đời sống sinh hoạt của con người, bao trùm lên hầu hết các lĩnh vực đời sống xã hội, các hình thức về hội, số lượng hội liên tục phát sinh, phát triển, chính vì vậy đòi hỏi phải có khuôn khổ pháp luật để các cơ quan Nhà nước quản lý kịp thời Luật về hội cần phải tôn trọng tính chất đặc điểm dân sự của hiệp hội Luật không thể can thiệp quá sau vào tổ chức hoạt động, gò bó hội theo mẫu hình của cơ quan Nhà nước, nếu không như thế, Luật về hội sẽ trở thành luật hạn chế quyền lập hội Thực tế đã cho thấy những khó khăn về thủ tục xin phép, cấp phép, sự giới hạn quá mức cần thiết các lĩnh vực hoạt động của hội, sự xét duyệt và can thiệp quá cụ thể vào điều lệ hội, sự phân chia và đối

xử không bình đẳng giữa các loại hội là những quy định pháp luật đang cản trở phát triển của hội hiện nay.

Trang 40

1.2.3.2 Yếu tố chính trị, kinh tế - xã hội thời kỳ hội nhập

Quản lý nhà nước về hội phải phù hợp với đặc thù chính trị, đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta trong thời kì đổi mới Việc mở rộng và phát triển các tổ chức hội đến mức độ nào, trong thời điểm nào cần được xem xét trong tổng thể mối quan hệ với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Việt Nam Bên cạnh đó, trong bối cảnh hội nhập, chúng ta sẽ có nhiều cơ hội song cũng không thiếu những thách thức Do vậy, quản lý nhà nước về hội bên cạnh việc tạo môi trường cho sự phát triển của hội, định hướng cho hội hoạt động đúng mục đích, có hiệu quả nhằm bảo vệ quyền lợi của hội và của hội viên, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước thì cần phải giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tránh việc lợi dụng quyền tự do lập hội để gây mất ổn định xã hội Các yếu tố này đang là một thách thức và được không ít người xem như những vấn đề “nhạy cảm” nhưng đang tác động và có vai trò quyết định thành bại trong quá trình hội nhập của nước ta Chẳng hạn, khi Việt Nam gia nhập TPP và các hiệp định tự do thương mại khác, việc cho phép người lao động thành lập các công đoàn độc lập và liên kết giữa các tổ chức công đoàn là một điều kiện bắt buộc Tinh thần này vẫn chưa được phản ánh trong

dự thảo Luật về hội Chúng ta không thể duy trì mãi một luật chơi cho riêng mình, bỏ qua các giá trị mang tính nhân loại trong bối cảnh hội nhập toàn diện Nếu nhìn nhận như vậy chúng ta mới thấy hết được những tụt hậu trong

tư duy quản lý nhà nước về hội ở nước ta hiện nay.

1.2.3.3 Yếu tố lịch sử, văn hóa, xã hội

Trải qua một bề dày lịch sự, văn hóa Việt Nam đã tạo nên những phong tục tập quán truyền thống tốt đẹp mà đó chính là những nhân tố thuận lợi để các tổ chức hội phát triển.

Ngày đăng: 02/11/2020, 08:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Hữu Ái, Dương Thị Phượng (2010), “Vài nét về vai trò tổ chức hội quần chúng ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ , số 5/2010, tr.7-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về vai trò tổ chức hội quần chúng ở nước ta hiện nay
Tác giả: Lê Hữu Ái, Dương Thị Phượng
Năm: 2010
1. Nguyễn Hoàng Anh (2015), Pháp luật về quyền tự do lập hội, hội họp hòa bình trên thế giới và của Việt Nam, NXB Hồng Đức, Hà Nội Khác
3. Ban Chấp hành Trung ương khóa VI (1990), Nghị quyết số 8B- NQ/HNTW ngày 27/3/1990 về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, Hà Nội Khác
4. Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (1998), Chỉ thị số 42- CT/TW ngày 06/10/1998 về việc tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các hội quần chúng, Hà Nội Khác
5. Ban Chấp hành Trung ương (2012), Chỉ thị số 17-CT/TW ngày 28/8/2012 về việc tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các hội quần chúng, Hà Nội Khác
6. Ban Chấp hành Trung ương (2013), Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, Hà Nội Khác
7. Ban Thường vụ Tỉnh ủy (2015), Quyết định số 2037-QĐ/TU ngày 11/5/2015 quy định về phân cấp quản lý cán bộ, Thừa Thiên Huế Khác
8. Bộ Chính trị (2014), Kết luận số 102-KL/TW ngày 22/9/2014 về hội quần chúng, Hà Nội Khác
9. Bộ Nội vụ (2011), Công văn số 243/BNV-TCPCP ngày 25/01/2011 về việc hướng dẫn một số vướng mắc về tổ chức hoạt động và quản lý hội, Hà Nội Khác
10. Bộ Nội vụ (2013), Thông tư 03/2013/TT-BNV quy định chi tiết Khác
11. Bộ Nội vụ (2014), Thông tư 03/2014/TT-BNV ngày 19/6/2014 sửa đổi Thông tư 03/2013/TT-BNV , Hà Nội Khác
12. Bộ Nội vụ (2014), Báo cáo thực trạng tổ chức, hoạt động của các hội, Hà Nội Khác
13. Bộ Nội vụ (2015), Đánh giá tác động dự án Luật về Hội, Hà Nội Khác
14. Bộ Nội vụ (2015), Quyết định số 579/QĐ-BNV ngày 15/7/2015 về việc công bố thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Nội vụ về lĩnh vực hội và tổ chức phi chính phủ, Hà Nội Khác
15. Bộ Tài chính (2011), Thông tư số 01/2011/TT-BTC ngày 06/01/2011 quy định việc hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước cho hội, Hà Nội Khác
16. Chính phủ (2003), Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý Hội , Hà Nội Khác
17. Chính phủ (2010), Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý Hội , Hà Nội Khác
18. Chính phủ (2012), Nghị định số 33/2012/NĐ-CP ngày 13/4/2012 sửa đổi, bổ sung Nghị định 45, Hà Nội Khác
19. Vũ Công Giao (2016), Bảo đảm quyền tự do lập hội theo Hiến pháp 2013 – Lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội Khác
20. Nguyễn Hữu Hải (2010), Giáo trình quản lý học đại cương, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w